1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài giảng kinh tế phát triển

86 119 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 752,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Trình độ kỹ thuật của sản xuất thấp: Ở các nước đang phát triển, hoạt động kinh tế chủ yếu dựa trên cơ sở sản xuất nhỏ, nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, kỹ thuật sản xuất thủ công, lạc

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU

CHƯƠNG I: TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1

1.1 Những đặc trưng của các nước đang phát triển 1

1.1.1 Sự khác biệt giữa các nước đang phát triển 1

1.1.2 Đặc điểm chung của các nước đang phát triển 2

1.1.3 Sự lựa chọn con đường phát triển 3

1.2 Tăng trưởng và phát triển kinh tế 4

1.2.1 Bản chất của sự tăng trưởng kinh tế 4

1.2.1 Nhóm chỉ số phản ánh cơ cấu nền kinh tế 8

1.3 Các chỉ số phản ánh biến đổi cơ cấu kinh tế - xã hội 12

1.3.1 Chỉ số phản ánh nhu cầu cơ bản của con người 162

1.3.2 Chỉ tiêu nghèo đói và bất bình đẳng 163

CHƯƠNG II: CÁC MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 14

2.1 MÔ HÌNH CỐ ĐIỂN VỀ TĂNG TRƯỞNG 14

2.1.1 Xuất phát điểm của mô hình 14

2.1.2 Các yếu tố tăng trưởng kinh tế và mối quan hệ giữa chúng 14

2.1.3 Quan hệ cung cầu và vai trò của chính sách kinh tế với tăng trưởng 16

2.2 MÔ HÌNH CỦA K.MARX VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 16

2.2.1 Xuất phát điểm 16

2.2.2 Các yếu tố tăng trưởng kinh tế 16

2.2.3 Chu kỳ sản xuất và vai trò của chính sách kinh tế 16

2.3 MÔ HÌNH TÂN CỔ ĐIỂN VỀ TĂNG TRƯỜNG KINH TẾ 17

2.4 MÔ HÌNH CỦA KEYNES VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 17

2.5 LÝ THUYẾT TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ HIỆN ĐẠI 18

2.5.1 Sự cân bằng của nền kinh tế 18

2.5.2 Các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế 18

2.5.3 Vai trò của Chính phủ trong tăng trưởng kinh tế 19

CHƯƠNG III: TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ SỰ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ 251

3.1 CHUY ỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ 251

3.1.1 Khái niệm 225

3.2.2 Ý nghĩa của nghiên cứu cơ cấu ngành 21

3.3 LÝ THUYẾT 5 GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA W.ROSTOW 22

3.4 MÔ HÌNH HAI KHU VỰC CỦA ARTHUS LEWIS 24

3.4.1 Lịch sử ra đời “Mô hình hai khu vực” của A.Lewis 24

3.4.2 Cơ sở nghiên cứu của mô hình A.Lewis 24

3.4.3 Nội dung của mô hình 25

3.5 MÔ HÌNH HAI KHU VỰC CỦA TRƯỜNG PHÁI TÂN CỔ ĐIỂN 27

3.5.1 Khu vực nông nghiệp 27

3.5.2 Khu vực công nghiệp 27

3.5.3 Quan điểm đầu tư 28

3.6 MÔ HÌNH HAI KHU VỰC CỦA HARRY OSHIMA 28

CHƯƠNG IV : CON NGƯỜI ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 29

6.1 TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI 29

6.1.1 Quan điểm về phát triển con người 29

6.1.2 Chỉ số phát triển con người (Human Development Index - HDI) 29

Trang 2

6.2 CÁC CHỈ TIÊU PHẢN ÁNH TÌNH TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG VÀ NGHÈO ĐÓI 31

6.2.1 Nghèo, nghèo đói 31

6.2.2 Phương pháp đánh giá nghèo khổ về thu nhập 32

6.2.3 Các chỉ tiêu phản ánh nghèo đói 33

6.3 CÁC MÔ HÌNH VỀ SỰ BẤT BÌNH ĐẲNG TRONG QUÁ TRÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 34

6.3.1 Mô hình chữ U ngược của Simon Kuznets 34

6.3.2 Mô hình tăng trưởng trước, bình đẳng sau của A.Lewis 36

6.3.3 Mô hình tăng trưởng đi đôi với bất bình đẳng H.Oshima 37

6.3.4 Mô hình phân phối lại cùng với tăng trưởng kinh tế (Ngân hàng thế giới WB) 38

CHƯƠNG V: LAO ĐỘNG VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ 39

5.1 NGUỒN LAO ĐỘNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG 39

5.1.1 Nguồn lao động 39

5.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn lao động 39

5.2 CƠ CẤU VIỆC LÀM VÀ THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN 42

5.2.1 Việc làm và các nhân tố ảnh hưởng 42

5.2.2 Đặc trưng của thị trường lao động ở các nước đang phát triển 43

5.2.3 Cơ cấu việc làm và thị trường lao động ở các nước đang phát triển 44

5.3 VAI TRÕ CỦA LAO ĐỘNG VỚI TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 46 5.3.1 Vai trò hai mặt của lao động 46

5.3.2 Đánh giá vai trò của người lao động 47

5.4 PHƯƠNG HƯỚNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM 47

5.4.1 Đặc điểm cung - cầu lao động ở Việt Nam 47

5.4.2 Phương hướng và giải pháp nâng cao vai trò lao động trong phát triển kinh tế Việt Nam 48

CHƯƠNG VI: NGUỒN VỐN VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 50

6.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ VỐN SẢN XUẤT VÀ VỐN ĐẦU TƯ 50

6.1.1 Vốn sản xuất 50

6.1.2 Vốn đầu tư và các hình thức đầu tư 50

6.2 CÁC NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ 52

6.2.1 Tiết kiệm trong nước 52

6.2.2 Tiết kiệm ngoài nước 53

6.2.3 Phương pháp tạo lập vốn 57

6.3 NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ VỚI TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 58

CHƯƠNG 7: KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ 64

7.1 KHOA HỌC CÔNG NGHỆ 64

7.1.1 Bản chất khoa học công nghệ 64

7.1.2 Vai trò khoa học công nghệ 68

7.1.3 Tiến bộ công nghệ và tăng trưởng 70

7.2 ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ 71

7.2.1 Những vấn đề cơ bản của hoạt động đổi mới công nghệ 71

7.2.2 Hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D) 71

7.2.3 Đầu tư trong đổi mới công nghệ 72

7.2.4 Chuyển giao công nghệ 72

7.3 NỘI DUNG ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ 72

7.3.1 Đổi mới sản phẩm 73

Trang 3

7.3.2 Đổi mới quy trình sản xuất 74

7.4 PHƯƠNG HƯỚNG CƠ BẢN PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA VIỆT NAM 74

7.4.1 Những phương hướng cơ bản 74

7.4.2 Điều kiện chủ yếu để phát triển khoa học và công nghệ 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 4

1/2 dân số nghèo khổ thoát ra khỏi cuộc sống thiếu thốn

Việt Nam đang chuyển mình sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa mở cửa nền kinh tế, đa phương hoá trong quan hệ kinh tế đối ngoại và đã được những kết quả nhất định Song trước mắt còn rất nhiều khó khăn trên con đường phát triển Để đáp ứng được nhu cầu dạy và học cho các sinh viên chuyên ngành kinh tế, trường Đại học Quảng Bình, đồng thời đáp ứng được nhu cầu đào tạo và phát triển đội ngũ quản lý kinh tế Xin được giới thiệu bạn đọc tập bài giảng “Kinh tế học phát triển” với

các sinh viên và bạn đọc quan tâm đến môn học này

Bài giảng là nội dung ngắn gọn về các vấn đề kinh tế - xã hội và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế, nội dung bài giảng gồm 7 chương nhằm đưa ra một cách tổng quát các lý luận nghiên cứu kinh tế học phát triển của các nước đang phát triển dựa trên các quan điểm của các nhà khoa học kinh tế Tuy nhiên, quá trình biên soạn còn hạn chế về kinh nghiệm nên không tránh khỏi những thiếu sót Chúng tôi rất mong được sự góp ý của sinh viên và các đọc giả quan tâm

Trang 5

CHƯƠNG I TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ

1.1 NHỮNG ĐẶC TRƯNG CỦA CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN

1.1.1 Sự khác biệt giữa các nước đang phát triển

Mặc dù các nước đang phát triển (LDCS – Less development countries) có sự tương đồng nhất về điều kiện về lịch sử, địa lý, chính trị và kinh tế, nhưng giữa các nước cũng có sự khác biệt cơ bản tạo nên tính đa dạng cho các nước này Những khác biệt này chi phối đến việc xác định lợi thế của từng nước

- Về quy mô: Quy mô của một nước được xem xét dưới giác độ diện tích hay dân

số, cũng là yếu tố quan trọng để xác định tiềm năng của đất nước Có hơn 130 nước có diện tích rộng lớn và đông dân như Ấn Độ, Brazil, Trung Quốc Ngược lại có những nước nhỏ về diện tích và ít dân số như Brunây, Madives, Guinee Đối với các nước lớn thường

có lợi thế về tài nguyên phong phú, thị trường tiềm năng và thường ít lệ thuộc vào nguyên vật liệu của các nước ngoài Tuy vậy, nó cũng tạo ra những khó khăn cho việc quản lý hành chính, đoàn kết và sự cân đối giữa các khu vực Trong thực tế phát triển cũng không thấy mối quan hệ nào được thiết lập giữa quy mô đất nước vì quy mô rất khác nhau

- Bối cảnh lịch sử: LDCS có hoàn cảnh lịch sử khác nhau, xu hướng phát triển cũng khác nhau trong tiến trình phát triển Trước đây các nước châu Á và châu Phi đầu là thuộc địa của các nước Tây Âu như: Anh, Pháp, Bỉ, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha Vì thế

mà cơ cấu kinh tế cũng như nền tảng giáo dục và xã hội cũng chịu ảnh hưởng vào mô hình của các nước này như: di sản để lại, các truyền thống văn hoá của các dân tộc bản địa

để lại đã kết hợp với nhau để tạo ra mô hình xã hội và có thể hoàn toàn khác nhau Thường các nước châu Phi dành độc lập muộn nên thường quan tâm đến thể chế chính trị, mặc dù khá đa dạng về địa lý và nhân khẩu nhưng các nước này đều có những thể chế kinh tế - xã hội tương đối giống nhau

- Vai trò của khu vực Nhà nước và khu vực tư nhân: hầu hết các nước đang phát triển đều song song tồn tại khu vực kinh tế nhà nước và khu vực tư nhân Vì vậy, tầm quan trọng của hai khu vực này phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế - xã hội của mỗi nước

Nhìn chung các nước châu Mỹ và các nước Đông Nam Á có khu vực kinh tế tư nhân lớn hơn các nước Nam Á và Châu Phi

Ở các nước châu Phi thường thiếu hụt trầm trọng về lực lượng lao động có tay nghề nên thường chú trọng đến hoạt động của khu vực nhà nước và hy vọng rằng nguồn lao động tay nghề thường có hiệu quả trong các hoạt động kinh tế này

Các chính sách về kinh tế giữa khu vực nhà nước và tư nhân có sự khác nhau như: Chính sách việc làm của các nước có khu vực nhà nước lớn thường thì các dự án đầu tư trực tiếp của Chính phủ, còn ngược lại thì do chính sách tác động của tư nhân trong việc

Trang 6

tuyển dụng lao động Do vậy, mặc dù các nước có khó khăn giống nhau nhưng chính sách

và giải pháp để giải quyết lại khác nhau

1.1.2 Đặc điểm chung của các nước đang phát triển

Bên cạnh những khác biệt, các nước đang phát triển còn có những đặc điểm cơ bản, giống nhau:

- Mức sống thấp: Ở các nước đang phát triển mức sống nói chung là thấp, mức sống thấp biểu thị cả về số lượng và chất lượng: thu nhập thấp, sức khoẻ kém, ít được học hành, tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh cao, tuổi thọ thấp

- Mức thu nhập thấp biểu hiện các chỉ tiêu: GNP/người, nhà kinh tế lấy mức là

2000 USD/người làm móc phản ánh khả năng giải quyết nhu cầu cơ bản của con người, cũng như phản ánh về sự biến đổi về chất trong hoạt động đời sống của con người, hiện nay có khoảng 100 nước thu nhập bình quân dưới 2000 USD/người, trong đó có khoảng

40 nước thu nhập bình quân dưới 600 USD/người

- Cơ hội được học hành ở các nước đang phát triển cũng hạn chế, tỷ lệ biết chữ ở các nước này là rất thấp Các nước kém phát triển nhất thì tỷ lệ này là chiếm 34% so với 65% ở các nước đang phát triển khác và 90% ở các nước phát triển

- Tỷ lệ tích lũy thấp: Điều rõ ràng nếu tăng tỷ lệ tích luỹ thì cần phải hy sinh tiêu dùng Khó khăn là đối với các nước đang phát triển, nhất là các nước có thu nhập thấp đã gần như có mức sống tối thiểu, việc giảm tiêu dùng là khó khăn, khó có nguồn vốn tích luỹ, ở các nước phát triển thì tích luỹ chiếm khoảng 10% đến 30% thu nhập Trong khi đó các nước nông nghiệp thì lượng này chỉ chiếm 10% thu nhập

- Trình độ kỹ thuật của sản xuất thấp: Ở các nước đang phát triển, hoạt động kinh

tế chủ yếu dựa trên cơ sở sản xuất nhỏ, nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, kỹ thuật sản xuất thủ công, lạc hậu Các nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao thường có nguồn gốc từ ngành công nghiệp, có trình độ quản lý thành thạo, khoa học công nghệ tiên tiến vượt xa các nước đang phát triển 3-6 thập kỷ, khoảng cách công nghệ quá lớn làm cho các nước đang phát triển khó tận dụng được lợi thế của các nước đi sau do quá trình phân công lao động quốc tế mới đưa lại

- Năng suất lao động thấp: Các nước đang phát triển đang đối mặt với thách thức

đó là áp lực về dân số và việc làm Dân số những nước đang phát triển vốn đã đông, sự bùng nổ về dân số ở các nước này làm hạn chế sự phát triển về kinh tế Tỷ lệ gia tăng dân

số thường ở mức cao hơn tỷ lệ tăng trưởng kinh tế đã làm cho mức sống nhân dân ngày càng giảm Thu nhập giảm dẫn đến sức mua và tỷ lệ tiết kiệm giảm, làm mất cân đối giữa tiết kiệm và đầu tư, khả năng tái sản xuất sức lao động không cao ảnh hưởng đến năng suất lao động

1.1.3 Sự lựa chọn con đường phát triển

Trang 7

Những đặc điểm trên của các nước phát triển là những trở ngại đối với sự phát triển, giữa chúng có mối quan hệ với nhau, tạo ra vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói, làm cho khoảng cách giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển ngày càng tăng

Sơ đồ 1: Sơ đồ vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói

Để thoát khỏi sự đói nghèo các nước đang phát triển (LDCS) cần có biện pháp để phá vỡ vòng luẩn quẩn trên Trong khi tìm kiếm con đường để phát triển có các xu hướng khác nhau Có những nước vẫn rơi vào tình trạng trì trệ về kinh tế, thậm chí phát triển thụt lùi, chính trị và xã hội rối ren như một số nước châu Phi cận Sahara hay một số nước Nam

Á Bên cạnh đó thì có một số nước có tốc độ tăng trưởng khá ổn định, đưa đất nước ra khỏi vòng luẩn quẩn, rồi lại rơi vào vòng luẩn quẩn mới như Philipin Ngoài ra, có một số nước đã tạo được tốc độ phát triển nhanh, rút ngắn khoảng cách thậm chí đuổi kịp các nước phát triển, đó là các nước NICS châu Á: Hồng Kông, Đài Loan, Singapore và Hàn Quốc Gần đây ở các nước Thái Lan, Malaixia và Trung Quốc Các nước đã chứng minh được sự lựa chọn đúng đắn đường lối phát triển

Ở Việt Nam, trong quá trình tìm kiếm con đường phát triển, Chính phủ đã tiến hành cải cách toàn bộ hệ thống kinh tế vào đầu năm 1989 Trong suốt thập niên 80 Chính phủ đã tiến hành thử nghiệm các biện pháp cải cách khác nhau, trong đó năm 1989 là cái

mốc quan trọng Trong năm này, Chính phủ đã đưa ra những biện pháp cải cách giá cả

toàn diện, chống siêu lạm phát Biện pháp cải cách giá cả nhằm đối phó với áp lực lạm phát đã hỗ trợ cho những thay đổi trong cơ chế quản lý Thành công bước đầu của những biện pháp cải cách năm 1989 đã gây ấn tượng mạnh mẽ, đặc biệt trong lĩnh vực chống lạm phát, tỷ lệ lạm phát giảm xuống còn 35% vào năm 1989 Ngoài ra Việt Nam đã đạt những thành tựu đáng chú ý đó là: Thực hiện tự do hoá thương mại và phá giá đồng tiền,

đã đem lại kết quả là kim ngạch xuất khẩu tăng gấp đôi Tiếp đó kế hoạch 5 năm 1991 -

1995 đã đạt được mức tăng trưởng đáng kể, trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 8,2%

Tuy vậy, đổi mới và phát triển đi lên là quá trình gian khổ và khó khăn Trong quá trình đổi mới, nền kinh tế Việt Nam cũng bộc lộ những mặt yếu kém, thêm vào đó những thách thức lớn đang đặt ra Đặc biệt khủng hoảng về tài chính khu vực từ giữa năm 1997

Thu nhập thấp

Năng suất thấp Tỷ lệ tích luỹ thấp

Trình độ kỹ thuật thấp

Trang 8

đã tác động mạnh đến nền kinh tế Việt Nam Tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm từ 9,3%

(1996) xuống còn 8,2% (1997), 5,8% (1998) và 4,8%(1999) Năm 2000 nền kinh tế Việt

Nam bắt đầu phục hồi với tốc độ tăng trưởng kinh tế 6,8% và đến năm 2003 là 7,24%,

2006 trên 8,0% Tuy nhiên, Việt Nam còn đứng trước những thách thức mới, đặc biệt là

các vấn đề trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới

Năm 2007, Việt Nam đã chính thức gia nhập WTO với nhiều cơ hội và thách thức,

con đường mở cửa hội nhập ngày càng rộng mở, đánh dấu bước ngoặt trong thương mại,

kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đầu năm 2007 đạt 3,4% tổng GDP toàn ngành và đầu

năm 2008 lên 4,6% tổng GDP Năm 2015, gia nhập TPP (Hiệp định thương mại tự do)

mở cửa cho nhiều hàng hóa lưu thông nhiều thị trường Tuy nhiên, bên cạnh những thuận

lợi của việc tự do hoá thương mại thì cũng có nhiều thách thức như chịu ảnh hưởng các

biến động của thị trường giá cả thế giới, thị trường tài chính, thị trường bất động sản, 1.2 TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ

1.2.1 Bản chất của tăng trưởng và phát triển kinh tế

Tăng trưởng và phát triển kinh tế là mục tiêu đầu tiên của tất cả các nước trên thế

giới, là thước đo chủ yếu về sự tiến bộ trong mỗi giai đoạn của các quốc gia Điều này

càng có ý nghĩa quan trọng đối với các nước phát triển trong quá trình theo đuổi mục tiêu

hội nhập với các nước phát triển

1.2.1.1 Tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế được xem là một vấn đề hấp dẫn nhất trong nghiên cứu kinh tế

phát triển và cùng với thời gian, quan niệm về vấn đề này cũng ngày càng hoàn thiện hơn

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng được thể hiện ở quy mô và tốc độ Quy mô tăng

trưởng phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ Thu nhập của nền kinh tế

có thể biểu hiện dưới dạng hiện vật hoặc giá trị Thu nhập bằng giá trị phản ánh qua các

chỉ tiêu GDP, GNP và được tính cho toàn thể nền kinh tế hoặc tính bình quân trên đầu

người Như vậy, bản chất của tăng trưởng là phản ánh thay đổi về lượng của nền kinh tế

1.2.1.2 Phát triển kinh tế

Khái niệm

Phát triển kinh tế có nội hàm rộng hơn tăng trưởng kinh tế Phát triển kinh tế bao

gồm tăng trưởng kinh tế cùng với những thay đổi về chất của nền kinh tế (như phúc lợi xã

hội, tuổi thọ, v.v.) và những thay đổi về cơ cấu kinh tế (giảm tỷ trọng của khu vực sơ khai,

tăng tỷ trọng của khu vực chế tạo và dịch vụ)

Phát triển kinh tế là một quá trình hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế bao gồm

kinh tế, xã hội, môi trường, thể chế trong một thời gian nhất định nhằm đảm bảo rằng

GDP cao hơn đồng nghĩa với mức độ hạnh phúc hơn

Trang 9

Phát triển kinh tế là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế và cũng được xem như là sự biến đổi cả về lượng và về chất, nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề về kinh tế và xã hội của mỗi quốc gia

Phát triển phải là một quá trình lâu dài do các yếu tố nội tại của nền kinh tế quyết

định

Nội dung của phát triển kinh tế được khái quát thành 3 tiêu thức:

+ Sự gia tăng tổng mức thu nhập của nền kinh tế và mức tăng thu nhập bình quân trên một đầu người Thể hiện quá trình biến đổi về lượng của nền kinh tế, điều kiện cần để nâng cao mức sống vật chất của một Quốc gia và thực hiện những mục tiêu khác của phát triển

+ Sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế Đây là tiêu thức phản ánh về chất của một quốc gia

+ Sự biến đổi này càng tốt hơn trong sự tiến bộ của các vấn đề xã hội

Mục tiêu cuối cùng của mỗi quốc gia không phải là tăng trưởng hay chuyển dịch

cơ cấu kinh tế mà là việc xoá đói giảm nghèo, suy dinh dưỡng, sự tăng lên của tuổi thọ bình quân, khả năng tiếp cận đến các dịch vụ y tế, nước sạch, trình độ dân trí, giáo dục cộng đồng Hoàn thiện các chỉ tiêu trên là biến đổi về chất của xã hội của quá trình phát triển

Phát triển bền vững

Vào nữa thế kỷ 80 và đầu thập kỷ 90, loài người đã phải đương đầu với những thách thức lớn do suy thoái về nguồn lực và giảm cấp của môi trường Trong tình hình đó, quan niệm mới về sự phát triển đã được đặt ra, đó là phát triển bền vững Xuất hiện sớm ở Tây Âu và Bắc Mỹ, thành lập đầu tiên tại Canada năm 1915

Hiện nay vấn đề về môi trường đang là yếu tố quan trọng của thế giới và Việt Nam, tác động mạnh đến yếu tố phát triển bền vững Suy thoái môi trường ảnh hưởng khí hậu, tài nguyên báo động cạn kiệt, giá cả các sản phẩm có nguồn tự nhiên tăng cao, nguy

cơ duy trì giá trị cho thế hệ sau bị cạn kiệt,

Phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm phát triển về mọi mặt trong hiện

tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa Khái niệm này hiện đang

là mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh

tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó

Theo Brundtland năm 1887: "Phát triển bền vững là sự phát triển thoả mãn những nhu cầu của hiện tại và không phương hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” Đó là quá trình phát triển kinh tế dựa vào nguồn tài nguyên được tái tạo tôn trọng những quá trình sinh thái cơ bản, sự đa dạng sinh học và những hệ thống trợ giúp tự nhiên đối với cuộc sống của con người, động vật và thực vật

Trang 10

Khái niệm “Phát triển bền vững” được biết đến ở Việt Nam vào những khoảng cuối thập niên 80 đầu thập niên 90

Ý niệm "phát triển bền vững" nhấn mạnh đến khả năng phát triển kinh tế liên tục lâu dài, không gây ra những hậu quả tai hại khó khôi phục ở những lĩnh vực khác, nhất là thiên nhiên

Có người còn thêm rằng: lối phát triển phụ thuộc quá nhiều vào ngoại lực (như FDI) cũng là khó bền vững, vì nguồn ấy có nhiều rủi ro, không chắc chắn Nói ngắn gọn, phát triển là không bền vững nếu nó thật "nóng" đó không thể giữ lâu, nền kinh tế chóng rơi vào khủng hoảng, hay ít nhất cũng chậm lại trong tương lai

Phát triển bền vững là quan điểm mới của sự phát triển Một cuộc điều tra tìm thấy 61 định nghĩa Định nghĩa phổ thông nhất, dựa trên Uỷ Ban thế giới về môi trường

+ Các thế hệ hiện tại không thể để cho thế hệ mai sau phải gánh chịu tình trạng ô nhiễm, cạn kiệt tài nguyên và nghèo đói Cần phải để cho các thế hệ tương lai được thừa hưởng các thành quả lao động của thế hệ hiện tại dưới dạng giáo dục, kỹ thuật, kiến thức

và nguồn lực khác ngày càng được tăng cường Tăng thu nhập kết hợp với các chính sách môi trường và thể chế vững chắc để tạo cơ sở cho việc giải quyết hai vấn đề môi trường

và phát triển

Điều then chốt đối với phát triển bền vững không phải là có thể tăng cường hiệu suất trong sử dụng tài nguyên mà đưa ra những đòn bẩy để tăng cường những công nghệ

và phương pháp ít gây nguy hại và không giảm cấp môi trường và nguồn lực

Chương trình môi trường của Liên Hiệp quốc (UNEP) đã đề xuất 5 nội dung của phát triển bền vững gồm:

Thứ nhất, tập trung phát triển ở các vùng nghèo đói, nhất là những vùng rất nghèo

mà ở đó con người không có sự lựa chọn nào khác ngoài làm giảm cấp nguồn cấp lực và môi trường

Thứ hai, tạo ra tính độc lập cao của cộng đồng trong điều kiện có hạn về nguồn

lực dựa trên các yếu tố kỹ thuật và công nghệ thích hợp, kết hợp với khai thác tối đa kỹ thuật truyền thống

Thứ ba, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực dựa trên các yếu tố kỹ thuật và công

nghệ thích hợp, kết hợp với khai thác tối đa kỹ thuật truyền thống

Trang 11

Thứ tư, thực hiện các chiến lược phát triển nhằm đảm bảo tự lực về lương thực,

cung cấp nước sạch và nhà ở, giữ gìn sức khoẻ, chống suy dinh dưỡng thông qua các công nghệ thích hợp

Thứ năm, xây dựng và thực hiện các chiến lược có người dân tham gia, để nâng cao

ý thức và trách nhiệm của người dân

Để có sự phát triển bền vững cần đảm bảo các yếu tố:

- Tổng sản phẩm chia cho đầu người gia tăng với mức độ tốt từ năm này sang năm

khác (nhất là nền kinh tế còn đang trong vòng phát triển);

- Thành quả tăng trưởng được san sẽ tương đối đồng đều và mọi tầng lớp dân chúng đều có cơ hội bình đẳng như nhau; Môi trường thiên nhiên được duy trì thoả đáng;

- Một hệ thống chính trị đảm bảo sự tham gia có hiệu quả của người dân vào việc ra quyết định;

- Một hệ thống kinh tế góp phần tạo sản phẩm thăng dư và kỹ thuật công nghệ dựa trên tính tự lập và bền vững;

- Một hệ thống sản xuất đảm bảo phục hồi hệ sinh thái cho sự phát triển; Một hệ thống công nghệ làm nền tảng cho xây dựng các giải pháp bền vững lâu dài

Trên quan điểm phát triển bền vững, (FAO) cũng đưa ra khái niệm về phát triển

Để phản ánh mức độ phát triển kinh tế, người ta dùng 3 nhóm chỉ số chính:

1/ Nhóm chỉ số đo lường tăng trưởng

Đó là các chỉ số tổng thu nhập và các chỉ số thu nhập bình quân trên đầu người như trong phần tăng trưởng kinh tế đã trình bày

- Tổng giá trị sản xuất (GO - Gross Output): Phản ánh qui mô của một nền kinh tế thể hiện thông qua các nhóm chỉ số như: tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc gia (GNP) hoặc tổng sản phẩm bình quân đầu người hoặc thu nhập bình quân đầu người (Per Capita Income, PCI) Công thức tính GDP = C + I + G + NX hay GDP =

W + R + i + Ti + Pr + De

Trong đó: C là chi tiêu hộ gia đình; I là đầu tư của các nhà kinh doanh vào các cơ

sở đầu tư hay gọi là chi tiêu cho đầu tư, G là chi tiêu của chính phủ hay đầu tư của chính phủ, NX là xuất khẩu ròng

Trang 12

- Tổng sản phẩm quốc gia (Gross National Products, GNP) là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được tạo ra bởi công dân một nước trong một thời gian nhất định (thường là một năm) Tổng sản phẩm quốc dân bằng tổng sản phẩm quốc nội cộng với thu nhập ròng

- Tổng thu nhập quốc dân (GNI - Gross National Income): Đây là chỉ tiêu có thể thay cho chỉ tiêu GNP sử dụng trong bảng SNA Về nội dung thì GNP và GNI là giống nhau, vì vậy khi nói nó giống nhau là theo cách tiếp cận từ thu nhập chứ không phải là từ góc độ sản xuất

- Thu nhập quốc dân (NI - National Income) : là phần giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ mới sáng tạo ra trong một khoảng thời gian nhất định NI chính là tổng thu nhập quốc dân (GNP) sau khi đã trừ đi khấu hao vốn cố định của nền kinh tế

- Sản phẩm quốc dân thuần tuý (NNP - Net National Products)

- Thu nhập quốc dân sử dụng (NDI - National Disposable Income) : Là phần thu nhập quốc gia dành tiêu dùng cuối cùng và tích luỹ thuần trong một thời kỳ nhất định Thực chất nó là thu nhập quốc dân (NI) sau khi đã điều chỉnh các khoản thu, chi về chuyển nhượng hiện hành giữa các đơn vị thường trú và không thường trú

NDI = NI + phần chênh lệch về chuyển nhượng hiện hành với nước ngoài

- Thu nhập bình quân đầu người (PCI - Per Capita Income): là tổng sản phẩm quốc nội chia cho dân số Tổng thu nhập bình quân đầu người là tổng sản phẩm quốc dân chia cho dân số (GDP/ người; GNP/người) Chỉ tiêu này phản ánh tăng trưởng kinh tế có tính đến sự thay đổi dân số

1.2.2 Nhóm chỉ số phản ánh cơ cấu nền kinh tế

1.2.2.1 Chỉ số cơ cấu ngành

Chỉ số cơ cấu ngành là chỉ số phản ánh tỷ lệ của các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ trong tổng GDP Tỷ lệ sản lượng ngành công nghiệp và dịch vụ trong GDP càng cao thể hiện nền kinh tế càng phát triển Quy luật của sự phát triển là tỷ lệ ngành công nghiệp và dịch vụ trong GDP ngày càng tăng và tỷ lệ ngành nông nghiệp trong GDP ngày càng giảm

Chỉ số cơ cấu xuất nhập khẩu:

Cơ cấu xuất nhập khẩu liên quan đến định hướng của Nhà nước trong vấn đề xuất nhập khẩu

Tỷ lệ của giá trị sản lượng xuất khẩu và nhập khẩu thể hiện sự mở cửa của nền kinh tế đối với thế giới

Chỉ tiêu này thường được biểu hiện bằng các tỷ lệ:

+ Tỷ lệ giá trị xuất khẩu / GDP

+ Tỷ lệ giá trị xuất khẩu / giá trị nhập khẩu

+ Tỷ lệ giá trị hàng công nghiệp trong xuất khẩu

Trang 13

+ Tỷ lệ giá trị máy móc và nguyên vật liệu trong tổng giá trị nhập khẩu

Một nền kinh tế phát triển thường có mức xuất khẩu ròng trong GDP (Thu nhập ròng X - M) và các tỷ lệ trên ngày càng tăng cao

Nhiều nước đang phát triển để đẩy mạnh công cuộc phát triển kinh tế đang nỗ lực thay đổi mặt hàng xuất khẩu của mình theo hướng tăng dần tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng chế biến và đặc biệt là các thiết bị máy móc, những mặt hàng cao cấp kỹ thuật cao như hàng điện kế, người máy, xe hơi, Các nước Châu Á như Cộng Hoà Triều Tiên, Hồng Kông, Đài Loan, Singapore, Thái Lan, Đồng thời với việc giảm tỷ trọng xuất khẩu nguyên liệu thô, họ đã thực hiện tăng tỷ trọng xuất khẩu các hàng công nghiệp chế biến và thiết bị máy móc

Do sự phát triển công nghiệp, các nước đang phát triển phải tăng tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu thiết bị máy móc và nguyên vật liệu

Việt Nam: Cán cân thanh toán theo đồng tiền có thể chuyển đổi (2006)

Xuất khẩu (f.o.b.): 39,60 tỷ USD

Nhập khẩu (c.i.f): 44,41 tỷ USD

Thâm hụt thương mại: 4,81 tỷ USD

- Chỉ số cơ cấu tiết kiệm - đầu tư:

Tỷ lệ tiết kiệm - đầu tư trong tổng sản phẩm quốc dân (GNP) hay tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thể hiện khả năng về tăng trưởng và phát triển kinh tế của quốc gia Trên thế giới, mỗi nước có một tỷ lệ tiết kiệm và có một lượng kim ngạch dự trữ khác nhau Đây là nhân tố cơ bản của sự tăng trưởng

Những nước có tỷ lệ đầu tư cao (từ 20 - 30% GNP) thường là các nước có mức tăng trưởng cao Tuy nhiên, tỷ lệ này còn phụ thuộc vào qui mô của GNP và tỷ lệ dành cho tiêu dùng (C) theo cơ cấu:

- Chỉ số cơ cấu nông thôn và thành thị:

Thể hiện ở % tỷ lệ lao động và dân cư sống ở thành thị trong tổng lao động và dân số

Ở các quốc gia phát triển, đa phần dân số sống ở đô thị

Cùng với sự phát triển, quá trình đô thị hoá ngày càng tăng, tỷ trọng dân số sống ở nông thôn ngày càng giảm

1.2.2.2 Nhóm các chỉ số xã hội của phát triển

- Giáo dục

+ Tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đi học được đến trường

+ Số giáo sư (tiến sỹ)/nghìn dân

+ Số trường học/nghìn dân

+ Trình độ phổ cập văn hoá

I = GNP - C + (X - M)

Trang 14

+ Chỉ số bất bình đẳng: Hệ số Gini và khoảng cách thu nhập

+ Chỉ số về nghèo đói: % nghèo đói, khoảng cách nghèo đói

+ Chỉ số trao quyền theo giới tính (GDI - The Gender-related Development Index)

- Mức tăng dân số hàng năm

+ Tổng dân số quốc gia / tổng diện tích quốc gia

+ Tổng dân số quốc gia / tổng diện tích đất canh tác

Các nước đang phát triển mức tăng dân số hàng năm trên 2%: Châu Á: 2 - 3%; Châu Phi: 3 – 4%, các nước phát triển, mức tăng dân số hàng năm dưới 1%

Như vậy, mức tăng dân số càng nhỏ thể hiện mức phát triển của quốc gia càng cao

- Số calo tiêu thụ bình quân đầu người

- Tuổi thọ bình quân

- Chỉ số phát triển con người (HDI - Human Development Index)

Chỉ tiêu này kết hợp ba yếu tố đó là tuổi thọ, giáo dục (tỷ lệ biết chữ và số năm đi học bình quân) và GDPPPP/đầu người

Chỉ số HDI được tính như sau:

Số liệu quốc gia Quy định quốc tế

Cao nhất Thấp nhất

1/Chỉ số tuổi thọ bình quân ( X)

Trang 15

a A

a A X

2/Chỉ số giáo dục (Y)

- Chỉ số biết chữ (p):

b B

b B p

c C k

d D Z

1.2.2.3 Các đại lường tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của GDP hoặc GNP hoặc thu nhập bình quân đầu người trong một thời gian nhất định Tăng trưởng kinh tế thể hiện sự thay đổi về lượng của nền kinh tế Tuy vậy ở một số quốc gia, mức độ bất bình đẳng kinh tế tương đối cao nên mặc dù thu nhập bình quân đầu người cao nhưng nhiều người dân vẫn sống trong tình trạng nghèo khổ

Để đo lường tăng trưởng kinh tế có thể dùng mức tăng trưởng tuyệt đối, tốc độ tăng trưởng kinh tế hoặc tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trong một giai đoạn

- Mức tăng trưởng tuyệt đối là mức chênh lệch quy mô kinh tế giữa hai kỳ cần so sánh

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa quy mô kinh

tế kỳ hiện tại so với quy mô kinh tế kỳ trước chia cho quy mô kinh tế kỳ trước Tốc độ tăng trưởng kinh tế được thể hiện bằng đơn vị %

Biểu diễn bằng toán học, sẽ có công thức:

Y= dY/Y × 100(%), trong đó Y là qui mô của nền kinh tế, và y là tốc độ tăng trưởng Nếu quy mô kinh tế được đo bằng GDP (hay GNP) danh nghĩa, thì sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP (hoặc GNP) danh nghĩa Còn nếu quy mô kinh tế được đo bằng GDP (hay GNP) thực tế, thì sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP (hay GNP) thực tế Thông thường, tăng trưởng kinh tế dùng chỉ tiêu thực tế hơn là các chỉ tiêu danh nghĩa

Trang 16

Mặc dù GDP được sử dụng rộng rãi trong kinh tế, giá trị của nó như là một chỉ số vẫn đang là vấn đề gây tranh cãi Sự phê phán sử dụng GDP bao hàm các điểm sau:

Kết quả tính GDP theo các phương thức khác nhau làm người ta bối rối, nhất là khi

so sánh xuyên quốc gia

- GDP, như một chỉ số về kích cỡ của nền kinh tế, nhưng lại không chuẩn xác trong đánh giá mức sống

- GDP không tính đến kinh tế ngầm, kinh tế phi tiền tệ như kinh tế trao đổi, các công việc tình nguyện, chăm sóc trẻ em miễn phí do các ông bố bà mẹ (không làm việc) đảm nhiệm hay sản xuất hàng hóa tại gia đình Vì vậy, tại các nước mà việc kinh doanh thực thi một cách không chính thức chiếm phần lớn thì số liệu của GDP sẽ kém chính xác

- GDP không tính đến tính hài hòa của sự phát triển Ví dụ một nước có thể có tốc

độ tăng trưởng GDP cao do khai thác khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên

- GDP tính cả những công việc không đem lại lợi ích ròng và không tính đến những hiệu ứng tiêu cực Ví dụ, một xí nghiệp làm tăng GDP nhưng gây ô nhiễm một con sông và người ta phải đầu tư để cải tạo lại môi trường Việc này cũng làm tăng GDP Xem thêm Truyện ngụ ngôn về cửa sổ gẫy

- GDP cũng không cho ta sự phản ánh trung thực của sự phân chia lợi ích trong phạm vi đất nước Có thể có những nhóm người không thu được lợi ích gì từ lợi ích kinh

tế chung GDP cao có thể là kết quả của một số người giàu có đem lại cho nền kinh tế trong khi phần lớn dân chúng sống dưới mức nghèo khổ

1.3 CÁC CHỈ SỐ PHẢN ÁNH BIẾN ĐỔI CƠ CẤU KINH TẾ - XÃ HỘI

1.3.1 Chỉ số phản ánh nhu cầu cơ bản của con người

Việc đáp ứng nhu cầu về phát triển con người là mục tiêu cơ bản nhất của quá trình phát triển Nó bao gồm các nhu cầu xã hội cơ bản và những nhu cầu xã hội có chất lượng cao trên các lĩnh vực chủ yếu như: nhu cầu mức sống vật chất, nhu cầu giáo dục, y tế-chăm sóc sức khoẻ, nhu cầu việc làm Cụ thể các chỉ tiêu:

Các chỉ tiêu về phản ánh mức sống: chỉ tiêu GNI/người, một số chỉ tiêu khác cũng

phản ánh mức sống vật chất như lương thu nhập bình quân đầu người, tỷ lệ phụ thuộc lương nhập khẩu, tỷ lệ cung cấp calori bình quân đầu người

Nhóm chỉ tiêu phản ánh giáo dục và trình độ dân trí: LHQ đã đưa ra những chỉ

tiêu đánh giá về trình độ dân trí và giáo dục như: tỷ lệ biết chữ, tỷ lệ nhập học, số năm đi học trung bình

Nhóm chỉ tiêu về tuổi thọ bình quân và chăm sóc sức khoẻ: tuổi thọ bình quân, tỷ

lệ trẻ em sơ sinh

Nhóm chỉ tiêu về dân số và việc làm: tốc độ dân số tăng trưởng tự nhiên, tỷ lệ thấp

nghiệp thành thị, tốc độ tăng trưởng dân số

1.3.2 Chỉ tiêu nghèo đói và bất bình đẳng

Trang 17

Ngoài phát triển con người, một vấn đề quan trọng là đánh giá sự phát triển của xã hội là chỉ tiêu liên quan đến nghèo đói và bất bình đẳng Đây là vấn đề phụ thuộc khả năng thu nhập của nền kinh tế và chính sách phân phối và phân phối lại nhằm điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội theo hướng bảo vệ người nghèo

Có nhiều chỉ tiêu dùng để đánh giá sự nghèo đói và bất bình đẳng với các nội dung

và ý nghĩa khác nhau

Để đánh giá nghèo đói và bất bình đẳng kinh tế, bên cạnh các chỉ tiêu nêu trên, người ta còn sử dụng một số phương pháp như: hệ số bất bình đẳng, phân tích đường cong loren, hệ số GINI

Trang 18

CHƯƠNG II CÁC MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

2.1 MÔ HÌNH CỐ ĐIỂN VỀ TĂNG TRƯỞNG

2.1.1 Xuất phát điểm của mô hình

Giới kinh tế học coi việc xuất bản cuốn “Của cải của các nước” của Adam smith (1723 – 1790) là điểm móc đánh dấu sự ra đời của khoa học kinh tế “Của cải của các nước” được coi là tác phẩm đầu tiên trình bày một cách đầy đủ và có hệ thống nhất những luận điểm về kinh tế học Nội dung của luận điểm là:

- Học thuyết về “giá trị lao động”, ông cho rằng lao động là nguồn gốc cơ bản tạo

ra của cải cho đất nước

- Học thuyết “bàn tay vô hình”, theo ông tự người lao động biết cái gì có lợi cho

họ, do vậy nếu không bị Chính phủ kiểm soát thì họ se được lợi nhuận thúc đẩy để sản xuất hàng hoá và dịch vụ cần thiết và thông qua thị trường tự do này lợi ích cá nhân sẽ gắn với lợi ích xã hội Ông nói: “mọi cá nhân không có ý định thúc đẩy lợi ích công cộng mà chỉ nhằm vào lợi ích riêng của mình, ở đây cũng như nhiều trường hợp khác người đó được một bàn tay vô hình dẫn dắt để phục vụ mục đích không nằm trong ý định của mình” Từ đó, Ông đánh giá vai trò của Chính phủ thông qua các chính sách kinh tế như sau: “ Bạn nghĩ rằng bạn đang giúp cho hệ thống kinh tế bằng những quản lý đầy ý định tốt đẹp và bằng những hành động can thiệp của mình” Không phải như vậy đâu Hãy để mặc, hãy để mọi sự việc xảy ra, đừng nhúng tay vào Dầu nhờn của lợi ích cá nhân sẽ làm cho các bánh xe kinh tế hoạt động một cách gần như kỳ diệu Không ai cần có kế hoạch, không cần quy tắc, thị trường sẽ giải quyết tất cả”

- Ông đưa ra lý thuyết về phân phối thu nhập theo nguyên tắc “Ai có gì được nấy”,

tư bản có vốn thì được lợi nhuận, địa chủ có đất thì thu địa tô, công nhân có sức lao động thì nhận được tiền công Ông cho rằng nguyên tắc phân phối này là công bằng, hợp lý

2.1.2 Các yếu tố tăng trưởng kinh tế và mối quan hệ giữa chúng

Theo Ricardo nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng nhất, từ đó ông cho rằng các yếu tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế là đất đai, lao động và vốn

Ví dụ: Để sản xuất một lượng lương thực là A thì cần Ka đồng vốn, La lao động

Nếu sản xuất một lượng lương thực B = 2A thì cần Kb = 2Ka và Lb = 2 La Ngoài ra, Ông còn nói đến sự kết hợp giữa nông nghiệp và công nghiệp

Trang 19

Sơ đồ: Đường đồng sản lượng có dạng chữ L

Sơ đồ về tăng trưởng của Ricardo: đất đai là giới hạn của sự tăng trưởng

R

Ro

Như vậy, lập luận của Ricardo: Tăng trưởng là kết quả tích luỹ, tích luỹ là hàm của lợi nhuận, lợi nhuận phụ thuộc vào chi phí sản xuất lương thực, chi phí này lại phụ thuộc vào đất đai Do đó, đất đai là giới hạn đối với sự tăng trưởng

Tóm lại mô hình David Ricardo (1772-1823) với luận điểm cơ bản là đất đai sản

xuất nông nghiệp (R, Resources) là nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế Nhưng đất sản xuất lại có giới hạn do đó người sản xuất phải mở rộng diện tích trên đất xấu hơn để sản xuất, lợi nhuận của chủ đất thu được ngày càng giảm dẫn đến chí phí sản xuất lương thực, thực phẩm cao, giá bán hàng hóa nong phẩm tăng, tiền lương danh nghĩa tăng và lợi nhuận của nhà tư bản công nghiệp giảm Mà lợi nhuận là nguồn tích lũy để mở rộng đầu

tư dẫn đến tăng trưởng Như vậy, do giới hạn đất nông nghiệp dẫn đến xu hướng giảm lợi nhuận của cả người sản xuất nông nghiệp và công nghiệp và ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế Nhưng thực tế mức tăng trưởng ngày càng tăng cho thấy mô hình này không giải thích được nguồn gốc của tăng trưởng

1.3 Quan hệ cung cầu và vai trò của chính sách kinh tế với tăng trưởng

Trang 20

- Chính sách của Chính phủ có khi còn hạn chế khả năng phát triển kinh tế Chính sách thuế, nộp thuế đều lấy từ lợi nhuận, nhiều loại thuế làm cho lợi nhuận giảm, lợi nhuận giảm làm giảm tích luỹ, giảm cung

- Trong các khoản chi tiêu của nhà nước, có khoản chi tiêu “không sinh lời” đó là người làm việc trong các lĩnh vực quản lý, an ninh, quân đội là những công nhân không sinh lời do Chính phủ đã dành một phần sản lượng quốc gia vào những việc không sinh lời làm giảm bớt tiềm lực kinh tế

2.2 MÔ HÌNH CỦA K.MARX VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

2.2.2 Các yếu tố tăng trưởng kinh tế

Theo Marx các yếu tố tác động đến quá trình tái sản xuất là đất đai, lao động, vốn

và tiến bộ kỹ thuật Marx đặc biệt quan tâm đến vai trò của lao động trong việc sản xuất ra

giá trị thặng dư Theo Marx sức lao động đối với nhà tư bản là một loại hàng hoá đặc biệt

- Trong quá trình tham gia lao động nó tạo ra lượng giá trị lớn hơn giá trị bản thân

nó, giá trị đó bằng giá trị sức lao động cộng với giá trị thặng dư

- Yếu tố về kỹ thuật Marx phân tích: mục đích của nhà tư bản là tăng giá trị thặng

dư, cho nên họ tìm mọi cách để tăng tăng thời gian làm việc của công nhân bằng cách giảm tiền công hoặc tăng năng suất lao động, hai phương án trên thường là bị giới hạn Để tăng giá trị thặng dư họ dựa vào cải tiến kỹ thuật

2.2.3 Chu kỳ sản xuất và vai trò của chính sách kinh tế

Marx bác bỏ lý thuyết cổ điển về “cung tạo nên cầu” và dự đoán về tình trạng bế tắc của sự tăng trưởng do sự hạn chế đất đai gây ra Theo ông, nguyên tắc cơ bản của sự vận động tiền hàng trên thị trường là phải đảm bảo sự thống nhất giữa giá trị và hiện vật Lưu thông phải đảm bảo khối lượng hàng hoá cung và cầu Nếu không phân tích sẽ dẫn đến hiện tượng thừa hàng hoá Marx giải thích, thừa là do thiều số cầu tiêu thụ, do tích luỹ

tư bản gia tăng, tăng số người vô sản, trong khi hạ tiền công của công nhân xuống dưới mức đủ sống dẫn đến thiếu số người mua về hàng hoá đó

2.3 MÔ HÌNH TÂN CỔ ĐIỂN VỀ TĂNG TRƯỜNG KINH TẾ

Trang 21

Cuối thế kỷ 19 là thời kỳ đánh dấu sự chuyển biến mạnh mẽ của khoa học - kỹ thuật Hàng loạt các phát minh khoa học và hàng loạt các nguồn tài nguyên được khai thác phục vụ cho quá trình sản xuất Sự chuyển biến này đã có những ảnh hưởng rõ rệt trong các trào lưu chính của tư tưởng kinh tế Sự phát triển trào lưu này hình thành một trường phái kinh tế mới, đứng đầu là Alfred Marshall, tác phẩm chính của ông là “các nguyên lý kinh tế học”

Những nội dung mới của mô hình tân cổ điển

Mô hình Tân cổ điển nguồn gốc của tăng trưởng tùy thuộc vào cách thức kết hợp hai yếu tố đầu vào vốn(K) và lao động (L) Cho rằng, để sản xuất một tình trạng nhất định đòi hỏi có tỷ lệ nhất định về lao động và vốn, họ cho rằng vốn có thể thay thế được nhân công, trong sản xuất có thể có nhiều cách thay thế khách nhau khi kết hợp các yếu tố đầu vào (10 tỷ đồng = 100 lao động để sản xuất 1000 tấn xi măng)

Sơ đồ đường đồng sản lượng là các đường cong

Tại d: Công nghệ sử dụng nhiều lao động

Tại c: Sử dụng vốn thay thế lao động

Lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển xây dựng mô hình của mình dựa trên hệ giả thiết

mà hai giả thiết căn bản là: (1) giá cả linh hoạt, và (2) nền kinh tế ở trạng thái toàn dụng lao động Mô hình tăng trưởng kinh tế của họ cho thấy, khi nền kinh tế đang ở trạng thái tăng trưởng cân bằng mà chuyển sang trạng thái tăng trưởng không cân bằng thì đó chỉ là

nhất thời, và nó sẽ mau chóng trở về trạng thái cân bằng

2.4 MÔ HÌNH CỦA KEYNES VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

Trước Keynes, kinh tế học cổ điển và tân cổ điển không phân biệt rành mạch tăng trưởng kinh tế với phát triển kinh tế Hơn nữa, ngoại trừ Schumpeter, các trường phái trên đều không coi trọng vai trò của tiến bộ kỹ thuật đối với tăng trưởng kinh tế

Trang 22

Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của kinh tế học vĩ mô Keynes tiêu biểu là mô hình Harrod-Domar Mô hình này dựa trên hai giả thiết căn bản: (1) giá cả cứng nhắc, và (2) nền kinh tế không nhất thiết ở tình trạng toàn dụng lao động Nguồn gốc tăng trưởng kinh

tế là do lượng vốn (yếu tố K, capital) đưa vào sản xuất tăng lên Từ đó, họ suy luận ra được rằng một khi nền kinh tế đang ở trạng thái tăng trưởng cân bằng mà chuyển sang trạng thái tăng trưởng không cân bằng thì sẽ càng ngày càng không cân bằng (mất ổn định kinh tế)

2.5 LÝ THUYẾT TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ HIỆN ĐẠI

Dựa vào lý thuyết của Keynes, Chính phủ các nước đã sử dụng chính sách kinh tế của Nhà nước để hạn chế mức độ lạm phát và thất nghiệp Làm tăng mức sản lượng tiềm năng Nhưng khi sử dụng lý thuyết này trong một thời gian dài thì quá nhấn mạnh vai trò của chính sách kinh tế, do đó hạn chế mức điều chỉnh của thị trường và gây trở ngại mới cho tăng trưởng kinh tế Trước tình hình đó các nhà kinh tế học thuộc trường phái mới xây dựng một nền kinh tế hỗn hợp, trong đó thị trường trực tiếp điều chỉnh các vấn đề cơ bản của kinh tế và Nhà nước tham gia điều tiết nhằm hạn chế những tiêu cực của thị trường, thực chất của nó là tìm điểm tương đồng giữa lý thuyết kinh tế học cổ điển, học thuyết kinh tế tân cổ điển và học thuyết của Keynes Trình bày rõ ràng nhất trong tác phẩm “kinh

tế học” của Samuelson năm 1948 Nội dung của học thuyết là:

2.5.1 Sự cân bằng của nền kinh tế

Kinh tế học hiện đại quan niệm về sự cân bằng kinh tế dựa theo mô hình của Keynes, sự cân bằng của nền kinh tế không nhất thiết là tại mức sản lượng tiềm năng mà thường ở dưới mức sản lượng tiềm năng, trong điều kiện nền kinh tế hoạt động bình thường vẫn có mức thất nghiệp tự nhiên và lạm phát xảy ra Tỷ lệ lạm phát theo quy định của Nhà nước có thể chấp nhận được Mức cân bằng này được xác định tại giao điểm tổng cung và tổng cầu

2.5.2 Các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế

Lý thuyết hiện đại thống nhất với cách xác định của mô hình kinh tế tân cổ điển về các yếu tố tác động đến sản xuất Họ cho rằng tổng cung của nền kinh tế được xác định bởi các yếu tố sản xuất: lao động, vốn, tài nguyên thiên nhiên và khoa học công nghệ

Thống nhất phân tích các yếu tố đầu vào dựa vào hàm Cobb-Douglas

Y = T * Kα * Lβ * Rγ

Y = f(K, L, R, T)

Trang 23

LnY = lnT + αlnK + βlnL + γlnR

g = t + αK + βL + γR g: Tốc độ tăng trưởng của GDP

l, k, r: Tốc độ tăng trưởng của các yếu tố đầu vào t: Phản ánh tác động của khoa học công nghệ Samuelson gọi những yếu tố đầu vào là nguồn gốc của sự tăng trưởng Dựa vào nghiên cứu ở Mỹ trong thời gian 1948 – 1981 ông đưa ra nhận xét: “khoảng 1/3 mức tăng trưởng sản lượng là do tác động nguồn nhân lực và vốn, 2/3 còn lại là một số dư quy cho giáo dục, đổi mới, hiệu quả kinh tế theo tiến bộ khoa học công nghệ và các yếu tố khác”

Lý thuyết này cũng thống nhất với quan điểm tân cổ điển về mối quan hệ giữa các yếu tố sản xuất, các nhà sản xuất có thể lựa chọn kỹ thuật nhiều vốn hoặc kỹ thuật nhiều lao động Lý thuyết này cũng thống nhất với mô hình Harrod – Domar về vai trò của vốn đầu tư

2.5.3 Vai trò của Chính phủ trong tăng trưởng kinh tế

Lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại cho rằng thị trường là yếu tố cơ bản điều tiết hoạt động cơ bản của nền kinh tế Sự tác động qua lại giữa tổng mức cung và tổng mức cầu tạo ra mức thu nhập thực tế, công ăn việc làm và tỷ lệ thất nghiệp , mức giá và tỷ lệ lạm phát, đó là cơ sở để giải quyết 3 vấn đề cơ bản của nền kinh tế

Y= f(C, G, I, NX)

Trang 24

Mặt khác, trong lịch sử thì vai trò của chính phủ ngày càng tăng, khi mở rộng kinh

tế thị trường thị đòi hỏi phải có sự can thiệp cuả Nhà nước không chỉ vì thị trường có những khuyết tật mà còn dù thị trường có hoạt động tốt đến mấy cũng không thể đáp ứng nhu cầu của thị trường được

Trong nền kinh tế thị trường Chính phủ có 4 chức năng cơ bản:

- Thiết lập khuân khổ pháp luật

- Xác định chính sách ổn định kinh tế vĩ mô

- Tác động vào việc phân bổ tài nguyên để cải thiện hiệu quả kinh tế

- Thiết lập các chương trình tác động tới việc phân phối thu nhập

Ngoài ra, theo Samuelson, Chính phủ cần tạo môi trường ổn định cho các doanh nghiệp và hộ gia đình có thể tiến hành sản xuất và trao đổi sản phẩm một cách thuận lợi

Trang 25

CHƯƠNG III TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ SỰ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ

3.1 CHUY ỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ

3.1.1 Khái niệm

 Cơ cấu kinh tế: Là tương quan giữa các ngành trong tổng thể kinh tế, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại về số lượng lẫn chất lượng giữa các ngành với nhau Mối quan hệ này được hình thành trong điều kiện kinh tế nhất định, luôn luôn vận động và hướng vào những mục tiêu cụ thể Cơ cấu ngành kinh tế có những nội dung sau:

Thứ nhất là số lượng ngành kinh tế được hình thành, số lượng ngành kinh tế

không cố định, nó luôn được hoàn thiện theo sự phân công lao động cuả xã hội

+ Nguyên tắc phân nhóm ngành xuất phát từ tính chất phân công lao động xã hội, biểu hiện sự khác nhau về quy trình công nghệ của các ngành trong quá trình tạo ra sản phẩm

+ Các ngành kinh tế được chia thành 3 khu vực: Khu vực nông – lâm – ngư nghiệp; Khu vực ngành công nghiệp và xây dựng; Khu vực ngành dịch vụ

Thứ hai, Cơ cấu ngành kinh tế thể hiện mối quan hệ tương hỗ giữa các ngành với

nhau, mối quan hệ này bao gồm cả mặt chất và mặt lượng Số lượng là thể hiện tỷ trọng của mỗi ngành, chất lượng thể hiện phản ánh vị trí, tầm quan trọng của từng ngành

 Chuyển dịch cơ cấu ngành: Cơ cấu ngành là một phạm trù luôn vận động, thay đổi từng thời kỳ bởi các yếu tố hợp thành ngành Quá trình thay đổi cơ cấu ngành từ trạng thái này sang trạng thái khác ngày càng hoàn thiện hơn, phù hơn với ngành kinh tế

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải dựa trên cơ sở một cơ cấu hiện có, cải tạo và dịch chuyển cơ cấu củ thành một cơ cấu sản xuất hoàn thiện hơn

- Mối quan hệ giữa dịch chuyển ngành với sự phát triển chung cuả nền kinh tế là hết sức quan trọng Vì nó thể hiện hiệu quả của việc phân bố nguồn lực, chuyển dịch cơ cấu ngành là thể hiện hiệu quả của việc phân bố nguồn lực, thể hiện được lợi thế và khả năng cạnh tranh

3.2.2 Ý nghĩa của nghiên cứu cơ cấu ngành

Dạng cơ cấu ngành được xem là quan trọng nhất, được quan tâm và nghiên cứu nhiều nhất vì nó phản ánh sự phát triển của khoa học, công nghệ, lực lượng sản xuất, phân công lao động chuyên môn hoá và hợp tác sản xuất

Trạng thái cơ cấu ngành là dấu hiệu phản ánh trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia

Trang 26

Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành là một quá trình diễn ra liên tục và gắn liền với sự phát triển kinh tế

3.2 LÝ THUYẾT 5 GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA W.ROSTOW

Trong cuốn sách giai đoạn phát triển kinh tế của W.Rostow đã đưa ra một cách tổng hợp về lịch sử về các bước khởi đầu quá trình kinh tế hiện đại ở 6 lục địa Theo mô hình của W.Rostow, quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia được chia thành 5 giai đoạn và ứng với mỗi giai đoạn là một dạng cơ cấu kinh tế đặc trưng thể hiện bản chất của giai đoạn ấy

- Giai đoạn 1: Xã hội truyền thống

Giai đoạn này được định nghĩa là giai đoạn dựa trên khoa học và công nghệ tiền

- Giai đoạn 2: Giai đoạn chuẩn bị cất cánh

Đây là thời kỳ quá độ giữa xã hội truyền thống và sự cất cánh

+ Đặc trưng cơ bản là chuẩn bị các điều kiện để chuẩn bị cất cánh, tổng hợp những hiểu biết khoa học - kỹ thuật, giáo dục mở rộng, đầu tư tăng, nhu cầu đầu tư cao thúc đẩy

sự hoạt động của ngân hàng và sự ra đời của các tổ chức huy động vốn

+ Giao lưu và mở rộng quan hệ hợp tác đã được thúc đẩy về hàng hoá, giao thông vận tải và thông tin liên lạc có hệ thống ngày càng mở rộng

+ Tất cả các hoạt động này vẫn chưa vượt khỏi phạm vi giới hạn của một nền kinh

tế đặc trưng truyền thống, năng suất thấp

+ Cơ cấu trong giai đoạn này còn là cơ cấu nông – công nghiệp

- Giai đoạn 3: Cất cánh (Take off)

Đây là giai đoạn trung tâm trong sự phân tích trong các giai đoạn phát triển của W.Rostow

Trang 27

+ Đây là giai đoạn mà lực cản của xã hội truyền thống và các thế lực chống đối sự phát triển bị đẩy lùi, các lực lượng tạo ra sự phát triển kin tế đang lớn mạnh và trở thành lực lượng thống trị xã hội

+ Các yếu tố cơ bản đảm bảo sự cất cánh là: Huy động được nguồn vốn đầu tư cần thiết, tỷ lệ tiết kiệm tăng lên ít nhất 10% trong thu nhập quốc dân thuần tuý

Ngoài ra, còn có vốn đầu tư nước ngoài vô cùng quan trọng trên các phương diện khoa học - kỷ thuật, công nghiệp, nông nghiệp, quá trình tái sản xuất mở rộng ngày càng cao

+ Cơ cấu ngành kinh tế trong giai đoạn này là: Công nghiệp – nông nghiệp – dịch

vụ theo W.Rostow Giai đoạn này kéo dài từ 20-30 năm

- Giai đoạn 4: Trưởng thành

Đặc trưng của giai đoạn này là tỷ lệ đầu tư tăng liên tục, lên 20% thu nhập quốc dân thuần tuý

+ Khoa học - kỷ thuật được áp dụng trên toàn bộ các mặt hoạt động kinh tế, nhiều ngành công nghiệp mới, hiện đại và phát triển, nông nghiệp được cơ giới hoá đạt năng suất lao động cao

+ Nhu cầu xuất khẩu tăng mạnh, phát triển kinh tế được hoà đồng vào thị trường quốc tế

+ Theo ông, giai đoạn này kéo dài tới 60 năm

+ Cơ cấu ngành kinh tế là: Công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp

- Giai đoạn 5: Tiêu dùng cao

Giai đoạn này có 2 xu hướng cơ bản về kinh tế

+ Thứ nhất, thu nhập bình quân đầu người tăng nhanh, dân cư giàu có dẫn đến sự giai tăng nhu cầu tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ tinh vi, cao cấp

+ Thứ 2, cơ cấu lao động thay đổi theo hướng tăng tỷ lệ dân cư đô thị và lao động

có tay nghề, có trình độ chuyên môn hoá cao

Về chính sách xã hội: các chính sách kinh tế hướng vào phúc lợi xã hội nhằm tạ ra nhu cầu về hàng tiêu dùng lâu bền và các dịch vụ xã hội

+ Theo ông, đây là giai đoạn lâu nhất, ông cho rằng người Mỹ cần khoảng 100 năm để chuyển giai đoạn trưởng thành thành giai đoạn cuối cùng này

+ Cơ cấu kinh tế trong giai đoạn này là: Dịch vụ - công nghiệp

3.3 MÔ HÌNH HAI KHU VỰC CỦA ARTHUS LEWIS

3.3.1 Lịch sử ra đời “Mô hình hai khu vực” của A.Lewis

Trang 28

Mô hình này ra đời giữa thập niên 50 của thế kỷ 20, nhà kinh tế học người Mỹ A.Lewis, trong tác phẩm “ lý thuyết phát triển kinh tế” đã đưa ra các giải thích về mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp trong quá trình tăng trưởng gọi là “Mô hình hai khu vực cổ điển”

Đặc trưng chủ yếu của mô hình hai khu vực này là phân chia nền kinh tế thành hai khu vực nông nghiệp và công nghiệp và nghiên cứu quá trình di chuyển giữa hai mô hình này

3.3.2 Cơ sở nghiên cứu của mô hình A.Lewis

Người đầu tiên đặt vấn đề phát triển mô hình hai khu vực này là David Ricardo trong tác phẩm “Những nguyên lý của kinh tế chính trị học và thuế khoá” xuất bản năm

1817 Ông đã đưa ra hai vấn đề là:

- Khu vực nông nghiệp có lợi nhuận biên giảm dần theo quy mô và tiến tới bằng 0 + Nguyên nhân là do quy mô sản xuất nông nghiệp ngày càng tăng lên đòi hỏi phải

sử dụng đất đai ngày càng xấu hơn, dẫn đến chi phí sản xuất tăng dần khi sản xuất một tấn lương thực

+ Số lượng và chất lượng của ruộng đất là yếu tố có điểm dừng, nếu con người khai thác đến điểm đó, việc tăng thêm yếu tố đầu vào sẽ không làm tăng sản lượng

- Trong khi ruộng đất có xu hướng cạn kiệt dần thì lao động trong khu vực nông nghiệp có xu hướng tăng lên và dư thừa ngày càng phổ biến Lao động dư thừa ở nông thôn khác ở thành thị

+ Ở thành thị, lao động dư thừa khi họ có khả năng lao động, có mong muốn làm việc nhưng không tìm được việc làm

+ Ở nông thôn, hiện tượng phổ biến là mọi người đều có việc làm nhưng năng suất lao động thấp, các thành viên trong gia đình phải chia việc ra để làm Sản phẩm biên của lao động giảm dần và tiến tới bằng 0 Gọi là thất nghiệp trá hình

Ricardo kết luận khu vực nông nghiệp mang tính trì trệ tuyệt đối, cần giảm dần quy mô và tỷ trọng đầu tư Nên cần phải xây dựng khu vực công nghiệp để cho nền kinh

tế tiếp tục tăng trưởng Nhằm mục đích là giải quyết việc làm

Từ những lập luận trên là cơ sở cho việc ra đời của mô hình hai khu vực của Lewis

3.3.3 Nội dung của mô hình

Mô hình được mô tả sự vận động sau đây:

a Khu vực truyền thống (khu vực nông nghiệp)

Trang 29

Đường biểu diễn hàm sản xuất của khu vực nông nghiệp là TPA = f(LA, K, T) và yếu tố đầu vào biến đổi là lao động (La), còn vốn (K) và công nghiệ (T) cố định

Ở sơ đồ ta thấy khi lao động khu vực nông nghiệp tăng từ 0 đến LA2 thì tổng sản phẩm nông nghiệp tăng dần từ 0 đến TPA2, mức tăng càng về sau càng có xu hướng giảm dần tức là lao động nông nghiệp có xu hướng giảm dần theo quy mô

TPA2 là mức sản phẩm đạt cao nhất trong khu vực nông nghiệp Tại đây người ta

đã khai thác hết số và chất lượng ruộng đất Nếu lao động được tiếp tục bổ sung vào khu vực nông nghiệp thì tổng sản phẩm cũng không đổi MPLA = 0 Lúc này đường biểu diễn hàm sản xuất có dạng nằm ngang

Về nguyên tắc thì mức lương phải trả theo mức sản phẩm biên của lao động Nhưng trong điều kiện MPLA=0 thì mức tiền công của khu vực nông nghiệp được trả theo mức sản phẩm trung bình của lao đông Tức là WA=APLA=OA Như vậy khi khu vực nông nghiệp có dư thừa lao động thì mức tiền công trong khu vực nông nghiệp được trả theo mức sản phẩm biên của lao động và Lewis gọi đây là mức tiền công tối thiểu hay mức tiền công đủ sống cho khu vực này

Trong điều kiện dư thừa lao động thì mọi người lao động trong khu vực này được trả một mức tiền công như nhau và nó chính là mức tiền công tối thiểu được tính bằng mức sản phẩm trung bình của lao động

b Khu vực hiện đại (công nghiệp)

Trước hết để tiến hành hoạt động của mình khu vực công nghiệp phải tiến hành lôi kéo lao động từ khu vực nông nghiệp sang Điều kiện là khu vực công nghiệp phải trả một mức tiền công lao động cao hơn mức tiền lương tối thiểu ở khu vực nông nghiệp mà họ đang được hưởng Theo ông, mức tiền công phải trả cao hơn là 30% mức tiền lương tối thiểu ở khu vực nông nghiệp

WM = WA + 30%WA Tất cả những người nằm trong đoạn mà tương đương với đường tổng sản phẩm có dạng nằm ngang đều được hưởng đều được hưởng mức tiền công như nhau và bằng mức sản phẩm trung bình của lao động Điều đó cho phép khi khu vực nông nghiệp sang công nghiệp chỉ trả mức tiền công như nhau là Wm trên Khi nào hết lượng lao động ở khu vực nông nghiệp dư thừa thì mức lương dần cao lên Trong trường hợp mà khu vực công nghiệp vẫn tiếp tục thu hút lao động thì phải trả mức lương cao hơn WM

Nếu khu vực nông nghiệp còn dư thừa lao động thì đường cung lao động trong công nghiệp đang ở phần nằm ngang Điều này nó ảnh hưởng đến lợi nhuận và quá trình tái đầu tư khu vực công nghiệp

Trang 30

Nếu khu vực nông nghiệp hết dư thừa lao động, với giả thiết khu vực công nghiệp vẫn tiếp tục mở rộng quy mô sản xuất và có nhu cầu thu hút thêm lực lượng lao động Lúc này khu vực công nghiệp muốn thu hút thêm lao động cần phải trả một mức lương lao động cao hơn mức cũ, đó là mức WM1 > WM và mức lương mà khu vực công nghiệp phải trả cho lao động ngày càng cao theo quy mô Có nghĩa là khi lao động khu vực công nghiệp hết dư thừa, quá trình trao đổi giữa hai khu vực này trở nên bất lợi cho phía công nghiệp Trong tổng thu nhập tạo nên, tỷ lệ trả lương công nghiệp ngày càng tăng, lợi nhuận có xu hướng giảm xuống Hiện tượng bất bình đẳng về kinh tế giữa hai khu vực có

xu hướng giảm đi Trong tình hình đó để giảm sự bất lợi cho công nghiệp cần phải đầu tư lại cả nông nghiệp nhằm tăng năng suất lao động, giảm cầu lao động ở khu vực này Việc giảm lao động từ nông nghiệp ra sẽ không làm cho giá nông sản tăng và sực ép của việc tăng tiền công lao động trong khu vực nông nghiệp có giảm đi Trong trường hợp đó thì

cả công nghiệp và nông nghiệp cần phải tăng đầu tư theo chiều sâu và hướng việc áp dụng công nghệ hiện đại Nền kinh tế vẫn tiếp tục tăng trưởng nhanh dựa trên động lực tích luỹ lợi nhuận cả hai khu vực

Tóm lại Lewis đã xây dựng mô hình hai khu vực thể hiện rõ rệt giữa mối quan hệ

công nghiệp và nông nghiệp trong quá trình thực hiện mục tiêu tăng trưởng và phát triển

Mô hình đã xây dựng quá trình dịch chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp nhằm thu hút lao động có việc làm, tăng thu nhập, tăng tích luỹ, tăng lợi nhuận và giảm sự chênh lệch về kinh tế giữa các vùng

Ngoài những lợi thế tích cực trong việc thực hiện mô hình thì nó còn có những hạn chế sau:

- Mô hình chỉ đưa ra giả thiết là khu vực nông thôn dư thừa lao động còn thành thị thì không

- Nếu việc thu hút lao động ở nông thôn sang thành thị để giải quyết việc làm tương ứng với tỷ lệ vốn tích luỹ của khu vực này thì ý nghĩa của việc giải quyết việc làm cho khu vực nông nghiệp đã không còn ý nghĩa

- Điều đó vẫn không có nghĩa chắc chắn rằng khi mở cửa hội nhập thì các nhà tư bản công nghiệp chỉ có đầu tư trong nước mà họ còn có thể đầu tư ra nước ngoài để có lợi hơn

- Trên thực tế lao động nông thôn muốn làm việc trong khu vực công nghiệp cần phải qua đào tạo tay nghề nên chi phí cao hơn nên phải trả một mức tiền công lao động cao hơn

3.4 MÔ HÌNH HAI KHU VỰC CỦA TRƯỜNG PHÁI TÂN CỔ ĐIỂN

Trang 31

Đối với mô hình này thì đặt khoa học, công nghệ là nhân tố trực tiếp và mang tính chất quyết định đến tăng trưởng kinh tế Điều này giúp họ phê phán quan điểm dư thừa lao động trong nông nghiệp của trường phái cổ điển Lewis Nội dung của mô hình như sau:

3.4.1 Khu vực nông nghiệp

Dưới sự tác động của khoa học, công nghệ các nhà kinh tế học tân cổ điển cho rằng yếu tố ruộng đất trong nông nghiệp không có điểm dừng, con người có thể cải tạo và nâng cao chất lượng đất

- Mọi sự tăng lên của lao động đều dẫn đến tăng sản lượng nông nghiệp hay là sản phẩm cận biên trong khu vực này luôn luôn dương

- Điều đó cũng có nghĩa là hiện tượng tăng dân số không phải là bất lợi hoàn toàn

và do đó không có hiện tượng lao động dư thừa để chuyển sang khu vực khác nhưng cũng không làm giảm đầu ra của nông nghiệp

- Mức sản phẩm cận biên của lao động trong nông nghiệp luôn luôn dương, điều này có nghĩa là mức tiền công lao động trong nông nghiệp được trả theo mức sản phẩm cận biên chứ không phải trả theo mức sản phẩm trung bình như mô hình Lewis Nên đường cong lao động trong nông nghiệp có xu thế dốc lên

Trên thực tế thì mức sản phẩm cận biên của lao động mặc dù bằng 0 nhưng xu thế giảm dần nên đường cung lao động trong nông nghiệp cũng có độ dốc giảm dần theo quy

mô gia tăng lao động sử dụng

3.4.2 Khu vực công nghiệp

Về điều kiện thu hút lao động: Để chuyển lao động từ nông nghiệp sang, khu vực công nghiệp phải trả một mức tiền công lao động cao hơn mức tiền công của khu vực nông nghiệp

- Mức tiền công của khu vực công nghiệp phải trả ngày càng nhiều theo xu hướng ngày càng sử dụng càng nhiều lao động

- Mức tiền công khu vực công nghiệp có xu hướng tăng lên bởi các lý do:

+ Sản phẩm cận biên của khu vực nông nghiệp luôn lớn hơn 0 Khi chuyển dịch lao động ra khỏi khu vực nông nghiệp sẽ làm tăng liên tục sản phẩm cận biên của lao động còn lại trong nông nghiệp Vì thế mà khu vực công nghiệp phải trả mức tiền công cao hơn cho số người chuyển từ nông nghiệp sang

Trang 32

+ Khi lao động chuyển từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp làm cho tổng đầu ra của nông nghiệp giảm xuống và kết quả là giá nông sản ngày càng cao, tạo ra áp lực phải tăng lương cho người lao động trong khu vực công nghiệp

3.4.4 Quan điểm đầu tư

Trong điều kiện trên để có quá trình trao đổi giữa các khu vực không tạo ra những bất lợi ngày càng nhiều cho công nghiệp thì các nhà tân cổ điển cho rằng cần phải đầu tư

cả cho nông nghiệp ngay từ đầu chứ không phải quan tâm đến đầu tư cho công nghiệp Việc đầu tư cho nông nghiệp phải theo hướng nâng cao năng suất lao động ở khu vực này

để nếu rút bớt lượng lao động khu vực nông nghiệp cho công nghiệp thì cũng không ảnh hưởng đến lượng sản phẩm tạo ra Mặt khác, để giảm áp lực về cầu lao động trong nông nghiệp thì cần đầu tư theo chiều sâu, và cần sản xuất nhiều hàng hoá công nghiệp để đổi lấy lương thực, thực phẩm nhập khẩu ở nước ngoài về

Điều đó cho thấy, giá lương thực, thực phẩm có giảm đi nhưng giá nông sản không tăng do được thay thế bởi nông sản nhập khẩu Tuy khu vực nông nghiệp không có thất nghiệp nhưng vẫn biểu hiện trì trệ so với công nghiệp Đó là mức bổ sung lao động ngày càng tăng nhưng mức tổng sản phẩm gia tăng ngày càng giảm

Vì vậy, các nhà tân cổ điển co xu hướng đầu tư cho cả 2 lĩnh vực ngay từ đầu nhưng tỷ trọng nông nghiệp có xu hướng giảm đi và ưu tiên tăng dần tỷ trọng đầu tư cho công nghiệp

3.5 MÔ HÌNH HAI KHU VỰC CỦA HARRY OSHIMA

Oshima là người Nhật Bản, ông nghiên cứu mô hình hai khu vực dựa vào những đặc điểm khác biệt của Châu Á và Châu Âu - Mỹ Đó là nền nông nghiệp lúa nước có tính thời vụ cao, vào thời gian cao điểm của mùa vụ vẫn có hiện tượng thiếu lao động và thừa lao động trong thời gian nhàn rỗi

Ông đã dựa trên tác phẩm “Tăng trưởng kinh tế ở các nước Châu Á gió mùa”

Ông đưa ra quan điểm mới về mô hình phát triển mối quan hệ công – nông nghiệp dựa trên những đặc điểm cơ bản của sản xuất nông nghiệp và hoạt động kinh tế Châu Á

CÂU HỎI THẢO LUẬN

1 Thế nào là dịch chuyển cơ cấu kinh tế? Tại sao nói cơ cấu ngành là dạng cơ cấu quan trọng nhất?

Trang 33

2 W.Rostow đã đưa ra phương thức thực hiện chuyển dịch cơ cấu ngành trong lý thuyết phân kỳ các giai đoạn phát triển như thế nào?

3 Nhận xét các nội dung về mối quan hệ giữa nông nghiệp và công nghiệp thể hiện trong

mô hình hai khu vực của Lewis

4 Phân biệt quan niệm về khu vực nông nghiệp trong trường phái tân cổ điển với Lewis Trường phái tân cổ điển đã giải quyết được mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp như thế nào?

5 Mô hình Oshima đã phê phán về quan điểm của Lewis và trường phái tân cổ điển như thế nào? Mô hình giải quyết mối quan hệ giữa công – nông nghiệp như thế nào trong quá trình phát triển?

6 So sánh cả 3 mô hình về vấn đề tích luỹ tái đầu tư trong quá trình thực hiện tăng trưởng

và phát triển kinh tế

Trang 34

CHƯƠNG IV PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ PHÚC LỢI CHO

CON NGƯỜI

4.1 TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI

4.1.1 Quan điểm về phát triển con người

Tài sản thực sự của một quốc gia là con người và mục đích của phát triển là tạo môi trường cho phép người dân được hưởng thụ một cuộc sống trường thọ, mạnh khoẻ và sáng tạo

Theo quan điểm về phát triển con người của Liên hiệp quốc, phát triển con người

là một quá trình nhằm mở rộng khả năng lựa chọn của dân chúng

Về nguyên tắc, những sự lựa chọn này là vô hạn và có thể thay đổi theo thời gian

Tuy nhiên ở các cấp độ phát triển, con người cần có 3 khả năng cơ bản sau:

- Có cuộc sống trường thọ, mạnh khoẻ;

- Được hiểu biết và có được các nguồn lực cần thiết cho một sức sống tốt

Song, phát triển con người không dừng lại ở đó Sự lựa chọn của dân chúng được đánh giá cao bao gồm sự tự do kinh tế, xã hội, chính trị để con người được các cơ hội trở thành người lao động sáng tạo, có năng suất, được tôn trọng cá nhân và được bảo đảm quyền con người

Như vậy phát triển con người gồm 2 mặt: một mặt là sự hình thành các năng lực

của con người và mặt khác là việc sử dụng các năng lực của con người đã tích luỹ được cho các hoạt động kinh tế, giải trí hoặc các hoạt động văn hoá, xã hội, chính trị Và như vậy, thu nhập không phải là tất cả của cuộc sống con người Mục đích của phát triển là mở rộng mọi sự lựa chọn của con người chứ không phải thu nhập

4.1.2 Chỉ số phát triển con người (Human Development Index - HDI)

Chỉ số phát triển con người (HDI) được Cơ quan Phát triển con người của Liên hiệp quốc đưa ra để kiểm soát, đánh giá sự tiến bộ trong phát triển con người HDI đo thành tựu trung bình của một quốc gia trên 3 phương diện của sự phát triển con người (như đã nói ở trên) Ba biến số được chọn làm đại diện cho 3 phương diện đó là:

- Tuổi thọ trung bình từ lúc sinh

- Tỷ lệ người lớn biết chữ và tỷ lệ nhập học các cấp giáo dục

- Thu nhập bình quân đầu người theo ngang giá sức mua (GDP/người – PPP - USD)

Như vậy, HDI là thước đo tổng hợp so với các chỉ tiêu khác Thu nhập và thu nhập bình quân chỉ là phương tiện để có được sự phát triển con người; còn các chỉ tiêu phản

Trang 35

ánh nhu cầu cơ bản của con người lại chỉ phản ánh từng mặt cụ thể Do vậy từ năm 1990, báo cáo phát triển con người đã sử dụng chỉ tiêu này để thực hiện việc xếp thứ hạng các nước theo tình trạng phát triển con người

Chỉ số phát triển con người (HDI) được tính như sau:

Số liệu quốc gia Quy định quốc tế

Cao nhất Thấp nhất

1/Chỉ số tuổi thọ bình quân ( X)

a A

a A X

b B p

c C k

d D Z

Bảng 1 : Giá trị tối đa - tối thiểu của các chỉ tiêu

Chỉ tiêu Giá trị tối đa Giá trị tối thiểu

GDP thực tế đầu người (PPP - USD) 40.000 100

HDI nhận các giá trị biến thiên từ 0 đến 1

Trang 36

Trong thực tế giá trị HDI của một nước chỉ ra khoảng cách giữa mức độ tiến bộ trong phát triển con người đã đạt được với giá trị cao nhất có thể (là 1) Thách thức đặt ra đối với mỗi nước là phải tìm ra những giải pháp để rút ngắn khoảng cách đó

Xu hướng phát triển con người từ 1975 đến nay cho thấy hầu hết các nước đều đạt được sự tiến bộ trong phát triển con người, tuy nhiên, sự phát triển này là không đồng đều Các nước có thể bắt đầu với mức độ phát triển con người như nhau, nhưng tiến bộ với tốc

độ khác nhau (Trường hợp của Trung Quốc và Goatêmala) hoặc các nước có thể bắt đầu với các mức độ khác nhau nhưng cuối cùng đều đạt được trạng thái tương tự Điều này phụ thuộc ở một mức độ nhất định việc sử dụng các biện pháp, chính sách nhằm nâng cao phúc lợi cho người dân của mỗi nước

Bảng 2 : So sánh HDI giữa Trung Quốc và Goatêmala

Bảng 3 : Xếp hạng HDI một số nước ASEAN năm 2001

Trang 37

Nguồn : Báo cáo phát triển con người 2001

4.2 CÁC CHỈ TIÊU PHẢN ÁNH TÌNH TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG VÀ NGHÈO ĐÓI

4.2.1 Khái niệm

a Nghèo và đói nghèo

Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những

nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh

tế - xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương (“Hội nghị quốc tế về đói nghèo tại Thái Lan - 1993”)

Biểu hiện mức nghèo đói tương đối là cảm giác bị thua thiệt của một người nào đó

khi họ so sánh với những người xung quanh

b Nghèo khổ về con người (nghèo khổ tổng hợp)

Nghèo khổ về con người là khái niệm biểu thị sự nghèo khổ đa chiều của con

người, là sự thiệt thòi 3 khía cạnh cơ bản nhất của cuộc sống:

- Thiệt thòi dựa trên khía cạnh cuộc sống lâu dài và khoẻ mạnh, được xác định bởi

tỷ lệ người dự kiến không thọ quá 45 tuổi

- Thiệt thòi về tri thức, được xác định bởi tỷ lệ người lớn mù chữ

- Thiệt thòi về đảm bảo kinh tế, được xác định bởi người không tiếp cận với các dịch vụ y tế, nước sạch và tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng

Để đánh giá “nghèo khổ của con người”, Liên Hiệp Quốc đã sử dụng chỉ số nghèo khổ về con người HPI (Human Poor Index) Chỉ số này nói lên sự phân phối thành tựu tiến bộ của con người Các nước có HDI như nhau nhưng lại có chỉ số HPI khác nhau

Trang 38

Chỉ số này nói lên rằng sự nghèo khổ của con người ảnh hưởng bao nhiêu phần trăm dân số của nước đó

Đặc trưng của nghèo khổ và chiến lược xoá đói giảm nghèo:

- Mức thu nhập bình quân đầu người với mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập càng cao thì người nghèo đói càng nhiều bấy nhiêu

- Mức thu nhập càng thấp thì mức nghèo đói càng cao

Biểu hiện là mức nghèo đói tuyệt đối, là sự kết hợp của thu nhập đầu người thấp và

phân phối không đồng đều Đây là cơ sở cho việc lựa chọn chính sách xoá đói giảm nghèo

- Phương pháp để xoá đói, giảm nghèo thì: Phải biết nghèo đói là ai và đặc điểm kinh tế của họ là gì?

+ Đối với nông thôn thì người nghèo đói là người chiếm chủ yếu, họ thiếu phương tiện sản xuất và đặc biệt là đất đai

+ Đối với thành thị, họ là những người không có vốn hoặc rất ít vốn và có trình độ giáo dục thấp

4.2.2 Phương pháp đánh giá nghèo khổ về thu nhập

a Khái niệm

Nghèo là tình trạng thiếu thốn ở nhiều phương diện như: Thu nhập hạn chế hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo thu nhập những lúc khó khăn và dễ bị tổn thương trước những đột biến, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định…

Hội nghị chống nghèo tại châu Á – Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Kốc, Thái Lan (9/1993)

b Phương pháp đánh giá nghèo khổ

- Phương pháp của Ngân hàng Thế giới (WB)

Phương pháp mà WB đã sử dụng ở nhiều nước đang phát triển là dựa vào ngưỡng chi tiêu tính bằng đôla mỗi ngày Ngưỡng nghèo thường dùng hiện nay là 1 đôla và 2 đôla/ngày (theo sức mua tương đương) Đây là ngưỡng chi tiêu có thể đảm bảo mức cung cấp năng lượng tối thiểu cần thiết cho con người, mức chuẩn đó là 2100 calo/người/ngày

- Phương pháp của Việt Nam:

Ở Việt Nam hiện nay có 2 phương pháp tiếp cận với ranh giới nghèo đói như sau: + Phương pháp của Tổng cục Thống kê: dựa vào thu nhập và chi tiêu theo đầu người

Trang 39

Phương pháp này đã xác định 2 ngưỡng nghèo:

* Số tiền cần thiết để mua được một số lương thực hàng ngày để đảm bảo mức độ dinh dưỡng (tương tự cách tiếp cận của WB)

* Ngưỡng nghèo chung: bao gồm cả phần chi tiêu cho hàng hoá phi lương thực + Phương pháp của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội:

Mức chuẩn nghèo được Việt Nam áp dụng trong giai đoạn 2001- 2005 là 80.000 đồng/người/tháng tại vùng nông thôn miền núi và hải đảo, 100.000 đồng/người/tháng tại vùng nông thôn đồng bằng và 150.000 đồng/người/tháng tại vùng thành thị

Mức chuẩn nghèo từ năm 2006 là: 200.000 đồng/người/tháng tại vùng nông thôn

và 260.000 đồng/người/tháng tại vùng thành thị

4.2.3 Các chỉ tiêu phản ánh nghèo đói

Thước đo phổ biến hiện nay để đánh giá sự nghèo khổ về thu nhập là đếm số người sống dưới chuẩn nghèo Gọi là “chỉ số đếm đầu người” (HC - Headcount index) Từ đây người ta xác định tỷ lệ ngèo (tỷ lệ đếm đầu – HCR)

- Số người (hộ) nghèo đói: là những người có mức thu nhập bình quân nhân khẩu nằm dưới chuẩn nghèo

- Tỷ lệ nghèo đói (Chỉ số HCR - Headcount Rate):

Số người (hộ) nghèo đói

Chỉ số này cho ta biết tính chất và mức độ nghèo khổ khác nhau giữa các nhóm

∑ số người nghèo đói Khoảng cách đến chuẩn nghèo

PGR = *

∑ dân số Chuẩn nghèo

Ví dụ: Giả sử dân số, thu nhập của các nhóm dân cư tại một cuộc điều tra thu được

như sau:

Trang 40

Dân số từng nhóm (người) 5 6 7 2 5 8 Thu nhập bình quân/người (USD) 10 6 5 8 9 12 Biết rằng đường nghèo đói quy định chung là 7 USD/người

Hãy tính các chỉ tiêu phản ánh quy mô nghèo đói

4.3 CÁC MÔ HÌNH VỀ SỰ BẤT BÌNH ĐẲNG TRONG QUÁ TRÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

4.3.1 Mô hình chữ U ngược của Simon Kuznets

Simon Kuznets, nhà kinh tế học người Mỹ năm 1955 đã đưa ra mô hình tính thực nghiệm nhằm xem xét mối quan hệ giữa thu nhập và thực trạng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập Ông đã dùng 20% nhóm người giàu nhất trong tổng số so với tỷ trọng thu nhập của nhóm 60% nghèo nhất làm thước đo sự bất bình đẳng (gọi là tỷ số Kuznets)

Nghiên cứu so sánh được tiến hành với một nhóm nhỏ các nước đang phát triển như: Ấn Độ, Srilanka và nhóm các nước Mỹ Kết quả này cho tỷ số là 1,95 (Ấn Độ); 1,67 (Srilanka); 1,29 (Mỹ) và 1,25 (Anh) Những tỷ số này cho thấy dấu hiệu bất bình đẳng ở các nước đang phát triển cao hơn các nước phát triển

Ông cho rằng bất bình đẳng sẽ diễn ra ở giai đoạn đầu và giảm dần ở giai đoạn sau khi lợi ích của sự phát triển được lan toả rộng rãi hơn Nếu biểu diễn mối quan hệ này trên

đồ thị thì có dạng chữ U ngược

GINI

1 0,8 0,6 0,4 0,2

0 GDP/người

Để kiểm định giả thiết này, đã có nhiều nghiên cứu theo các số liệu chéo về sự biến thiên trong tình trạng bất bình đẳng giữa các nước ở các giai đoạn khác nhau của quá trình phát triển Chẳng hạn, công trình Paukert (1973) khảo sát 56 nước có thu nhập bình quân đầu người khác nhau Kết quả nghiên cứu được phản ánh ở bảng sau:

Ngày đăng: 24/08/2017, 09:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Sơ đồ vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói - Bài giảng kinh tế phát triển
Sơ đồ 1 Sơ đồ vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói (Trang 7)
Sơ đồ về tăng trưởng của Ricardo: đất đai là giới hạn của sự tăng trưởng - Bài giảng kinh tế phát triển
Sơ đồ v ề tăng trưởng của Ricardo: đất đai là giới hạn của sự tăng trưởng (Trang 19)
Sơ đồ đường đồng sản lượng là các đường cong - Bài giảng kinh tế phát triển
ng đồng sản lượng là các đường cong (Trang 21)
Bảng 1 : Giá trị tối đa - tối thiểu của các chỉ tiêu - Bài giảng kinh tế phát triển
Bảng 1 Giá trị tối đa - tối thiểu của các chỉ tiêu (Trang 35)
Bảng 2 : So sánh HDI giữa Trung Quốc và Goatêmala - Bài giảng kinh tế phát triển
Bảng 2 So sánh HDI giữa Trung Quốc và Goatêmala (Trang 36)
Đồ thị thì có dạng chữ U ngƣợc. - Bài giảng kinh tế phát triển
th ị thì có dạng chữ U ngƣợc (Trang 40)
Hình 1: Đầu tư, khấu hao và trạng thái ổn định - Bài giảng kinh tế phát triển
Hình 1 Đầu tư, khấu hao và trạng thái ổn định (Trang 68)
Hình 2: Tỷ lệ tiết kiệm gia tăng - Bài giảng kinh tế phát triển
Hình 2 Tỷ lệ tiết kiệm gia tăng (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN