1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Thơ thu Nguyễn Khuyến

5 1,4K 13

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mùa thu và thi nhân vốn có nhiều duyên nợ. Trước cảnh thu không ai cảm xúc sâu sắc bằng các nhà thơ, cho nên trong các bài thơ hay kim cổ, phải kể đến các bài vịnh về mùa thu. Từ xưa, một loạt 8 bài Thu hứng của Đỗ Phủ (712770) đã được Kim Thánh Thán liệt vào số sáu tác phẩm tài tử hay nhất đời Đường. Về sau, ở nước ta, trong các bài thơ nôm vịnh thu, phải kể đến ba bài Thu điếu, Thu ẩm và Thu vịnh của Nguyễn Khuyến (1835), người làng Yên Đổ (Hà Nam), là những thi phẩm tuyệt tác hiện còn truyền tụng cho đến ngày nay.

Trang 1

Đề bài:

Câu 1: Phân tích cơ sở tư tưởng, cơ sở mĩ học của tính ước lệ trong văn

học trung đại Việt Nam

Câu 2: Phân tích tính ước lệ và sự phá vỡ tính ước lệ trong "Chùm thơ thu" của Nguyễn Khuyến.

Bài làm :

Câu 1:

Tính ước lệ của hình tượng nghệ thuật là một trong những đặc trưng của thi pháp văn học trung đại Những hình tượng được tạo ra bởi những ước lệ nghệ thuật có sẵn trong tư tưởng quan niệm thường biểu đạt những quan niệm Nho giáo về đạo đức xã hội, về lí tưởng, phẩm chất người quân tử… hoặc phản ánh, giải thích, chứng minh những triết lý tự nhiên, xã hội, những quy luật của cuộc sống

Chiều sâu của tính ước lệ bắt nguồn từ quan niệm thẫm mĩ, quan niệm về cái đẹp của thời trung đại Người trung đại quan niệm: thời hoàng kim thuộc về quá khứ, cái đẹp là khuôn mẫu, là biểu mẫu của tiền nhân Từ đó, tạo nên tính quy phạm trong quan niệm của người trung đại: tư duy theo mẫu hình có sẵn, ước lệ trong biểu đạt tự nhiên, xã hội, con người

Cách xây dựng hình tượng nghệ thuật mang tính ước lệ cũng khác với văn

học dân gian Nếu so sánh với văn học dân gian, chúng ta thấy hình tượng mận đào, trúc mai nói về quan hệ nam nữ, về tình yêu đôi lứa:

- Bây giờ mận mới hỏi đào Vườn hồng đã có ai vào hay chưa ?

- Cúc mai trồng lộn một bồn Hai đứa mình chồng vợ, ai đồn mặc ai.

Trong khi đó, ở văn học trung đại, trúc mai tượng trưng cho người quân

tử, mận đào lại tượng trưng cho nơi quyền quý Điều đó chứng tỏ mỗi phong

cách: bác học và dân gian có cách xây dựng hệ thống hình tượng nghệ thuật riêng Văn học dân gian xây dựng hình tượng trên cơ sở những liên tưởng cụ thể, gần gũi – sư vật hiện tượng quen thuộc, thân mật trong cuộc sống Ngược

Trang 2

lại, văn học bác học xây dựng hình tượng trên cơ sở những liên tưởng giá trị; chủ ý đến tính cao cả, phẩm chất đặc biệt của các hiện tượng, sư vật Ở đây tinh thần đẳng cấp thấm sâu trong ý thức tư tưởng thời trung đại đã chi phối quan niệm thẫm mĩ, tạo ra cách lựa chọn có sẵn cho nhà nghệ sĩ khi xây dựng hình

tượng nghệ thuật Nói đến thiên nhiên là: phong, hoa, tuyết, nguyệt Nói đến mùa thu là sen tàn, cúc nở, lá ngô đồng rụng Nói đến người quân tử là tùng, cúc, trúc, mai… Tuy nhiên, với những người nghệ sĩ có tài năng, phong cách, họ

không chỉ dừng lại ở việc sử dụng những hình tượng mang tính ước lệ mà còn phá vỡ tính ước lệ bằng những hình tượng độc đáo riêng của mình Các tác giả tiêu biểu như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương,, Nguyễn

Du, Nguyễn Khuyễn, Tú Xương…

Câu 2:

Chùm thơ thu của Nguyễn Khuyễn ra đời vào thời gian ông về ở ẩn tại

quê nhà: Yên Đổ - Lục Bình – Hà Nam Đây là thời gian Nguyễn Khuyến đã

sáng tác nên rất nhiều tác phẩm có giá trị Đặc sắc nhất phải kể đến Chùm thơ thu gồm ba bài: Thu vịnh, Thu điếu, Thu ẩm Với chùm thơ này, Nguyễn

Khuyến đã được mệnh danh là "nhà thơ của làng cảnh Việt Nam" (Xuân Diệu).

Ba bài thơ đã thể hiện sự tài tình của Nguyễn Khuyến trong việc kết hợp hài hòa giữa tính ước lệ và sự phá vỡ tính ước lệ

I Tính ước lệ trong Chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến

1 Nguyễn Khuyến đã sử dụng thi đề rất quen thuộc của thơ cổ: đề tài mùa thu, mùa dễ gây cảm xức cho các thi nhân

2 Âm hưởng của thơ víết về mùa thu thường buồn Chùm thơ thu không

phải là ngoại lệ Đọc kĩ ba bài thơ này, chúng ta dễ dàng nhận thấy âm hưởng chung của chúng là buồn, một nỗi buồn man mác với rất nhiều căn cớ, nguồn cơn

3 Rất nhiều thi liệu cổ về mùa thu cũng đã xuất hiện trong ba bài thơ này:

thu thiên, thu thủy, thu hoa, thu diệp, thu sương, thu nguyệt, thu phong, thu điểu, thảo đường, ngư ông, túy ông Đây là những hình ảnh quá quen thuộc và là công

Trang 3

4 Bức tranh thu ở đây rất tĩnh lặng, có âm thanh, sư chuyển động cũng chỉ làm nổi bật cái tĩnh Đó là một trong nhũng đặc trưng của thơ ca cổ điển

5 Tác giả đã sử dụng rất thành công bút pháp cổ điển phương Đông: lấy động tả tĩnh và dùng một vài nét chấm phá nhưng gợi được linh hồn của tạo vật

Ví dụ: ở bài Thu điếu tác giả đã miêu tả sư chuyển động: Sóng biếc hơi gợn tí,

lá khẽ đưa vèo và có cả âm thanh cá đớp động dưới chân bèo Nhưng tất cả đều

chỉ làm nổi bật sự êm ả và tĩnh lặng của cảnh vật Nhà thơ cũng chỉ dùng một vài chi tiết nhưng đã làm nổi bật được cái hồn, cái thần của mùa thu đồng bằng Bắc Bộ

6 Điển cố Đào Tiềm xuất hiện ở cuối bài Thu vịnh cũng là một biểu hiện

của tính ước lệ: Nhân hứng cũng vừa toan cất bút Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.

Trên đây là những biểu hiện của tính ước lệ đã được Nguyễn Khuyến vận

dụng một cách rất thành công Nhưng điểm làm nên sức sống của Chùm thơ thu

chính là những sáng tạo, sự phá vỡ tính ước lệ của nhà thơ

II Sự phá vỡ tính ước lệ trong Chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến

1 Sự phá vỡ tính ước lệ đầu tiên của ba bài thơ này chính là ở chỗ: tác giả không miêu tả một mùa thu chung chung, mang tính phổ quát mà chúng ta thường bắt gặp trong thơ Đường Đó là mùa thu được miêu tả một cách cụ thể trực tiếp từ sự quan sát của chính tác giả Bức tranh mùa thu hiện lên với những

cảnh vật rất quen thuộc, gần gũi của làng quê vùng đồng bằng chiêm trũng: trời thu xanh ngắt, nước ao thu trong veo, cần trúc lơ phơ, lá vàng, ngõ trúc, bèo, nhà cỏ thấp le te, đóm lập lòe… Đặc biệt hơn, tác giả còn rất tinh tế phát hiện ra

những nét rất đặc trưng của mùa thu Bắc Bộ:

Bầu trời thu được tác giả miêu tả trong cả ba bài thơ là màu xanh ngắt :

Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao (Thu vịnh), Tầng mấy lơ lửng trời xanh ngắt (Thu điếu), Da trời ai nhuộm mà xanh ngát (Thu ẩm) Cái màu xanh ngắt quả

đã gây ấn tượng sâu sắc với nhà thơ Ở miền Bắc nước ta, vào mùa thu khi tiết trời bắt đầu se lạnh thì bầu trời thường rất ít mây, nó có màu xanh ngắt và sâu thẳm

Trang 4

Nước mùa thu cúng được tác giả miêu tả rất tinh tế Nước biếc trông như

từng khói phủ (Thu vịnh), Ao thu lạnh lẽo nước trong veo và Sóng biếc theo làn hơi gợn tí (Thu điếu), Làn ao lóng lánh bóng trăng loe (Thu ẩm) Ai đã từng

sống ở miền Bắc nước ta có thể thấy rõ khi trời đã sang thu thì nước ở các ao hồ trong một cách kì lạ Và mùa thu cũng thường có gió, không phải thứ gió nồm

mùa hè hay gió bấc mùa đông mà là gió heo may thổi rất khẽ chỉ đủ làm cho cần trúc lơ phơ, sóng hơi gợn tí Vào ban đêm, gió làm mặt hồ lay động tạo nên một cảnh tượng rất độc đáo: Làn ao lóng lánh bóng trăng loe Gió mùa thu êm ả như

thế nên không thể làm bóng trăng vỡ ra mà nó chỉ loe ra rồi trở lại hình dáng cũ Sương vào lúc sáng sớm và chiều tà cũng là một nét đặc trưng của mùa thu Bắc

Bộ Chi tiết ấy cũng được Nguyễn Khuyến ghi lại rất tài tình: Lưng giậu phất

phơ màu khói nhạt (Thu ẩm), Nước biếc trông như tầng khói phủ (Thu vịnh).

Tất cả đều góp phần làm nên linh hồn của mùa thu dân tộc

2 Trong chùm thơ này, Nguyễn Khuyến đã sáng tạo ra những hình ảnh rất

độc đáo có sức gợi hình và gợi cảm sâu sắc Đó là hai câu luận trong bài Thu vịnh: Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái Một tiếng trên không ngỗng nước nào; là câu Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo (Thu điếu), Làn ao lóng lánh bóng trăng loe (Thu ẩm) Hãy phân tích câu thơ: "Làn ao lóng lánh bóng trăng loe"

làm ví dụ Từ làn ao không chỉ phá vỡ tính ước lệ mà còn khác với cách nói thông thường Bình thường chúng ta chỉ nói làn sóng, làn nước Từ làn ao có

tính gợi hình rõ rệt, gợi hình ảnh trăng từ mặt ao hắt lên, lan tỏa Trăng loe vì

trăng theo sóng nước mà lan tỏa Bốn phụ âm l (làn, lóng, lánh, loe) đã làm cho

không gian mặt ao như mở ra và tràn ngập ánh sáng của trăng, cảnh trở nên thơ

mộng và huyền ảo Nói như PGS.TS Lã Nhâm Thìn: "Nguyễn Khuyến đã dùng thần bút để khắc họa cái thần mùa thu trong đêm trăng'

3 Sự phá vỡ tính ước lệ còn được thể hiện rất rõ trong hệ thống ngôn ngữ Nguyễn Khuyến đã sử dụng dày đặc những từ thuần Việt trong sáng dễ hiểu và

giàu sức gợi hình, gợi cảm: xanh ngắt, lơ phơ, hắt hiu, lạnh lẽo, trong veo, bé tẻo teo, hơi gợn tí, sẽ đưa vèo, vắng teo, le te, lập lòe, lống lánh, loe… Tất cả

Trang 5

Bộ Đặc biệt ở bài Thu điếu nhà thơ đã sáng tạo ra vần eo (Tử vận): diển tả

được một không không gian vắng lặng, thu nhỏ dần, phù hợp với tâm trạng đầy uẩn khúc của thi nhân

4 Tâm sự thời thế của Nguyễn Khuyến cũng là sự phá vỡ tính ước lệ trong thơ cổ, con người thường mờ nhạt trước thiên nhiên và xuất hiện với hình ảnh là những con người thảnh thơi, thưởng ngoạn Nhưng nhân vật trữ tình của

Chùm thơ thu hiện lên rất rõ với tâm trạng ưu thời mẫn thê:

Nhân hứng cũng vừa toan cất bút Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.

(Thu vịnh)

Tựa gối, ôm cần lâu chẳng được

Cá đâu đớp động dưới chân bèo

(Thu điếu)

Rượu tiếng rằng hay hay chả mấy

Độ dăm ba chén đã say nhè.

(Thu ẩm)

Con người ở đây đều mang một bi kịch: muốn làm thơ mà không thể làm được thơ, muốn câu cá mà không tập trung câu cá, muốn uống rượu mà vừa uống đã say Dường như Nguyễn Khuyến không thể yên lòng để hưởng thụ những thú vui tao nhã của một bậc tao nhân mặc khách Trong lòng nhà thơ đang chất chứa một nỗi niềm: đó là nỗi buồn trước cảnh nước mất nhà tan và sự bất lực của thi nhân

Tính ước lệ và sự phá vỡ tính ước lệ trong chùm thơ thu đã thể hiện tài năng nghệ thuật của nhà thơ Sự kết hợp hài hòa giữa hai yếu tố này đã làm cho bức tranh mùa thu vừa gần gũi, quen thuộc mà vẫn hết sức tao nhã, nó gợi lên cái thần,cái hồn của mùa thu đồng bằng Bắc Bộ Chùm thơ cũng thể hiện được

vẻ đẹp của tâm hồn Nguyễn Khuyễn: yêu thiên nhiên, yêu làng quê, tinh tế nhạy cảm và rất nặng lòng với đất nước

Ngày đăng: 25/08/2017, 20:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w