Trong chương trình đào tạo cử nhân thuộc các chuyên ngành ngoài ngành Thú y, Thú y là môn học trang bị những kiến thức cơ bản nhất về những phương pháp chẩn đoán bệnh, các loại thuốc th
Trang 2TS LÊ MINH (Chủ biên)
TS NGUYỄN VĂN QUANG, TS PHAN THỊ HỒNG PHÚC,
TS ĐỖ QUỐC TUẤN, TS LA VĂN CÔNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
GIÁO TRÌNH
THÚ Y
Trang 4Lời nói đầu ������������������������������������������������������������������������������������������������������������� vii
1.1 Khái niệm về bệnh 1 1.2 Khái niệm chẩn đoán và phân loại chẩn đoán 3 1.3 Khái niệm và phân loại triệu chứng 5 1.4 Khái niệm và phân loại bệnh tích 6 1.5 Khái niệm và phân loại tiên lượng 6 1.6 Các phương pháp khám bệnh cơ bản 7 1.7 Các phương pháp khám bệnh cụ thể 10 1.8 Thuốc thú y và cách sử dụng 24 1.9 Vắc xin và cách sử dụng 35
2.1 Bệnh Nhiệt thán (Anthrax) 43 2.2 Bệnh Lở mồm long móng (Aphtae epizootica, Foot and mouth disease) 48 2.3 Bệnh Dại (Rabies, Lyssa) 52
2.4 Bệnh Tụ huyết trùng trâu bò (Pasteurellosis bovum) 56
2.5 Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (Porcine Reproductive and
Respiratory Syndrome – PRRS) 59 2.6 Bệnh Dịch tả lợn (Classical Swine Fever, Hog Cholera suis) 63
2.7 Bệnh Tụ huyết trùng lợn (Pasteurellosis suum) 67 2.8 Bệnh Phó thương hàn lợn (Paratyphus suum, Salmonellosis) 69
2.9 Bệnh Đóng dấu lợn (Swine Erysipelas) 72
Trang 52.10 Bệnh cúm gia cầm (Avian Influenza) 75
2.11 Bệnh Newcastle (Newcastle disease, Pestis avium) 78
2.12 Bệnh Gumboro (Gumboro disease, Infectious Bursal Disease) 82 2.13 Bệnh Marek (Marek’s disease – MD) 86
3.1 Bệnh sán lá gan ở súc vật nhai lại (Fasciolosis) 91 3.2 Bệnh sán dây Moniezia ở gia súc nhai lại (Monieziosis) 96 3.3 Bệnh sán dây ở gà (Raillietinosis) 99 3.4 Bệnh gạo lợn (Cysticercosis cellulosae) 102 3.5 Bệnh giun đũa lợn (Ascariosis) 105 3.6 Bệnh giun xoăn Haemonchus và Mecistocirrus � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � �109 3.7 Bệnh tiên mao trùng (Trypanosomosis) 111 3.8 Bệnh cầu trùng gà (Avian coccidiosis) 114
4.1 Bệnh viêm phế quản thể cata cấp tính (Bronchitis catarrhalis acuta) 119 4.2 Bệnh viêm phổi thùy (Pneumonia crouposa) 122 4.3 Bệnh tắc thực quản (Obturatio oesophagi) 124 4.4 Bệnh liệt dạ cỏ (Atomia ruminis) 126 4.5 Bệnh chướng hơi dạ cỏ cấp tính (Tympania ruminis acuta) 129 4.6 Bệnh viêm dạ tổ ong do ngoại vật (Gastro peritonitis traumatica) 132 4.7 Bệnh còi xương (Rachitis) 134 4.8 Bệnh mềm xương (Osteomalacia) 136 4.9 Trúng độc muối ăn (Natri tosicosis) 137 4.10 Trúng độc sắn (Cyanuanosis) 138
4.11 Trúng độc Aflatoxin trong thức ăn chăn nuôi 140
5.1 Áp xe (Abscessus) 143
5.2 Tổn thương kín tổ chức mềm 147
5.3 Hoại tử (Necrosis) 149
5.4 Vỡ vai trâu, bò 151 5.5 Bệnh hà móng 154 5.6 Phát cước 155 5.7 Hecni 157 5.8 Bệnh viêm kết mạc mắt 161
Trang 6C hương 6 MỘT SỐ BỆnh SẢn KhOA gIA SÚC 163
6.1 Bệnh viêm vú 163 6.2 Bệnh viêm tử cung 166 6.3 Tử cung lộn bít tất 168 6.4 Sát nhau 171 6.5 Hiện tượng đẻ khó ở gia súc 175
7.1 Hệ thống cơ quan quản lý chuyên ngành thú y, chức năng và nhiệm vụ 187 7.2 Công tác phòng, chống dịch bệnh động vật 195 7.3 Quản lý thuốc thú y 203
Tài liệu tham khảo ���������������������������������������������������������������������������������������������209
Trang 8Trong chương trình đào tạo cử nhân thuộc các chuyên ngành ngoài ngành Thú y,
Thú y là môn học trang bị những kiến thức cơ bản nhất về những phương pháp
chẩn đoán bệnh, các loại thuốc thú y, vắc xin thường sử dụng, một số bệnh truyền nhiễm, ký sinh trùng, nội - ngoại - sản khoa thường gặp ở gia súc, gia cầm và hệ thống, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quản lý chuyên ngành thú y Hiện nay, trong chương trình đào tạo ngành Thú y, ngành Chăn nuôi - Thú y đã có một số giáo trình giảng dạy như: Bệnh lý thú y, Bệnh truyền nhiễm, Ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng thú y, Bệnh nội, ngoại khoa thú y… Tuy nhiên, với mức độ học chuyên sâu như yêu cầu của các giáo trình nói trên đối với sinh viên ngoài ngành Thú y là không phù hợp
Trong những năm gần đây, nhu cầu về tài liệu học tập của sinh viên ở các trường Đại
học nói chung và trường Đại học Nông Lâm nói riêng ngày càng trở nên cấp thiết Phương
pháp giảng dạy mới - phương pháp giảng dạy có tài liệu in sẵn chỉ có thể thực hiện có hiệu quả trên cơ sở của việc đáp ứng đủ nhu cầu về tài liệu học tập đối với sinh viên
Để góp phần giải quyết những vấn đề cấp thiết nói trên, nhằm từng bước nâng cao
chất lượng giảng dạy của Nhà trường, nhóm tác giả bộ môn Bệnh động vật thuộc Khoa
Chăn nuôi - Thú y đã biên soạn cuốn giáo trình “Thú y” (sử dụng cho sinh viên ngoài
ngành Thú y) Nội dung cuốn giáo trình phong phú, dung lượng vừa phải và hợp lý đối với đối tượng sử dụng giáo trình, vừa là tài liệu học tập, vừa có những nội dung giới thiệu
để sinh viên, đồng nghiệp và bạn đọc tham khảo thêm
Giáo trình gồm 7 chương, được phân công biên soạn như sau:
• Chương 1: TS Lê Minh, TS Nguyễn Văn Quang
• Chương 2: TS Nguyễn Văn Quang, TS Lê Minh
• Chương 3: TS Lê Minh
Trang 9• Chương 4: TS Phan Thị Hồng Phúc
• Chương 5: TS La Văn Công
• Chương 6: TS Đỗ Quốc Tuấn
• Chương 7: TS Lê Minh
Mặc dù, tập thể tác giả đã rất cố gắng, đồng thời nhận được sự góp ý của nhiều đồng nghiệp, song cuốn giáo trình này chắc chắn còn nhiều thiếu sót Chúng tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các em sinh viên, đồng nghiệp và bạn đọc
Xin trân trọng cảm ơn!
TẬP THỂ TÁC GIẢ
Trang 10Chương 1 ĐẠICƯƠNGVỀTHÚY
1.1 KHÁI NIỆM VỀ BỆNH
Từ khi con người biết quan sát và tiến hành trị liệu các bệnh ở người và gia súc, quan niệm
về bệnh đã được hình thành và thay đổi theo nhận thức của con người về thế giới xung quanh, đặc biệt là nhận thức về thế giới sinh vật và những hoạt động sống của chúng.Trong thời kỳ đầu lịch sử phát triển nhân loại, con người còn thiếu những hiểu biết
về tự nhiên, khả năng đấu tranh và chiến thắng thiên nhiên còn rất yếu Con người cảm thấy mình nhỏ bé và bất lực trước tự nhiên huyền bí, từ đó tin rằng mọi sự vật đều do trời sinh ra và chi phối Ở thời kỳ này, người ta cho rằng bệnh tật là do quỷ thần gây ra, hoặc
do trời trừng phạt Từ quan niệm về bệnh mà nảy sinh cách trị bệnh như cúng bái, tế lễ
Trong thời cổ Trung Hoa, người ta cho rằng vạn vật đều do hai lực “âm, dương” và năm nguyên tố ngũ hành “Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ” sinh ra Theo quan điểm này, cơ thể
khoẻ mạnh là do có sự cân bằng hòa hợp giữa các nguyên tố khác nhau, nếu cơ thể mất đi
sự cân bằng hòa hợp đó thì sẽ phát sinh ra bệnh
Trong thời kỳ cổ đại Hy Lạp, Hippocrates (460–377 trước Công nguyên) cho rằng, chức năng của cơ thể con người là do bốn chất dịch quyết định: máu đỏ do tim tiết ra và biểu hiện tình trạng nóng, máu đen ở lách biểu hiện tình trạng ẩm, mật vàng ở gan biểu hiện tình trạng khô và niêm dịch ở não biểu hiện tình trạng lạnh Ông quan niệm rằng: khi cơ thể khoẻ mạnh thì có sự cân bằng giữa bốn loại dịch đó, còn khi có sự mất cân bằng của các dịch thì cơ thể bị bệnh Học thuyết này gọi là học thuyết thể dịch, mặc dù còn đơn giản nhưng quan điểm về bệnh đã mang tính duy vật biện chứng
Trong thời trung cổ (khoảng từ thế kỷ IV đến thế kỷ XII) các quan điểm mê tín tôn giáo phát triển đến cực độ Khái niệm về bệnh hoàn toàn mang tính chất duy tâm
Trang 11Ở thời kỳ văn hóa Phục Hưng, Paracelsus (1493–1541) đã đưa ra thuyết nguyên tố hóa học, trong đó nguyên tố hóa học là cơ sở của toàn bộ thế giới hữu cơ Ngoài ra, Paracelsus lại cho rằng, hoạt lực là yếu tố khống chế sự sống Nếu hoạt lực thay đổi sẽ gây nên bệnh tật.
Andreas Vesalius (1514–1564) đã nghiên cứu về cấu trúc cơ thể con người, đặt nền móng cho môn hình thái học sau này
Năm 1616, William Harvey (1578–1657) đã công bố phát minh vĩ đại là sự tuần hoàn máu
Vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, khoa học tự nhiên phát triển nhanh chóng, những phát minh mới trong khoa học đã ảnh hưởng rất lớn đến y học đương thời như: định luật bảo toàn vật chất của Lomonosov (1711–1765), thuyết tiến hóa của Charles Robert Darwin (1809–1882), môn tổ chức học được hình thành, kính hiển vi xuất hiện
Từ những thành tựu khoa học này, Rudolf Virchow (1821–1902) một nhà bệnh
lý học người Đức đã sáng lập thuyết bệnh lý tế bào Tác giả cho rằng, nguyên nhân của bệnh tật là do sự tổn thương các tế bào, bệnh chỉ xuất hiện ở cục bộ khi có nhân
tố gây bệnh làm tổn thương ở đó Thuyết bệnh lý tế bào còn phiến diện và có một sai lầm là không coi cơ thể là một khối thống nhất, mà chỉ coi đó là sự ghép lại một cách đơn giản và máy móc các tế bào khác nhau, không có liên quan gì với nhau Mặc dù vậy, thuyết bệnh lý tế bào là học thuyết đầu tiên trong lịch sử y học của nhân loại đã dùng quan điểm khoa học để giải thích về bệnh tật, đưa ra những cơ sở duy vật về bản chất của bệnh
Đến nửa sau của thế kỷ XIX, Louis Pasteur (1822–1895), Elie Metchnikoff (1845–1916), Robert Koch (1843–1910), Paul Ehrlich (1854–1915) đã mở ra một thời đại nghiên cứu về vi trùng trong y học, làm cơ sở cho môn vi sinh vật học và miễn dịch học sau này phát triển Trong thời kỳ này, các môn sinh lý học, sinh hóa học, y học thực nghiệm cũng phát triển rất mạnh
Claude Bernard (1813–1878) đã nêu lên mối quan hệ khăng khít giữa cơ thể và môi trường bên ngoài Ngoại môi (môi trường bên ngoài) luôn thay đổi Vì vậy, để giữ cho nội môi (môi trường bên trong cơ thể) không thay đổi, cơ thể sống phải có hàng loạt các chức năng bảo vệ và điều hòa Xuất phát từ quan điểm này, tác giả cho rằng: bệnh tật là sự rối loạn cơ chế bảo vệ và điều hòa của cơ thể
Ở thế kỷ XX, một số ngành sinh học như di truyền học, miễn dịch học, sinh học phân tử phát triển rất mạnh và đã có ảnh hưởng rất lớn đến y học, do đó có nhiều khái niệm khác nhau về bệnh
Petrovich Pavlov (1849–1936) – nhà sinh lý học người Nga đã đề ra học thuyết thần kinh của bệnh Theo thuyết này, nội môi và ngoại môi là một khối thống nhất, trong đó hoạt động của thần kinh cao cấp đóng vai trò quyết định đối với khả năng thích ứng của
cơ thể với môi trường bên ngoài Pavlov đã nêu rõ: “Trong người bệnh có hai quá trình tồn
Trang 12tại song song, đó là quá trình bảo vệ sinh lý và quá trình hủy hoại bệnh lý” Tuy vậy, thuyết
thần kinh chưa thể giải thích được một cách hoàn hảo về bệnh
Cũng trong thời gian này, Hans Seley quan niệm rằng, bệnh là sự rối loạn khả năng thích nghi của cơ thể
Lý luận về sự tiến hoá, người ta thấy rằng, mọi sinh vật đều bắt nguồn từ một đơn bào, sau đó được tổ chức lại ngày càng phức tạp thành những cơ quan có chức năng khác nhau, có những hoạt động biệt hóa nhưng đều nhằm mục đích chung là duy trì sự sống Giữa các bộ phận của cơ thể có mối quan hệ mật thiết, có tác động qua lại ảnh hưởng lẫn nhau Mặt khác, cơ thể chịu tác động của ngoại cảnh, song cơ thể có khả năng thích nghi với sự thay đổi của ngoại cảm để duy trì sự hằng định của nội môi
Từ những quan niệm trên, ngày nay, người ta có khái niệm về bệnh như sau: “Bệnh
là sự rối loạn đời sống bình thường của cơ thể sinh vật do tác động của các yếu tố gây bệnh khác nhau, gây ra một quá trình đấu tranh phức tạp giữa hiện tượng tổn thương bệnh lý và hiện tượng phòng vệ sinh lý, làm hạn chế khả năng thích nghi của cơ thể đối với ngoại cảnh, làm cho khả năng lao động và giá trị kinh tế bị giảm sút ”.
Quan niệm như vậy về bệnh chỉ có tính tương đối, giúp chúng ta hiểu một cách cơ bản về bản chất của bệnh để có biện pháp tương ứng trong công tác phòng chống bệnh
1.2 KHÁI NIỆM CHẨN ĐOÁN VÀ
PHÂN LOẠI CHẨN ĐOÁN
1.2.1 KHÁI NIỆM VỀ CHẨN ĐOÁN
Chẩn đoán bệnh thú y là việc sử dụng tổng hợp các biện pháp chẩn đoán khác nhau như:
chẩn đoán lâm sàng, chẩn đoán bằng soi kính hiển vi và chẩn đoán thí nghiệm để phân tích, đánh giá và xác định chính xác con vật mắc bệnh gì
Nội dung nghiên cứu:
Chẩn đoán bệnh thú y nghiên cứu về các phương pháp chẩn đoán, có thể chia thành hai loại:
• Các phương pháp chẩn đoán cơ bản (còn gọi là chẩn đoán thông thường, chẩn đoán chung hay chẩn đoán lâm sàng): gồm các phương pháp quan sát, sờ nắn, gõ và nghe
• Các phương pháp chẩn đoán chuyên biệt (còn gọi là khám đặc biệt): gồm các phương pháp xét nghiệm máu, xét nghiệm phân, xét nghiệm nước tiểu, X–quang, điện tâm đồ, nội soi
Một chẩn đoán đầy đủ cần phải làm rõ các nội dung: vị trí có bệnh trong cơ thể, tính chất của bệnh, hình thức và mức độ những rối loạn của cơ thể bệnh, nguyên nhân gây bệnh
Trang 13Một quá trình bệnh thường diễn biến phức tạp Vì vậy, chẩn đoán dù tỉ mỉ đến đâu cũng khó phát hiện hết những thay đổi của quá trình bệnh Chẩn đoán cần phải kết hợp nhiều phương pháp: chẩn đoán lâm sàng, dựa vào đặc điểm dịch tễ của bệnh và căn cứ vào kết quả các xét nghiệm thì chẩn đoán mới chính xác Kết luận chẩn đoán có thể thay đổi theo quá trình bệnh.
1.2.2 PHÂN LOẠI CHẨN ĐOÁN
Phân loại chẩn đoán căn cứ vào những vấn đề sau:
Căn cứ vào phương pháp
• Chẩn đoán trực tiếp: Dựa vào những triệu chứng chủ yếu để đi đến kết luận chẩn đoán Ví dụ: căn cứ vào vùng âm đục mở rộng ở hõm hông trái trâu bò để kết
luận trâu bò bị bệnh bội thực dạ cỏ Hình thức chẩn đoán này chỉ có kết quả khi bệnh có những triệu chứng chủ yếu, điển hình
• Chẩn đoán phân biệt: Sau khi thu thập được những triệu chứng có trên con vật
bệnh, cần liên hệ đến những bệnh có cùng các triệu chứng đó, rồi loại dần những bệnh không phù hợp, cuối cùng chỉ còn một bệnh có nhiều khả năng nhất Đó chính là bệnh mà con vật đang mắc
• Chẩn đoán bệnh qua kết quả điều trị: Khi chẩn đoán không có đủ căn cứ để kết
luận chính xác một bệnh thì cần phải có hướng nghi ngờ đó là bệnh gì?, từ đó tiến hành điều trị Nếu điều trị khỏi thì kết luận là bệnh đã nghi ngờ
Căn cứ vào thời gian chẩn đoán
• Chẩn đoán sớm: Là chẩn đoán có thể kết luận được ngay từ thời kỳ đầu của quá
trình bệnh Chẩn đoán sớm rất có lợi cho điều trị và phòng bệnh
• Chẩn đoán muộn: Là chẩn đoán chỉ kết luận được vào thời kỳ cuối của bệnh,
thậm chí gia súc chết, mổ khám mới có kết luận chẩn đoán
Căn cứ vào mức độ chính xác
• Chẩn đoán sơ bộ: Là chẩn đoán chưa thật chính xác Sau khi khám phải có kết
luận chẩn đoán ngay để làm cơ sở cho điều trị bệnh Sau đó cần phải tiếp tục theo dõi để bổ sung cho kết luận của chẩn đoán
• Chẩn đoán cuối cùng: Là kết luận chẩn đoán sau khi đã khám kỹ và phát hiện
thấy những triệu chứng rất đặc trưng của bệnh hoặc sau khi dùng thuốc điều trị khỏi hoặc sau khi xét nghiệm tìm thấy mầm bệnh
• Chẩn đoán nghi vấn: Là những trường hợp thường thấy trong chẩn đoán lâm
sàng thú y khi có một ca bệnh mà triệu chứng không đặc trưng cho bệnh nào Trường hợp này cần phải tiếp tục theo dõi và thông qua kết quả điều trị để có kết luận chính xác hơn
Trang 141.3 KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI TRIỆU CHỨNG
1.3.1 KHÁI NIỆM TRIỆU CHỨNG
Một quá trình bệnh có thể gây ra những rối loạn cơ năng, những thay đổi về hình thái tổ chức của các khí quan trong cơ thể, biểu hiện ra bên ngoài của những thay đổi, đó gọi là triệu chứng Hay nói cách khác, triệu chứng là những biểu hiện khác thường của cơ thể vật nuôi dưới tác động của các yếu tố gây bệnh
Cũng có thể hiểu, triệu chứng là những biểu hiện khác thường về cơ năng như: tim đập nhanh, thở khó và những biểu hiện bệnh lý như ổ mủ, vết loét
Nhiệm vụ đầu tiên của chẩn đoán là phát hiện triệu chứng của bệnh súc
1.3.2 PHÂN LOẠI TRIỆU CHỨNG
Căn cứ vào phạm vi biểu hiện, người ta chia triệu chứng thành 2 loại:
• Triệu chứng cục bộ: Là triệu chứng biểu hiện ở một khí quan của cơ thể Ví dụ:
âm đục ở vùng phổi trong bệnh viêm phổi, âm bùng hơi mở rộng ở vùng hõm hông trái trâu bò trong bệnh chướng hơi dạ cỏ
• Triệu chứng toàn thân: Là triệu chứng biểu hiện trên toàn bộ cơ thể Ví dụ: triệu
chứng sốt trong nhiều bệnh truyền nhiễm kèm theo gia súc ủ rũ, bỏ ăn
Căn cứ vào giá trị chẩn đoán, người ta chia triệu chứng thành 5 loại:
• Triệu chứng đặc thù: Là triệu chứng chỉ có ở một bệnh và khi con vật có triệu chứng ấy thì chẩn đoán được ngay là con vật mắc bệnh gì? Ví dụ: triệu chứng
xuất hiện dấu trên da của lợn bệnh chỉ có trong bệnh đóng dấu lợn, triệu chứng
phù đầu, phù mặt ở lợn sau cai sữa chỉ có trong bệnh Coli dung huyết Tuy
nhiên, không phải bệnh nào cũng có triệu chứng đặc thù
• Triệu chứng điển hình: Là triệu chứng phản ánh rõ rệt quá trình tiến triển của bệnh Ví dụ: bệnh viêm phổi thùy thường tiến triển qua 3 giai đoạn: sung
huyết, gan hóa và tiêu tan Gõ vùng phổi con vật bị bệnh thấy có âm bùng hơi, sau đó có âm đục và cuối cùng lại xuất hiện âm bùng hơi (tương ứng với 3 giai đoạn trên)
Nếu triệu chứng lâm sàng thể hiện không hoàn toàn theo quy luật thường thấy của bệnh thì gọi là triệu chứng không điển hình
• Triệu chứng cố định: Là triệu chứng thường có trong một số bệnh Ví dụ: âm ran
(rale) ở vùng phổi trong bệnh viêm phổi thùy, bệnh viêm phế quản–phổi Triệu
chứng trong một bệnh lúc có, lúc không có gọi là triệu chứng ngẫu nhiên Ví dụ:
vàng da, vàng niêm mạc trong bệnh viêm ruột
• Triệu chứng thường diễn: Là triệu chứng diễn ra trong suốt quá trình bệnh Ví dụ:
trong bệnh viêm phế quản, ho là triệu chứng thường diễn vì nó có suốt từ đầu
Trang 15đến cuối bệnh Còn âm ran vùng phổi chỉ xuất hiện trong một giai đoạn nào đó, gọi là triệu chứng nhất thời.
• Hội chứng: Là triệu chứng do nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên Ví dụ: hội
chứng đau bụng ngựa, hội chứng urê huyết, hội chứng ỉa chảy, hội chứng viêm phổi, hội chứng vàng da, vàng niêm mạc
Tóm lại, bệnh nặng hay nhẹ đều có nhiều triệu chứng, trong đó có triệu chứng chủ yếu, có triệu chứng thứ yếu, có thể có triệu chứng điển hình, có thể không có triệu chứng điển hình Vì vậy, phải nắm vững phương pháp chẩn đoán để phát hiện triệu chứng, có kiến thức sâu về bệnh lý để phân tích, đánh giá về triệu chứng thu thập được trong từng bệnh cụ thể một cách nhanh và chính xác
1.4 KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI BỆNH TÍCH
1.4.1 KHÁI NIỆM BỆNH TÍCH
Bệnh tích là hậu quả của những tổn thương của bệnh sau khi con vật chết Bệnh tích là các dấu hiệu bất thường bên ngoài và bên trong cơ thể con vật
1.4.2 PHÂN LOẠI BỆNH TÍCH
Bệnh tích đại thể: là các biến đổi đại thể trên con vật bệnh có thể quan sát được bằng mắt
thường Để chẩn đoán chính xác thì cần mổ khám con vật ngay sau khi con vật chết tìm các vết tích khác thường trên con vật bệnh và các vết tích trên cơ quan, nội tạng (có thể dùng kính lúp để nhìn cho rõ) Đối với con vật gần chết thì cần làm chết rồi mổ khám
Bệnh tích vi thể: là các biến đổi vi thể của tổ chức bệnh, quan sát dưới kính hiển vi
Biến đổi vi thể được xác định bằng phương pháp làm tiêu bản tổ chức học theo quy trình tẩm đúc paraffin, nhuộm hematoxilin–eosin, đọc kết quả dưới kính hiển vi
Ví dụ: gia cầm bị chết do mắc bệnh tụ huyết trùng cấp tính thường có các bệnh tích
đại thể như: mào, tích, thịt thâm; phổi viêm xuất huyết, xuất huyết điểm ở mỡ vành tim, tích nước trong xoang bao tim và xoang phúc mạc, sung huyết niêm mạc tá tràng, gan sưng và có nhiều ổ hoại tử nhỏ, ở gà mái đẻ thì nang trứng nhũn Khi làm tiêu bản vi thể: các cơ quan như phổi, tim, thận, lách đều có hiện tượng sung huyết, thoái hóa tế bào, thâm nhiễm tế bào viêm
1.5 KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI TIÊN LƯỢNG
1.5.1 KHÁI NIỆM VỀ TIÊN LƯỢNG
Tiên lượng là việc người khám đưa ra các dự kiến về thời gian kéo dài của bệnh, các bệnh
kế phát có thể xảy ra, khả năng cuối cùng của bệnh, sau khi đã khám bệnh kỹ lưỡng và
Trang 16nắm chắc tình hình bệnh Chẩn đoán bệnh là kết luận của hiện tại, còn tiên lượng là đưa
ra các dự kiến trong tương lai
Tiên lượng là một công việc phức tạp, đòi hỏi phải có sự suy xét nhiều mặt Tiên lượng không chỉ đánh giá con vật bệnh sống hay chết, khỏi hay không khỏi mà còn phải tính đến tốn kém bao nhiêu, có kinh tế hay không Do vậy, tiên lượng rất có ý nghĩa trong điều trị lâm sàng thú y Để đánh giá tiên lượng được tốt, người bác sĩ thú y phải vững về chuyên môn, giàu kinh nghiệm công tác và am hiểu về kiến thức kinh tế, xã hội
1.5.2 PHÂN LOẠI TIÊN LƯỢNG
Có 3 loại tiên lượng bệnh:
• Tiên lượng tốt: Bệnh súc không chỉ có khả năng khỏi bệnh mà còn có khả năng phục
hồi và giữ được giá trị kinh tế
• Tiên lượng xấu: Bệnh súc có thể chết hoặc không khỏi bệnh hoàn toàn, điều trị tốn
kém, không có giá trị kinh tế
• Tiên lượng nghi ngờ: Do diễn biến của bệnh phức tạp, triệu chứng bệnh không rõ,
khó kết luận được khả năng cuối cùng của bệnh Có nhiều ca bệnh cần có kết luận tiên lượng để xử lý tiếp Những kết luận đó không chắc chắn và được gọi là tiên lượng nghi ngờ
Tùy theo mục đích và vị trí cần quan sát mà đứng xa hay gần gia súc Nên rèn luyện thành thói quen quan sát từ xa đến gần, từ tổng quan đến bộ phận
Người khám bắt đầu từ vị trí phía trước bên trái hoặc bên phải gia súc, cách gia súc khoảng 2–3 m, rồi tiến dần về phía sau gia súc Quan sát trạng thái tinh thần gia súc, thể cốt, tình trạng dinh dưỡng Sau đó, quan sát lần lượt các bộ phận: đầu, cổ, lồng ngực, vùng bụng và bốn chân Chú ý so sánh sự cân đối hai bên mông, hai thành bụng, ngực, các khớp hai bên chân, các bắp cơ hai bên thân ; nếu cần thiết cho gia súc đi vài bước
Trang 17Quan sát hai bên sườn, đối chiếu so sánh giữa hai bên (ở loài nhai lại, khi bị chướng hơi dạ cỏ, bụng bên trái thường rất to; ngược lại khi con vật có thai thì bụng phải to hơn bên trái).
Quan sát vùng bụng xem vú có sưng không (con cái)?; quan sát vùng đuôi và âm hộ (con cái) có dịch chảy ra không, dịch hoàn (con đực) có sưng không?
1.6.2 PHƯƠNG PHÁP SỜ, NẮN
Sờ nắn là phương pháp thường dùng trong thú y Sờ nắn để biết nhiệt độ, độ ẩm, độ cứng và
độ nhạy cảm của tổ chức cơ thể gia súc Sờ nắn còn dùng để bắt mạch, khám qua trực tràng
Sờ nắn phần nông để biết nhiệt độ của da, lực căng của cơ; sờ để tính tần số hô hấp, tần số mạch đập và hoạt động của thành ngực khi con vật hô hấp Dùng đầu ngón tay ấn nhẹ từ phần này đến phần khác
Sờ sâu để khám các khí quan sâu Ví dụ: sờ nắn dạ cỏ của loài nhai lại, kiểm tra ngoại
vật, khám thai qua trực tràng
Khi sờ nắn tổ chức hay khí quan, tùy theo cảm giác ở tay có thể có những trạng thái sau:
• Dạng nhão bột: Ấn vào mềm như ấn vào túi bột, để lại vết ấn Dạng này do tổ chức
bị thấm ướt Ví dụ: gặp trong bệnh bội thực dạ cỏ hoặc gia súc bị thủy thũng.
• Dạng cứng: Ấn tay vào thấy hơi cứng Ví dụ: sờ nắn vào vùng gan.
• Dạng rất cứng: Ấn tay vào thấy rất cứng Ví dụ: sờ nắn vào xương.
• Dạng ba động: Lúc sờ có cảm giác lùng nhùng, ấn vào giữa thấy lõm xuống, có cảm
giác dịch ở trong di động, đàn tính của tổ chức mất Ví dụ: sờ nắn vùng có ổ mủ lớn,
âm thanh lúc gõ phát ra cũng thay đổi theo
Tùy thể vóc của gia súc to hay nhỏ, có thể gõ theo các cách sau:
• Gõ trực tiếp: Các ngón tay phải co lại và gõ theo hướng thẳng góc với bề mặt của tổ
chức hay khí quan cần khám
• Gõ gián tiếp: Gõ qua một vật trung gian, có hai cách:
Trang 18• Gõ qua các ngón tay: ngón giữa và ngón trỏ của tay trái đặt sát vào bề mặt cơ thể,
ngón giữa của tay phải gõ lên theo một góc vuông Chú ý: tập gõ từ cổ tay, không
gõ cả cánh tay Gia súc nhỏ như: chó, mèo, dê, cừu, thỏ thì gõ theo cách này
• Gõ có búa và bản gõ (phiến gõ): tức là thay ngón tay bằng búa và đệm bằng bản
gõ Phiến gõ bằng gỗ, sừng, nhựa hay kim loại; hình vuông, hình tròn, dài; có loại cong hai đầu, thẳng ở giữa, có loại bẻ gấp khúc ở giữa Yêu cầu sao cho cầm dễ dàng, gõ thuận lợi Búa gõ nhẹ khoảng 60–75g dùng để gõ gia súc bé, loại nặng 120–160g dùng để gõ gia súc lớn Lúc gõ tay trái cầm phiến gõ đặt sát bề mặt trên thân gia súc, tay phải cầm búa gõ, gõ hai cái một Tùy theo tổ chức cần gõ to hay nhỏ, ở nông hay sâu mà gõ mạnh hay yếu Gõ mạnh có thể gây chấn động lan trên bề mặt cơ thể từ 4–6 cm, sâu đến 7 cm, gõ nhẹ chỉ gây chấn động lan 2–3
cm, sâu 4 cm Gõ để chẩn đoán bệnh ở trong phòng rộng vừa phải, cửa đóng là thích hợp nhất Gia súc to để đứng, loại nhỏ để nằm Phiến gõ phải đặt sát bề mặt
cơ thể, không để khí lọt vào giữa làm âm thay đổi Phiến gõ và búa gõ phải thẳng góc với nhau để âm phát ra gọn và rõ
Âm gõ được chia thành các loại:
• Âm trong: Là âm vang mạnh, âm hưởng dài Ví dụ: khi gõ vùng phổi hay vùng
manh tràng ở gia súc khỏe thì âm gõ sẽ trong
• Âm đục: Là âm yếu và ngắn Ví dụ: khi gõ vùng gan hay vùng có nhiều bắp cơ
thì âm phát ra đục
• Âm trong hay đục là do tính chất của tổ chức gõ quyết định: độ đàn hồi của tổ chức cao hay thấp, lượng khí tích trong đó có nhiều hay ít
• Âm bùng hơi: Khi gõ vào vùng chứa nhiều khí thì có âm bùng hơi Ví dụ: khi gõ
vùng dạ cỏ của gia súc nhai lại (khi cơ thể gia súc khỏe)
• Âm trống: Là âm nghe to nhưng không vang, như lúc gõ vào một túi không khí nằm trong tổ chức cơ thể
h ình 1.1. Các loại búa gõ và phiến gõ
h ình 1.2. Kỹ thuật gõ bằng ngón tay
Trang 19• Âm cao hay âm thấp phụ thuộc vào mức độ chấn động của tổ chức được gõ Chấn động càng nhiều, âm gõ càng cao; chấn động ít, âm gõ thấp Âm dài hay ngắn phụ thuộc vào chấn động kéo dài hay tắt ngay Tính chất của âm dài hay ngắn trong chẩn đoán có ý nghĩa không lớn vì khó phân biệt.
Do kết cấu và đàn tính của tổ chức khác nhau, khi gõ vào bề mặt cơ thể âm phát ra cũng khác nhau Mặt khác, các loại gia súc khác nhau thì âm gõ khác nhau Trên cơ thể gia súc, thường chỉ gõ để chẩn đoán bệnh ở vùng tim, phổi, dạ dày, ruột, gan, lách, xoang trán
1.6.4 PHƯƠNG PHÁP NGHE
Nguyên lý của phương pháp nghe là dựa vào âm thanh phát ra từ các cơ quan bộ phận trong cơ thể khi chúng hoạt động như: tim, phổi, dạ dày, ruột Do tính chất hoạt động, cấu tạo của các cơ quan khác nhau nên âm hưởng nghe cũng khác nhau (giống khi gõ)
Có thể dựa vào các âm thanh nghe được để chẩn đoán bệnh cho con vật
Có hai cách nghe:
• Nghe trực tiếp: Người nghe áp sát tai vào thân gia súc (có thể phủ trước một miếng
vải để tránh bẩn) Nếu nghe phần trước thì mặt người khám quay về phía đầu gia súc, nếu nghe phần sau thì mặt người khám quay về phía sau gia súc, tay để lên sống lưng gia súc làm điểm tựa
• Nghe gián tiếp: Là nghe thông qua việc sử dụng ống nghe Có 3 loại:
• Loại ống nghe gọng cứng, một loa nghe: Loại này có ưu điểm là không làm thay đổi âm hưởng, không có tạp âm Nhược điểm là dùng không thuận tiện, độ tăng
âm nhỏ, hiện nay ít dùng
• Loại ống nghe hai loa nghe: Loại này có độ phóng âm lớn, sử dụng thuận lợi, hiện được sử dụng rộng rãi trong thú y Nhược điểm của loại ống nghe này là làm thay đổi tính chất âm hưởng, dễ lẫn tạp âm
• Loại ống nghe có nhiều loa nghe: Loại này có ưu điểm là độ phóng đại âm thanh khá lớn, nhiều người có thể dùng nghe trên một điểm và có thể trao đổi ý kiến hội chẩn Trong học tập thường dùng loại ống nghe này
Chú ý: Khi nghe để gia súc ở trong nhà hoặc ngoài bãi chăn yên tĩnh, gia súc phải
đứng yên, loa nghe đặt sát bề mặt cơ thể gia súc để tránh tạp âm
Trang 20Ví dụ: Nếu chó có triệu chứng thần kinh như cắn xé, rên la phải nghi ngay là chó bị
bệnh dại
Tài liệu bệnh sử sẽ gợi hướng suy nghĩ chẩn đoán Ví dụ: gia súc ho, thở khó có thể bị
bệnh ở đường hô hấp; nhai khó, chảy nước bọt phải kiểm tra kỹ miệng; thỉnh thoảng ỉa chảy thì liên hệ đến bệnh ký sinh trùng, viêm ruột, viêm dạ dày
Việc điều tra bệnh sử của gia súc phải thông qua gia chủ, nên có lúc thiếu khách quan, phiến diện, thậm chí không đúng với thực tế Vì vậy, trong lúc điều tra bệnh sử cần lựa chọn, phân tích, những chỗ không phù hợp nên hỏi lại cặn kẽ
Những vấn đề cần điều tra như sau:
■ Gia súc nuôi được bao lâu? Vấn đề này cũng giúp ích cho việc chẩn đoán bệnh Gia
súc vừa mua về có thể do lạ chuồng mà bỏ ăn Có những bệnh phát ra khi gia súc thay đổi
điều kiện sống Ví dụ: trâu được vận chuyển từ miền ngược về miền xuôi thường hay phát
bệnh tiên mao trùng
■ Tình hình thức ăn, nước uống, chuồng trại, quản lý trước lúc gia súc mắc bệnh?
Những thông tin này có thể liên quan đến nguyên nhân gây bệnh Ví dụ: Chuồng trại ẩm
ướt, gió lạnh đột ngột thường là nguyên nhân gây bệnh đường hô hấp Ăn toàn rơm khô, thiếu nước, thiếu vận động: trâu bò bị nghẽn dạ lá sách, ngựa hay bị tắc ruột già
■ Tình hình dịch bệnh ở khu vực đó mấy năm trước đây? Đặc biệt, phải hỏi rõ trước
đây gia súc đã có lần nào mắc bệnh này chưa? Làm sáng tỏ điểm này giúp ích nhiều trong
việc chẩn đoán bệnh truyền nhiễm Ví dụ: bệnh dịch tả lợn, tụ huyết trùng nếu tiêm phòng
không triệt để thì dễ tái phát Bệnh xoắn trùng ở lợn thường phát vào những tháng rét, thiếu thức ăn Một số bệnh cấp tính nếu điều trị không triệt để dễ chuyển sang mạn tính
■ Thời gian gia súc mắc bệnh? Điểm này không chỉ giúp ích cho chẩn đoán, xác định
bệnh ở thể cấp tính hay mạn tính mà còn có ý nghĩa trong tiên lượng bệnh
■ Số gia súc bị bệnh? Số gia súc đã chết và những triệu chứng đã thấy? Nếu gia súc bị
bệnh hàng loạt, chết nhiều thường là bệnh truyền nhiễm hay trúng độc Những triệu chứng
mà chủ gia súc đã thấy sẽ gợi ý cho ta phương hướng chẩn đoán Ví dụ: ngựa vật vã đau đớn
là triệu chứng đau bụng, phải lưu ý chẩn đoán vùng dạ dày, vùng ruột Gia súc không ăn được, hàm ngậm chặt, đứng co cứng thường là bị bệnh uốn ván
■ Đã điều trị bệnh bằng thuốc gì? Liều lượng bao nhiêu? Kết quả ra sao? Từ kết quả
điều trị có thể suy ra nguyên nhân gây bệnh
Sau khi điều tra bệnh sử cần phải hệ thống những thông tin đã thu thập được để phân tích, đối chiếu, tìm ra những điểm phù hợp và không phù hợp, tìm ra mối liên hệ giữa chúng, từ đó đưa ra ý kiến chẩn đoán bệnh
1.7.1.2 Lập bệnh án gia súc
Bệnh án của bệnh súc được lập theo những nội dung sau:
■ Tên hay số gia súc: Phải ghi rõ tên hay số gia súc trên bệnh án.
■ Loại gia súc: Loại gia súc khác nhau thì cảm nhiễm bệnh cũng khác nhau Ví dụ:
ngựa hay bị bệnh tỵ thư, trâu, bò bị tụ huyết trùng, lợn bị bệnh đóng dấu Do đặc điểm
Trang 21giải phẫu–sinh lý khác nhau mà có bệnh loại gia súc này mắc nhưng loại gia súc khác
không mắc Ví dụ: bò bị viêm dạ tổ ong, viêm bao tim do ngoại vật; ngựa hay bị đầy hơi
dạ dày và có thể vỡ dạ dày
Các loại gia súc khác nhau thì tính mẫn cảm với thuốc và một số chất độc khác nhau Ngựa rất mẫn cảm với cỏ bị mốc, trâu bò mẫn cảm với các chế phẩm có thủy ngân
■ Tính biệt của gia súc: Tính biệt cũng ảnh hưởng đến một số bệnh Ví dụ: sỏi niệu đạo
thường thấy ở gia súc đực, gia súc cái bị viêm ở niệu đạo thì hay kế phát viêm màng bụng Khi gia súc cái có chửa hoặc động dục thì việc chẩn đoán bệnh cần có những điều chú ý riêng
■ Giống gia súc: Giống gia súc khác nhau mắc bệnh khác nhau Bò Hà Lan nhập vào
Việt Nam dễ nhiễm ký sinh trùng đường máu hơn bò nội Thường gia súc giống thuần phản ứng với bệnh tật mạnh hơn và triệu chứng rõ hơn so với gia súc lai
■ Tuổi gia súc: Tuổi gia súc là một trong những vấn đề cần chú ý lúc chẩn đoán bệnh
Lợn trong vòng một tháng tuổi ỉa chảy thường do tác nhân stress (thức ăn, thời tiết, khí hậu); 2–6 tháng tuổi thường do giun sán, phó thương hàn Bê hay bị bệnh bạch lỵ, viêm phổi Gia súc già thường hay suy nhược, bị bệnh tim mạn tính, phổi khí thũng mạn tính.Tuổi gia súc liên quan đến việc xác định liều lượng thuốc dùng và có ý nghĩa trong việc tiên lượng bệnh
■ Mục đích sử dụng gia súc: Gia súc được sử dụng với những mục đích khác nhau, có
thể bị những bệnh khác nhau Ví dụ: đực giống hay bị bệnh ở đường sinh dục; ngựa kéo
xe hay bị bệnh khí thũng phổi hoặc bệnh đường ruột mạn tính
■ Thể trạng gia súc: Chỉ có ý nghĩa để xác định liều lượng thuốc dùng.
1.7.2 KIỂM TRA VỀ THỂ TRẠNG GIA SÚC
Gia súc có thể trạng tốt: Thân hình gia súc cứng rắn, cân đối, bốn chân to đều, các khớp
chắc tròn, bắp thịt đầy, xương sườn to và cong đều, khe sườn hẹp, lồng ngực rộng, dung tích bụng lớn
Gia súc có thể trạng kém: Cơ nhão và mỏng, lồng ngực hẹp, thân dài và bé hay bị bệnh,
điều trị khó lành và thường tiên lượng xấu
Thể trạng gia súc phản ánh trạng thái dinh dưỡng và tình trạng bệnh của cơ thể
Gia súc dinh dưỡng tốt: Thân tròn, da bóng, lông dài và mượt, cơ tròn và lẳn.
Gia súc dinh dưỡng kém: Da khô, lông xù, xương nhỏ, ngực lép Dinh dưỡng kém lâu
ngày thường do ăn thiếu, rối loạn tiêu hóa, bệnh mạn tính, có ký sinh trùng ký sinh
1.7.3 PHƯƠNG PHÁP KHÁM CHUNG GIA SÚC
1.7.3.1 Kiểm tra tư thế gia súc
Các tư thế bình thường của gia súc
Trâu, bò sau lúc ăn no thường nằm, bốn chân chụm lại dưới bụng, miệng liếm lông hay nhai lại, nếu người đến gần, có khi đứng dậy, có khi không Dê, cừu ăn tập trung từng
Trang 22đàn, ăn xong thường nằm, khi có người đến gần thì vùng dậy Ngựa thường đứng, chân sau thay nhau co nghỉ, lúc nằm một chân duỗi thẳng, người đến gần thì đứng dậy Lợn nghe tiếng đổ thức ăn vào máng thì chạy đến ăn no rồi nằm.
Các tư thế khác thường của gia súc
Tư thế đứng co cứng thấy xuất hiện trong các bệnh: uốn ván, viêm màng bụng, những bệnh gây trở ngại hô hấp nặng, một số bệnh thần kinh
Gia súc bị uốn ván có tư thế: thân thẳng, bốn chân dạng ra, đi lại khó khăn, đuôi cong ngược, đầu thẳng và cứng đờ Những triệu chứng này đặc biệt điển hình ở ngựa
Gia súc bị viêm họng, viêm màng phổi có biểu hiện: ít đi lại, thở khó, đầu vươn cao, thân hình như co cứng
Các bệnh thần kinh như não tích nước, trúng độc thức ăn mạn tính thì bệnh súc phản xạ chậm, có lúc đứng như bất động
Viêm âm đạo nặng: Bệnh súc ít đi lại Nếu cưỡng bức thì hai chân sau dạng rộng, lưng cong, đuôi vểnh ngược
Các dạng vận động khác thường
Vận động vòng tròn: Bệnh súc quay vòng tròn to dần hoặc nhỏ dần lại, hoặc theo chiều kim đồng hồ quanh một chân là do tổn thương ở tiểu não, thần kinh tiền đình bị liệt hoặc những bệnh làm áp lực trong sọ não tăng như: ấu sán não, khối u
Trong trường hợp bệnh súc chạy về phía trước, đầu ngẩng cao hoặc cúi xuống, có lúc ngã lăn ra là do tổn thương ở trung khu vận động thuộc đại não Vận động giật lùi, đầu hướng về phía sau thường thấy lúc gia súc bị cắt tiểu não, cơ cổ co thắt Biểu hiện lăn lộn thường gặp ở tiểu gia súc và gia cầm do tổn thương tiền đình hoặc tiểu não Nằm nghiêng đầu về một phía là triệu chứng rất điển hình của bệnh liệt sau khi đẻ ở
bò sữa
Chú ý: Những ngựa già thường ít đi lại, đứng dậy nằm xuống khó khăn; chó dại
thường chạy và cắn xé, có khi như lảo đảo
1.7.3.2 Kiểm tra niêm mạc
Kiểm tra niêm mạc ngoài việc biết được niêm mạc có bệnh gì, còn có thể xác định được tình trạng chung của cơ thể như hoạt động tuần hoàn, thành phần của máu, tình trạng hô hấp Đối với những gia súc da có màu như: trâu, bò, ngựa thì việc khám niêm mạc càng
có ý nghĩa trong chẩn đoán bệnh
Thường kiểm tra niêm mạc mắt, niêm mạc miệng, niêm mạc âm hộ , trong đó kiểm tra niêm mạc mắt là phổ biến nhất
Phương pháp kiểm tra niêm mạc mắt
Ngựa: Khám mắt trái thì người khám đứng bên trái ngựa, tay trái cầm dây cương cố
định ngựa Ngón trỏ tay phải ấn mạnh vào da trùm khoang mắt trên, ngón cái phanh phần
Trang 23da khoang mắt dưới để bộc lộ niêm mạc Ba ngón còn lại để lên phần ngoài khoang mắt trên làm điểm tựa Nếu khám bên phải thì tư thế người đứng khám ngược lại.
Trâu, bò: Có thể khám niêm mạc mắt theo cách trên hoặc bằng cách hai tay cầm chặt
hai sừng, bẻ cong đầu về một phía để bộc lộ niêm mạc
Lợn, dê, cừu: Dùng ngón tay trỏ và ngón cái hoặc hai ngón tay cái hai bên phanh rộng
mi mắt
Niêm mạc mắt bình thường của gia súc
Trâu bò: niêm mạc mắt màu đỏ, ít ánh quang Ngựa: niêm mạc mắt màu đỏ thẫm Lợn, dê, cừu: niêm mạc mắt màu hồng Tuy nhiên, niêm mạc mắt của lợn, dê, cừu rất dễ
bị thay đổi, nên lúc khám cần nhẹ nhàng
Những thay đổi ở niêm mạc mắt
Niêm mạc nhợt nhạt: Niêm mạc mắt nhợt nhạt thể hiện triệu chứng thiếu máu Tùy
mức độ thiếu máu, niêm mạc nhạt màu hoặc có màu trắng bợt hoặc màu xanh tím Biểu hiện niêm mạc mắt nhợt nhạt có hai dạng:
• Niêm mạc nhợt nhạt cấp tính: do bị mất máu cấp tính như vỡ mạch quản lớn, vỡ gan, vỡ lách, vỡ dạ dày, vỡ ruột Ở ngựa có thể do xoắn ruột, lồng ruột, đau bụng, liệt thần kinh
• Niêm mạc nhợt nhạt mạn tính (có thể ở cả đàn gia súc): do thức ăn thiếu dinh
dưỡng, do bệnh ký sinh trùng hoặc các bệnh mạn tính khác (viêm ruột, lao ), bệnh bạch huyết, ở ngựa còn thấy trong bệnh thiếu máu truyền nhiễm
Niêm mạc đỏ ửng: Do các mạch quản nhỏ ở niêm mạc sung huyết làm cho niêm mạc
có màu đỏ Trường hợp này có thể do những nguyên nhân sinh lý (trời nóng bức, lao động nặng, quá hưng phấn) hoặc nguyên nhân bệnh lý Niêm mạc mắt đỏ ửng có 3 trường hợp:
• Đỏ ửng cục bộ: Mạch máu nhỏ ở niêm mạc mắt sung huyết, căng to, có trường hợp
nổi rõ như chùm rễ cây, thường thấy trong trường hợp sung huyết não, viêm não,
tụ máu ở não, bệnh ở tim, phổi
• Đỏ ửng lan tràn: Mạch quản nhỏ đầy máu và niêm mạc đỏ tràn lan Trường hợp
này thường gặp trong các bệnh truyền nhiễm như: nhiệt thán, tụ huyết trùng, dịch
tả lợn hoặc trong bệnh viêm não tuỷ, các trường hợp trúng độc
• Đỏ ửng xuất huyết: Niêm mạc đỏ kèm những điểm xuất huyết, thường thấy trong
những bệnh truyền nhiễm cấp tính hay mạn tính
Niêm mạc hoàng đản: Niêm mạc có màu vàng, do trong máu tích nhiều sắc tố mật
(bilirubin) Hoàng đản nặng hay nhẹ tùy thuộc số lượng sắc tố mật và màu sắc của niêm mạc (nếu niêm mạc bình thường có màu trắng thì hoàng đản rõ)
Nguyên nhân gây vàng da, vàng niêm mạc gặp trong trường hợp những bệnh làm tắc ống mật như: sỏi ống mật, viêm ống dẫn mật, viêm tá tràng làm tắc mật, sắc tố mật ngấm vào tổ chức, tụ lại dưới da và niêm mạc; hoặc những bệnh làm hồng cầu vỡ nhiều (do độc
tố, một số bệnh truyền nhiễm, một số bệnh ký sinh trùng đường máu) làm cho bilirubin
Trang 24tích lại nhiều trong máu, dưới da và niêm mạc Ngoài ra, gia súc bị tổn thương ở gan do viêm gan, gan thoái hóa, xơ gan, gan có ổ mủ cũng gây vàng da, vàng niêm mạc.
Niêm mạc tím bầm: Niêm mạc mắt màu tím có ánh xanh Ngoài niêm mạc mắt, hiện
tượng tím bầm còn thấy rõ ở niêm mạc miệng, niêm mạc mũi (đối với lợn, trâu, bò, dê, cừu), mào (đối với gà)
Màu tím bầm ở niêm mạc là do trong máu có nhiều khí cacbonic và globin, do các bệnh gây rối loạn tuần hoàn và hô hấp nặng (viêm cơ tim, viêm bao tim, bệnh ở các van tim ) gây ứ máu ở tiểu tuần hoàn, do các bệnh ở phổi (viêm phổi, sung huyết phổi, khí thũng phổi, xẹp phổi), do các bệnh truyền nhiễm (nhiệt thán, dịch tả lợn ) và các bệnh gây đau đớn kịch liệt
cacboxyhemo-Dử mắt: Thường gặp ở những gia súc bị bệnh truyền nhiễm (dịch tả lợn), viêm kết
mạc mắt Dử mắt gồm niêm dịch, tương dịch, mủ đọng lại trong mí mắt
Niêm mạc mắt sưng: Thành niêm mạc sưng mọng, dày lên, tụ máu, tổ chức thấm ướt,
có khi lồi ra ngoài Thường thấy trong trường hợp viêm niêm mạc mắt, trong một số bệnh truyền nhiễm (dịch tả lợn, tụ huyết trùng, Coli dung huyết)
1.7.3.3 Kiểm tra lông và da
Quan sát trạng thái lông, nhiệt độ da, độ ẩm da, đàn tính của da, mùi của da, màu sắc của
da và những thay đổi khác
Kiểm tra lông gia súc
Gia súc khỏe, lông bóng, đều, mềm và khó rụng Tuy nhiên, ở gia súc có hiện tượng thay lông sinh lý Trâu, bò, cừu, ngựa và chó một năm thay lông hai lần vào mùa xuân và mùa thu
Gia súc thay lông chậm thường thấy trong các bệnh mạn tính, rối loạn tiêu hóa, sau một thời gian bị bệnh nặng Trường hợp thay lông không đúng mùa, thay lốm đốm từng đám, thường do ngoại ký sinh trùng, nấm, những bệnh gây suy dinh dưỡng, rối loạn thần kinh Trường hợp lông thô và khô, dài ngắn không đều thường do dinh dưỡng kém (thức
ăn kém chất lượng, chăn nuôi kém), bệnh mạn tính, tỵ thư, lao, ký sinh trùng, bệnh ở đường tiêu hóa
Kiểm tra da gia súc
■ Màu của da: Những gia súc da không có màu (cừu, lợn: da màu trắng) và gia cầm,
khám da có thể biết tình trạng tuần hoàn và hô hấp của cơ thể (giống khám niêm mạc mắt)
Da nhợt nhạt là biểu hiện của sự thiếu máu Tùy mức độ thiếu máu, da có màu trắng xám, trắng phớt vàng, trắng bợt Da nhợt nhạt do mất máu cấp tính hoặc mạn tính Da đỏ ửng là do huyết quản nhỏ sung huyết làm cho da có màu đỏ đậm; nếu đỏ ửng một vùng có thể do viêm da, do ký sinh trùng; nếu đỏ ửng vùng rộng và nhiều chỗ, có thể do các bệnh truyền nhiễm cấp tính (bệnh đóng dấu lợn, bệnh nhiệt thán); nếu da đỏ ửng có lấm tấm xuất huyết, có thể do những bệnh truyền nhiễm cấp tính Da tím bầm có thể là hậu quả
Trang 25của rối loạn tuần hoàn và hô hấp nặng Vàng da, vàng niêm mạc là do trong máu tích nhiều sắc tố mật (bilirubin); vàng da, vàng niêm mạc nặng hay nhẹ tùy thuộc số lượng sắc tố mật
và màu sắc của da (nếu da bình thường có màu trắng thì vàng da, vàng niêm mạc rõ)
■ Nhiệt độ của da: Dùng mu bàn tay sờ trên bề mặt của da để kiểm tra nhiệt độ da Vị
trí kiểm tra ở các loài gia súc như sau: trâu, bò kiểm tra ở gương mũi, gốc sừng, mé ngực, bốn chân; ngựa kiểm tra ở lỗ tai, sống mũi, mé cổ, mé bụng, bốn chân; lợn kiểm tra ở mũi, tai, bốn chân; gia cầm kiểm tra ở mào, cẳng chân; dê, cừu kiểm tra ở gương mũi, gốc sừng,
mé ngực, bốn chân
Nhiệt độ các vùng da trên cơ thể không đều nhau vì sự phân bố mạch quản khác nhau Ở mé ngực ngựa, nhiệt độ da là 35,2oC; ở chân: 13–15oC (đo bằng nhiệt kế bán dẫn),
da ở vùng lông dày ấm hơn vùng ít lông
Những trường hợp nhiệt độ da thay đổi: Nhiệt độ da cao là do mạch quản giãn rộng, máu chảy qua nhiều; do sốt cao; do đau đớn kịch liệt; do quá hưng phấn Ngoài ra, khi gia súc làm việc dưới trời nắng da rất nóng Nếu một vùng nhỏ của da nóng lên là do viêm Nhiệt độ da thấp là do mạch quản co, lượng máu đến ít hoặc thấy trong các bệnh như liệt sau khi đẻ, xeton huyết, các bệnh ức chế thần kinh Da bốn chân lạnh có thể do suy tim
■ Mùi của da: Do mồ hôi, dịch nhờn, tế bào thượng bì tróc ra phân giải tạo thành
Da có mùi phân khi chuồng trại vệ sinh kém Da có mùi khai nước tiểu thấy trong trường hợp ure niệu, vỡ bàng quang Da thối, tanh trong trường hợp da bị hoại tử, bê, nghé ỉa phân trắng
■ Độ ẩm của da: Độ ẩm của da là do hoạt động phân tiết của tuyến mồ hôi dưới da
quyết định Tùy loài gia súc mà số lượng và khả năng phân tiết mồ hôi khác nhau (ngựa nhiều mồ hôi, chó và lợn ít mồ hôi, gia cầm không có mồ hôi)
Lúc yên tĩnh, nhìn da của gia súc như khô, nhưng nhìn kỹ vẫn có một lớp mồ hôi mịn như sương Nếu làm việc nặng, trời nóng bức hoặc thần kinh ở trạng thái hưng phấn thì gia súc ra nhiều mồ hôi
Những trường hợp độ ẩm của da khác thường: Mồ hôi ra nhiều (vã mồ hôi) trên toàn thân thường gặp trong các bệnh ở phổi gây khó thở, các bệnh gây đau đớn kịch liệt, các bệnh gây co giật như uốn ván, các bệnh gây rối loạn tuần hoàn, sốt cao, cảm nắng Mồ hôi ra nhiều ở từng vùng thấy khi tổn thương thần kinh tủy sống hoặc khí quan nội tạng
bị vỡ, vùng da dọc cung sườn vã mồ hôi thường do vỡ ruột Mồ hôi lạnh và nhầy thường
do choáng, trúng độc, vỡ dạ dày, sắp chết Mồ hôi ít hoặc không có là do cơ thể mất nước, thường gặp trong các bệnh gây nôn mửa, ỉa chảy nặng, sốt cao; ngoài ra, đối với gia súc già da thường khô
Chú ý: Quan sát ở gương mũi của loài nhai lại, lợn, chó luôn có lớp mồ hôi lấm tấm,
lau khô lại xuất hiện Nếu gương mũi khô là gia súc đang bị sốt
■ Độ đàn tính của da: Kiểm tra độ đàn tính của da bằng cách kéo dúm da rồi thả ra
và quan sát Da đàn tính tốt, khi kéo dúm da lại rồi thả ra, da căng trở lại vị trí cũ ngay
Da đàn tính kém, khi kéo dúm da lại rồi thả ra, một lúc sau da mới trở về vị trí cũ; trường
Trang 26hợp này có thể thấy ở gia súc già, suy dinh dưỡng, viêm da, ngoại ký sinh trùng, các bệnh truyền nhiễm mạn tính.
■ Sự thay đổi về độ dày và độ mịn của da
Độ dày của da thay đổi (da sưng dày) có thể do thủy thũng, khí thũng, huyết thũng, lâm ba ngoại thấm, ổ mủ, do xạ khuẩn, do viêm Khí thũng là hiện tượng khí tích lại dưới
da làm da phồng lên, dùng tay ấn có tiếng lạo xạo, có thể thấy trong trường hợp viêm hoại
tử ở tổ chức dưới da Ví dụ: bệnh ung khí thán Thủy thũng là do nước tụ lại dưới da giữa
các tổ chức, thấm vào tổ chức làm da dày lên Có nhiều nguyên nhân gây thủy thũng: thủy thũng do tim (tim suy do viêm cơ tim, viêm bao tim, tuần hoàn trở ngại, máu ứ ở các huyết quản xa gây thủy thũng, nhất là các bộ phận xa tim như bốn chân, dưới bụng, dưới ngực); thủy thũng do suy dinh dưỡng (do ăn uống kém, ký sinh trùng, các bệnh mạn tính , thủy thũng thấy rõ nhất là dưới hàm, dưới bụng, bốn chân); thủy thũng do thận (thận bị tổn thương do viêm biến tính, nước tiểu có albumin, thấy thủy thũng rõ nhất ở mi mắt); thủy thũng do viêm (dịch thẩm xuất do viêm tụ lại gây thủy thũng, gặp trong bệnh nhiệt thán, viêm bao tim do ngoại vật)
Bình thường da của gia súc mịn và bóng (trâu, lợn), trong một số trường hợp có thể làm cho độ mịn của da thay đổi Khi da gia súc bị phát ban thấy có những chấm đỏ nhỏ
do tụ máu hay chảy máu, có khi thành đám, dùng tay ấn mạnh thì mất, bỏ tay ra sẽ trở lại trạng thái ban đầu (da của lợn bị bệnh đóng dấu); có thể là mảng đỏ dày, ấn tay không mất (da của lợn bị bệnh dịch tả) Nốt sần xuất hiện trên da, nổi lên những nốt hình tròn, đỏ, to bằng hạt gạo thấy trong bệnh cúm ngựa Khi trên da có nổi mần đay thấy xuất hiện những nốt to bằng hạt đậu, có khi bằng đốt ngón tay, nổi lên từng đám ở mặt da, gia súc rất ngứa (thường gặp trong trường hợp dị ứng hay trúng độc thức ăn) Trường hợp trên da gia súc xuất hiện mụn nước do tương dịch thẩm xuất tụ lại dưới da tạo thành những mụn nước nhỏ bằng hạt đậu (gặp trong bệnh lở mồm long móng trâu, bò, dê, cừu, lợn) cũng làm cho
độ mịn của da thay đổi Trên da gia súc có những mụn nước bị nhiễm trùng kế phát tạo thành mụn mủ (bệnh đậu, dịch tả lợn, sài sốt chó con), hoặc trường hợp mụn mủ trên da
vỡ ra hoặc da bị hoại tử sẽ tạo thành nốt loét (thường gặp trong bệnh tỵ thư ở ngựa, viêm hạch lâm ba, viêm miệng, lao ) và làm ảnh hưởng đến độ mịn của da
1.7.3.4 Kiểm tra một số chỉ tiêu sinh lý ở gia súc, gia cầm
Đo thân nhiệt
Đo thân nhiệt là một việc không thể thiếu được trong chẩn đoán bệnh Thân nhiệt cao hay thấp hơn bình thường được coi là triệu chứng quan trọng
Trong điều kiện chăn nuôi giống nhau, thân nhiệt ở gia súc non cao hơn gia súc trưởng thành và gia súc già; thân nhiệt ở con cái thường cao hơn con đực Trong một ngày đêm, thân nhiệt thấp nhất vào lúc sáng sớm (1–6 giờ), cao nhất vào buổi chiều (16–18 giờ) Vào mùa hè, trâu, bò làm việc dưới trời nắng gắt, thân nhiệt có thể cao hơn bình thường 1–1,8oC
Trang 27Thân nhiệt dao động trong vòng 1oC nằm trong phạm vi sinh lý Nếu thân nhiệt cao hoặc thấp quá 1oC kéo dài sẽ ảnh hưởng đến các hoạt động của cơ thể.
■ Cách đo thân nhiệt:
Dùng nhiệt kế có khắc “oC” theo cột thủy ngân
Trước khi dùng vẩy mạnh nhiệt kế cho cột thủy ngân tụt xuống vạch cuối cùng.Đối với gia súc, đo thân nhiệt ở trực tràng Ở con cái có thể đo ở âm đạo Nhiệt độ trực tràng thấp hơn nhiệt độ máu 0,5–1oC, nhiệt độ âm đạo thấp hơn nhiệt độ trực tràng 0,2–0,5oC (khi gia súc có chửa nhiệt độ âm đạo lại cao hơn nhiệt độ trực tràng 0,5oC) Trường hợp trực tràng bị viêm hay bị lòi dom, có thể đo thân nhiệt ở trong miệng (sát niêm mạc má) Đo thân nhiệt gia cầm ở gốc cánh
Đo thân nhiệt hai lần trong một ngày: sáng lúc 7–9 giờ; chiều 16–18 giờ Đối với trâu,
bò, có thể đo lúc trâu, bò đứng (không cần cố định) Đối với lợn, chó, mèo, dê, cừu, đo khi đứng hoặc cho nằm Đối với gia cầm, đo khi cho nằm Đối với ngựa, khi đo cần thận trọng
vì ngựa rất mẫn cảm (phải cột ngựa vào gióng)
■ Cách đặt nhiệt kế: Đưa nhẹ nhiệt kế vào trực tràng (gia súc lớn thì cho gần ngập
nhiệt kế, gia súc nhỏ cho ngập khoảng 1/2 đến 1/3) Để nhiệt kế lưu lại trong trực tràng khoảng 5 phút Khi lấy nhiệt kế ra thì dùng bông tẩm cồn lau sạch để xem cột thủy ngân dâng đến vạch nào và ứng với nhiệt độ là bao nhiêu?
Thân nhiệt bình thường của một số loài động vật
Nguồn: Hồ Văn Nam và cs, 1997
h ình 1.3. Nhiệt kế dùng đo thân nhiệt gia súc
Trang 28■ Những trường hợp thân nhiệt thay đổi:
Thân nhiệt tăng: Khi thân nhiệt tăng hơn giới hạn sinh lý cho phép gọi là sốt Sốt là
phản ứng toàn thân của động vật máu nóng đối với tác nhân gây bệnh như vi khuẩn, độc
tố của nó và những chất độc khác hình thành trong quá trình bệnh
Thân nhiệt tăng thường gặp trong các bệnh truyền nhiễm, trong các quá trình viêm, trong một số bệnh ký sinh trùng, có những trường hợp gia súc sốt khi bị tác động bởi yếu
tố thời tiết, khí hậu
Có thể căn cứ vào thân nhiệt để chẩn đoán bệnh cấp tính hay mạn tính, bệnh nặng hay nhẹ Những bệnh cấp tính như: viêm phổi, dịch tả lợn… thì sốt cao Những bệnh mạn tính như: lao, viêm phế quản mạn tính… thường không sốt hay sốt nhẹ
Dựa vào thân nhiệt để chẩn đoán phân biệt Ví dụ: phổi khí thũng, phổi sung huyết
thì gia súc không sốt, nhưng trong bệnh viêm phổi thì gia súc sốt
Dựa vào thân nhiệt hàng ngày để theo dõi kết quả điều trị và tiên lượng: giảm sốt từ
từ thường do điều trị đúng và tiên lượng tốt Nếu đang sốt cao mà thân nhiệt hạ xuống đột ngột là tiên lượng xấu
Thân nhiệt thấp: Thân nhiệt thấp dưới mức bình thường khoảng 1oC thường gặp trong các bệnh thần kinh ức chế nặng: bại liệt sau khi đẻ, chứng xeton huyết, viêm não tủy, một số trường hợp trúng độc, mất máu nhiều, thiếu máu nặng, suy nhược cơ thể
Thân nhiệt thấp hơn bình thường 2–3oC, có lúc đến 4oC có thể thấy ở gia súc bị vỡ dạ dày, vỡ ruột, lúc gia súc gần chết
Kiểm tra tần số hô hấp
Tần số hô hấp là số lần thở trong 1 phút, thường đếm tần số hô hấp trong 2–3 phút rồi lấy số bình quân
Để tính tần số hô hấp cần quan sát hõm hông, thành ngực, thành bụng, xương cánh mũi hoạt động khi gia súc thở
h ình 1.4. Đo thân nhiệt ở trực tràng bò
Trang 29Tần số hô hấp thay đổi theo con đực hay con cái, giống gia súc, tuổi, trạng thái dinh dưỡng, thời tiết, khí hậu.
Thông thường, con đực thường thở chậm hơn con cái; gia súc thể vóc nhỏ thở nhanh hơn gia súc có thể vóc lớn; gia súc non thở nhanh hơn gia súc già; mùa nóng ẩm gia súc thở nhanh hơn mùa khô; buổi trưa nóng gia súc thở nhanh hơn ban đêm trời mát
Những trường hợp tần số hô hấp thay đổi:
• Thở nhanh: thường thấy trong các trường hợp:
• Những bệnh làm thu hẹp diện tích hô hấp ở phổi (viêm phổi, lao phổi), làm mất đàn tính của phổi (phổi khí thũng), những bệnh hạn chế phổi hoạt động (đầy hơi dạ dày, đầy hơi ruột)
• Những bệnh có sốt cao, thiếu máu nặng, bệnh ở tim, thần kinh hay quá đau đớn
• Thở chậm: do những bệnh làm hẹp thanh quản, hẹp khí quản (viêm, phù thũng), ức chế thần kinh nặng (viêm não, u não, xuất huyết não, thủy thũng não, ký sinh trùng não),
do trúng độc, chức năng thận rối loạn, bệnh ở gan nặng, liệt sau khi đẻ, sắp chết, bệnh xeton huyết ở bò sữa, viêm não tủy truyền nhiễm ở ngựa, tần số hô hấp giảm rất rõ
Cách bắt mạch: để cho gia súc yên tĩnh và bắt mạch ở một thời gian nhất định trong
ngày Dùng tay để bắt mạch, bằng cách: ngón tay trỏ và ngón tay giữa đè lên động mạch, lần qua lại để tìm; đè tay vừa phải để có cảm giác mạch nẩy rõ Cần kiểm tra kỹ về tần số mạch đập, tính chất và nhịp điệu của mạch
Trong quá trình khám bệnh cho gia súc cần phải kiểm tra tần số mạch đập để đánh giá thể trạng của con vật Tần số mạch đập là số lần mạch đập trong 1 phút, những con vật không đứng yên thì nên lấy mạch đập trong 3, 4 phút rồi chia bình quân
Những yếu tố ngoại cảnh có ảnh hưởng đến tần số mạch đập như: chế độ làm việc nặng, thời tiết nóng bức, ăn quá no Gia súc thể vóc nhỏ mạch đập nhanh, thể vóc lớn mạch đập chậm; tần số hô hấp ở con đực ít hơn con cái, ở gia súc già ít hơn gia súc non
Tần số hô hấp bình thường của một số loài gia súc
Trang 30Mạch đập là do tim đập, nhưng tần số mạch đập có lúc không phải là tần số của tim
Ví dụ: khi lực đập của tim yếu dẫn đến mạch khuyết, bắt mạch thấy tần số mạch đập giảm
(mặc dù tần số tim đập vẫn bình thường)
Các trường hợp mạch đập không bình thường
• Tần số mạch đập tăng: Mạch đập tăng khi sốt, nhiệt độ cao hoặc do tác động của các loại độc tố lên cơ quan thụ cảm của tim Thân nhiệt tăng 1oC thì tần số mạch tăng 8–10 lần Tần số mạch đập tăng trong các bệnh truyền nhiễm cấp tính, viêm cấp tính, viêm cơ tim, bệnh ở van tim, các trường hợp thiếu máu Những bệnh gây đau đớn, thần kinh bị kích thích, trúng độc, các bệnh làm tăng áp lực xoang bụng như: giãn dạ dày, đầy hơi ruột, chướng hơi dạ cỏ thì tần số mạch tăng Viêm não, trúng độc atropin thì tần số mạch tăng rõ Ở ngựa, tần số mạch đập quá 100 lần/phút là tiên lượng không tốt
• Tần số mạch giảm: Mạch đập chậm thường do thần kinh mê tẩu hưng phấn hoặc bệnh ở hệ thần kinh trong tim, các bệnh làm áp lực sọ não tăng, viêm thận cấp tính, trúng độc, vàng da, vàng niêm mạc Nếu tần số mạch chậm do thần kinh mê tẩu hưng phấn thì tiêm atropin sẽ làm tần số mạch tăng lên, còn nếu do dẫn truyền trong tim yếu thì tiêm atropin không có tác dụng
Kiểm tra nhu động dạ cỏ ở gia súc nhai lại
Hoạt động của dạ cỏ có liên quan mật thiết với các túi dạ dày khác và tình trạng chung của cơ thể Thông qua việc sờ nắn dạ cỏ sẽ biết được tình trạng vận động, độ mẫn cảm, tính chất, lượng thức ăn chứa trong đó và cảm nhận được hiện tượng nhu động của dạ cỏ:
dạ cỏ co bóp làm thức ăn trong dạ cỏ chuyển động từ phải qua trái, từ trên xuống dưới, hõm hông trái nổi lên rồi lõm xuống, tắc lại ở phần giữa
Nhu động dạ cỏ thường được đếm trong 4 phút rồi lấy số bình quân
Nhu động dạ cỏ của gia súc khỏe mạnh: Trâu, bò: 2–5 lần/2 phút; dê: 2–4 lần/2 phút;
cừu: 3–6 lần/2 phút
Các trường hợp nhu động dạ cỏ thay đổi:
Nhu động dạ cỏ giảm, lực co bóp yếu, co bóp ít: do liệt dạ cỏ, tích thức ăn trong dạ cỏ,
do các bệnh truyền nhiễm, bệnh nội khoa nặng
Tần số mạch đập bình thường của một số loài gia súc, gia cầm
Trang 31Nhu động dạ cỏ ngừng hoạt động: do liệt dạ cỏ nặng, đầy hơi nặng, viêm màng bụng nặng, Nhu động dạ cỏ tăng, co bóp nhiều, lực co mạnh: có thể là giai đoạn đầu của chướng hơi dạ cỏ, trúng độc,
Ấn mạnh tay vào vùng dạ cỏ thấy gia súc đau: thường do viêm màng bụng
1.7.3.5 Kiểm tra ăn và uống
Quan sát cách lấy thức ăn và nước uống của gia súc
Bình thường ngựa dùng môi lấy thức ăn, hàm dưới đưa thức ăn vào miệng; bò dùng lưỡi lấy thức ăn; lợn ngoạm từng miếng Khi gia súc lấy thức ăn và nuốt khó khăn có thể
do bệnh ở lưỡi, ở môi, ở niêm mạc miệng, răng, cơ nhai, họng, các bệnh thần kinh Ngựa lấy thức ăn khó khăn, nhai thức ăn uể oải, nhiều khi gục đầu vào máng là triệu chứng của viêm não, u não, não thủy thũng
Gia súc ăn kém có thể do sốt hoặc rối loạn tiêu hóa Khi gia súc ăn nhiều thức ăn tinh thì độ chua trong dạ dày tăng, ăn nhiều thức ăn thô thì độ chua trong dạ dày giảm Trường hợp bệnh nặng gia súc hoàn toàn không ăn Gia súc ăn nhiều thường do đói lâu ngày, hoặc do gia súc đang trong thời kỳ hồi phục sau thời gian ốm, do rối loạn trao đổi chất Gia súc ăn bậy như ăn vách tường, đất thường do các bệnh rối loạn trao đổi chất khoáng, gia súc thiếu canxi, photpho, đồng, kẽm hoặc do dịch vị quá chua, viêm dạ dày cata mạn tính, chó dại
Gia súc uống nước nhiều hay ít phụ thuộc nhiều vào điều kiện khí hậu nóng hay lạnh, vận động nhiều hay ít hoặc do tính chất thức ăn Gia súc uống nước ít thường thấy trong các bệnh tắc ruột, thủy thũng ở mô, hoặc bị tê liệt thần kinh mặt Gia súc uống nước nhiều thường gặp trong các bệnh gây sốt, ỉa chảy, nôn mửa, ra nhiều mồ hôi hoặc trong bệnh đái tháo đường, bệnh viêm phúc mạc thời kỳ thẩm suất
Kiểm tra động tác nhai của gia súc
Trâu bò nhai thường há mồm, đầu ngẩng để khỏi rơi thức ăn Ngựa nhai đầu ngẩng hoặc cúi, miệng ngậm Gia súc nhai chậm, uể oải thường do sốt, bệnh ở dạ dày, rối loạn tiêu hóa.Khi nhai có cảm giác bị đau, cổ vươn ra, miệng há hốc: có thể do bệnh ở răng hoặc miệng (viêm chân răng, răng mòn không đều, viêm niêm mạc miệng, viêm lưỡi ) Khi nhai rất đau, gia súc không dám nhai, hai hàm răng khép chặt là triệu chứng của viêm niêm mạc miệng, viêm lưỡi nặng, bệnh thần kinh
Gia súc không nhai mà nghiến răng có thể do đau bụng, trúng độc, viêm não tủy truyền nhiễm (ngựa); do viêm dạ dày cata, viêm ruột cata, liệt dạ cỏ, viêm dạ tổ ong do ngoại vật (bò); do bệnh dịch tả (lợn); do ấu sán não (cừu)
Kiểm tra động tác nuốt của gia súc
Kiểm tra động tác nuốt của gia súc có thể phát hiện được sự rối loạn nhẹ hoặc nặng Khi có rối loạn nhẹ, đầu gia súc vươn thẳng, lắc lư, hai chân cào đất, nuốt khó khăn; trường hợp này là do viêm họng, tắc thực quản gây nên Khi có rối loạn nặng, thức ăn trào
Trang 32ra đằng mũi, trào ngược thực quản; trường hợp này là do viêm họng nặng, do tắc thực quản hoặc thấy trong các bệnh về thần kinh.
Kiểm tra sự nhai lại của gia súc
Bò khỏe sau khi ăn no 30 phút đến 1,5 giờ bắt đầu nhai lại, trong một ngày đêm nhai lại 6–8 lần Nếu rối loạn sự nhai lại thì con vật nhai lại chậm và yếu, có thể thấy cảm giác đau khi nhai lại, nhất là lúc đẩy thức ăn từ dạ cỏ lên hoặc hoàn toàn không nhai lại nữa Rối loạn nhai lại là triệu chứng của những bệnh ở dạ dày trước hoặc các bệnh nặng làm liệt dạ cỏ, các trường hợp trúng độc
Kiểm tra phản xạ ợ hơi
Trâu, bò mỗi giờ ợ hơi khoảng 20–40 lần Nhờ ợ hơi mà các khí sinh ra do lên men thức ăn trong dạ cỏ được tống ra ngoài Ợ hơi tăng là do ăn nhiều thức ăn dễ lên men sinh hơi, nếu không ợ hơi được thì dễ bị bệnh chướng hơi dạ cỏ, bội thực dạ cỏ (ở giai đoạn đầu) Ợ hơi giảm có thể do liệt dạ cỏ, tắc thực quản hoặc khi con vật sốt cao Khi gia súc
bị bệnh liệt dạ cỏ mạn tính thường ợ hơi có mùi thối Trường hợp không ợ hơi có thể do tắc thực quản hoặc do phản xạ ợ hơi bị ức chế
Ở các loài gia súc dạ dày đơn, hơi trong dạ dày thường được tống ra ngoài theo phân
và hấp thu vào máu Nếu gia súc dạ dày đơn ợ hơi là một triệu chứng thức ăn trong dạ dày lên men nhiều
Kiểm tra hiện tượng nôn mửa
Nôn mửa có thể do phản xạ hoặc do trung khu thần kinh bị kích thích Nôn do phản
xạ thường do bệnh ở cuống lưỡi, họng, ở dạ dày, đường ruột Ngoài ra, bệnh màng bụng,
ở tử cung cũng có thể gây nôn Khi các bộ phận đó bị tổn thương dễ làm cho trung khu thần kinh bị kích thích và gây nôn
Nôn do trung khu nôn bị kích thích trực tiếp thường thấy trong bệnh viêm hành tủy, viêm màng não, khối u não; độc tố của vi trùng tác động (trong các bệnh truyền nhiễm) và trong các trường hợp trúng độc Đặc điểm loại nôn này là nôn liên tục, lúc dạ dày không còn thức ăn vẫn tiếp tục nôn khô
Ở loài ăn thịt và loài hỗn thực, nôn là triệu chứng thường thấy trong bệnh viêm dạ dày cata cấp tính
Loài nhai lại nôn thường do dạ dày đầy hơi cấp tính, bội thực Con vật nôn rất khó khăn: đầu vươn thẳng, hai chân sau dạng ra, bụng co thót lại, thức ăn trào ra ở miệng,
ở mũi
Ngựa nôn rất khó Lúc nôn bụng co rút, toàn thân toát mồ hôi, thức ăn phun ra theo
lỗ mũi và sau khi nôn gia súc rất mệt mỏi
Kiểm tra nôn cần chú ý: Nôn một lần, thức ăn bình thường và sau đó không nôn lại, hiện tượng này thường xảy ra ở lợn và loài ăn thịt do ăn quá no Nôn nhiều lần trong ngày thường do gia súc bị trúng độc Nếu sau lúc ăn nôn ngay là do bệnh ở dạ dày Sau khi ăn
Trang 33một lúc mới nôn có thể do tắc ruột Chất nôn có lẫn máu là do viêm dạ dày xuất huyết, loét
dạ dày; ở lợn hay thấy trong bệnh phó thương hàn, dịch tả Chất nôn màu vàng lục thường
do tắc ruột non Chất nôn lẫn phân có mùi thối có thể do tắc ruột già
1.8 THUỐC THÚ Y VÀ CÁCH SỬ DỤNG
1.8.1 KHÁI NIỆM THUỐC THÚ Y
Thuốc thú y là các chất hay hợp chất được sử dụng để điều trị hoặc phòng ngừa và chẩn đoán bệnh cho vật nuôi Thuốc còn có tác dụng khôi phục, điều chỉnh các chức phận của
hệ thống cơ quan trong cơ thể của vật nuôi
Với mục đích điều trị, thuốc sẽ giúp cơ thể vật nuôi điều chỉnh, khôi phục lại trạng thái sinh lý bình thường
Với chức năng phòng bệnh, thuốc giúp cơ thể vật nuôi không lâm vào trạng thái bệnh
lý Ngoài ra, có thể dùng thuốc để hạn chế, ngăn ngừa bằng cách tiêu diệt các căn nguyên gây bệnh hay các động vật môi giới trung gian truyền bệnh tồn tại ở môi trường
Với chức năng chẩn đoán bệnh, thuốc giúp ta kiểm tra, xác định lại các bệnh truyền nhiễm ở vật nuôi đang trong giai đoạn nghi ngờ như: dùng các thuốc kháng sinh đặc trị
sẽ giúp ta phân biệt được bệnh do vi khuẩn, vi rút, cầu trùng, protozoa (nguyên sinh động vật) ở đường tiêu hóa hay do ký sinh trùng đường máu
Thuốc thú y còn dùng để khôi phục, điều chỉnh các chức phận của hệ thống cơ quan trong cơ thể vật nuôi như các thuốc giảm sốt, chống thiếu máu, thuốc mê, thuốc tê
1.8.2 THUỐC THÚ Y VÀ CÁCH SỬ DỤNG
1.8.2.1 Thuốc kháng khuẩn
Sulfamid (Sulfonamide) Sulfamid có phổ tác dụng kìm khuẩn rất rộng, cả trên vi
khuẩn Gram (+), Gram (-) và protozoa (nguyên sinh động vật) Hiện nay, người ta thường
sử dụng kết hợp sulfamid với các chất thuộc nhóm diaminopyrimidine trong điều trị để làm tăng phổ tác dụng kháng khuẩn một cách rõ rệt (thường kết hợp trimethoprim với sulfamethoxazole) trong điều trị hầu hết các bệnh truyền nhiễm Sulfamid thường được
sử dụng điều trị nhiễm khuẩn hệ thống thần kinh, hô hấp, tiêu hóa và đặc biệt là nhiễm khuẩn đường tiết niệu
Các sulfamid thường dùng
Sulfadimethoxine: Đây là loại sulfamid có tác dụng dài, đã được sử dụng nhiều năm,
hấp thu nhanh, thường sử dụng riêng lẻ hoặc kết hợp với ormethoprim để điều trị nhiễm khuẩn ở trâu, bò, lợn, ngựa, chó
Sulfamethazine (Sulfadimidine): Được dùng rộng rãi trong thú y để điều trị bệnh ở bò,
trâu, ngựa, dê, cừu, lợn, gia cầm Sulfamethazine đã được sử dụng ở bò và lợn trong nhiều năm nay bằng cách bổ sung vào thức ăn, nước uống (ở dạng viên), tiêm tĩnh mạch (ở
Trang 34dạng chế phẩm) và được sử dụng kết hợp với các sulfamid khác, tylosin, chlortetracyclin
và penicillin, novocain Dạng viên được sử dụng điều trị có hiệu lực đối với bệnh viêm phổi, bạch hầu ở trâu, bò Sulfamethazine được sử dụng trong điều trị bệnh phó thương hàn lợn, bệnh ở đường hô hấp của chó
Sulfaquinoxaline: Dạng sulfamid này được sử dụng chủ yếu trong điều trị bệnh cầu
trùng ở gia cầm và được sử dụng riêng lẻ hoặc kết hợp với diaminopyrimidine để điều trị bệnh cầu trùng gia cầm
Sulfadiazine: Sulfadiazine được sử dụng rộng rãi ở trâu, bò và gia súc nhỏ như: chó, mèo.
Thường sử dụng kết hợp sulfadiazine với các thuốc kháng khuẩn khác như trimethoprim, sulfamerazine, sulfamethazine hoặc tylozin để điều trị bệnh cho các gia súc cho thực phẩm Kết hợp trimethoprim với sulfadiazine ở tỷ lệ 1:5 có phổ tác dụng điều trị tương đối rộng trên
nhiều tác nhân gây bệnh ở chó, mèo như: Staphylococcus, Corynebacterium, Clostridium và một số vi khuẩn Gram âm như: Proteus, Salmonella, Klebsiella.
Sulfabromomethazine: Là sulfamid có tác dụng trong điều trị bệnh bạch hầu, viêm
phổi, viêm tử cung, thối móng, viêm vú ở trâu bò Không sử dụng thuốc cho gia súc trong
3 tháng đầu của thời kỳ có thai
1.8.2.2 Thuốc kháng sinh
Thuốc kháng sinh là những hợp chất có cấu tạo hóa học phức tạp mà hiện nay chỉ mới biết được một số chất Phần lớn là những chất do nấm hoặc vi khuẩn tạo ra hoặc do bán tổng hợp, có khi là chất hóa học tổng hợp… có tác dụng điều trị đặc hiệu do ức chế một
số quá trình sống của cơ thể
Kháng sinh chiếm 60–70% các loại thuốc được sử dụng, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Kháng sinh rất phong phú về chủng loại và biệt dược Dựa trên sự tổng hợp các yếu tố nguồn gốc, công thức, cơ chế tác dụng và cách tác dụng, chia kháng sinh thành các nhóm sau:
■ Nhóm β–lactam: Gồm có penicillin tự nhiên (cổ điển), penicillin tổng hợp (phổ
rộng) và cephalosporin
Các kháng sinh thuộc nhóm này được dùng trong điều trị bệnh nhiệt thán, ung khí thán, uốn ván cho gia súc, đóng dấu lợn, liều dùng: 10.000 UI/kgTT Ngoài ra, chúng còn được dùng để điều trị viêm vú, viêm đường sinh dục, viêm đường tiết niệu, nhiễm trùng máu, xử lý vết thương cục bộ và phòng tránh nhiễm trùng
Các loại penicillin tự nhiên (cổ điển) gồm có: penicillin G, penicillin V; các penicillin này có phổ kháng sinh hẹp, chỉ có tác dụng với vi khuẩn Gram (+) Penicillin tổng hợp (phổ rộng) bao gồm: amoxycillin, chloxacillin, clavulanate, ticarcillin, oxacillin, nafcillin ; các penicillin tổng hợp có tác dụng rộng với cả vi khuẩn Gram (+) và Gram (-), ngoài ra
chúng còn có tác dụng với cả Pseudomonas, các chủng tụ cầu khuẩn, liên cầu khuẩn kháng
lại penicillin tự nhiên
■ Nhóm aminoglycosid: Gồm có streptomycin, kanamycin, gentamicin, neomycin,
spectinomycin, dihydrostreptomycin, apramycin
Trang 35Các kháng sinh thuộc nhóm này có phổ tác dụng tương đối rộng (trừ streptomycin
và dihydrostreptomycin), chủ yếu với vi khuẩn Gram (-) như: cầu khuẩn, cầu–trực khuẩn, trực khuẩn, có tác dụng vừa phải với tụ cầu khuẩn Nhóm kháng sinh này được sử dụng trong điều trị bệnh tụ huyết trùng, bệnh ở đường tiêu hóa, bệnh ở đường hô hấp (suyễn, viêm phổi), viêm vú, viêm tử cung, viêm đường sinh dục tiết niệu
■ Nhóm macrolid: Có tác dụng kìm khuẩn và diệt khuẩn với các chủng vi khuẩn Gram
(+) gây bệnh viêm nội tâm mạc, nhiễm huyết cầu, Mycoplasma pneumoniae, Helicobacter influenzae Trong nhóm này gồm có các thuốc: erythromycin, tylosin, oleandmycin,
rifamycin
■ Nhóm lincosamid: Gồm có lincomycin, clindamycin (cleocin) Lincomycin được
dùng trong điều trị nhiễm khuẩn Gram (+), đặc biệt với tụ cầu khuẩn, liên cầu khuẩn và phế cầu khuẩn khi các vi khuẩn này nằm trong xương, ở gian chất của tổ chức mà các thuốc khác khó thấm vào Clindamycin có tác dụng tốt trên liên cầu khuẩn, tụ cầu khuẩn, phế cầu
khuẩn và các bacteroida, thuốc được dùng ưu tiên điều trị các bệnh về khớp của gia súc; ngoài
ra còn được dùng để điều trị các bệnh do vi khuẩn kỵ khí ở ruột và âm đạo Nên phối hợp Clindamycin với nhóm aminoglycosid để điều trị các trực khuẩn Gram (-) như: viêm mủ vùng bụng, viêm sau mổ, viêm túi mật, ruột thừa, viêm phúc mạc, nhiễm khuẩn huyết, phổi
■ Nhóm chloramphenicol: Thuốc có tác dụng kìm khuẩn và cũng có tác dụng diệt
khuẩn trong một số bệnh truyền nhiễm với những điều kiện nhất định và nồng độ cao hơn Thuốc có tác dụng ức chế vi khuẩn với nồng độ thấp Hoạt phổ của thuốc rất rộng,
có tác dụng trên nhiều loại vi khuẩn Gram (+), Gram (-), Ricketsia, virus kích thước lớn
Tuy nhiên, hiện nay trong thú y đã cấm sử dụng chloramphenicol trong điều trị bệnh cho gia súc vì chúng có một số tác hại: gây suy tủy, tỷ lệ quái thai cao, mất khả năng sản sinh tinh trùng của con đực, ức chế sự phát triển của tế bào trứng, gây dị ứng ; đặc biệt, nếu
sử dụng thường xuyên trong điều trị bệnh cho động vật sẽ rất nguy hại do chúng tồn dư trong các sản phẩm từ động vật dùng cho con người
■ Nhóm tetracyclin: Gồm có tetracyclin, oxytetracyclin, chlotetracyclin Tetracyclin
là thuốc ức chế vi khuẩn ở nồng độ thấp và diệt vi khuẩn ở nồng độ cao, có tác dụng với
cả vi khuẩn Gram (+), vi khuẩn Gram (-), virus kích thước lớn Tetracyclin kìm hãm sự
phát triển các vi khuẩn (Ricketsia, Amebae, Mycoplasma) và tất cả những vi khuẩn còn lại giống như phổ kháng sinh của chloramphenicol, nhóm β–lactam, nhóm aminoglycosid.
■ Nhóm dapeptid: Gồm có polymicin B, colistin, tiamulin, novobiocin
■ Nhóm chống nấm và virus.
Nguyên tắc sử dụng kháng sinh Thuốc kháng sinh phải dùng đủ liều lượng, nếu
dùng không đủ liều sẽ không đủ lượng kháng sinh để tiêu diệt vi khuẩn Khi đó gia súc không khỏi bệnh và còn gây nên hiện tượng vi khuẩn nhờn thuốc Do vậy, khi dùng kháng sinh lần sau sẽ ít hoặc không có hiệu quả
Dùng kháng sinh càng sớm càng tốt, nên dùng kháng sinh với liều cao ngay từ đầu Không dùng liều nhỏ tăng dần để tránh hiện tượng vi khuẩn nhờn thuốc
Trang 36Khi dùng kháng sinh phải đủ liệu trình, thông thường dùng kháng sinh ít nhất 3 ngày liên tục cho đến khi hết các biểu hiện nhiễm khuẩn (hết sốt, sưng hạch, ho, ỉa chảy ), sau
đó dùng thêm 1–2 ngày nữa rồi mới ngưng dùng thuốc Nếu sau 5–6 ngày dùng kháng sinh mà gia súc không khỏi bệnh thì nên đổi loại kháng sinh khác hoặc xem lại việc chẩn đoán bệnh
Không nên phối hợp quá nhiều loại kháng sinh, chỉ nên dùng kết hợp hai loại kháng sinh Nếu sử dụng phối hợp quá nhiều loại kháng sinh thì vừa không có hiệu quả điều trị
lại dễ làm vi khuẩn nhờn thuốc Ví dụ: nếu gia súc nhiễm khuẩn do liên cầu khuẩn, nên
phối hợp erythromyxin với pristinamyxin
Không nên lạm dụng thuốc kháng sinh, không nên dùng kháng sinh để phòng bệnh hoặc dùng tràn lan, tùy tiện, vì dễ gây nên hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn
Dùng kháng sinh phải chú ý đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, không nên mổ thịt gia súc, gia cầm ngay sau khi dùng kháng sinh, mà phải sau một thời gian để cơ thể thải
hết lượng thuốc tồn dư trong thịt Thời gian này khác nhau tùy thuộc loại kháng sinh theo
khuyến cáo của nhà sản xuất
Khi sử dụng kháng sinh cần kết hợp với bổ sung vitamin và đảm bảo chăm sóc, nuôi
dưỡng tốt
Phải dùng kháng sinh đúng chỉ định Hầu hết các kháng sinh có tác dụng kìm hãm hoặc tiêu diệt các vi khuẩn, chỉ có một số rất ít có tác dụng điều trị các bệnh do nấm, kí sinh trùng và virus Nếu chưa thật cấp bách, khi chưa xác định đúng bệnh chưa nên dùng kháng sinh Phải chọn kháng sinh đúng với bệnh vì mỗi loại kháng sinh có tác dụng đặc
hiệu với một loại vi khuẩn nhất định Ví dụ: ampicillin có tác dụng tốt với bệnh đóng dấu
lợn, bệnh nhiệt thán, bệnh đường hô hấp và sinh dục
Không dùng kháng sinh trong các trường hợp gia súc có tiền sử choáng, dị ứng không dùng penicillin; không sử dụng penicillin chậm, streptomycin, gentamicin, kanamycin, sulfamid đối với gia súc sơ sinh; không dùng tetracyclin, rifamicin, bactrim cho gia súc mang thai hoặc đang nuôi con bằng sữa mẹ, khi rất cần thiết mới dùng nhưng phải theo dõi cẩn thận; gia súc mắc bệnh thận không dùng colistin, streptomycin, kanamycin.Dùng kháng sinh liên tục cho đến khi gia súc hết các biểu hiện nhiễm khuẩn (sốt, sưng khớp, sưng hạch, ho, đi ỉa lỏng, ), sau đó dùng tiếp tục thêm 2–3 ngày rồi mới ngừng thuốc với liều thấp hơn chút ít
Cần chọn kháng sinh thích hợp để tránh các hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc và phải xác định đúng liều lượng với từng loại gia súc
Hiện tượng kháng kháng sinh trong điều trị bệnh cho vật nuôi Kháng sinh được
sử dụng rộng rãi và ngày càng có nhiều loại rất có hiệu quả, nhưng đồng thời cũng xuất hiện hiện tượng khá phổ biến là vi khuẩn kháng thuốc, làm cho việc điều trị nhiễm khuẩn gặp khó khăn và chi phí cho việc điều trị ngày càng cao Để hạn chế sự kháng kháng sinh của vi khuẩn trong quá trình điều trị bệnh, cần chú ý: dùng kháng sinh để điều trị khi biết chắc chắn bị nhiễm khuẩn, cần cân nhắc kỹ khi điều trị dự phòng hay phối hợp kháng
Trang 37sinh; chọn kháng sinh theo kết quả kháng sinh đồ, đặc biệt ưu tiên các kháng sinh đặc hiệu; chọn kháng sinh có khả năng khuếch tán tốt nhất vào thời điểm nhiễm khuẩn, chú
ý đặc điểm dược động học của thuốc; phối hợp kháng sinh hợp lý, đặc biệt là những bệnh điều trị kéo dài; giám sát liên tục tình hình kháng thuốc của vi khuẩn và thông báo kịp thời; đề cao các biện pháp khử khuẩn và vô trùng Khi phát hiện được vi khuẩn kháng kháng sinh phải dừng ngay thuốc đang điều trị và những thuốc có cùng cơ chế, cùng đích tác dụng Chú ý không được tự ý tăng liều điều trị khi chưa khỏi bệnh
Chọn kháng sinh để điều trị dựa theo triệu chứng bệnh Trong nhiều trường hợp
vật nuôi bị ốm nhưng khó xác định chính xác đó là bệnh gì Để giảm thiệt hại, cần phải điều trị sớm bằng cách dựa vào các triệu chứng Khi vật nuôi có triệu chứng chủ yếu ở đường hô hấp, chọn một trong các loại kháng sinh: oxytetracyclin, lincomycin, tylosin, gentamyxin, doxycyclin Khi vật nuôi có triệu chứng chủ yếu ở đường tiêu hóa, chọn một trong các loại kháng sinh: colistin, tiamulin, biseptol, trimethoprim, enrofloxacin, norfloxacin,
1.8.2.3 Thuốc điều trị bệnh ký sinh trùng
Thuốc điều trị bệnh do giun tròn
Levamisole (levasole, totalol, tramisol): Levamisole là thuốc chống giun tròn có phổ
tác dụng rộng trên nhiều loài vật chủ như: trâu, bò, lợn, gà, dê, cừu; thuốc có tác dụng tốt đối với giun tròn đường tiêu hóa và ở phổi Ngoài ra, có thể sử dụng để bôi ngoài da hoặc tiêm dưới da và cũng trộn thức ăn hoặc hòa nước cho uống Levamisole không có tác dụng đối với sán dây, sán lá hoặc nguyên sinh động vật
Mebendazol: Thuốc thuộc nhóm benzimidazol, có tác dụng tẩy các loại giun tròn ở
các thời kỳ phát triển khác nhau (trứng, ấu trùng và trưởng thành)
Albendazol: Thuốc thuộc nhóm benzimidazol, có tác dụng với giun tròn và sán lá ở
loài nhai lại
Thiabendazol: Thuốc có phổ tác dụng rộng trong điều trị các bệnh ký sinh trùng ở vật nuôi và được ưu tiên dùng trong điều trị bệnh giun xoắn (Trichinellosis) cho gia súc và người Ivermectin (ivomec, oramec, heartgard 30, cardomec, eqvalan, zimectrin, mectizam) có
phổ tác dụng rộng đối với nhiều loài giun tròn và tiết túc ký sinh ở động vật
Thuốc điều trị bệnh do sán lá gan ở gia súc nhai lại
Nitroxinil (fasciolid, dovenix, trodax): Thuốc có tác dụng đối với sán lá gan trưởng
thành nhưng không có tác dụng trên sán lá dạ cỏ ở cừu và trâu, bò Thuốc có thể sử dụng
để điều trị giun xoăn dạ múi khế ở gia súc nhai lại
Dertil: có tác dụng đối với sán lá gan trưởng thành ở cừu, trâu, bò và cũng có tác dụng
đối với sán non nhưng các liều cao hơn thường kém an toàn
Fasinex (triclabendazole): Thuốc thuộc nhóm benzimidazol, có tác dụng chủ yếu đối
với sán trưởng thành, liều cao hơn có tác dụng đối với sán non Thuốc có thể sử dụng đồng thời với các thuốc tẩy giun tròn
Trang 38Thuốc trị bệnh do sán dây
Niclosamid: Thuốc có tác dụng diệt sán dây Sán dây chết và bị nát trong đường tiêu
hóa trước khi rời ký chủ, vì vậy không tìm thấy đầu sán và đốt sán trong phân gia súc được tẩy
Arecolin: Thuốc có tác dụng làm tê liệt thần kinh trung ương của sán dây, nhất là
đầu và các đốt chưa thành thục, sán bị tê liệt không bám vào ruột được bị đẩy ra ngoài theo phân
Thuốc trị ký sinh trùng đường máu
Thuốc trị tiên mao trùng: trypamidium (thuốc được dùng để điều trị các loài tiên mao
trùng, dùng tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm bắp)
Thuốc điều trị bệnh lê dạng trùng: diminazene diaceturate (berenil, ganaseg),
pentamidine isethonate (lomidine, pentane 300), phenamidine isethionate (lomadine)…
Thuốc điều trị bệnh do Thele trùng: parvaquone, buparvaquone, halofuginone.
Thuốc điều trị bệnh cầu trùng Các thuốc điều trị cầu trùng có thành phần chính là
sulfamid Sulfamid sử dụng trong thú y chống cầu trùng là: sulfadoxine, sulfadimethoxine, sulfamethazine (dimidine), sulfanitran, sulfaquinoxaline
Thuốc điều trị ngoại ký sinh trùng Các thuốc chống ngoại ký sinh trùng chủ yếu
thường được dùng là ivermectin
1.8.2.4 Vitamin và khoáng
Vitamin và khoáng không những đóng vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng, phát triển bình thường của vật nuôi mà còn hỗ trợ cho quá trình điều trị
Một số loại vitamin chủ yếu dùng trong điều trị bệnh cho vật nuôi Vitamin là
những hợp chất rất cần thiết cho sự sống, mặc dù chỉ ở liều cực nhỏ nhưng cơ thể không
tự tổng hợp được Vitamin không phải là nguyên liệu cung cấp năng lượng cho cuộc sống hay để tái tạo tế bào, nhưng khi thiếu chúng, cơ thể động vật sẽ rơi vào tình trạng bệnh lý.Nhu cầu vitamin phụ thuộc nhiều vào loài động vật, thậm chí còn thay đổi theo từng giai đoạn phát triển khác nhau tùy theo đặc điểm sinh lý, sinh hóa của cơ thể
Căn cứ vào đặc điểm hòa tan, chia vitamin thành hai nhóm: Nhóm vitamin tan trong nước, gồm có vitamin nhóm B (B1, B2, B6, B12), vitamin C, vitamin K, vitamin PP…; nhóm vitamin tan trong chất béo (dầu), gồm có vitamin A, vitamin D, vitamin E,…
Vitamin A (Retiol hay Axeroftol): có nhiều trong thực vật như: cà rốt, gấc, cà chua,
ớt đỏ… dưới dạng tiền vitamin A (carotene), trong các sản phẩm động vật như: gan cá, gan gia súc, thịt, trứng, sữa… Vitamin A được dùng trong trường hợp động vật bị thiếu vitamin C; điều trị vết thương ngoại khoa, giúp vết thương nhanh lành do kích thích tạo
da non và thường dùng ở dạng thuốc mỡ; chữa bệnh ở mắt như: viêm giác mạc, kết mạc
Trang 39mắt, bệnh khô giác mạc mắt; bổ sung trong trường hợp gia súc non bị còi cọc, chậm lớn,
da khô, lông xù hay lở tróc
Vitamin nhóm B: Vitamin B1 có nhiều trong men bia, củ quả, hạt ngũ cốc, tim, gan
động vật Vi khuẩn ruột già, đặc biệt vi khuẩn dạ cỏ có khả năng tổng hợp vitamin B1 Vitamin B1 có tác dụng tăng tiết dịch và nhu động cơ trơn đường tiêu hóa dẫn đến tăng khả năng đồng hóa Người ta thường sử dụng trong trường hợp chữa phù nề, viêm, suy nhược thần kinh, kích thích tiêu hóa hoặc dùng trước hay sau khi động vật ốm
Vitamin B2 có nhiều trong men bia, cỏ, rơm…, các sản phẩm từ động vật như: thịt, trứng, gan… Thuốc có tác dụng trị các chứng viêm loét đường tiêu hóa, kém ăn, chậm lớn, da khô, lông dựng; trị ngứa mắt, chảy nước mắt, thị lực kém hoặc chữa chứng albumin niệu
Vitamin B6 có nhiều trong thực vật như: gạo, mì, ngô, lúa, mạch, men bia, sữa động vật Vitamin B6 được bổ sung trong trường hợp lợn chậm lớn, bần huyết, da khô, gan nhiễm mỡ; gia cầm thiếu máu, co giật, giảm tỷ lệ đẻ, ấp nở…
Vitamin C có tác dụng tăng sức đề kháng và giải độc của cơ thể, thường dùng trong
các bệnh nhiễm trùng Vitamin C có nhiều trong rau, quả; bình thường các loại vật nuôi
có thể tự tổng hợp được vitamin C nhờ vi sinh vật ký sinh ở đường tiêu hóa, nhất là loài nhai lại Thuốc ở dạng bột kết tinh mịn, màu trắng, vị chua, tan nhiều trong nước, thường được dùng trong trường hợp động vật bị các bệnh truyền nhiễm, bệnh ký sinh trùng gây chảy máu, xuất huyết Nên dùng vitamin C kết hợp với các thuốc khác nhằm nâng cao sức
đề kháng phi đặc hiệu chống thiếu máu, thiếu huyết sắc tố
Vitamin D có nhiều trong cỏ khô, men bia, dầu; gan cá có nhiều D3 và D2 có nhiều trong cacao nhưng có ít trong gan động vật có vú, sữa, trứng Vitamin D được dùng trong điều trị còi xương, xốp xương
Vitamin E có nhiều trong hạt ngũ cốc, đậu nành, dầu lạc, dầu cọ, thịt, nhau thai, gan,
tụy, lòng đỏ trứng Thuốc có tác dụng rất tốt đến chức năng của bộ phận sinh dục, phòng trị rối loạn sinh dục, khả năng sinh đẻ kém, đẻ ít, chết thai, động vật chậm lớn, rụng lông, viêm teo cơ, teo bắp, rối loạn thần kinh
Vitamin PP có nhiều trong thực vật như: cám gạo, ngô vàng, khô lạc, đậu nành… và
trong sản phẩm của động vật như: gan, thịt, bột cá… Thuốc được sử dụng trong điều trị bệnh lưỡi đen ở chó, viêm lợi có mủ, viêm loét miệng, lưỡi, mũi và phòng trị bệnh mọc lông chậm của gia cầm
Vitamin K có nhiều ở thực vật như: rơm, rạ, cỏ – nhất là cỏ họ đậu, ngoài ra cũng có
trong mỡ lợn, dầu cá, lòng đỏ trứng… Thuốc được sử dụng để cầm máu khi động vật bị
các bệnh gây xuất huyết như: Gumboro, cầu trùng… hay bị trúng độc bởi chất antivitamin
K (cumarin)
Khoáng chất Các chất khoáng trong cơ thể động vật chiếm khoảng 4–5%, có nhiệm
vụ duy trì áp lực thẩm thấu và đảm bảo sự bền vững của xương Khoáng đa lượng gồm:
Ca, K, Na và Mg và các ion: Cl-, HCO3, PO43-… Các nguyên tố vi lượng có trong trung tâm
Trang 40hoạt động của enzyme, tham gia điều khiển các hoạt động quan trọng của cơ thể, hàm lượng của chúng không quá 0,25% trọng lượng toàn cơ thể, bao gồm các nguyên tố: Fe,
Cu, Mn, Mo, Zn, Co, Se, I, Br
Tuy chỉ cần một lượng rất nhỏ nhưng khoáng lại vô cùng cần thiết cho cơ thể vật nuôi Nếu cơ thể thiếu nó sẽ ảnh hưởng rất lớn tới quá trình trao đổi chất và hậu quả là làm cho cơ thể lâm vào trạng thái bệnh lý
Một số trường hợp thường phải bổ sung khoáng:
• Sử dụng các chế phẩm CaCl2 10% tiêm tĩnh mạch trị các chứng co giật, tụt Ca trong máu gây tụt huyết áp, máu không đông
• Bổ sung canxiferol qua đường tiêu hóa để khắc phục tình trạng còi xương, xốp xương
• Tiêm tĩnh mạch muối canxiphotphat (CaHPO4.2H2O) trong trường hợp động vật
bị ngộ độc chì
• Cho uống dung dịch điện giải trong trường hợp vật nuôi bị ỉa chảy
• Tiêm dextran–Fe cho lợn con lúc 3 và 10 ngày tuổi
• Bổ sung khoáng cho gia súc chửa và đang nuôi con
1.8.2.5 Thuốc sát khuẩn
Thuốc sát trùng là những thuốc bôi, rửa ngoài da Thuốc được bào chế từ những chất
dùng để diệt khuẩn, làm sạch da trước khi mổ, tiêm, và cũng là những thuốc dùng điều trị tại chỗ các bệnh gây nhiễm khuẩn vết thương, vết loét ngoại khoa
Một số loại thuốc sát trùng thường dùng:
• Thuốc tím (KMnO4) 0,1% dùng để sát trùng vết thương và thụt rửa đường sinh dục cái
• Xanh metylen 1% thường dùng bôi vết thương ngoài da và dùng để giải độc khi trúng độc sắn
• Cồn 70o thường dùng để sát trùng vết thương, cồn iod 2–5% dùng để sát trùng vết thương ngoài da để đề phòng nhiễm vi khuẩn uốn ván
• Nước oxy già (H2O2) 3% dùng để sát trùng vết thương kín và vết thương sâu
• Cồn iod pha với oxy già theo tỷ lệ 1:1 thường dùng để rửa các vết thương sâu Sử dụng bơm tiêm (không kim) xịt thuốc vào các vết thương, có tác dụng sát trùng rất tốt
• Axitboric 1–3% dùng để rửa sạch các vết thương ở mắt
Chú ý: trong trường hợp không có các loại thuốc sát trùng trên, có thể dùng nước
muối 3% dùng lúc đầu, sau đó phải dùng thuốc sát trùng khác hoặc nước của một số quả chua như: chanh, khế dùng để rửa các vết loét trong điều trị bệnh lở mồm long móng
1.8.2.6 Thuốc chống viêm, hạ sốt, giảm đau
Analgin có tác dụng hạ sốt giảm đau; do vậy, thường dùng để điều trị các triệu chứng sốt cao Dexamethason có tác dụng chống viêm, giảm đau, nên dùng phối hợp với các loại
kháng sinh và sulfamid Chú ý: không dùng cho gia súc có chửa.