1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sáng kiến kinh nghiệm hóa học THCS

13 225 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 108,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong chương trình bộ môn hóa học cở trường trung học cơ sở được tìm hiểu về đơn chất, hợp chất vô cơ, hợp chất hữu cơhyđrô cacbon, dẫn xuất của hyđrô cacbon … Ở mỗi loại các

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO LỤC YÊN

TRƯỜNG THCS TRÚC LÂU

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG DẠY HỌC TRONG GIẢNG DẠY BỘ MÔN

HÓA HỌC 8 Ở TRƯỜNG THCS TRÚC LÂU

Họ và tên : Bùi Đặng Hà

Chức vụ : Giáo viên

Tổ chuyên môn: Khoa học tự nhiên

Trường THCS Trúc Lâu Năm học:2014 - 2015

Yên Bái, tháng 10 năm 2014

Trang 2

TRANG MỤC LỤC

Phần I: ĐẶT VẤN ĐỀ

I Lí do chọn SKKN

II Thời gian thực hiện và triển khai SKKN

PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I Cơ sở lý luận của vấn đề

II Thực trạng của vấn đề

III Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề

IV.Hiệu quả của SKKN

PHẦN III: KẾT LUẬN

I Bài học kinh nghiệm

II Kiến nghị đề xuất

Trang 2 2 3

3 3 3 4 9

9 9 10

Trang 3

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

I Lí do chọn sáng kiến kinh nghiệm :

Hóa học là khoa học nghiên cứu các chất, sự biến đổi từ chất này thành chất khác Tính chất và ứng dụng của từng chất

Hóa học có vai trò rất quan trọng trong đời sống của loài người Con người

đã tìm ra những chất có sẵn trong tự nhiên và chế tạo những chất mới phục vụ cho cuộc sống Hóa học đã cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp như dược phẩm, điện tử, phân bón, thuốc trừ sâu, xây dựng, thực phẩm, vải giấy …

Tóm lại: khoa học hóa học là nền tảng đưa nhân loại vững bước vào thời đại công nghiệp hóa hiện đại hóa Vì vậy, việc dạy và học tốt môn hóa học ở bậc trung học cơ sở (bậc đầu tiên học môn hóa) là rất cần thiết

Từ vai trò quan trọng của bộ môn hóa học như đã nêu trên, trách nhiệm của mỗi thầy cô giáo là phải giảng dạy cho học sinh hiểu được tầm quan trọng của bộ môn thông qua từng bài học

* Vai trò của thí nghiệm

Trong từng bài các em được làm(quan sát) thí nghiệm, đó là phương pháp trực quan Trực quan là phương pháp mang tính lý thuyết Trực quan luôn hấp dẫn với học sinh Trực quan gây được hứng thú, niềm mê say nghiên cứu, tìm hiểu bản chất của vấn đề một cách đơn giản, hoàn thiện và chính xác nhất

Trực quan bao gồm: đồ dùng dạy học, thí nghiệm, thiết bị nghe nhìn, mô hình, tranh ảnh, mẫu vật …

Trong chuyên đề nhỏ này, chỉ xin đề cập đến một khía cạnh nhỏ của trực quan là “thí nghiệm”

Trong chương trình bộ môn hóa học cở trường trung học cơ sở được tìm hiểu

về đơn chất, hợp chất vô cơ, hợp chất hữu cơ(hyđrô cacbon, dẫn xuất của hyđrô cacbon) … Ở mỗi loại các em được học một số chất cụ thể và tùy từng bài sẽ có một số thí nghiệm để chứng minh cho tính chất của các chất đó Thí nghiệm là trực quan sinh động nhất, hấp dẫn nhất, lôi cuốn các em vào thế giới diệu kỳ của khoa học hóa học và cụ thể hơn, thí nghiệm giúp các em hiểu bài một cách toàn diện và sâu sắc nhất

* Vai trò của trắc nghiệm

Trắc nghiệm là phương pháp giáo dục mới mà chương trình cải cách đang áp dụng và phổ biến ngày càng nhiều hơn

Trắc nghiệm chính là phương pháp khẳng định lại vấn đề một cách cụ thể và chính xác nhất

Qua trắc nghiệm phát huy tốt nhất khả năng tư duy, so sánh, phân tích, sự quyết đoán cho học sinh

Chính từ những vai trò quan trọng của việc làm thí nghiệm và tác dụng của trắc nghiệm(như đã nêu trên)

Từ những thiếu sót của bản thân và một số đồng nghiệp qua việc làm thí nghiệm Vì vậy, trong chuyên đề nhỏ “ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý KHI

Trang 4

LÀM THÍ NGHIỆM VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM ĐỂ CỦNG CỐ ”.

Để cùng trao đổi và tìm ra giải pháp tốt nhất cho sự thành công khi làm thí nghiệm

II Thời gian thực hiện và triển khai sáng kiến kinh nghiệm:

Trong năm học 2011 – 2012

PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I.Cơ sở lí luận của vấn đề:

- Với đặc thù của bộ môn hóa học việc tiến hành thí nghiệm là rất quan trọng và đòi hỏi phải thí nghiệm phải chính xác

- Việc tiến hành thí nghiệm trong hóa học sẽ là một động lực rất quan trọng giúp cho học sinh yêu thích môn học hơn, yêu khoa học và có niềm tin vào khoa học Lôi cuốn các em vào thế giới diệu kỳ của khoa học hóa học và cụ thể hơn, thí nghiệm giúp các em hiểu bài một cách toàn diện và sâu sắc nhất

- Không chỉ vậy qua tiến hành thí nghiệm sẽ giúp cho học sinh phát triển được năng lực tư duy, kĩ năng thao tác thí nghiệm, kĩ năng quan sát, nhận xét, rút ra kết luận

về tính chất của chất một cách độc lập

- Nếu chuẩn bị thí nghiệm không chu đáo thì kết quả thí nghiệm thu được không đúng với thực tế, và đôi khi còn gây nguy hiểm cho giáo viên và học sinh.Từ đó sẽ tạo ra tác dụng phản khoa học

- Bên cạnh đó nếu không khắc sâu những hiện tượng thí nghiệm đã làm thì học sinh rất mau quên , và đôi khi còn có tình trạng hầm lẫn giữa hiện tượng của thí nghiệm này với hiện tượng của thí nghiệm kia

- Chính vì vậy để cùng trao đổi và tìm ra giải pháp tốt nhất cho sự thành công khi làm thí nghiệm, tôi đã chọn sáng kiến kinh nghiệm về vấn đề “ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý KHI LÀM THÍ NGHIỆM VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM ĐỂ CỦNG CỐ ”

II Thực trạng của vấn đề:

1 Thuận lợi:

- Được sự quan tâm sát sao của BGH nhà trường

- Cơ sở vật chất tương đối đầy đủ, có phòng bộ môn rất thuận tiện cho việc tổ chức cho học sinh học các tiết thực hành

- Học sinh đi học đều

2 Khó khăn:

- Hóa chất phục vụ cho các thí nghiệm còn thiếu nhiều và nhiều hóa chất được cấp phát từ lâu lên đã thay đổi tính chất

- Dung cụ để tiến hành thí nghiệm chưa đầy đủ

- Kĩ năng thao tác thực hành của học sinh còn hạn chế

- Thời gian chuẩn bị cho các thí nghiệm chưa chu đáo

- Khoảng thời gian chuyển tiết giữa các thí nghiệm rất ngắn

Và qua nhiều năm giảng dạy bộ môn hóa học, tôi nhận thấy bản thân tôi và một số đồng nghiệp còn mắc phải những thiếu sót sau:

Trang 5

+ Rất ít làm thí nghiệm(vì ngại sự chuẩn bị hoặc thiếu dụng cụ, hóa chất) nên chất lượng giờ dạy chưa cao Học sinh ít được làm (quan sát) thí nghiệm, dẫn đến khó hiểu bài và không thích học bộ môn

+ Thao tác thí nghiệm chưa linh hoạt, còn hạn chế về sử dụng những thiết bị mới và hiện đại

Đôi khi làm thí nghiệm còn sai nguyên tắc:

+ Dùng tay trực tiếp cầm ống nghiệm(không đeo khăn găng, không dùng kẹp)

+Cách sắp xếp dụng cụ hóa chất(trong khay để trên bàn giáo viên) còn lộn xộn, thiếu khoa học

+ Lấy hóa chất xong quên không đậy nắp

+ Lấy quá ít hoặc quá nhiều hóa chất

+ Pha dung dịch trước khi giờ dạy mà không đậy nắp, không ghi nhãn vào lọ

+ Chỉ chú ý vào việc thí nghiệm mà không đặt câu hỏi khai thác phù hợp với nội dung đang làm

+ Dụng cụ học sinh làm thí nghiệm rửa không sạch

+ Dùng giấy vệ sinh lau khô ống nghiệm…

III Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề:

A Một số vấn đề cần lưu ý khi làm thí nghiệm:

I Yêu cầu cơ bản của thí nghiệm:

- Phải đảm bảo an toàn cho giáo viên và học sinh

- Phải đảm bảo thành công khi biểu diễn thí nghiệm

- Thí nghiêm phải chính xác, rõ ràng, học sinh phải được quan sát đầy đủ

- Thí nghiệm phải đơn giản, dụng cụ gọn gàng, hóa chất vừa đầy đủ

- Thí nghiệm phải bảo đảm tính khoa học và thẩm mỹ

- Phải kết hợp chặt chẽ thí nghiệm với lời giảng và nội dung ghi bảng

- Giáo viên phải hướng dẫn học sinh quan sát được dụng cụ nào cần để làm thí nghiệm

- Học sinh phải quan sát được màu, dấu hiệu của phản ứng So sánh , phân biệt được màu, thể, trạng trái chất sau phản ứng

II Các bước cần thiết khi làm thí nghiệm:

1.Chuẩn bị:

a.Hoá chất:

Giáo viên coi kỹ sách giáo khoa từ trước và xác định trong bài này có mấy thí nghiệm, dùng những hoá chất nào? (giáo viên ghi trước ra tờ giấy nhỏ) Mang giấy đó vào phòng thiết bị để lấy đủ và đúng hoá chất (tránh tình trạng lấy thiếu hoặc nhầm)

Nếu không có một hoá chất nào đó, có thể thay thế bằng một hoá chất khác được không? Chất thay thế có gì sai khác gì về kết quả của thí nghiệm không? Nếu chất

Trang 6

thay thế vẫn bảo đảm thí nghiệm thành công và đúng như mục đích thì nên làm(cần có sự linh động trong sử dụng hoá chất)

Ví dụ : trong thí nghiệm kẽm với dung dịch HCl để có H2 bay lên nếu có sẵn

H2SO4 mà không có dung dịch HCl thì dùng H2SO4 làm thí nghiệm vẫn được

b.Dụng cụ:

Giáo viên xác định trước bài này có mấy thí nghiệm, thí nghiệm này chỉ có giáo viên làm hay cho mấy nhóm cùng làm? Dựa trên cơ sở đó, giáo viên tính toán cần dùng những loại dụng cụ nào? Số lượng mỗi loại là bao nhiêu? (Giáo viên ghi sẵn

ra giấy nhỏ rồi mang vào phòng thiết bị lấy đủ và đúng theo yêu cầu)

Phải có găng tay, áo blu, giấy thấm, khăn lau tay, chậu nước rửa tay sau khi làm thí nghiệm

Điều cần lưu ý nhất trong khâu chuẩn bị là:

Phải có hai khay: một khay đựng dụng cụ và hoá chất chưa làm, một khay đựng dụng cụ và hoá chất đã làm

Đánh dấu( cách ghi số, hoặc dán giấy khác màu)vào ống nghiệm, ống hút, muỗng múc hoá chất, đũa khuấy, phễu rót …(tránh nhầm lẫn khi dùng đũa khuấy dung dịch 1 lại đưa khuấy dung dịch 2)

Khi làm thí nghiệm nên mặc áo blu để tạo hình ảnh đẹp trong mắt học sinh, gây hứng thú và giáo dục lý tưởng sống cho học sinh(tác phong của người bác sĩ, nhà khoa học…)

Sau khi làm thí nghiệm phải có thau nước sạch rửa tay, khăn lau tay để đảm bảo

vệ sinh, sức khoẻ cho giáo viên và học sinh

Chuẩn bị sẵn một cuộn giấy thấm(phòng khi lỡ tay đổ dung dịch thì thấm cho nhanh)

2.Tiến hành làm thí nghiệm

a) Nếu yêu cầu của bài học thí nghiệm đó phải làm trước 30 phút, 1 ngày, 3 ngày

… thì giáo viên cần chuẩn bị đúng theo yêu cầu đó để đảm bảo độ chính xác, nhưng vẫn phải có thí nghiệm đối chứng tại lớp

b).Nếu thí nghiệm làm tại lớp học thì giáo viên phải bảo đảm được các yêu cầu sau:

- Pha dung dịch tại lớp sẽ rèn luyện kỹ năng quan sát (học sinh nhận biết chất rắn màu gì? Sau khi pha thành dung dịch màu gì? Khả năng tan nhanh hay chậm)

- Pha dung dịch tại lớp tại lớp tạo độ tin cậy, tính hấp dẫn cho học sinh và đặc biệt

là bảo đảm tính chính xác

- Pha dung dịch tại lớp giáo viên chỉ mất vài giây trong thời gian của tiết học, nhưng cái được sẽ nhiều hơn

+ Nếu pha dung dịch từ trước có mặt hạn chế:

Mang tính áp đặt cho học sinh (thậm chí giáo viên không ghi nhãn vào lọ đựng dung dịch đó)

Có khi giáo viên pha dung dịch trước nhưng không đậy nắp dẫn đến sai về nội dung

Trang 7

Ví dụ : nếu giáo viên pha dung dịch NaOH trong lọ rộng miệng nhưng không đậy nắp để dùng từ tiết 1 qua tiết 2 đến tiết 3 Như vậy dung dịch NaOH tác dụng với CO2 trong không khí dẫn đến sai kiến thức

c).Sử dụng hoá cụ: phải nhanh nhẹn, gọn gàng, chính xác bảo đảm tính khoa học và thẩm mỹ

- Nếu giáo viên đã chuẩn bị được hai khay, có đánh dấu, ghi số vào ống nghiệm,

ly, đũa, muỗng, phểu… thì rất thuận lợi cho các thao tác làm thí nghiệm

- Giáo viên quy định bên trái(phía ngoài) là khay để dụng cụ, hoá chất chuẩn bị làm Khay bên phải (phía trong) là khay để dụng cụ, hoá chất đã làm

- Giáo viên quy định ống nghiệm1, phểu 1, ly 1, muỗng1… dùng pha dung dịch A; ống nghiệm2, phểu 2, ly 2, muỗng2… dùng pha dung dịch B…

- Nếu làm được như vậy sẽ tránh nhầm lẫn dẫn đến sai kiến thức

Ví dụ : giáo viên dùng cùng một đũa khuấy dung dịch BaCl2 sau đó lại khuấy dung dịch Na2SO4 thì ngay tức thì dung dịch Na2SO4 đã có vẫn đục mất tính trong suốt của dung dịch dẫn đến sai (bài tính chất của muối – hoá học 9)

d).Sử dụng hoá chất:

- Khi sử dụnh hoá chất cần lưu ý những điểm sau:

- Người làm thí nghiệm phải mang đủ hai găng tay (tránh tình trạng chỉ có giáo viên mang găng tay mà học sinh không mang)

- Phải có kinh nghiệm trong việc lấy một lượng hoá chất vừa phải, đủ dùng cho thí nghiệm (kinh nghiệm này do bản thân rút ra từ lần trước đã ghi vào sổ tích luỹ chuyên môn, do học hỏi đồng nghiệp, qua lần thí nghiệm trước)

Ví dụ : có thí nghiệm chỉ cần lấy 1

3 muỗng hoá chất ;

1

2 hoặc một lượng rất nhỏ bằng hạt đậu xanh … không nhất thiết phải múc một muỗng đầy Cụ thể như thí nghiệm điều chế Cu(OH)2 để nung thành Cu cần 3 muỗng CuSO4 với 3 muỗng Cu(OH)2 pha thành 1

3 ống nghiệm là dung dịch, sau đó đổ hai dung dịch vào sẽ chiếm 2

3 ống nghiệm, lọc thấm Cu(OH)2 dung dịch, sấy khô mới được 1 muỗng Cu(OH)2 rắn xanh

+Thí nghiệm đốt cháy P (đỏ) chỉ dùng 1 lượng nhỏ bằng hạt đậu xanh là đủ + Tuyệt đối không dùng một muỗng lấy nhiều loại hoá chất

- Hoá chất lấy xong phải đậy nắp ngay (có tình trạng giáo viên quên không đậy nắp lọ Na2CO3, sau buổi học lớp trên mặt lọ bị chảy nhão dẫn đến hỏng hoá chất) Khi lấy hoá chất kết hợp hỏi học sinh để phát huy quan sát và sự chú ý của học sinh (ví dụ : màu hoá chất? Thể? Dạng? Mùi?)

Chú ý:

Có thể tận dụng kết quả thí nghiệm trước làm kết quả đối chứng nổi bật cho thí nghiệm giờ sau

Trang 8

Ví dụ 1 :trong bài mở đầu của hoá học 8, nếu để lại kết quả thí nghiệm cho đinh sắt vào dung dịch HCl đến giờ sau thì mũi đinh bị ăn mòn nhiều đã ngắn hơn đinh mới, chứng minh cho học sinh rõ ràng hơn

Ví dụ 2: thí nghiệm giữa dây Cu và dung dịch AgNO3 (bài 17 – hoá 9) nếu giáo viên để kết quả giờ trước làm so sánh với giờ sau thì rõ hơn (lượng Ag (trắng) bám nhiều trên dây Cu hơn, mang tính thuyết phục cao

3.Giáo viên có hệ thống câu hỏi rõ ràng, cụ thể phù hợp với từng giai đoạn của thí nghiệm để học sinh vừa quan sát vừa nhận biết, so sánh và rút ra được nội dung của thí nghiệm

Chất rắn cần pha thành dung dịch có màu? Mùi?

Sau khi pha thấy khả năng tan như thế nào?

Dung dịch có màu gì? Mùi gì?

Dấu hiệu của phản ứng là gì? (Bay hơi? Kết tủa? Sủi bọt? Chuyển màu? Có mùi lạ?)

Sau phản ứng sản phẩm gồm những chất nào?

Khối lượng của dung dịch sau phản ứng có thay đổi không?

Điều kiện của phản ứng là gì?

Tóm lại : nếu giáo viên có hệ thống câu hỏi phù hợp trong lúc làm thí nghiệm sẽ khi thác được nội dung cần làm Học sinh sẽ hiểu rõ hơn bản chất của thí nghiệm, ghi được phương trình phản ứng và xác định được trạng thái, màu của chất

và sản phẩm

4.Sau khi làm thí nghiệm:

Đây là công việc hoàn thành sau cùng của thí nghiệm Nếu ta không chú ý có thể gây tai nạn cho giáo viên và học sinh khi dọn dẹp và rửa dụng cụ; hoặc gây ô nhiễm môi trường dẫn đến phản giáo dục … Vì vậy ta cần chủ ý những điểm sau: + Nếu học sinh làm thí nghiệm theo nhóm thì sau khi thí nghiệm hoàn thành giáo viên phải quán triệt cho tất cả học sinh ngồi yên, yêu cầu nhóm trưởng (có măng găng tay) thu dọn gọn vào khay và đem lên bàn giáo viên Nếu không học sinh lộn xộn sẽ va chạm nhau làm đổ hoá chất, bể dụng cụ, gây nguy hiểm và ô nhiễm lớp học

+ Giáo viên trực tiếp phải đổ dồn sản phẩm của thí nghiệm vào một cốc lớn và đem đỏ vào bồn rửa, cống thoát nước rồi xả nước nhiều cho sạch

+ Giáo viên thu dọn các lọ hoá chất, vặn lại các nút cho chặt rồi cất vào thùng đựng

+ Dụng cụ phải rửa thật sạch và phơi khô tự nhiên (úp trên giá)

+ Tránh tình trạng dùng giấy vệ sinh lau khô ống nghiệm, như vậy có bột giấy bám trên dụng cụ, khi làm thí nghiệm sau sẽ bị ảnh hưởng đến độ trong của dung dịch

Vì vậy tôi xin đưa ra một số ý kiến nhỏ như sau:

Giữa tiết này sang tiết khác thời gian rất ngắn không kịp rửa dụng cụ ta nên cho rửa qua, rồi cuối tuần điều 3 đến 5 học sinh (có tính cẩn thận) đem tất cả các dụng cụ đã làm ra rửa lại cho sạch công đoạn rửa dụng cụ như sau:

Trang 9

Bước 1: Dùng xà phòng rửa chén rửa sạch dụng cụ bằng khăn mềm, chổi rửa…

Bước 2: Dùng dung dịch giấm ăn ( CH3COOH 2 – 3%) ngâm dụng cụ trong thau 30 phút

Bước 3: Dùng kẹp vớt dụng cụ ra tráng lại bằng nước ấm (500C)

Bước 4 : Dùng kẹp vớt dụng cụ ra, úp ống nghiệm trên giá, cắm đũa, muỗng trên các lỗ giá luôn cho gọn, phơi ngoài nắng gió cho khô

Bước 5: Phân loại dụng cụ và bỏ vào trong hộp hoặc bịch bóng trong để tránh bụi bẩn

Như vậy dụng cụ sẽ sạch bóng và trong suốt khi; làm thí nghiệm sau sẽ quan sát các hiện tượng dễ hơn

B Vấn đề sử dụng trắc nghiệm vào thí nghiệm:

Cuối bài học giáo viên củng cố bài học theo nhiều phương pháp khác nhau, nhưng sử dụng trắc nghiệm để củng cố lại thí nghiệm thì học sinh sẽ nắm bài hơn

và giúp học sinh chưa nắm rõ thí nghiệm sẽ nắm được một cách tốt hơn

Trắc nghiệm giúp các em phát huy tính quyết đoán vấn đề một cách nhanh chóng

Trắc nghiệm giúp các em khắc sâu được kiến thức và nhớ bài chính xác và lâu hơn

Có 4 dạng trắc nghiệm để tham khảo như sau:

Dạng 1: điền khuyết vào sơ đồ phương trình phản ứng (có thể khuyết chất

tham gia, sản phẩm, màu sắc, trạng thái của chất…)

Ví dụ : cho sơ đồ phản ứng hóa học sau:

CuSO4(dung dịch) + A Na2SO4(dung dịch) + Cu(OH)2

Xác định chất A là chất nào trong các chất sau:

a) Dung dịch NaCl b) Dung dịch NaOH

c) Dung dịch NaNO3 d) Dung dịch Na2SO4

(Đáp án là dung dịch NaOH)

Dạng 2:

Dùng nhận nhanh tính chất , trạng thái của chất

Ví dụ : Trong các axit sau đây, axit nào tác dụng được với đồng ?

a)HCl (lỏng) c)H2SO4(đặc nóng)

b)H2CO3 (lỏng) d)H2SO4 (lỏng)

(Đáp án đúng là c)

Dạng 3 :

Chọn một phương trình phản ứng đúng cho thí nghiệm vừa làm (đúng cả trạng thái, màu sắc, điều kiện , công thức hoá học…)

Ví dụ : Hãy chọn một phương trình phản ứng đúng cho thí nghiệm nung nóng Cu(OH)2

a)Cu(OH)2(xanh đen) Cu2O(xanh) + H2O(lỏng)

b)Cu(OH)2(xanh dương) Cu2O(đen) + H2O(lỏng)

Trang 10

d)Cu(OH)2(xanh dương) Cu2O(đen) + H2O(lỏng)

(Đỏp ỏn đỳng là d)

Dạng 4:

Thực hành: Dùng tranh vẽ mụ tả thớ nghiệm vừa học, yờu cõ̀u học sinh điền chất tham gia, sản phõ̉m hoặc xỏc định tờn thớ nghiệm

Vớ dụ : thớ nghiệm như hình vẽ sau dùng để điều chế chất nào?

a) Khớ oxy b) Khớ Clo c) Khớ Mờtan d) Khớ Amoniac

( Đỏp ỏn đỳng là b)

Thực hành 2: Chọn cỏc chất phù hợp điền vào sơ đụ̀ của thớ nghiệm bờn ( hình 3.5 – sỏch giỏo khoa hoỏ 9)

IV Hiợ̀u quả của Sáng kiờ́n kinh nghiợ̀m:

Sau khi ỏp dụng Sỏng kiến kinh nghiệm “ Mệ̃T Sễ́ VẤN Đấ̀ CẦN LƯU Ý KHI LÀM THÍ NGHIậ́M VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP TRẮC NGHIậ́M ĐỂ CỦNG Cễ́ ”

Bản thõn tụi nhận thấy rằng :

- Đụ́i với Giỏo viờn phõ̀n chuõ̉n bị cho tiết học được chu đỏo hơn trong từng thớ nghiệm của từng bài Khả năng tiến hành thớ nghiệm của Giỏo viờn cũng được nõng cao Giỏo viờn đó tiến hành trước cỏc thớ nghiệm trước khi dạy học, và dự đoỏn được cỏc tình huụ́ng có thể xảy ra khi học sinh làm thớ nghiệm

- Đụ́i với học sinh thao tỏc thực hành được củng cụ́ Qua được tiến hành cỏc thớ nghiệm có hứng thỳ học tập tụ́t hơn, bờn cạnh đó qua làm cỏc bài tập trắc nghiệm củng cụ́ sau mụ̃i thớ nghiệm làm học sinh nhớ rõ hơn từng hiện tượng của từng thớ nghiệm Vì vậy mà kết quả học tập được nõng cao

PHẦN III : KẾT LUẬN

I.Bài học kinh nghiợ̀m:

Để thực hiện tốt việc đổi mới phơng pháp dạy học hóa học trung học cơ sở nhằm nâng cao chất lợng dạy và học bộ môn,

đòi hỏi ngời giáo viên trớc hết phải nắm vững các kién thức cơ bản, phổ thông, các kién thức về đổi mới về chơng trình, về phơng pháp dạy học đồng thời cấp bách cần có kỹ năng sử dụng dụng cụ đồ dùng dạy học một cách hiệu quả nhằm phát huy tính chủ động sáng tạo, tích cực tìm tòi chiếm lĩnh lĩnh hội các kiến thức phổ thông thực nghiệm nhằm phát huy khả năng t duy khả năng độc lập sáng tạo trong mọi hành động Bên cạnh đó giáo viên cần khai thác triệt để nội dung sách giáo khoa, các tài liệu tham khảo, tài liệu bồi dỡng chuyên môn nghiệp vụ, các phơng tiện giảng dạy hiện có, thờng xuyên tiến hành đổi mới phơng pháp dạy học bộ môn hóa học thông qua

Ngày đăng: 27/08/2017, 15:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w