Thành phần của sơn chống gỉ - Chất tạo màng: Là thành phần chính của hệ sơn này, nó có thể bám được vào bề mặt vật liệu nhờ quá trình tĩnh điện, chất tạo màng chủ yếu cho hệ sơn này l
Trang 1TÀI LIỆU SƠN SỬA CHỮA
Ô TÔ
Những kiến thức cần biết về sơn sửa chữa ô tô
Trang 2Chương 1 KHÁI QUÁT NGÀNH SƠN Ô TÔ
I Sơn Là Gì?
Sơn là loại vật liệu có cấu tạo vô định hình, dễ gia công và tạo màng mỏng trên
bề mặt vật liệu, màng sơn sau khi khô sẽ hình thành một lớp chất rắn, rắn trắc và bám dính trên bề mặt vật liệu
II Mục Đích Của Sơn
Tuỳ vào mục đích sử dụng màng sơn sẽ có những vai trò đặc biệt sau:
1 Bảo vệ bề mặt vật liệu
Điều quan trọng nhất của sơn là bảo vệ bề mặt
sản phẩm Màng sơn mỏng hình thành trên bề mặt
chi tiết cách ly với môi trường như nước, không khí,
ánh sáng mặt trời và môi trường ăn mòn (như axit,
kiềm, muối …) bảo vệ được sản phẩm không bị ăn
Trang 33 Tạo được nhiều tính chất đặc biệt
Màng sơn có những tính chất đặc biệt như: cách điện, cách nhiệt, phản quang, chống lại sự hoạt động sinh học, và bền với nhiều môi trường
III Thành Phần Của Sơn
Sơn là một chất lỏng có độ nhớt cao, sơn có các thành phần như: keo nhựa, hạt màu, dung môi hoặc chất pha loãng và các chất phụ gia Khi chúng được hòa trộn với nhau tạo thành một hợp chất đặc sệt đồng nhất Sơn thường được pha loãng với chất pha sơn để dễ sử dụng Ở trường hợp loại sơn hai thành phần thì được bổ sung thêm chất đóng rắn (hardener)
Sau khi đã phối trộn với nhau để tạo sơn gốc, trong quá trình sử dụng chúng sẽ được pha với dung môi hay chất pha loãng để điều chỉnh độ nhớt thích hợp với điều kiện sơn
1 Keo nhựa (Chất tạo màng)
Keo nhựa là thành phần chính của sơn, nhìn chung nó là chất lỏng có độ nhớt và trong suốt tạo ra một lớp sơn sau khi sơn lên vật thể được làm khô
Trang 4Tính chất của keo nhựa có ảnh hưởng trực tiếp đến đặc tính của sơn như độ cứng, sức cản dung môi và sự thay đổi của thời tiết Và ảnh hưởng đến chất lượng như độ nhấp nhô bề mặt, độ bóng, dễ sử dụng cũng như thời gian khô sơn
Màng sơn được hình thành sau khi đã phủ lên bề mặt vật liệu chúng sẽ chuyển
từ trạng thái lỏng nhớt sang trạng thái rắn trắc và bám dính dưới tác dụng của tác nhân làm khô
Keo nhựa là những hợp chất hữu cơ cao phân tử có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp
Keo nhựa tự nhiên
Chúng được chiết từ thực vật như: Varnish, nhựa cánh
kiến, nhựa thông, các loại dầu như dầu chẩu, dầu lanh, dầu đậu
tương,…hoặc các chất béo có nguồn gốc từ động vật, chúng
được phối trộn với bột màu để chế tạo các loại sơn cho trang
trí và bảo vệ tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng Loại keo nhựa
này không được sử dụng trong công nghiệp sản xuất hàng loạt
Keo nhựa tổng hợp
Là những hợp chất cao phân tử được tổng
hợp từ những phản ứng polyme hoá của phương
pháp trùng hợp hoặc trùng ngưng So với các chất
tạo màng có nguồn gốc tự nhiên, các chất tạo màng
tổng hợp có trọng lượng phân tử lớn hơn, cấu trúc
hoá học phức tạp hơn và do vậy chúng có nhiều đặc
điểm, tính chất ưu việt hơn
Nhựa tổng hợp được chia ra làm hai loại đó là nhựa nhiệt dẻo và nhựa nhiệt rắn
- Nhựa nhiệt dẻo: là những loại nhựa bị nóng chảy hoặc chuyển từ trạng thái rắn sang trạng thái nóng chảy hoặc phân huỷ dưới tác dụng của nhiên độ cao Các loại nhựa này như: Polyetylen, Polyvinyl clorua, Polypropylene, Polystiren,…
- Nhựa nhiệt rắn: là những loại nhựa bị biến đổi trạng thái thông qua phản ứng hoá học khâu mạch, dưới tác dụng của nhiệt độ chúng bị đóng rắn hoặc phân huỷ mạch đại phân tử Các loại nhựa nhiệt rắn thường được sử dụng làm chất tạo màng cho sơn phổ biến là các loại nhựa như: nhựa Melamine, nhựa Acrylic, nhựa Polyeste,…
2 Bột màu
Trang 5Bột màu là những hạt rắn mịn, kích
thước hạt từ vài micron đến hàng chục micron,
phân tán đều trong môi trường sơn và tạo cho
màng sơn có những tính chất đặc biệt Tính
chất quan trọng của bột màu là tạo cho màng
sơn có màu sắc nhất định, mất độ trong suốt,
một số bột màu có thể cho màng sơn có những
chức năng và khả năng làm viêc tốt hơn Bột
màu được đánh giá bằng sức phủ, sức phủ lại
phụ thuộc vào độ đục và hệ số chiết suất của
bột màu Tuỳ thuộc vào chức năng, bột màu bao gồm: bột màu vô cơ, bột màu hữu cơ, bột màu kim loại, bột màu phụ trợ
Bột màu vô cơ
Đại diện cho nhóm này bao gồm các bột màu mang màu như: ZnO (màu trắng), CdSCdSe (màu nâu sẫm), PbCrO4 (màu vàng), Cr2O4 (màu xanh),… bột màu chống
gỉ như: Fe2O3 (màu đỏ nâu), PbO2.2PbO (màu da cam),…
Bột màu hữu cơ
Đây là các loại bột màu đươc tổng hợp từ các hợp chất hữu cơ có nhóm định chức như:
- N =N - , =CH-N=,…
Bột màu kim loại
Các bột màu kim loại như: bột nhôm(AL), bột kẽm (Zn), bột chì (Pb),…
Bột màu phụ trợ
Bột màu phụ trợ có tác dụng như bột độn hoặc cho vào để cải tiến một số tính chất của màng sơn, một số loại như: Barit (BaSO4, có tác dụng là bột độn), Mica (K2O.2Al2O3.6SiO2.2H2O, cho vào sơn để giảm độ thấm nước, tránh rạn nứt và phấn hoá), cao lanh, bột talc,…
3 Dung môi
Dung môi là chất lỏng, dễ bay hơi dùng để hoà tan chất tạo màng và thay đổi độ nhớt của sơn Một dung môi tốt phải đáp ứng được những yêu cầu sau: tạo được một dung dịch có độ nhớt thích hợp cho việc bảo quản và sử dụng, có tốc độ bay hợp lý và tạo nên một màng sơn với tính chất tối ưu, ít ảnh hướng đến sức khỏe và có mùi chấp nhận được
Với các loại sơn khô bằng phương pháp hoá học, dung môi có nhiệm vụ chính
là tạo nên một dung dịch sơn để có thể sơn theo phương pháp thích hợp nhất
Với các chất tạo màng khô vật lý, dung môi đóng vai trò phức tạp hơn vì không những nó ảnh hưởng đến cách lựa chọn phương pháp sơn mà còn có vai trò quyết định đối với thời gian khô và tính chất của màng sơn Trong những trường hợp này thường
Trang 6dùng hỗn hợp nhiều loại dung môi mà mỗi một thành phần đều có những vai trò riêng, ngoài ra một số dung môi cần phải cho vào hợp phần trong quá trình sử dụng nhằm điều chỉnh, làm giảm, kìm hãm hoặc tăng tốc độ bay hơi của dung môi cho phù hợp với điều kiện dây chuyền
Dưới đây là điểm nhiệt độ bay hơi của một số dung môi:
- Dung môi bay hơi ở nhiệt độ thấp (<100oC)
Bao gồm Aceton, Metyl ethyl ketone
- Dung môi bay hơi ở nhiệt độ cao trung bình (100 – 150oC)
Bao gồm Toluen, Xylen, Butyl acetate
- Dung môi bay hơi ở nhiệt độ cao (> 150oC) Butyl cellosolve, Diacetone alcohol, Solvesso 100
4 Chất phụ gia
Các chất phụ gia là những hợp chất hoá học được cho vào nhằm mục đích xúc tác hoặc cải tiến một số tính chất của sơn Trong một số trường hợp đặc biệt nó được sử dụng nhằm mục đích cản trở sự hư hại của màng sơn trong quá trình bảo quản, sử dụng cũng như cải tiến một số khả năng chịu được môi trường của màng sơn
Tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng các chất phụ gia sẽ được thêm vào như: Chất hoá dẻo, chất làm khô hay đóng rắn, chất chống lắng, chất phân tán, chất ổn định màu sắc, chất thay đổi độ nhớt, chất hấp thụ tia cực tím, chất tăng độ bền nước
IV Các Loại Sơn Sử Dụng Trong Sơn Ô Tô
Để tạo độ bền và đẹp, sơn ô tô gồm có 4 lớp sơn khác nhau cấu tạo thành Đó là sơn lót chống gỉ, sơn lót bề mặt, sơn phủ màu và sơn phủ bóng
1 Sơn chống gỉ (ED)
Mục đích
Trang 7Mục đích của lớp sơn chống gỉ là cung cấp khả năng chống gỉ và giúp cho vật liệu ngăn cản được hiện tượng ăn mòn và tăng cường khả năng bám dính giữa bề mặt nền với các lớp sơn tiếp theo Sơn chống gỉ thuộc loại sơn nước, khô ở điều kiện 150oC – 180oC tuỳ thuộc vào hệ sơn
Thành phần của sơn chống gỉ
- Chất tạo màng: Là thành phần chính của hệ sơn này, nó có thể bám được vào bề mặt vật liệu nhờ quá trình tĩnh điện, chất tạo màng chủ yếu cho hệ sơn này là nhựa Epoxy và một số loại nhựa khác như nhựa Melamin
- Bột màu: nhằm mục đích tạo được khả năng chống gỉ, độ đục, bền thời tiết và các tính chất khác của màng sơn Tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng mà có tác dụng chống
gỉ là các oxit kim loại như: Fe2O3, Fe3O4,
- Dung môi: dung môi chính của sơn ED là nước, có mục đích chính là hoà tan chất tạo màng và phân tán bột màu trong môi trường sơn, giúp cho màng sơn có thể hình thành được trên bề mặt vật liệu và mất đi sau khi màng sơn khô hoàn toàn
- Chất phụ gia: Là các xít như axit axetic, axit amin có khả năng hoà tan trong nước và chất tạo màng, chúng có nhiệm vụ tạo được khả năng làm việc và một số tính chất tốt hơn của màng sơn
- Nước DI: là loại nước không ion có nhiệm vụ loại bỏ sơn thừa, dung môi và thụ động hoá bề mặt lớp sơn sau giai đoạn sơn
- Bột màu: Bao gồm các loại bột màu vô cơ như: oxit kẽm (ZnO), Titan (TiO2),
và các loại bột độn khác như CaCO3, BaSO4
- Dung môi: bao gồm các dung môi thơm, dung môi hoạt đông este, ete và rượu
- Chất phụ gia: bao gồm các chất điều khiển bề mặt, chất phân tán, chất chống lắng, chất hấp thụ tia cực tím
3 Sơn phủ (Top coat)
Mục đích
Sơn phủ là lớp sơn cuối cùng nhằm mục đích trang trí cũng như tạo được màu sắc, độ bóng, độ tương phản ánh sáng cũng như có một số tính chất đặc biệt và chịu được môi trường, loại sơn này là hệ sơn khô ở nhiệt độ cao 140oC trong 18 phút
Các loại sơn phủ
Sơn phủ loại Solid
- Chất tạo màng: là các loại nhựa như: nhựa Polyeste, nhựa Melamine, nhựa Alkyd
và các loại nhựa khác
Trang 8- Dung môi: bao gồm các loại dung môi thơm các loại dung môi hoạt động như este, ete và rượu
- Chất phụ gia: bao gồm chất điều khiển bề mặt, chất chống lắng, chất phân tán, chất ổn định màu sắc, chất hấp thụ tia cực tím,
Dầu bóng sấy khô
- Chất tạo màng: bao gồm: nhựa Acrylic, nhựa Melanine, nhựa Polyeste, nhựa Epoxy
- Bôt màu: Không sử dụng bột màu
- Dung môi: Bao gồm các loại dung môi thơm các loại dung môi hoạt động như este, ete và rượu
- Chất phụ gia: Bao gồm chất điều khiển bề mặt, chất hấp thụ tia cực tím và một
số chất điều khiển tính chất lưu biến khác
Dầu bóng tự khô
- Chất tạo màng: Chất tạo màng bao gồm: nhựa Acrylic, nhựa Alkyd, nhựa Nitro cellulose và các loại nhựa khác
- Bôt màu: không sử dụng bột màu
- Dung môi: bao gồm các loại dung môi thơm các loại dung môi hoạt động như este, ete và rượu
- Chất phụ gia: bao gồm chất điều khiển bề mặt, chất hấp thụ tia cực tím và một
số chất điều khiển tính chất lưu biến khác
V Quy Trình Sơn Sửa Chữa Ô Tô
Trang 10Chương 2 AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG NGÀNH SƠN
SỬA CHỮA Ô TÔ
- An toàn cho chính bản thân của bạn
- An toàn cho những người làm việc chung quanh bạn
- Môi trường khu vực làm việc sạch sẽ
- Thực hiện công việc với thao tác thuần thục
II An Toàn Nhà Xưởng
1 Dọn dẹp nhà xưởng
- Giữ trống lối đi trong xưởng Chất thải và rác cần được dọn khỏi khu vực làm việc
và nhà kho ít nhất mỗi ngày một lần
- Xác định tất cả các đồ đựng, thùng chứa Đừng bao giờ để dung môi và sơn vào các thùng chứa khác có nhãn không đúng với sản phẩm
- Chỉ dùng dụng cụ và thiết bị phù hợp Phải chắc chắn được giữ gìn đúng cách và được bảo dưỡng trong tình trạng tốt
- Không hút thuốc, ăn uống hoặc trữ thức ăn, nước uống trong xưởng sơn
- Luôn giữ gìn vệ sinh cá nhân đúng cách
- Rửa tay trước khi ăn, hút thuốc hoặc đi vệ sinh
- Thay đồ trước khi về nhà
- Không cất giữ quần áo lao động chung với quần áo khác
- Chắc chắn tất cả các lối ra đều trống và có đánh dấu
2 Nguy cơ cháy nổ
Làm sao để tránh cháy nổ ?
- Cấm mọi nguồn lửa
- Cấm hút thuốc Cần gắn đủ bảng “Cấm Hút Thuốc“ trong xưởng sơn
- Tránh mọi việc có thể làm phát sinh tia lửa
- Không được hàn hoặc mài trong khu vực sơn
- Dùng các mô-tơ và công tắt có thiết kế chống nổ (để tránh tia lửa điện phát sinh)
- Tránh các va chạm làm phát sinh tia lửa
- Thùng chứa dung môi và dụng cụ điện phải được nối đất
- Không để dung môi bốc hơi
Trang 11- Phải chắc chắn khu vực tồn trữ và làm việc phải được thông báo thật tốt
Để phòng nguy cơ cháy nổ, cần chuẩn bị đủ các loại bình chữa cháy thích hợp:
- Nên để chúng ở những nơi có thể dể dàng lấy được khi cần Mỗi khu vực làm việc nên có ít nhất hai bình
- Kiểm tra bình chữa cháy hàng năm để chắc chắn chúng còn làm việc Việc kiểm tra thường xuyên phải do một cơ sở chuyên môn hoặc nhà cung cấp bình tiến hành
- Đánh dấu rõ ràng vị trí các bình chữa cháy
- Tổ chức huấn luyện chữa cháy ít nhất mỗi năm một lần Phải chắc chắn mọi nhân viên đều được hướng dẫn đầy đủ về quy trình chống cháy
- Thông báo rõ những số điện thoại cần thiết trong trường hợp cháy: PCCC, bệnh viện, xe cứu thương, bác sĩ, chính quyền địa phương, công ty cấp nước Các thiết bị báo cháy tự động cũng rất hữu dụng, giúp ta phản ứng nhanh hơn khi có cháy
- Nên lập kế hoạch hợp tác hành động với PCCC địa phương, có cả việc xác định các sản phẩm đang sử dụng để có biện pháp phù hợp
III An Toàn Cá Nhân
Dung môi hữu cơ xâm nhập vào cơ thể thông qua đường hô hấp hoặc qua da, nó
có thể gây ra các triệu chứng như đau đầu, sưng tấy, thiếu máu hoặc choáng váng
Nếu dung môi hữu cơ tích tụ trong cơ thể lâu ngày có thể gây ra tổn thương cho gan và thận
Một lượng nhỏ chất Isocyanate cũng có thể gây ra triệu chứng đau mắt hoặc đau họng, bỏng rát da, khó thở, chóng mặt và hen xuyễn
1 Nguy hiểm đối với sức khỏe
Các khu vực phải được thông gió đúng mức Sự tập trung của bụi và các khí độc hại dưới mức tiêu chuẩn (OELs) Trong điều kiện làm việc bình thường và giữ gìn vệ sinh tốt, chỉ cần một hệ thống thông gió có thể thay đổi toàn bộ không khí nơi làm việc khoảng 05 lần/giờ là đủ để giữ mức độ ô nhiễm thấp hơn tiêu chuẩn OELs
Để tránh hít phải khí độc tập trung ở những nơi không thể giữ dưới mức OELs, cần:
- Dùng khẩu trang chống bụi trước khi đánh nhám, đặc biệt khi đánh nhám những sản phẩm có chứa cromua kẽm
- Kiểm tra độ kín khít của mặt nạ phòng độc Những người có râu hoặc ria dài có thể không mang được mặt nạ này Kểm tra thời hạn sử dụng của lọc Thông thường, lọc cần được thay thế sau 30 giờ sử dụng
- Khi phun sơn nên dùng mặt nạ có ống hơi Những người làm việc xung quanh cũng phải được bảo vệ như vậy Toàn bộ những sản phẩm có chứa isocyanate phải được phun trong những phòng sơn thiết kế thích hợp hoặc trong một khu vực riêng có thông gió tốt để tránh bụi sơn lan ra nhưng khu vực kế cận
Trang 12- Không khí cung cấp cho mặt nạ có ống hơi cần được kiểm soát chặt chẽ về lưu lượng và phải không có dầu mở và những chất bẩn khác Nên thường xuyên bảo trì máy, kiểm tra lọc dầu và bầu lắng nước
Để tránh tiếp xúc với da và mắt, đặc biệt với chất ăn món và kích thích, nên:
- Dùng kính bảo hộ hoặc tấm che mặt
- Mang giày bảo hộ
3 loại găng tay thường sử dụng
- Găng tay chống dung môi
- Găng tay vinyl chống hơi và bụi
- Găng tay da loại bền chắc, để tránh mũi nhọn kim loại
Người làm việc phải luôn nghiêm túc giữ vệ sinh, thường xuyên rửa tay (nhất là cuối ngày làm việc) Trang bị bảo hộ cá nhân cần cất giữ đúng cách ở nơi sạch sẽ Mặt
nạ phòng độc cần cất giữ trong túi kín Cần kiểm tra lổ thủng trên găng tay củ trước khi dùng lại Và đừng quên: không mang, trữ, làm thức ăn hay hút thuốc trong khu vực làm việc và tồn trữ sơn
2 Dụng cụ bảo hộ lao động
a Kính bảo hộ
Kính bảo hộ bảo vệ mắt khỏi bị sơn, chất pha sơn cũng
như matit hay các hạt kim loại khi mài bắn vào mắt
Trang 13Mặt nạ chống hơi độc là loại thiết bị để bảo vệ khí hữu cơ (không khí trộn lẫn với hơi của dung môi hữu cơ) khỏi bị hít vào phổi qua miệng hay mũi Có hai loại, loại
có đường ống dẩn khí và một loại có lọc
- Loại có đường ống dẫn khí cung cấp khí sạch trong lành vào mặt nạ qua ống dẫn khí
- Loại có lọc, được trang bị một bầu lọc than hoạt tính lọc để hấp thụ khí hữu cơ
Đối với loại có lọc, nếu bầu lọc đã được bảo hoà thì lọc sẽ để khói độc xiêng qua Thời gian từ điểm lọc còn mới đến khi bảo hoà được gọi là “thời gian xiêng thủng” Thời gian xiêng thủng của bầu lọc than hoạt tính được thay đổi theo mật độ khói Điều quan trọng khi sử dụng mặt nạ chống độc là thay thế bầu lọc của nó trước khi đến hạn thời gian xiêng thủng Chú ý rằng vì không khí có độ ẩm, nên khả năng hầp thụ của bầu lọc bắt đầu thoái hoá ngay khi mở bầu lọc ra Mỗi loại bầu lọc được thiết kế cho mỗi loại khí nhất định Trong việc sữa chữa ô tô, chắc chắn phải được dùng loại được thiết
kế cho dung môi hữu cơ
Có một số mặt nạ chống độc khác được làm bắng vải mỏng và có cacbon hoạt hoá, nhưng không được dùng thay cho mặt nạ chống hơi độc
a Quần áo và mũ của thợ sơn
Quần áo và mũ để bảo vệ cơ thể của thợ sơn khỏi bị sơn
phun vào, ngoài ra nó còn giảm thiểu những ảnh hưởng của bụi
Có một số quần áo bảo hộ được làm từ vật liệu chống
tĩnh điện
Trang 14b Găng tay
Găng tay bảo vệ tay của bạn khi dùng máy mài hay khi vận
chuyển các chi tiết thân xe
c Găng tay cao su
Găng tay này dùng để chống thấm các dung dịch hữu cơ
vào da khi sơn Ngoài ra găng tay cao su còn được dùng khi bôi
keo làm kín
d Giày bảo hộ (giày chống tĩnh điện)
Giày bảo hộ có các tấm kim loại bọc các ngón và bàn
chân Còn có một số giày bảo hộ có đặt điểm chống tĩnh điện
- Quần áo bảo hộ
- Găng tay cao su
Trang 15d Phun sơn
- Mặt nạ chống độc có ống dẫn khí (loại trùm kín đầu)
- Quần áo bảo hộ cho thợ sơn
- Găng tay cao su
- Giày bảo hộ (giày chống tĩnh điện)
Trang 16Chương 3 PHƯƠNG PHÁP CHUẨN BỊ BỀ MẶT
I Mục Đích Chuẩn Bị Bề Mặt
Chuẩn bị bề mặt là một thuật ngữ chung dược dùng để mô tả các hoạt động bao gồm phục hồi hư hỏng hoặc sửa chữa các tấm vỏ xe để tạo ra một mặt nền cơ bản phù hợp cho lớp sơn trên (sơn màu)
- Bảo vệ kim loại gốc: chống gỉ và rỗ bề mặt
- Cải thiện tính bám dính: tăng tính bám dính giữa các lớp
- Phục hồi lại hình dạng: phục hồi hình dạng ban đầu bằng cách làm phẳng các vết lõm và vết xước
- Làm kín bề mặt: tránh hấp thụ vật liệu sơn khi phun lớp sơn màu
Việc lựa chọn loại và cấp độ giấy nhám sử dụng có tác động rất lớn đến năng suất và chất lượng của công việc
Giấy nhám quá thô sẽ làm cho độ bóng của bề mặt sơn thấp và để lại nhiều sọc nhám trên bề mặt sơn hoàn thiện
Giấy nhám quá nhuyễn có thể gây nên sự bám dính kém và năng suất thấp
1 Vật liệu chà nhám
a Giấy nhám
Dùng cùng với máy mài hay dụng cụ mài cầm tay, dùng để mài lớp sơn, matit hay sơn lót bề mặt
Cấu tạo giấy chà nhám
Vật liệu nền bên dưới
Trang 17 Các loại hạt mài mòn
- Oxit nhôm: thô cứng, tạo vết xướt nhỏ và độ
mịn cao Thích hợp dùng để mài khô
- Cacbua Silic: nhọn, bén nhưng giòn thích hợp
các tác động cắt Thường sử dụng trong mài nước
- Zicron: cứng, thích hợp để mài năng suất cao
- Oxit Ceramic: rất cứng, thích hợp để mài sâu
- Kim cương: rất cứng nhưng rất đắc tiền
Kích thước của hạt mài mòn
- Kích thước các hạt được đo theo tiêu chuẩn của FEPA Ví dụ: P180
- Hệ thống phân loại giấy nhám theo kí tự P đầu tiên hình thành một dãy các cấp
độ giấy nhám và kích thước của các hạt thì không chính xác trên toàn bộ lớp phủ nền của giấy nhám
- Kích thước dãy hạt từ P16 – P4000, thông thường từ P40 đến P1500
Phủ hạt mài mòn
- Phân bổ theo cơ học: các hạt nằm tự do trên bề mặt phủ, hướng sắp xếp của các hạt rất không đều
- Phân bổ bằng hiện tượng tĩnh điện: các hạt nhám được tích điện, khi đó các hạt
bị hút theo hướng lên trên bề mặt phủ nền
- Trong suốt quá trình chuyển động lên trên mỗi hạt được điều chỉnh để có góc mài mòn khác nhau
- Phủ lớp stearate: lớp bọt mịn giúp bôi trơn và làm mát động tác mài
Giấy nhám không phủ stearate Giấy nhám có phủ stearate
Một số loại giấy nhám
Oxit nhôm
Cacbua Silic
Trang 18Liên kết các hạt mài mòn
- Các hạt mài mòn được liên kết với nhau để tạo thành
hình dạng của các, đá mài tròn, dĩa mài, thanh mài hoặc các
Các hạt mài có kích thước 3 chiều
Các hạt mài đựợc liên kết với tất cả các thớ của
cấu trúc xốp 3 chiều
- Loại nhám này rất mềm
- Có 3 cấp độ từ thô đến nhuyễn
- Đây là giải pháp để phủ và liên kết ở những nơi
có sự tăng độ cứng từ lớp phủ đầu tiên đến lớp nhựa rất
cứng, tạo độ mềm dẻo cao
b Máy mài
Máy mài truyền lực cho các dụng cụ mài có gắn giấy ráp và được dùng để mài lớp sơn, matit và sơn lót bề mặt
Phân loại theo năng lượng
Phân theo năng lượng, chúng ta có 2 loại là máy mài dùng năng lượng và máy mài bằng khí nén Tuy nhiên, hiện nay máy mài bằng khí nén không còn sử dụng nhiều trong công việc
Máy mài
Máy mài bằng điện
Máy mài bằng khí nén
Trang 19 Phân loại theo tác động của guốc mài
- Máy mài tác động đơn: Guốc mài quay xung quanh một
điểm cố định Thường được sử dụng để mài bóc lớp sơn, lực mài
lớn
- Máy mài tác động quỹ đạo: Guốc mài rung động như thể
vẽ lên các vòng tròn nhỏ Dùng để gọt matit, lực mài nhỏ
- Máy mài tác động kép: Guốc mài rung động vẽ lên
các vòng tròn nhỏ và quay quanh tâm của nó Với loại guốc
cứng được sử dụng để gọt matit, làm phẳng bề mặt và guốc
mềm dùng làm nhám bề mặt Lực mài trung bình
- Dụng cụ mài cầm tay: Thanh chà tay có nhiều hình dạng và kích thước khác nhau Việc lựa chọn guốc mài tùy thuộc vào sở thích của thợ sơn Tuy nhiên, những nơi góc cạnh phải sử dung những thanh chà ngắn, kích thước nhỏ
- Các bề mặt thường giữ độ ẩm do đó sẽ dẫn tới việc mất bóng, bong tróc… lớp sơn hoàn thiện
Trang 20- Tạo nên sự dơ bẩn trong quá trình sơn sửa chữa Vì chà nhám nước cần sử dụng nhiều nước để bôi trơn do đó sẽ tạo các cặn bã lầy lội của matit – sau khi khô sẽ gây nên bụi
- Tốn nhiều thời gian - Chà nhám nước thì chậm hơn và cần thực hiện theo các bước làm sạch thật kỹ và thổi gió khô bề
b Chà nhám khô
Chà nhám khô thường được thực hiện bằng máy và chất bôi trơn thường đuợc cung cấp sẵn trên giấy trong quá trình phủ chất kết dính của giấy chà nhám Sử sụng máy chà nhám quỹ đạo chuẩn sẽ nhanh 30-40% vể thời gian so với chà nhám nước
Chà nhám khô cần sử dụng một máy hút chân không để hút bụi ngay từ phía sau của tấm đệm chà nhám Xưởng sửa chữa cần đầu tư thiết bị hút bụi, khả năng hoàn vốn của việc đầu tư này rất nhanh do hiệu quả và sự sạch sẽ của các hệ thống này mang lại
Lợi ích của quy trình chà nhám khô
Tiến hành nhanh Tiết kiệm thời gian
Tạo bề mặt tốt nhất khi sơn Bề mặt sau khi sơn đẹp
Không cần sử dụng nước Nhà xưởng sạch, chuyên nghiệp
Tiết kiệm thời gian Tăng sản lượng
Máy hút chân không của máy chà nhám hoạt động tốt sẽ mang lại các ưu điểm
sau:
- Tăng năng suất và số lần sử dụng giấy nhám
- Thời gian hoàn thành quá trình sơn ổn định hơn
- Tiết kiêm thời gian
b Một số lưu ý trong kỹ thuật chà nhám khô
- Luôn luôn sử dụng mực phủ kiểm tra để cho kết quả tốt nhất
- Không chà nhám khô bằng tay với loại nhám dùng cho máy (Sẽ thấy dấu sọc nhám trên bề mặt sau khi sơn khô)
- Giữ cho máy chuyển động càng phẳng càng tốt
Trang 21- Không dùng máy mài chuyển động đơn
- Dùng máy quỹ đạo có bộ hút chân không
- Không đè quá mạnh tay, chỉ dùng lực của máy chà nhám
- Loại nhám tương ứng từng công đoạn
Sản phẩm Chà khô/Máy
Matit P80 – P120
Sơn lót che phủ P180 – P280 Sơn lót ướt trên ướt P320
Màu Solid và Metalic tự bóng P180 – P280
Sơn màu phủ bóng/Dầu bóng P400 – P500
III Xử Lý Ban Đầu
Quy trình cơ bản của việc xử lý ban đầu
1 Xác định sơn
Xác định loại sơn trên bề mặt cần sơn là cần thiết trong quá trình sửa chữa Nếu lớp sơn không được xác định đúng, nó có thể dẫn đến một hậu quả nghiêm trọng khi sơn màu
Ví dụ: Nếu tấm mà bạn đang sửa chữa có lịch sử trước đây dùng loại sơn lacquer, chất pha sơn chứa trong sơn lót bề mặt hoặc lớp sơn màu có thể thấm vào lớp sơn
1 Xác định sơn 2 Đánh giá phạm vi hư hỏng hỏng trên bề mặt 3 Sửa chưa hư
kim loại nền
4 Mài bóc lớp sơn 5 Mài vát mép sơn giáp mối 6 Làm sạch bụi và dầu mỡ
Trang 22lacquer đã sơn trước đó Điều này làm cho bề mặt được sơn bị phồng rộp Để tránh vấn
đề trên khỏi xảy ra, loại sơn phải được xác định đúng ngay ở thời điểm xử lý ban đầu
Phương pháp và điều kiện xác định
Khi nhúng giẻ vào chất pha sơn lacquer và cọ vào bề mặt sơn lại Nếu sơn không dính lên vải thì đó là loại sơn eruthan, nếu sơn bị dính lên vải thì đó là loại sơn lacquer Mặc dù eruthan và sơn khô thông thường không chịu ảnh hưởng của dung môi, chúng
có thề loang màu ra một vài loại sơn hay phai màu, nếu lớp sơn không được xử lý đúng hay nếu lớp sơn đã bị biến chất
2 Đánh giá phạm vi hư hỏng
Đánh giá phạm vi hư hỏng bằng cách nhìn bằng mắt, sờ tay hoặc dùng thước thẳng sau
đó lập kế hoạch các bước cần thiết để sửa chữa hư hỏng
a Đánh giá bằng cách nhìn bằng mắt
Kiểm tra sự phản chiếu của đèn nê ông lên bề
mặt để đánh giá phạm vi hư hỏng hoặc kích thướt
của các vùng bị ảnh hưởng Điều quan trọng là kiểm
tra toàn bộ khu vực hư hỏng ở giai đoạn này Điều
này là vì rất khó đánh giá chính xác hư hỏng một lần
bề mặt kim loại khi bề mặt sơn có thể bị ảnh hưởng
Thậm chí một biến dạng rất nhỏ có thể quan sát được
bằng cách di chuyển đầu của bạn một ít tại thời điểm
quan sát tấm
b Đánh giá bằng cách sờ vào bề mặt
Đeo găng tay vào (tốt nhất là loại bằng cotton) và sờ vào bề mặt hư hỏng theo tất cả các hướng, không được ấn vào Điều này được làm bằng cách tập trung cảm giác lên bàn tay của bạn Để có thể tìm ra một cách chính xác những vùng không đồng điều của khu vực ảnh hưởng Sự di chuyển bàn tay phải rộng ra bao gồm cả khu vực không
bị hư hỏng, không nên chỉ sờ vào vùng hư hỏng Tương tự, một số khu vực hư hỏng dễ cảm nhận hơn bằng cách di chuyển bàn tay theo một phương
c Đánh giá bằng cách dùng thước thẳng
Trang 23Đặt thước thẳng lên vùng không bị hư hỏng phía đối diện của thân xe và kiểm tra khe hở giữa bề mặt và thước thẳng Sau đó, đặt thước lên bề mặt hư hỏng và đánh giá sự khác nhau giữa các khe hở của bề mặt hư hỏng và không bị hư hỏng
3 Sửa chữa những chỗ lồi ra trên bề mặt tấm
Nếu tìm ra một phần của bề mặt cao hơn bề mặt
bình thường khi đánh giá hư hỏng, dùng đột hay búa
nhọn gõ phẳng vùng nhô lên, hay làm lỏm hơn bề mặt
bình thường một chút
Chú ý: Nếu đập lực quá mạnh thì làm bề mặt hư
hỏng rộng hơn hay biến dạng toàn bộ tấm
4 Mài bóc sơn
Mỗi khi vùng hư hỏng đã bị va chạm, rất có
thể sự bám dính giữa lớp sơn và bề mặt kim loại bị
ảnh hưởng Vì vậy, cần phải mài bớt lớp sơn để tránh
lớp sơn bị bong ra sau này
Mài bóc lớp sơn ra khỏi vùng hư hỏng dùng
loại giấy ráp có độ ráp #60 đến # 80 gắn lên máy mài
tác động đơn
Chú ý:
- Chỉ khởi động máy mài sau khi máy mài đã tiếp xúc với bề mặt làm việc
- Không đặt máy mài ở một chỗ trong thời gian dài
5 Mài vát mép sơn giáp mối
Lớp sơn được mài có mép dày (có bậc) Để làm
cho mép sơn rộng và nhẵn, có thể mài mép sơn để tạo
ra hơi dốc một chút bằng quy trình được mô tả dưới
đây, được gọi là mài mép sơn giáp mối Nếu không
làm điều này thì đường ranh giới sẽ xuất hiện sau khi
phun lớp sơn màu
Trang 24Dùng loại giấy ráp từ #80 đến #320 gắn trên máy mài tác động kép
Chú ý
- Mài vát mép sơn giáp mối rộng và phẳng, chiều rộng xấp xỉ 30mm
- Nếu có một đường gân bên cạnh, dán băng dính lên nó để tránh nó khỏi bị hỏng
và ngăn cho khu vực sửa chữa lan rộng ra không cần thiết trong quá trình mài vát mép sơn giáp nối
Trang 25Nhúng giẻ vào chất làm tan mỡ và đặt nó lên bề mặt để làm ướt
bề mặt Khi dầu còn lại loang trên bề mặt, lau nó bằng giẻ khô và sạch
Nếu còn bất cứ một ít dầu trên bề mặt kim loại, thì sau này sẽ làm sơn
rộp và bong ra
7 Phun sơn lót
Phun sơn lót lên diện tích bề mặt kim loại lộ
ra để ngăn cho nó khỏi bị gỉ và cải thiện độ bám
dính
Chú ý:
- Nên dùng cốc nhựa để pha sơn lót vì nó có
thể phản ứng với cốc kim loại
- Phải có dụng cụ bảo hộ lao động: kính, mặt
nạ phòng độc, găng tay cao su
- Loại sơn lót Urêthan và Epoxy cần làm khô cưỡng bức
6 Mài các vết xước giấy
Quy trình phun sơn lót
bề mặt
Trang 26Xác định đúng lượng matit cần dùng yêu cầu thợ sơn
có kinh nghiệm và tính toán chính xác Nếu lấy matit quá
nhiều sẽ gây tiêu hao vật tư và đông cứng matit khi trộn với
chất đông cứng, còn nếu lấy quá ít sẽ làm cho quá trình trộn
và bả matit kéo dài hơn
2 Trộn bả matit
Lấy matit ra: Thường các chất thành phần của matit là dung môi, nhựa và chất màu tách rời độc lập trong hộp Vì matit không thể sử dụng ở trạng thái tách rời, nó phải được trộn đều trước khi lấy ra khỏi hộp, áp dụng tương tự đối với chất đóng rắn Bóp
ép tuýp thật đều sao cho các chất thành phần trộn đều trước khi sử dụng
Đưa lượng matit cần thiết lên tấm trộn Sau đó bổ sung lượng chất đóng rắn vừa
đủ dựa trên tỷ lệ trộn tiêu chuẩn Đừng lấy quá nhiều matit ra một lần, thậm chí nếu bạn cần bả matit trên diện tích lớn Lúc đầu, chỉ lấy đủ lượng matit bằng quả trứng, sau đó
bổ sung thêm nếu cần
Trộn Matit: Dùng dao trộn, khi trộn cẩn thận trong động tác gạt, sao cho không
có khí vào trong matit
Lưu ý:
- Đậy nắp hộp ngay sau khi sử dụng để ngăn cho dung môi khỏi bay hơi
- Không được gạt matit dính lên miệng bình
- Không được bóp tuýp chất đóng rắn trực tiếp lên ma tit gốc
- Quá trình đông cứng ngay sau khi cho chất đóng rắn vào ma tit
Trang 28Ở lần đầu, giữ dao bả gần như vuông
góc và miết matit ép vào bề mặt làm việc để
bả lớp matit mỏng và đảm bảo rằng ma tit
điền vào lỗ rỗ và thậm chí các vết xướt nhỏ
nhất để tăng độ bám dính
Lần thứ hai và thứ ba, nghiêng dao bả
một góc khoảng 35 đến 45 độ và bả lượng
matit nhiều hơn mức cần thiết một ít Mở
rộng dần dần diện tích bả matit sau mỗi lần
bả Nên bả quanh các mép một lớp mỏng hơn, để dao hơi nghiên một chút để không tạo
ra lớp dày ở mép
Lần bả cuối cùng, giữ dao bả gần như áp sát xuống bề mặt làm việc và làm phẳng
bề mặt
Bả matit trên mặt phẳng: Bả một lớp
mỏng matit lên toàn bộ diện tích cần thiết
Để giảm thiểu công sức trong quá trình
mài giai đoạn tiếp theo, hãy bả lớp matit thứ hai
không được tạo ra mép dày Nếu dao bả ở vị trí
như hình vẽ bên trái, tác dụng lực lên đỉnh của
dao bằng ngón tay trỏ của bạn để tạo ra lớp matit
mỏng ở trên đỉnh
Bả matit trong phần tiếp theo: phủ chồng
lên phần bả thứ nhất một ít trong bước 2 Để bả
một lớp mỏng ngay khi bắt đầu đi qua, tỳ nhẹ dao
và miết dao sát vào mặt làm việc Sau đó, thôi
tác dụng lực và trượt dao ngay cùng thời điểm
Tiếp theo, tỳ nhẹ lên dao bả để tạo ra một lớp
mỏng ở cuối đường bả
Lặp lại bước 3: ở trên cho đến khi phủ hết toàn
bộ vùng cần bả
Chú ý
- Khi xúc matit lên dao bả, chỉ nên có matit ở giữa lưỡi dao bả
- Không được miết dao bả chỉ theo một hướng
- Bả matit tốt nhất là nên cao hơn bề mặt gốc một chút
- Không nên tạo bề mặt lượn sóng khi bả matit
- Matit phải bả trên các bề mặt có vết xước mài
Trang 29- Matit phải được bả xong trong vòng 3 phút sau khi trộn
- Sau khi bả xong phải làm sạch bề mặt dao bả
- An toàn cháy nổ
4 Sấy khô matit
Matit đã bả đang ướt sẽ nóng lên thông
qua nhiệt phản ứng trong nó Vì vậy, thúc đẩy
được phản ứng làm khô
Nhìn chung, có thề mài matit được sau
khi bả matit từ 30 đến 60 phút tùy theo nhà
sản xuất Phản ứng bên trong matit sẽ chậm
đi ở nhiệt độ thấp hay độ ẩm cao, cần một thời
gian dài hơn để làm khô matit Để tăng nhanh
quá trình làm khô matit, phải cần nhiệt bổ
sung, vì vậy phải dùng máy sấy hay đèn sấy
hồng ngoại
Chú ý:
Nếu dùng đèn sấy hay máy sấy để nung nóng và sấy khô matit, chú ý phải giữ nhiệt độ bề mặt matit dưới 50oc để ngăn cho matit khỏi bong ra hay nứt Nếu bề mặt quá nóng không thể sờ được, thì khi đó nhiệt đô đã quá cao
Nhiệt độ ở vùng matit mỏng có xu hướng giữ nhiệt tương đối thấp hơn so vối vùng matit dày Nhiệt độ thấp này sẽ làm kìm hãm phản ứng sấy của vùng mỏng Vì vậy, phải luôn luôn kiểm tra các phần matit mỏng để xác định điều kiện sấy khô của matit
5 Chà nhám matit
Sau khi phản ứng làm khô của matit xảy ra hoàn toàn, các chỗ không cần thiết được mài bỏ bằng máy mài hay dụng cụ mài tay Mặc dù, người ta vẫn có thề dùng loại máy mài tác dụng kép, nhưng trong phần này chỉ miêu tả máy mài có tác dụng quỹ đạo,
là loại dùng phổ biến để mài matit
Gắn giấy ráp có độ ráp # 80 vào máy mài, và mài toàn bộ diện tích bằng cách di chuyển từ sau ra trước, từ bên này sang bên khác và tất cả các hướng theo đường chéo
Gắn giấy ráp loại #120 vào dụng cụ mài bằng tay Mài các bề mặt một cách cẩn thận vừa mài vừa kiểm tra bề mặt bằng cách sờ
Trang 30- Phải kiểm tra bề mặt thường xuyên
- Hoàn thiện hình dạng cơ bản của bề mặt làm việc ở giai đoạn này
6 Mài các vết xước giấy
Gắn giấy ráp loại #300 lên dụng cụ mài tay và loại bỏ toàn bộ các vết xước giấy trên toàn bộ diện tích
Chú ý
- Mài rộng hơn một chút so với diện tích mài trước đó
- Xung quanh vùng matit phải được mài vát mép
- Làm sạch thường xuyên để loại bỏ các hạt mài đã bị bong
- Kiểm tra bề mặt thường xuyên bằng tay hoặc thước thẳng
- Nếu bề mặt đã mài bị lõm quá thì phải bả lại matit
Quy trình bả
Matic
1 Mài nhám
để tăng độ bám dính
Trang 31trầy xước” và quá trình mài vát mép sơn giáp mối được thực hiện trước khi bả matit cũng là một phần của quá trình này
Gắn giấy ráp có độ ráp #300 lên máy mài tác động kép và mài chuẩn bị cho lớp sơn bề mặt Vì sơn lót bề mặt sẽ được phủ lên toàn bộ vùng matit, vùng để làm trầy xước nên rộng ra khoảng 100mm so với mép ngoài của vùng matit
3 Che phủ bề mặt
Che các khu vực để tránh phun sơn lót bề mặt không cần thiết
Lưu ý:
- Dán vật liệu che không được vượt quá vùng đã được làm xước
- Dùng kỹ thuật che ngược để dán giấy che phủ
4 Pha sơn lót bề mặt
Tuân theo hướng dẫn của nhà sản xuất, đổ thêm chất đóng rắn vào sơn lót bề mặt
và pha loãng hỗn hợp với các chất pha sơn Dùng cân hoặc thước để pha tỉ lệ sơn chính xác nhất
- Khuấy đều sơn lót trước khi pha
- Dùng chất pha sơn phù hợp với nhiệt độ của môi trường
- Mỗi lần phun sơn rộng hơn một chút lên khu vực vực cần sơn lót
- Đợi đủ khô sau mỗi lần sơn
- Sẽ tạo ra mép dày nếu vùng đó phun sơn quá nhiều, sơn lót bề mặt đươcï phun quá lên giấy che như ở phía bên phải của hình vẽ
Trang 32- Nếu có một vài chỗ bị biến dạng (vết lõm nhẹ) trên bề mặt matit, phun lượng sơn lót bề mặt vừa đủ lên để phủ lên chỗ lõm, nhưng không được tạo ra chảy sơn
6 Sấy khô bề mặt sơn lót
Để đảm bảo dung môi đã bay hơi hoàn toàn, hay theo chỉ dẫn của nhà sản xuất
để xác định thời gian lắng sơn cụ thể khi dùng phưong pháp sấy khô sơn cưỡng bức như dùng đèn (thời gian khô sơn phổ biến là 5 đến 15 phút ở nhiệt độ 200C
Sấy khô bề mặt làm việc theo hướng dẫn của nhà sản xuất
7 Bả matit sửa chữa nhỏ
- Kiểm tra lỗ rổ và các vết xước mài: Sau khi matit khô lỗ rỗ hay các vết xước mài của bề mặt Nếu có, các khu vực ảnh hưởng được bả lại matit loại touch –up
- Có hai loại matit dùng đề sửa chữa lại: Loại một thành phần và loại hai thành phần
- Thông thường dùng loại một thành phần để bả lại matit vì nó đơn giản trong sử dụng
- Xúc matit touch-up và đặc lên tấm trộn Nếu lấy matit ra từ tuýp, có thể bóp matit
ra trực tiếp lên mũi dao bả
- Bả matit touch-up để điền vào các lỗ rỗ và các vết xước
Lưu ý:
- Miết matit vào lỗ rỗ và vết xước
- Thường sửa bằng cách bả lớp matit mỏng, vì nó sẽ khô chậm nếu lớp dày
- Có rất nhiều vết cần phải sửa lại, thì phải bả matit lên toàn bộ diện tích cần sơn lót bề mặt để tránh khỏi bỏ sót một vài chỗ
8 Sấy khô matit sửa chữa
Sấy khô bề mặt làm việc theo hướng dẫn của nhà sản xuất, (thông thường xấp xỉ
30 đến 40 phút ở nhiệt đô 20oc và 5 đến 10 phút ở nhiệt độ 60oc)
9 Mài sơn lót bề mặt
Lớp sơn lót bề mặt có thể được mài ướt hay mài khô Lựa chọn phương pháp tốt nhất dựa vào ưu nhược điểm của từng phương pháp đó
a Mài khô bằng tay
Gắn giấy ráp có độ ráp #600 lên dụng cụ mài bằng tay và mài sơn lót bề mặt
Chú ý:
- Vì giấy ráp dễ tắc, thường xuyên dùng phần ướt của giấy ráp hay dùng chổi để làm sạch các hạt mài
b Mài khô bằng máy mài
Gắn giấy ráp có độ ráp #400 vào máy mài tác động kép và mài lớp sơn lót bề mặt
Trang 33- Làm ướt vùng được mài bằng miếng mút nhúng vào nước khi mài lót bề mặt dùng dụng cụ mài cầm tay với giấy ráp không thấm nước có độ ráp #600
Lưu ý: Sau khi mài hơi nước phải được lau khô hoàn toàn
d Mài ướt bằng máy mài
Gắn giấy ráp không rhấm nuớc có độ ráp # 400 hauy cao hơn vào máy mài ướt và mài lớp sơn lót bề mặt
Lưu ý:
- Nếu máy mài ướt không có chức năng cấp nước tự động, thì phải làm ướt bằng mếng mút đựoc nhúng nước giống như cách mài ướt bằng tay
- Sau khi mài phải làm khô hoàn toàn hơi ẩm
- Không thể mài ướt hoàn toàn diện tích bằng máy mài ướt, vì vậy để hoàn thiện hãy dùng dụng cụ mài ướt cầm tay
Trang 34Chương 4 PHƯƠNG PHÁP CHE CHẮN
I Mục Đích Của Che Chắn
Che chắn là một phương pháp bảo vệ, dùng băng dính hay giấy che lên bề mặt không cần sơn nhằm:
- Tránh bụi sơn bám vào những vùng không cần sơn
- Ngăn dung môi khỏi ảnh hưởng đến bề mặt
- Ngăn sơn khỏi bong ra sau khi khô
- Ngăn bám bụi
- Ngăn sự bám dính của dung môi khỏi ảnh hưởng đến sơn
II Vật Liệu Và Thiết Bị Che Chắn
- Giấy che: Không có bụi và ngăn cản sơn chảy ra, nhiều kích thước, nhiều loại bám dính sơn tốt khi khô
- Tấm nhựa ni lông: Vật liệu Vinyl mỏng, có bề ngang rộng Hạn chế: Không bám dính sơn tốt khi khô
- Tấm che đặc biệt: Tấm che chuyên dụng như che lốp, gương
Trang 35- Băng dính che: Phải chịu được nhiệt, dung môi, bám chắc mà không dính lên bề mặt thân xe sau khi bóc và phải phù hợp với việc dán bằng tay
- Băng dính khe hở: che các khe hở của nắp capo và các cửa
III Các Phương Pháp Che Chắn
- Dùng phương pháp che lật ngược để tránh tạo ra bậc sơn
IV Ranh Giới Che Chắn
Vùng mà phân cách vùng sơn lại và vùng không bị sơn lại được gọi là ranh giới Ranh giới để che:
- Rửa xe trước khi đưa vào khu vực sửa chữa
- Vùng dán băng keo nên lau sạch bề mặt bằng hóa chất
2 Che chắn các chi tiết không tháo rời
- Để một khe hở bằng chiều dày lớp sơn cần phun giữa bang keo và bề mặt phun
- Nếu che khe hở này sơn sẽ tạo ra lớp bắc cầu cho bề mặt mới sơn và băng dính che, nó khó bóc băng dính sau này
- Nếu khe hở quá lớn thì băng dính che không thể che hết các chi tiết
3 Che chắn các chi tiết dạng tròn
- Những chi tiết dạng tròn có khuynh hướng kéo quanh góc và lộ ra vùng cần che,
vì vậy phải dán băng dính nhỏ lỏng gần gấp
4 Chú ý khi che chắn chập đôi
- Dán đè 2 lớp băng dính và giấy che vào nhưng vùng mà sơn có xu hướng tích tụ
Trang 36- Không để băng dính quá 24 giờ sau khi dán
- Nên bóc che chắn khi còn ấm (300 C – 400 C)
- Vật liệu che nên được bóc sau khi đánh bóng
- Băng keo dọc theo đường ranh giới nên bóc ngay sau khi sơn
- Bóc băng keo ở góc 900
Trang 37Chương 5 PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG SÚNG PHUN SƠN
I Nguyên Lý Hoạt Động Của Súng Phun Sơn
Súng phun sơn dùng khí nén để phun sơn dưới dạng sương mù lên bề mặt
Nguyên lý: Nguyên lý phun sơn giống như một súng phun Khi khí nén thoát ra các
lỗ khí trên nắp khí (Air Cap), áp suất âm (độ chân không) được tạo ra ở đầu họng súng (fluid tip), nó hút sơn từ cốc sơn
Sau đó sơn bị hút này phun ra dưới dạng sương mù, ví có khí nén tại các lỗ trên nắp khí
II Các Loại Súng Phun Sơn
Súng bầu trên (Súng sơn tự chảy)
Súng bầu dưới (Loại hút sơn)
Súng nén áp lực sơn (bằng khí nén)
Trang 38
Đặc điểm các loại súng phun sơn
Loại bầu trên
Linh hoạt trong sử dụng
Loại bầu dưới
Cốc đựng sơn có dung tích lớn
Nặng do cốc đựng sơn lớn
Loại nén áp lực Phù hợp cho việc sơn liên tục mảng lớn
Phù hợp cho sơn có độ nhớt cao
Chỉ phù hợp cho nhà máy sản xuất
III Cấu Tạo Súng Phun Sơn
Trang 391 Vít điều chỉnh lượng sơn
Điều chỉnh lượng thoát ra của sơn bằng cách điều chỉnh độ dịch chuyển của lim Nới lỏng vít điều chỉnh làm tăng lưu lượng thoát ra, và xiết chặt vít làm giảm lưu lượng thoát ra
Xiết chặt hoàn toàn vít điều chỉnh sẽ bịt hoàn toàn dòng sơn
Nếu áp suất khí không đủ sẽ làm giảm độ mịn của sơn, nếu áp suất khí quá lớn làm cho nhiều sơn bắn ra ngoài ý muốn, vì vậy tốn nhiều sơn
Mở
Đóng
Trang 404 Họng súng sơn và kim phun
Họng súng sơn để đo và hướng sơn từ
súng vào dòng khí
Đầu họng súng có hình côn, khi kim tiếp
xúc với mặt côn này, thì sơn không chảy qua
được Khi sơn thoát ra, lượng thoát ra phụ thuộc
vào độ mở của đầu họng súng khi kim di chuyển
so với đầu họng súng
Để điều khiển đúng sơn các loại và độ
nhớt khác nhau cho lượng sơn yêu cầu ra khỏi
nắp chụp đầu súng với các vận tốc áp dụng khác nhau, đầu họng súng được tạo thành các kích thướt khác nhau Loại đầu họng súng được sử dụng phổ biến nhất trong sơn bóng là loại 1,3mm
Vì nắp khí, đầu họng súng và kim súng sơn ảnh hưởng đến chất lượng của vết sơn và sơn bóng, chúng làm thành một bộ phận và được xem như bộ vòi phun nên xem xét kĩ trước khi chọn súng sơn
5 Nắp khí
Nắp khí xả không khí giúp xé sơn thánh các ytia nhỏ
mịn Nắp khí có các lỗ khí sau Mỗi lỗ có một chức năng
khác nhau: Lỗ khí trung tâm, lỗ khí điều khiễn độ xoè của
sơn và lỗ khí xé sơn thành tia nhỏ.lỗ khí trung tâm tạo ra
độ chân không tại đầu họng súng và phun sơn Lỗ khí điều
khiển độ xoè dùng lực khí nén đễ vạch ra hình dạng của