1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Bai-9-Nguoi-lai-do-Song-Da

7 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 419,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Văn bản Người lái đò Sông Đà được in trong tập tùy bút Sông Đà 1960 của nhà văn Nguyễn Tuân, gồm 15 bài tùy bút và một bài thơ phác thảo đứng vào hàng kiệt tác của Văn học Việt Nam hiệ

Trang 1

BÀI 9

Chuyên đề: LUYỆN THI THPT QUỐC GIA MÔN NGỮ VĂN

NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ

A MỤC TIÊU CẦN ĐẠT

1 Về kiến thức

- Cảm nhận được vẻ đẹp của con sông Đà và hình tượng người lái đò Từ đó, hiểu được tình yêu, sự đắm say của Nguyễn Tuân đối với thiên nhiên và con người lao động ở miền Tây Bắc Tổ quốc;

- Thấy được sự tài hoa, uyên bác của nhà văn và hiểu được những nét đặc sắc nghệ thuật của thiên tùy bút

2 Về kĩ năng

Đọc – hiểu tùy bút theo đặc trưng thể loại

3 Về thái độ

Biết yêu mến, trân trọng thiên nhiên và con người lao động

B NỘI DUNG BÀI HỌC

I TÌM HIỂU CHUNG

1 Tác giả

- Nguyễn Tuân là một nghệ sĩ chân chính suốt đời đi tìm cái đẹp Ông có một vị trí quan trọng

và đóng góp không nhỏ cho văn học Việt Nam hiện đại: thúc đẩy thể tùy bút, bút kí văn học đạt tới trình độ nghệ thuật cao; làm phong phú thêm ngôn ngữ văn học dân tộc; đem đến cho nền văn xuôi hiện đại Việt Nam một phong cách tài hoa, độc đáo

- Trước Cách mạng, Nguyễn Tuân tập trung viết về vẻ đẹp “vang bóng một thời”, cảnh sắc

thiên nhiên và những cảnh sinh hoạt với những nét độc đáo khác nhau ở nhiều vùng quê trên đất nước ta Sau cách mạng, sáng tác của ông hướng vào đề tài ngợi ca đất nước và con người Việt Nam trong chiến đấu và trong lao động sản xuất

- Nguyễn Tuân là nhà văn có phong cách độc đáo: nhìn sự vật, hiện tượng thiên về phương diện văn hóa thẩm mĩ, nhìn con người thiên về phương diện tài hoa nghệ sĩ Ông là một cây bút tài hoa, uyên bác; có sở trường ở thể tùy bút và là bậc thầy của ngôn ngữ văn xuôi nghệ thuật Sau cách mạng, phong cách Nguyễn Tuân có sự biến chuyển rõ rệt: đi tìm cái đẹp trong cuộc sống hiện tại, khám phá chất tài hoa nghệ sĩ trong nhiều lĩnh vực của đời sống và trong đại chúng nhân dân

2 Văn bản

Người lái đò Sông Đà được in trong tập tùy bút Sông Đà (1960) của nhà văn Nguyễn Tuân,

gồm 15 bài tùy bút và một bài thơ phác thảo đứng vào hàng kiệt tác của Văn học Việt Nam hiện

Trang 2

đại Bài văn mới đầu có tên là Sông Đà, sau đó khi in vào tập 2 Tuyển tập Nguyễn Tuân thì tác giả đổi lại là Người lái đò Sông Đà

II ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN

1 Hình tượng Sông Đà

- Sông Đà được nhà văn xây dựng như một nhân vật có mặt suốt từ đầu đến cuối thiên tùy bút,

góp phần tạo nên giá trị độc đáo của tác phẩm Dưới ngòi bút tài hoa và uyên bác của Nguyễn

Tuân, Sông Đà không phải là dòng sông vô tri, vô giác mà là một nhân vật có cá tính, có tâm trạng, có hoạt động thật phong phú và phức tạp Khi hung bạo , nó vừa giống như một loài thủy quái vừa như kẻ thù số một của con người; khi trữ tình, nó lại đẹp hoang dại như thời tiền sử và thân thiết với con người như một “cố nhân”

- Vẻ đẹp hùng vĩ, dữ dội, nét tính cách hung bạo:

+ Cảnh đá bờ sông dựng vách thành: Những câu văn dài, từ ngữ giàu sắc thái gợi hình khắc

họa những khúc sông hẹp chảy xiết giữa hai bờ đá dựng vách thành, sâu, tối và lạnh, “mặt sông lúc

ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời Có chỗ vách đá chẹt lòng Sông Đà như một cái yết hầu Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách Có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia” Thậm chí, khi ngước nhìn lên ta có cảm giác đang đứng vào cái ngõ hẹp mà “ngó vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện”

+ Ghềnh Hát Loóng: Câu văn dài, ngắt làm nhiều vế, nhịp dồn dập, gấp gáp với phép lặp cấu

trúc (nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió) và những từ láy có sức gợi hình, biểu cảm cao (cuồn

cuộn, gùn ghè) rất phù hợp để khắc họa ghềnh Hát Loóng dài hàng cây số, hiểm trở, dữ dội, sóng

ghềnh tới tấp Con ghềnh hiện lên như một loài thủy quái dai sức, hung dữ, đầy hận thù, lúc nào cũng manh động trên Sông Đà

+ Những cái hút nước trên sông:

tợn những cái hút nước (Trên sông bỗng có những cái hút nước giống như cái giếng bê tông thả

xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu.; Nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc.; Không thuyền nào dám men gần những cái hút nước ấy, thuyền nào qua cũng chèo nhanh để lướt quãng sông, y như là ô tô sang số ấn ga cho nhanh để vút qua một quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực.; Chèo nhanh và tay lái cho vững mà phóng qua cái giếng sâu, những cái giếng sâu nước ặc

ặc lên như vừa rót dầu sôi vào.; Cái phim ảnh thu được trong lòng giếng xoáy tít đáy, truyền cảm lại cho người xem phim kí sự thấy mình đang lấy gân ngồi giữ chặt ghế như ghì lấy mép một chiếc

lá rừng bị vứt vào một cái cốc pha lê nước khổng lồ vừa rút lên cái gậy đánh phèn.)

móng cầu, lúc nào cũng há to để ngoạm, hút vào trong lòng nó tất thảy những gì đang trôi trên mặt

sông Cái miệng ấy không những không vô hình mà còn không “vô thanh”, lúc nào nó cũng thở và

kêu như cửa cống cái bị sặc, có cái còn ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào để đe dọa, thị oai

cao (tính từ đáy cối đến miệng cối) đến vài sải Lòng nó như chiếc dạ dày của loài thủy quái khổng

lồ, lúc nào cũng háu đói Bất cứ một cái thuyền nào sơ sảy bị cuốn vào miệng nó là lập tức thuyền

trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi, bị dìm và đi ngầm dưới lòng sông đến mươi phút sau mới thấy tan xác ở khuỷnh sông dưới

Trang 3

+ Thác đá sông Đà:

Thác nước sông Đà: Tiếng thác (rống) được tác giả liên tưởng đến tiếng trâu mộng (lồng

lộn) và tiếng rừng lửa (gầm thét)

Sự liên tưởng của tác giả độc đáo ở chỗ: âm thanh của tự nhiên (tiếng thác) được đổi thành

tiếng gầm đau đớn, lồng lộn của hàng ngàn con trâu mộng da cháy bùng bùng; và tài tình ở chỗ tác

giả đã đem thủy (thác nước) so sánh với hỏa (rừng lửa) Sức mạnh hoang dã của tự nhiên qua tài đối sánh, qua trí tưởng tượng phong phú, độc lạ của Nguyễn Tuân đã gây ấn tượng trong người đọc về sự dữ dội, y như một trận động rừng hay cháy rừng khủng khiếp, của nước thác trên sông

Đà

ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông

Dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân, mỗi hòn đá như có một gương mặt riêng Hòn thì ngổ

ngáo, hiếu chiến (mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy

để vồ lấy thuyền), hòn thì ngỗ ngược, hòn thì nhăn nhúm méo mó; mỗi hòn một dáng (nó đứng nó ngồi nó nằm tùy theo sở thích tự động của đá to đá bé); mỗi hòn một nhiệm vụ (đám tảng đám hòn chia làm ba hàng chặn ngang trên sông; hai hòn canh một cửa đá trông như là sơ hở, (…) giữ vai trò dụ cái thuyền đối phương đi vào sâu nữa; những boong-ke chìm và pháo đài đá nổi (…) phải đánh tan cái thuyền lọt lưới đá tuyến trên, phải tiêu diệt tất cả thuyền trưởng thủy thủ ngay ở chân thác.)

Để khắc họa từng gương mặt riêng của đá thác Sông Đà, tưởng như Nguyễn Tuân đã phải lao động cật lực, khổ công quan sát và tung ra trường từ vựng hết sức giàu có, phong phú về hành

động (nhổm cả dậy, vồ lấy, chặn ngang, dụ, đánh khuýp quật vu hồi, đánh tan, tiêu diệt), tính cách (ngỗ ngược), hình sắc (nhăn nhúm, méo mó, to, bé), tư thế (đứng, ngồi, nằm)…

 Thác đá Sông Đà hiện lên trong văn bản như một loài “thủy quái” khôn ngoan, mưu trí, nham hiểm và hung ác Có sự phối hợp rất chặt chẽ giữa nước thác và đá thác trên sông

Từ xa, tiếng nước thác réo gần mãi lại réo to mãi lên, rồi rống lên vừa như phô trương sức

mạnh vừa như uy hiếp, đe dọa con thuyền sắp qua thác nước Sông Đà

Sau đó, đến thác, một chân trời đá hiện hình và bày thạch trận trên sông Đội quân thạch giang

đủ loại lớn bé, đủ tư thế ngồi, nằm, đứng nhưng hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó và hiếu chiến Mỗi hòn đá đều nhận đúng vị trí: Đám đá tảng thì chia làm ba hàng chặn ngang trên sông; hàng

tiền vệ có hai hòn canh cửa; ở tuyến ba là những boong-ke chìm và pháo đài đá nổi Với mỗi vị trí

là một nhiệm vụ: Đám đá tảng sẽ ăn chết cái thuyền đơn độc; hai hòn đá canh ở hàng tiền vệ sẽ dụ cái thuyền đi vào sâu nữa; những boong-ke chìm và pháo đài đá nổi phải đánh tan cái thuyền lọt

lưới đá tuyến trên, phải tiêu diệt tất cả thuyền trưởng thủy thủ ngay ở chân thác Nhiệm vụ nào

của đám thạch giang trên Sông Đà cũng hung hãn, quyết liệt, cũng thể hiện một quyết tâm tiêu diệt con thuyền đối phương đến cùng để giành chiến thắng

tình Hàng loạt các thuật ngữ quân sự được vận dụng hết sức tự nhiên: mai phục, thạch trận, giáp

lá cà, trận địa, đánh khuýp quật vu hồi, du kích, boong-ke, pháo đài Theo đó, tác giả đã dựng lại

trước mắt người đọc một trận địa được dàn bày một cách công phu, mưu trí bởi thác đá Sông Đà Nước thác thì reo hò như làm thanh viện Đá thác thì dàn thạch trận trên sông với một thế trận bài

Trang 4

bản với các đòn đánh phong phú theo binh pháp Tôn Tử (đánh vu hồi, đánh du kích, đánh mai phục, đánh giáp lá cà…)

- Bên cạnh vẻ hung bạo, dữ ác thì Sông Đà còn là một dòng sông thơ mộng, trữ tình:

+ Nguyễn Tuân đã hình dung dòng sông như một thiếu nữ đẹp, kiều diễm với mái tóc tuôn dài

tuôn dài, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo

Những liên tưởng của Nguyễn hết sức thú vị, khơi gợi trong người đọc những cảm xúc mới mẻ

về một dòng sông đẹp vẻ đẹp thơ mộng, dịu dàng, trữ tình, đằm thắm

+ Vẻ đẹp của Sông Đà còn được miêu tả trong những khoảng không gian và thời gian khác nhau Bằng sự am hiểu tường tận về Sông Đà, nhà văn đã phát hiện, miêu tả một cách tinh tế sự

biến đổi màu sắc của dòng sông theo từng mùa: mùa xuân về thì xanh ngọc bích, một màu xanh

tuyệt đẹp chứ không phải là màu xanh canh hến hay xanh đục như của sông Gâm, sông Lô Khi

thu sang thì lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa, một màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội một chuyện gì đó Mặt sông cứ loang loáng như chiếu gương vào mắt mình và

sáng lóe lên một màu nắng tháng ba Đường thi “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu” Các từ

ngữ miêu tả màu sắc của dòng Sông Đà qua các mùa trong năm, thể hiện cảm nhận hết sức tinh tế của tác giả

mùa xuân, tưởng như có thể vốc làn nước trong đôi bàn tay khum lại mà uống để tận hưởng cái vị ngọt lành

hiệu nỗi giận dữ đang lớn dần của dòng sông theo mùa Màu sắc được cảm nhận bởi liên tưởng thú

vị, độc đáo của tác giả

ca cổ Phép ẩn dụ chuyển đổi cảm giác khơi gợi những liên tưởng thú vị về màu nắng tháng ba – cuối xuân – mùa hoa khói, trên dòng Trường Giang tấp nập thuyền bè qua lại trong câu thơ của Lí

Bạch: Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu

Và chính tình yêu đối với cái đẹp trữ tình của Sông Đà khiến nhà văn không nén nổi sự bực

tức: chưa hề bao giờ tôi thấy dòng Sông Đà đen như thực dân Pháp đã đè ngửa con sông ta ra đổ

mực Tây vào mà gọi bằng một cái tên Tây láo lếu, rồi cứ thế mà phiết vào bản đồ

+ Con sông Đà rất gợi cảm đối với những ai đã từng qua lại, mỗi người một cách Riêng với

Nguyễn Tuân, đã có lần ông nhìn Sông Đà như một cố nhân Tác giả dùng những hình ảnh nên thơ, trong sáng, dịu dàng khi viết về Sông Đà Bờ Sông Đà, bãi Sông Đà, chuồn chuồn bươm

bướm trên Sông Đà Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng Đi rừng dài ngày rồi lại bắt ra Sông Đà, đúng thế, nó đằm thắm ấm

ấm như gặp lại cố nhân, mặc dầu người cố nhân ấy mình biết là lắm bệnh lắm chừng, chốc dịu dàng đấy, rồi chốc lại bẳn tính và gắt gỏng thác lũ ngay đấy Những trang văn tài hoa như thế này

thật khó phân biệt đâu là tả ngoại cảnh, đâu là tiếng lòng của thiên nhiên mĩ lệ hòa với tiếng lòng yêu thương của người nghệ sĩ đang đắm say trước dòng sông đẹp

+ Ngòi bút của Nguyễn Tuân thật tinh tế, gợi cảm khi miêu tả tính cách trữ tình của Sông Đà ở những quãng hoang sơ, lặng tờ Bằng những hình ảnh đẹp đẽ, thơ mộng, giọng văn mượt mà, êm

Trang 5

đềm, tác giả đã dựng nên một bức tranh rất nên thơ: thuyền tôi trôi trên Sông Đà Cảnh ven sông ở

đây lặng tờ Hình như từ đời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa Mà tịnh không có một bóng người Có gianh đồi núi đang ra những nõn búp Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa Chính tác giả cũng ngạc nhiên vì cảnh vật hoang sơ, tĩnh lặng ở quãng Sông Đà này và

thốt lên niềm mong ước: chao ôi, thấy thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp lê của một chuyến

xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Thọ - Yên Bái - Lai Châu Ở đoạn này, Nguyễn Tuân đã huy động

cả một hệ thống từ ngữ so sánh độc đáo để miêu tả khung cảnh này Bờ sông hoang dại như một

bờ tiền sử - như thể từ khi khai thiên lập địa đến giờ chưa từng in dấu chân của con người Thời

gian cũng như đang ngừng lại trong không gian bởi từ đời Trần, đời Lí nơi đây cũng vẫn lặng tờ,

im vắng Giữa khung cảnh sông nước, đồi núi đẹp như trong truyện cổ tích đó, Nguyễn Tuân lại

tưởng tưởng ra những âm thanh, hình ảnh tưởng chừng chỉ có trong truyện cổ tích: con hươu thơ

ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương, chăm chăm nhìn tôi lừ lừ trôi trên một mũi đò Hươu vểnh tai, nhìn tôi không chớp mắt mà như hỏi tôi bằng cái tiếng nói riêng của con vật lành: “Hỡi ông khách Sông Đà, có phải ông cũng vừa nghe thấy một tiếng còi sương ?” Đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi Tiếng cá đập nước sông đuổi mất đàn hươu vụt biến Tác giả đã dùng âm thanh để cực tả những gì là yên tĩnh, mặt khác, những dòng viết ấy còn

là sự phối kết rất nhiều cảm giác: có những cảm nhận về thị giác (bụng trắng như bạc), lại có những cảm nhận về thính giác (tiếng cá đập nước)

2 Hình ảnh người lái đò sông Đà

- Tạo hóa đã tạo ra dòng sông Đà với tất cả những gì là hung bạo và dữ ác để rồi con sông Đà lại tạo ra những con người của sông nước, của sóng thác Đến lượt Nguyễn Tuân, nhà văn lại dùng ngôn ngữ để tạc dựng hình ảnh người lái đò Sông Đà Có thể nói, Nguyễn Tuân như đã chạm khắc

một tượng đài về người lao động bình dị, vô danh Không ai nhớ mặt đặt tên nhưng chính họ từng

ngày bằng bàn tay lao động đã làm giàu đẹp cho Tổ quốc

- Nguyễn Tuân đã gọi người lái đò sông Đà là ông đò Hai từ này đã tạo sự hòa quyện giữa

người và nghề Và dường như ta thấy ở đây là cuộc sống của ông sẽ gắn chặt với nghề sông nước

Đó đâu phải là cuộc sống bình thường mà đó là cuộc chiến đấu hằng ngày với thiên nhiên Mỗi ngày ông phải đối mặt với những gì là khắc nghiệt, dữ dội nhất của những con thác ở Sông Đà Hằng ngày, ông phải giành giật sự sống từ tay những con thác dữ Sông Đà quả có lúc nên thơ, trữ

tình nhưng Nguyễn Tuân đã nhấn mạnh Sông Đà với diện mạo và tâm địa giống như kẻ thù số một

của con người mà ông lái đò phải giao đấu

- Nguyễn Tuân đã nói đến ông lái đò là người nắm chắc binh pháp của thần sông, thần đá Ông

nhớ như đóng đanh vào lòng những trùng vi thạch trận của trận bát đồ Chính điều này càng khiến

cho người lái đò vẫn ung dung, hiên ngang trước thác ghềnh cuồng bạo Nét tài hoa trí dũng của ông đò đã được Nguyễn Tuân thể hiện qua ba trận chiến vượt thủy trận và thạch trận mà mỗi lần vượt sóng thác lại có một dáng vẻ riêng, dù vẫn mang nét chung là tô đậm nét tài hoa trí dũng của người lái đò Thoạt nhìn, đó là một cuộc chiến không cân sức bởi một bên là thiên nhiên lớn lao,

dữ dội và hiểm độc, với trùng vi thạch trận bủa vây, có sự hợp sức của nhiều sóng, nước, gió, đá còn bên kia chỉ là những con người bé nhỏ trên một con thuyền đơn độc và vũ khí trên tay chỉ là những chiếc cán chèo

Trang 6

Trước mắt người lái đò là một trận địa nguy hiểm, toàn là những thác nước và đá ngầm Để

tăng thêm thế áp đảo con thuyền, tiếng nước của con thác rống lên như tiếng một ngàn con trâu

mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa Chúng hung hãn, dữ tợn bày thạch trận

trên sông Khi thì chúng ẩn nấp mai phục, khi thì đánh lừa đanh du kích quay vòng tập hậu Đá to,

đá nhỏ nham hiểm phối hợp với dòng nước dữ dội đòi ăn chết cái thuyền Mặt nước hò la, xông tới định bẻ gãy cán chèo - vũ khí của người lái đò Nhưng trên cái thuyền sáu bơi chèo, vẫn nghe rõ

tiếng chỉ huy ngắn gọn tỉnh táo của người cầm lái Điều đó chứng tỏ ông lái đò rất tỉnh táo, bình

tĩnh biết chừng nào Ở vòng thứ nhất, mặt nước ùa vào bẻ gãy cán chèo võ khí trên cánh tay người lái đò Sóng nước như thể quân liều mạng vào sát nách má đá trái mà thúc gối vào bùng và hông

thuyền Có lúc chúng đội cả thuyền lên [ ] Sóng thác đã đánh đến miếng đòn độc hiểm nhất, cả cái luồng nước cũng đã bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò Trong tình thế như vậy, ông lái đò đã cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái [ ] vẫn nghe rõ tiếng chỉ huy ngắn gọn tỉnh táo của ông Như thế là ông đã phá xong trùng vi thạch trận thứ nhất Không một phút nghỉ ngơi,

ông đã phá luôn vòng vây thứ hai và đổi chiến thuật Ở vòng này đã tăng thêm nhiều cửa tử để

đánh lừa con thuyền vào, cửa sinh lại lệch ra phía bờ hữu ngạn nhưng ông đò vẫn bình tĩnh để ghì cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh Nguyễn Tuân đã thể hiện

ông đò chẳng khác gì một mãnh tướng đang điều khiển con ngựa bất kham Ở trận này, ông đò có những cử chỉ thật chính xác và mạnh mẽ khi phóng nhanh, lái miết con thuyền về phía cửa sinh, để

lại phía sau bọn đá tướng tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng Còn ở vòng thứ ba, ít cửa tử hơn hai

vòng đầu nhưng dường như càng khó khăn hơn vì ông đò đã bị thương nhưng vẫn phải vượt qua

một cửa ải nữa Vòng cuối cùng này thì bên phải và bên trái đều là luồng chết thì ông nhận thấy

luồng sống ở chặng ba này là ở ngay giữa bọn đá hậu vệ của con thác nên ông đã phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa Thế là hết thác Trong trận chiến này, người ta thấy ông đò trước

muôn vàn khó khăn đã biểu hiện biết bao điệu nghệ, tài năng của một người nghệ sĩ điều khiển con thuyền đuôi én khéo léo vút qua khe hẹp của cổng đá cánh mở cánh khép Trong khung cảnh ấy dường như cho ta cảm nhận con thuyền chẳng khác gì một mũi tên vừa lái vừa xuyên lại vừa lượn

dù vẫn lao vun vút

Ba lần vượt thác của ông đò thực sự là ba trận chiến gian nan, vất vả Dòng sông càng hung dữ thì càng tôn lên vẻ đẹp của con người lao động Nguyễn Tuân đã viết nên một khúc tráng ca hào hùng về vẻ đẹp của con người trong lao động Con người đạp đầu sóng dữ, con người trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng tìm được lối thoát hiểm, tìm được đường sinh giữa những trùng trùng cạm bay

và đe dọa của thác đá Sông Đà Qua đó, ta thấy ông lái đò oai phong lẫm liệt như một vị danh tướng, trí dũng song toàn, quyết đoán và quyết thắng Đó là vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ của ông lái đò

mà Nguyễn Tuân đã khám phá và ca ngợi Cảnh vượt thác là bài ca chiến trận hào hùng và ở đó, nhà văn đã dùng cả kho ngôn từ giàu có của mình, vận dụng con mắt cũng như kĩ thuật của nhiều ngành nghệ thuật khác nhau, đặc biệt là hội họa, điện ảnh, âm nhạc và cả khoa học quân sự, kiến thức võ thuật để miêu tả cuộc vượt thác ngoạn mục của ông đò

- Sau một ngày giao tranh dữ dội với thác đá Sông Đà, ông lái đò cùng các bạn chèo nghỉ trong

hang đá Lúc ngừng chèo, họ chẳng bàn tán một lời nào về cuộc chiến thắng đã qua nơi cửa ải

nước đủ tướng dữ quân tợn vừa rồi Rất ung dung, thanh thản, ông lái đò nướng ống cơm lam và toàn bàn tán về cá anh vũ cá dầm xanh, về những cái hầm cá hang cá mùa khô nổ những tiếng to như mìn bộc phá rồi cá túa ra tràn đầy ruộng Dường như ngày nào cũng thế, họ phải chiến đấu

giành giật sự sống từ thác dữ nên họ cũng chẳng có gì là hồi hộp, đáng nhớ Nguyễn Tuân đã nói

đến nét đẹp của những con người bình dị vô danh, những người không ai nhớ mặt đặt tên nhưng đã

Trang 7

- Người lái đò trí dũng và tài hoa trên dòng sông Đà hung bạo và trữ tình Vẻ đẹp của những người lái đò - vẻ đẹp bình dị, thầm lặng nhưng đầy trí tuệ và sức mạnh, đầy ý chí và nghị lực, tài năng và tài hoa, có khả năng chinh phục thiên nhiên, bắt nó phải phục vụ con người, dựng xây đất

nước chính là chất vàng mười của con người Tây Bắc nói riêng và người lao động Việt Nam nói

chung trong thời kì mới

III TỔNG KẾT

1 Nghệ thuật

- Những ví von, so sánh, liên tưởng, tưởng tượng độc đáo, bất ngờ và rất thú vị;

- Từ ngữ phong phú, sống động, giàu hình ảnh và có sức gợi cảm cao;

- Câu văn đa dạng, nhiều tầng, giàu nhịp điệu, lúc thì hối hả, gân guốc, khi thì chậm rãi, trữ

tình…

2 Nội dung

Tác phẩm đã giới thiệu, khẳng định, ngợi ca vẻ đẹp của thiên nhiên và con người lao động ở miền Tây Bắc của Tổ quốc; thể hiện tình yêu mến, sự gắn bó thiết tha của Nguyễn Tuân đối với đất nước và con người Việt Nam

Giáo viên Vũ Dung Nguồn: Moon.vn

Ngày đăng: 26/08/2017, 14:43

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN