Về kiến thức - Cảm nhận được những suy tư sâu sắc của nhà thơ về đất nước và trách nhiệm của mỗi người đối với quê hương, xứ sở; - Hiểu được sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất chính luận
Trang 1BÀI 7
Chuyên đề: LUYỆN THI THPT QUỐC GIA MÔN NGỮ VĂN
ĐẤT NƯỚC
A MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
1 Về kiến thức
- Cảm nhận được những suy tư sâu sắc của nhà thơ về đất nước và trách nhiệm của mỗi người đối với quê hương, xứ sở;
- Hiểu được sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất chính luận và trữ tình, sự vận dụng các chất liệu của văn hóa và văn học dân gian, sự phong phú, linh hoạt của giọng điệu thơ
2 Về kĩ năng
- Đọc - hiểu tác phẩm thơ trữ tình theo đặc trưng thể loại;
- Làm quen với giọng thơ giàu chất trí tuệ, suy tư
3 Về thái độ
Bồi dưỡng lòng yêu nước, tự hào dân tộc, tự hào về nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc
B NỘI DUNG BÀI HỌC
I TÌM HIỂU CHUNG
1 Tác giả
- Nguyễn Khoa Điềm sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước và tinh thần cách mạng, học tập và trưởng thành trên miền Bắc những năm xây dựng CNXH, tham gia chiến đấu và hoạt động văn nghệ ở miền Nam
- Nguyễn Khoa Điềm là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ thơ trẻ những năm chống Mĩ cứu nước - thế hệ có những đóng góp nổi bật trong thơ ca Việt Nam những năm này, đã đem đến cho thơ tiếng nói trữ tình của tuổi trẻ Khác với những nhà thơ cùng thời như Phạm Tiến Duật, Lê Anh Xuân, Nguyễn Duy, Xuân Quỳnh, Nguyễn Khoa Điềm đã thể hiện một phong cách thơ trữ tình - chính luận
- Thơ Nguyễn Khoa Điềm giàu chất suy tư, cảm xúc dồn nén, thể hiện tâm tư của người trí thức tham gia tích cực vào cuộc chiến đấu của nhân dân, dễ đi vào lòng người đọc Hơn nữa, thơ ông còn là sự kết hợp giữa cảm xúc nồng nàn và suy tư sâu lắng về đất nước, con người Việt Nam
2 Tác phẩm
- Trường ca Mặt đường khát vọng được tác giả hoàn thành ở chiến khu Trị - Thiên năm 1971
(không gian và thời điểm ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước), và in lần đầu tiên năm 1974
Trang 2- Bản trường ca viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ các thành thị vùng tạm chiến miền Nam về non sông đất nước, nhận rõ bộ mặt xâm lược của đế quốc Mĩ, hướng về nhân dân, đất nước, ý thức được sứ mệnh của thế hệ mình, đứng dậy xuống đường đấu tranh hòa nhịp với cuộc chiến đấu của toàn dân tộc
3 Đoạn trích
- Đoạn trích thuộc chương V của trường ca Mặt đường khát vọng Đoạn trích có những phát
hiện mới mẻ về đất nước trong chiều sâu văn hóa - lịch sử và trong cuộc sống đời thường của mỗi con người
- Đây là đoạn thơ đặc sắc, thể hiện tư tưởng cơ bản của bản trường ca: tư tưởng Đất Nước của
Nhân dân
- Bố cục: 2 phần
II ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN
1 Phần một
1.1 Đất Nước có từ bao giờ?
- Câu đầu tiên:
+ Hai chữ Đất Nước được viết hoa, thể hiện sự trân trọng, yêu kính đối với đất nước
+ Đại từ nhân xưng ta xác định sự hiện diện của nhân vật trữ tình, khiến lời thơ như lời thủ thỉ,
chiêm nghiệm, suy tư
+ Trạng ngữ phiếm định khi ta lớn lên, chỉ thời điểm bắt đầu và lớn lên của đất nước, trả lời cho câu hỏi Đất Nước có từ bao giờ? – Câu trả lời không xác định bằng một mốc thời gian cụ thể nào nhưng lại khẳng định chắc chắn một điều: Đất Nước đã có từ trước khi có sự hiện diện của ta,
từ rất lâu, từ xa xưa
- Cảm nhận về Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm:
+ Cảm nhận đất nước từ những nét văn hóa và văn học dân gian, từ những truyền thống quý báu của dân tộc:
hàng loạt các truyện cổ tích ngày xửa ngày xưa, tích truyện Trầu cau, truyền thuyết Thánh Gióng, những câu ca dao yêu thương tình nghĩa (Tay nâng chén muối đĩa gừng, Gừng cay muối mặn xin
đừng quên nhau; Muối ba năm muối đang còn mặn, Gừng chín tháng gừng hãy còn cay, Đôi ta nghĩa nặng tình dày, Dẫu có xa nhau đi nữa ba vạn sáu ngàn ngày mới xa…), những câu thành
ngữ quen thuộc (gừng cay muối mặn, một nắng hai sương)…
văn minh sông Hồng: tục ăn trầu, tục búi tóc thành cuộn sau gáy (khác với phụ nữ Trung Hoa: thường búi tóc cài trâm trên đỉnh đầu), tập quán đặt tên con thật xấu để ma quỉ đỡ bắt, tập quán canh tác nông nghiệp…
Liên hệ: Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại cáo cũng khẳng định sự tồn tại lâu đời của đất nước bằng các yếu tố văn hóa văn hiến, phong tục, tập quán (Như nước Đại Việt … cũng khác)
Trang 3+ Cảm nhận về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm khác các tác giả Tố Hữu, Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi: đất nước lớn lao, kì vĩ
Ví dụ:
- Việt Nam đất nước ta ơi Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn
Cánh cò bay lả rập rờn Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều
(Nguyễn Đình Thi, Bài thơ Hắc Hải, 1959)
- Tổ quốc tôi như một con tàu Mũi thuyền ta đó – mũi Cà Mau Những dòng sông rộng hơn ngàn thước Trùng điệp một màu xanh lá đước […]
Tổ quốc tôi như một con tàu Mũi thuyền xé sóng - mũi Cà Mau
(Xuân Diệu, Mũi Cà Mau, 1960)
+ Nguyễn Khoa Điềm không xác định niên đại theo cách của các nhà sử học, khảo cổ học để
khẳng định sự ra đời của đất nước mà cắt nghĩa sự ra đời của đất nước trong chiều sâu của lí lẽ - trái tim nhiều yêu thương ngọt ngào, đằm thắm Nói về đất nước mà lời của tác giả như là tiếng
của người yêu thủ thỉ tâm tình (tích Trầu cau và những câu ca dao dân ca, những câu thành ngữ
gợi đến tình yêu thủy chung, bền chặt; tình người sâu nặng, đong đầy…), tiếng nói của tình mẫu tử
thiêng liêng đầm ấm (Tóc mẹ thì bới sau đầu, Cha mẹ thương nhau…)
+ Dấu ba chấm (…) nối dài những truyền thống văn hóa văn hiến, phong tục tập quán…, thể
hiện sự bất tận, sự trường tồn vĩnh hằng từ xa xưa của Đất Nước
Tư tưởng “Đất Nước của nhân dân”
1.2 Đất Nước là gì?
- Bốn câu đầu: Đất là … nhớ thầm
+ Tác giả đã chia tách Đất Nước thành hai yếu tố Đất và Nước (Đất là…, Nước là…), rồi sau
Đất Nước là sự thống nhất giữa cái chung và cái riêng, cộng đồng và cá nhân, to lớn và nhỏ bé, hiện thực và huyền thoại…
+ Đất Nước là những miền không gian (nơi) hết sức thân thuộc, gần gũi với mỗi một con người: nơi anh đến trường, nơi em tắm
+ Đất Nước được nhìn qua lăng kính của tình yêu đôi lứa, của anh và em, Đất Nước là nơi ta
hò hẹn, nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm nên rất lãng mạn, trữ tình
Trang 4- Đoạn thơ tiếp theo: Đất là nơi “con chim… giỗ Tổ
+ Tiếp tục lối chiết tự, chia tách hai thành tố Đất và Nước (Đất là nơi “con chim phượng
hoàng bay về hòn núi bạc” / Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước bể khơi”; Đất là nơi Chim
về / Nước là nơi Rồng ở…), sau đó lại hợp thành Đất Nước rộng lớn mênh mang, nơi dân mình đoàn tụ, nơi đồng bào ta cùng một gốc nguồn (Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ, Lạc Long Quân
và Âu Cơ / Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng)
+ Biên độ Đất Nước được mở rộng theo nhiều chiều khám phá:
cánh lên hòn núi bạc, bằng mặt bể mênh mang…
Đất Nước trong niên đại của văn hóa dân gian: từ khi đồng bào ta được sinh ra trong bọc trứng, sinh sôi, nảy nở (Yêu nhau và sinh con đẻ cái) thành bao thế hệ… Quá khứ ăm ắp niềm tự hào về nòi giống tiên rồng được nối liền với hiện tại bây giờ, hôm nay… và cả tương lai mai sau một cách
liền mạch bằng sợi khói tâm linh thành kính thiêng liêng:
Hằng năm ăn đâu làm đâu Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ
hết) các câu hò Bình Trị Thiên, gợi nhắc thần thoại Con Rồng cháu Tiên, Lạc Long Quân và Âu
Cơ, truyền thuyết Hùng Vương… tiếp tục mang lại sự gần gũi, thiêng liêng trong cách cảm nhận
về Đất Nước
- Đoạn thơ: Trong anh và em … muôn đời
+ 9 câu trước: Suy tư, chiêm nghiệm về Đất Nước tiếp tục được thể hiện thông qua giọng thơ thủ thỉ, tâm tình, như lời trò chuyện của đôi trai gái yêu nhau: Đất Nước không ở đâu xa mà kết tinh, hóa thân trong cuộc sống của mỗi con người Sự sống mỗi cá nhân không phải chỉ là riêng của cá nhân mà còn là của Đất Nước, bởi mỗi cuộc đời đều được thừa hưởng những di sản văn hóa tinh thần và vật chất của dân tộc, của nhân dân; mỗi cá nhân phải có trách nhiệm gìn giữ, phát triển
nó, truyền lại cho các thế hệ tiếp theo
+ 4 câu sau: Lời nhắn nhủ với thế hệ trẻ về trách nhiệm với Đất Nước
thiết (Em ơi em) chứ không phải là những lời giáo huấn, hô hào, kêu gọi
Đất Nước là máu xương của mình
lệnh phát ra từ trái tim, vừa thiết tha, chân thành vừa mạnh mẽ
Đặt trong hoàn cảnh ra cảnh ra đời của trường ca Mặt đường khát vọng (ra đời tại nơi ác liệt nhất của thời chiến tranh chống Mĩ) ta mới cảm nhận được hết các từ ngữ gắn bó, san sẻ và hóa
thân là tiếng nói tâm huyết mang sức mạnh ý chí và khát vọng vượt ra ngoài giới hạn thông tin của ngôn từ như một nhà ngôn ngữ đã nhận xét
Trang 5 Bằng chất liệu văn hóa dân gian, giọng thơ tâm tình, thủ thỉ lúc như lời độc thoại nội tâm, khi như lời đối thoại của lứa đôi trai gái…, Nguyễn Khoa Điềm đã trả lời một cách tường tận và
xúc động cho câu hỏi Đất Nước là gì?
2 Phần hai
Sang phần sau của bài thơ, tác giả tập trung thể hiện sự cảm nhận về Đất Nước thông qua vai trò, những hi sinh, đóng góp to lớn của nhân dân trên các phương diện cụ thể là chiều rộng của không gian địa lí, chiều dài của truyền thống lịch sử và chiều sâu của văn hóa
2.1 Phương diện không gian địa lí
- Đoạn đầu: Những người vợ nhớ chồng … hóa núi sông ta
+ Nghệ thuật:
dấu tích Những thắng cảnh, những dấu tích ở mọi miền của Tổ quốc đều hiện diện: miền Bắc có vịnh Hạ Long, có núi Vọng Phu, có dấu tích của thời đại Hùng Vương và có những ao đầm mà gót ngựa Thánh Gióng để lại, Miền Trung có núi Bút, non Nghiên Miền Nam có dòng Cửu Long và những địa danh như Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm, Có khi là dấu tích lịch sử chống giặc ngoại xâm oai hùng (Thánh Gióng), có khi là dấu tích của thời kì dựng nước và giữ nước
(chín mươi chín con voi), có khi lại là thắng cảnh mà người Việt Nam đều tự hào (vịnh Hạ Long,
núi Bút, non Nghiên),
lớn của nhân dân đối với Đất Nước, đồng thời thể hiện sự ghi nhận, trân trọng thành kính, thiêng liêng đối với công lao đó
+ Cách nhìn của tác giả về những thắng cảnh, về địa lí là một cách nhìn có chiều sâu và là một phát hiện mới mẻ:
Mái…) gắn liền với đời sống dân tộc, nó chỉ trở thành thắng cảnh khi đã gắn liền với con người, được tiếp nhận, cảm thụ qua tâm hồn và qua lịch sử của dân tộc Nếu không có những người vợ mòn mỏi chờ chồng qua các cuộc chiến tranh và li tán thì cũng không có sự cảm nhận về núi Vọng Phu, cũng như nếu không có truyền thuyết Hùng Vương dựng nước thì không hề có sự cảm nhận như vậy về vẻ hùng vĩ của vùng núi đồi xung quanh đền Vua Hùng…
thân kì diệu của Nhân dân và những truyền thống tốt đẹp ngàn đời của dân tộc: những cặp vợ
chồng thủy chung, người học trò nghèo hiếu học, những con người bình dị, vô danh nhưng thiết tha yêu nước, ngùn ngụt lửa căm thù trước giặc ngoại xâm, những người có công với dân với
nước… (Và ở đâu … núi sông ta)
2.2 Phương diện chiều dài lịch sử
- Đất Nước được nhà thơ cảm nhận không phải bằng sự hiện diện của các triều đại trong lịch
sử, bằng các vĩ nhân đã được ghi danh trong sử sách (trong Bình Ngô đại cáo: Từ Triệu, Đinh, Lý,
Trần … cũng có), mà bằng chính cuộc đời của những con người bình dị vô danh, không ai nhớ mặt đặt tên
Trang 6- Đại từ họ được lặp đi lặp lại, đặt ở đầu mỗi câu thơ cùng các động từ giữ, truyền, gánh làm
nổi bật lên vai trò của Nhân dân đối với Đất Nước: Tuy bình dị, vô danh nhưng chính những con người ấy đã gìn giữ và truyền lại cho các thế hệ sau mọi giá trị văn hóa, văn minh tinh thần và vật chất của đất nước, của dân tộc: hạt lúa, ngọn lửa, tiếng nói, tên xã tên làng… Và chính họ là những
người khi có ngoại xâm thì chống ngoại xâm, có nội thù thì vùng lên đánh bại
2.3 Phương diện chiều sâu văn hóa, tư tưởng
- Mạch cảm xúc của đoạn thơ cứ tụ dần để cuối cùng dẫn tới cao trào, làm bật lên tư tưởng cốt lõi của cả bài thơ:
Đất nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại
Câu thơ với hai vế song song, đồng đẳng là một cách định nghĩa về Đất Nước thật giản dị mà cũng thật độc đáo: Đất Nước được tạo nên bởi sức mạnh và tình nghĩa của nhân dân, Đất Nước là của nhân dân; muốn hiểu đất nước phải hiểu vẻ đẹp tâm hồn, tính cách của nhân dân phải tìm trong văn hóa tinh thần của nhân dân: đó là văn hóa dân gian, là truyện thần thoại, truyện cổ tích, là dân
ca, ca dao
- Vận dụng vốn ca dao dân ca một cách sáng tạo: Không lặp lại nguyên văn mà chỉ sử dụng ý
và hình ảnh Trong cả kho tàng ca dao, dân ca, tác giả chỉ chọn lọc ba câu để nói về ba phương diện quan trọng nhất của truyền thống nhân dân, dân tộc:
+ Thật say đắm trong tình yêu (yêu em từ thuở trong nôi);
+ Quí trọng tình nghĩa (quí công cầm vàng những ngày lặn lội);
+ Quyết liệt trong căm thù và chiến đấu (trồng tre đợi ngày thành gậy, đi trả thù mà không sợ
dài lâu)
tưởng cốt lõi của văn học Việt Nam, đặc biệt trong giai đoạn chống Mĩ với các sáng tác như Hơi
ấm ổ rơm (Nguyễn Duy), Những người đi tới biển (Thanh Thảo), Đường tới thành phố (Hữu
Thỉnh)…
Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm đã góp thêm một thành công trong dòng thơ về đất nước
thời chống Mĩ, làm sâu sắc thêm nhận thức về Nhân dân và Đất Nước
III TỔNG KẾT
1 Nghệ thuật
- Sử dụng chất liệu văn hóa dân gian: ngôn từ, hình ảnh bình dị, dân dã, giàu sức gợi…
- Giọng điệu thơ biến đổi linh hoạt
- Sức truyền cảm lớn từ sự hòa quyện giữa chất chính luận và trữ tình
2 Nội dung
Đoạn trích là một cách cảm nhận mới về đất nước, qua đó khơi dậy lòng yêu nước, tự hào về
văn hóa đậm đà bản sắc Việt Nam
Giáo viên Vũ Dung
Moon.vn