Vi mô Vĩ mô Chủ thể Doanh nghiệp, người tiêu dùng Chính phủ hay chính quyền các địa phương Đối tượng Thị trường hàng hóa cá biệt Lượng cung, cầu của một sản phẩm Thị trường của quốc gia,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH KHOA KINH TẾ - DU LỊCH
GIÁO TRÌNH (Lưu hành nội bộ)
KINH TẾ VĨ MÔ
(Danh cho Sinh viên Đại học - Hệ Chính quy)
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Phụng
Năm: 2017
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ KINH TẾ HỌC VĨ MÔ 4
1.1 Khái niệm và đặc trưng của kinh tế học 4
1.2 Một số khái niệm cơ bản của kinh tế học 7
1.3 Mục tiêu và các công cụ trong kinh tế vĩ mô 11
CHƯƠNG 2: TỔNG SẢN PHẨM VÀ THU NHẬP QUỐC DÂN 13
2.1 Tổng sản phẩm trong nước GDP 13
2.2 Phương pháp xác định GDP 21
2.3 Mối quan hệ các chỉ tiêu kinh tế 25
2.4 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI), tỷ lệ lạm phát (Inflation) 27
CHƯƠNG 3: TỔNG CUNG VÀ TỔNG CẦU 30
3.1 Hệ thống kinh tế học vĩ mô 30
3.2 Tổng cung và tổng cầu 30
3.3 Quá trình tự điều chỉnh của nền kinh tế 3
3.4 Mối quan hệ giữa các biến số kinh tế vĩ mô cơ bản 4
CHƯƠNG 4: TỔNG CẦU VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA 6
4.1 Tổng cầu và sản lượng cân bằng trong mô hình kinh tế giản đơn 6
4.2 Tổng cầu và sản lượng cân bằng của nền kinh tế đóng (khép kín) 13
4.3 Tổng cầu và sản lượng cân bằng của nền kinh tế mở 16
4.4 Chính sách tài khóa 18
CHƯƠNG 5: TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 23
5.1 Tiền tệ 23
5.2 Cung về tiền (MS – Money Supply) 25
CHƯƠNG 6: SỰ CÂN BẰNG CỦA THỊ TRƯỜNG SẢN PHẨM VÀ THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ 31
6.1 Đường IS 31
6.2 Đường LM 34
6.3 Tác động chính sách kinh tế vĩ mô trong điều kiện cân bằng chung 35
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Kinh tế vĩ mô là một môn kinh tế cơ sở, đề cập đến các lý thuyết và các phương pháp phân tích sự vận động của các mối quan hệ kinh tế trên bình diện tổng thể nền kinh tế Là môn khoa học nền tảng, cơ sở cho các khoa học kinh tế chuyên ngành khác
Nền kinh tế quốc dân bao gồm nhiều thị trường, nhiều thành phần kinh tế, nhiều
bộ phận cấu thành có liên quan mật thiết với nhau Mỗi biến động của một thị trường, một thành phần, một bộ phận đều tác động đến các cân bằng tổng thể của mô nền kinh
tế Kinh tế vĩ mô quan tâm đến những mối quan hệ tổng thể này nhằm phát hiện, phân tích và mô tả bản chất của các biến đổi kinh tế, tìm ra các nguyên nhân gây nên sự mất
ổn định ảnh hưởng tới hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế Cũng từ đó kinh tế vĩ mô nghiên cứu, đưa ra các chính sách và công cụ tác động vào nền kinh tế nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế của nền kinh tế như: tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế và phân phối công bằng
Để đáp ứng nhu cầu của các bạn sinh viên, tập bài giảng này được trình bày với phương pháp tiếp cận theo hướng từ đơn giản đến phức tạp nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản của kinh tế học vĩ mô Hi vọng rằng tập bài giảng này sẽ hỗ trợ tích cực cho việc học tập và nghiên cứu của các bạn Chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp của quý độc giả để tập bài giảng này được hoàn thiện hơn
Trang 4CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ KINH TẾ HỌC VĨ MÔ
Chương này giúp sinh viên:
- Hiểu được khái niệm và đặc trưng của kinh tế học
- Hiểu được một cách khái quát hoạt động của hệ thống kinh tế vĩ mô
- Nắm được các công cụ chính sách để tác động đến hoạt động của hệ thống một cách có chủ đích, nhằm đạt đến những mục tiêu đã xác định
1.1 Khái niệm và đặc trưng của kinh tế học
1.1.1 Khái niệm về kinh tế học
Kinh tế học là môn học nghiên cứu xem xã hội sử dụng như thế nào nguồn tài nguyên khan hiếm để sản xuất ra những hàng hóa cần thiết và phân phối cho các thành viên của xã hội Kinh tế học nghiên cứu hoạt động của con người trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa Kinh tế học được chia thành hai ngành lớn là kinh tế học vĩ mô và kinh tế học vi mô
- Kinh tế học vĩ mô: Nghiên cứu hoạt động của toàn bộ tổng thể rộng lớn của nền kinh
tế như tăng trưởng kinh tế, sự biến động giá cả và việc làm của cả nước, cán cân thanh toán và tỷ giá hối đoái
Ví dụ: Nền kinh tế Việt Nam năm 2004 tăng trưởng 7,2%, lạm phát 8%, cán cân thương
mại thăng bằng Đây là tín hiệu phản ánh nền kinh tế của Việt Nam đang trên đà phát triển
- Kinh tế vi mô: Nghiên cứu sự hoạt đông của các tế bào trong nên kinh tế là các doanh
nghiệp hoặc gia đình, nghiên cứu những yếu tố quyết định giá cả trong các thị trường riêng lẻ
Ví dụ: Trên thị trường Quảng Bình vào dịp tết nguyên đán năm 2015, hàng tiêu dùng
bánh kẹo được tiêu thụ mạnh do đó giá có thể tăng nhẹ
Nếu kinh tế học vi mô quan tâm đến lượng cung, lượng cầu thì kinh tế học vĩ mô quan tâm đến tổng cung, tổng cầu Cả kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô đều quan tâm đến:
- Sản lượng: Vi mô: Ký hiệu sản lượng là Q: đo lường bằng hiện vật hay giá trị Vĩ mô:
Ký hiệu sản lượng là Y: chỉ định bằng giá trị → Vì sao?? Do sản lượng trong nền kinh
tế vô cùng phong phú và đa dạng, khác nhau quá xa về hình thức nên chỉ tính bằng giá trị ( Không thể cộng xe máy với trâu, bò,…)
- Giá: Cả vi mô và vĩ mô đều ký hiệu giá là P Nhưng trong vi mô: đơn giá (bao nhiêu đồng/1 sản phẩm) còn trong vĩ mô được hiểu là mức giá chung Tên giống, ký hiệu giống nhưng bản chất khác nhau
Dưới đây là bảng so sánh cơ bản kinh tế vi mô và vĩ mô:
Trang 5Vi mô Vĩ mô
Chủ thể Doanh nghiệp, người tiêu dùng Chính phủ hay chính quyền
các địa phương Đối tượng Thị trường hàng hóa cá biệt
(Lượng cung, cầu của một sản phẩm)
Thị trường của quốc gia, địa phương (Tổng cung, tổng cầu)
Chỉ tiêu đánh
giá kết quả
Lợi nhuận Lợi ích tiêu dùng
Tỷ lệ lạm phát
Tỷ lệ thất nghiệp
Cách tiếp cận cơ bản trong kinh tế học vĩ mô là xem xét những xu hướng chung của nền kinh tế chứ không phải là các vấn đề liên quan đến từng đơn vị kinh tế đơn lẽ hay từng đơn vị hành chính Các câu hỏi lớn của đời sống kinh tế được kinh tế vĩ mô tìm cách giải đáp như: Điều gì làm cho một nước giàu hơn hay nghèo đi theo thời gian? Các công dân của một nước sẽ tiết kiệm bao nhiêu cho tương lai? Tại sao mức giá ở một số nước có xu hướng tăng nhanh trong khi ở các nước khác giá cả lại ổn định hoặc tăng chậm?,… Một nội dung lớn trong kinh tế học vĩ mô là nghiên cứu các chính sách của Chính phủ có ảnh hưởng như thế nào tới hoạt động chung của nền kinh tế Đa số các nhà kinh tế vĩ mô cho rằng những thay đổi trong các chính sách kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng rộng khắp và có thể dự tính được chiều hướng chung trong mức sản xuất, việc làm, mức giá chung và thương mại quốc tế Nhiều nhà kinh tế cho rằng chính phủ cần chủ động sử dụng các chính sách kinh tế vĩ mô để cải thiện thành tựu kinh tế vĩ mô Tuy nhiên, một số nhà kinh tế khác lại cho rằng mối liên kết giữa các chính sách này với nền kinh tế là không ổn định và không dự tính được nên không thể sử dụng để quản
lý nền kinh tế Kinh tế học vĩ mô và kinh tế học vi mô có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau Vì những thay đổi trong toàn bộ nền kinh tế phát sinh từ các quyết định của hàng triệu cá nhân, nên chúng ta không thể hiểu được các hiện tượng kinh tế vĩ mô nếu không tính đến các quyết định kinh tế vi mô Chẳng hạn, một nhà kinh tế vĩ mô có thể nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp cắt giảm thuế thu nhập đối với mức sản xuất hàng hoá và dịch vụ của nền kinh tế Để phân tích vấn đề này, nhà kinh tế vĩ mô phải xem xét ảnh hưởng của biện pháp cắt giảm thuế đối với quyết định chi mua hàng hoá và dịch
vụ của các hộ gia đình Mặc dù có mối liên kết chặt chẽ giữa kinh tế học vĩ mô và kinh
tế học vi mô, hai lĩnh vực nghiên cứu này vẫn có sự khác biệt Kinh tế học vi mô và kinh tế vĩ mô xử lý các vấn đề khác nhau, đôi khi họ sử dụng những phương pháp tiếp cận hoàn toàn khác nhau
Tùy theo cách thức sử dụng, kinh tế học được chia thành hai dạng:
- Kinh tế học thực chứng: Mô tả và phân tích các sự kiện, những mối quan hệ trong nền
kinh tế Trả lời câu hỏi: “là bao nhiêu?”, “là gì?”, “Như thế nào?”
Trang 6- Kinh tế học chuẩn tắc: Đề cập đến mặt đạo lý được giải quyết bằng sự lựa chọn Trả
lời câu hỏi: “Nên làm cái gì?” Nghiên cứu kinh tế thường được tiến hành từ kinh tế học thực chứng rồi chuyển sang kinh tế học chuẩn tắc Trong thực tế, thực chứng và chuẩn tắc luôn đi kèm với nhau
Ví dụ: Người già phải chi nhiều cho bệnh tật → thực chứng (thực tế như vậy) Chính
phủ nên trợ cấp đơn thuốc cho người già → chuẩn tắc (có thể trợ cấp hoặc không: nên)
Tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam vào những năm 1985 - 1988 là rất nghiêm trọng → chuẩn tắc (có thể có đối tượng cho là nghiêm trọng, có đối tượng cho là không nghiêm trọng)
1.1.2 Đặc trưng của kinh tế học
(1) Kinh tế học nghiên cứu sự khan hiếm các nguồn lực một cách tương đối với nhu cầu xã hội: Đây là đặc trưng cơ bản gắn liền với tiền đề nghiên cứu và phát triển
của kinh tế học Nếu có thể sản xuất với một số lượng vô hạn về mọi loại hàng hoá và thoả mãn đầy đủ được mọi nhu cầu của con người thì sẽ không có hàng hoá kinh tế và cũng không cần thiết phải tiết kiệm hay nghiên cứu kinh tế học Kinh tế học ra đời bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa một bên là nguồn tài nguyên có hạn với một bên là nhu cầu có
khuynh hướng tăng vô hạn và tăng nhanh hơn sản xuất của con người
(2) Tính hợp lý của kinh tế học: Đặc trưng này thể hiện ở chỗ khi phân tích hoặc
lý giải một sự kiện kinh tế nào đó, cần phải dựa trên những giả thiết nhất định (hợp lý) phù hợp với các mối quan hệ kinh tế mà ta đang quan tâm
Ví dụ: Khi muốn phân tích xem người tiêu dùng muốn mua thứ gì, với số lượng bao
nhiêu, kinh tế học đưa ra giả định là họ tìm cách mua được nhiều hàng hoá và dịch vụ nhất, với số thu nhập có hạn của mình Hay để giải thích xem doanh nghiệp sản xuất cái
gì, bao nhiêu và bằng cách nào, kinh tế học giả định là họ tìm cách tối đa hoá thu nhập của mình với những ràng buộc nhất định về các yếu tố sản xuất Tuy nhiên, cần lưu ý rằng tính chất hợp lý của những giả thiết này chỉ có ý nghĩa tương đối
(3) Kinh tế học là bộ môn nghiên cứu mặt lượng: Với đặc trưng này kinh tế học
thể hiện các kết quả nghiên cứu kinh tế bằng những con số có tầm quan trọng đặc biệt Khi phân tích kết quả của các hoạt động kinh tế, nếu chỉ nhận định nó tăng lên hay giảm xuống là chưa đủ, mà còn phải xác định xem sự thay đổi đó là bao nhiêu
Ví dụ: Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp A năm 2015 là khả quan, chưa đủ, chưa
thấy được điều gì Mà khả quan như thế nào? Lượng hóa được thông qua các chỉ tiêu kinh tế như: Doanh thu tăng 20% so với năm 2014 ; Lợi nhuận tăng 44 tỷ so với năm
2014 tương ứng mức tăng là 15%
(4) Tính toàn diện và tính tổng hợp của kinh tế học: Khi xem xét các hoạt động
và sự kiện kinh tế phải đặt nó trong mối liên hệ với các hoạt động và sự kiện kinh tế khác trên phương diện một nước, thậm chí trên phương diện nền kinh tế thế giới
Ví dụ: Để chống lạm phát, Ngân hàng Trung ương của một nước nào đó quyết định
Trang 7giảm mức cung về tiền Kết quả là tổng cầu giảm và cả giá cả, sản lượng và việc làm đều giảm Mặt khác, đồng tiền nước này lại tăng giá, hàng xuất khẩu của họ trở nên đắt tương đối và hàng nhập khẩu của họ lại giảm tương đối Do đó, xuất khẩu ròng giảm, dẫn đến sản lượng và việc làm của nước này tiếp tục giảm, còn các nước có quan hệ buôn bán với nước này lại tăng được xuất khẩu, nên khuyến khích sản lượng và việc làm của nước họ,…
(5) Các kết quả nghiên cứu kinh tế chỉ xác định được ở mức độ trung bình: Vì
những kết quả này phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố khác nhau và không thể xác định được chính xác tất cả các yếu tố này
1.2 Một số khái niệm cơ bản của kinh tế học
1.2.1 Các yếu tố sản xuất (Đầu vào - Inuts)
Yếu tố sản xuất là đầu vào của quá trình sản xuất và được chia thành ba nhóm:
(1) Đất đai và tài nguyên thiên nhiên: bao gồm toàn bộ đất dùng cho canh tác, xây dựng nhà ở, đường sá các loại nhiên liệu, khoáng sản, cây cối
(2) Lao động: Là năng lực của con người được sử dụng theo một mức độ nhất định trong quá trình sản xuất Người ta đo lường lao động bằng thời gian của người lao động sử dụng trong quá trình sản xuất
(3) Tư bản: Là máy móc, đường sa, nhà xưởng được sản xuất ra rồi được sử dụng để sản xuất ra các hàng hóa khác Việc tích lũy các hàng hóa tư bản trong nền kinh tế có một vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất
Ngoài ra, hiện nay có quan điểm cho rằng quản lý và công nghệ cũng là đầu vào, một yếu tố sản xuất
1.2.2 Giới hạn khả năng sản xuất (PPF: Production Possibility Frontier)
Đường giới hạn khả năng sản xuất PPF là tập hợp các mức phối hợp tối đa khối lượng các loại sản phẩm mà nền kinh tế có thể đạt được khi sử dụng toàn bộ các nguồn lực của nền kinh tế (Còn gọi là đường cong năng lực sản xuất) - Điều kiện: + 100% các yếu tố đầu vào được sử dụng + Phạm vi áp dụng: cho một doanh nghiệp hay cho một quốc gia
Ví dụ: Giả sử trong nền kinh tế có hai loại hàng hóa được sản xuất là lương thực và
quần áo Những khả năng sản xuất quần áo và lương thực có thể thay thế nhau khi sử dụng hết các yếu tố sản xuất và với công nghệ hiện có
Bảng 1: Những khả năng sản xuất thay thế khác nhau
Khả năng Lương thực (tấn) Quần áo (1.000 bộ)
Trang 81.2.3 Chi phí cơ hội (Opportunity cost)
Do các nguồn tài nguyên là khan hiếm nên xã hội hay từng cá nhân luôn luôn phải lựa chọn xem sẽ tiến hành những hoạt động cụ thể gì trong số những hoạt động có thể được tiến hành Phương án thay thế tốt nhất hay có giá trị nhất mà chúng ta từ bỏ để nhận được một thứ gọi là chi phí cơ hội của thứ được lựa chọn Một trong những bài học cơ bản của kinh tế học là tất cả các lựa chọn của chúng ta đều chứa đựng chi phí
Đúng như câu ngạn ngữ Anh: “Chẳng có gì là cho không cả”
M
N
Trang 9Chi phí cơ hội của một quyết định là giá trị hàng hóa hoặc dịch vụ bị bỏ qua khi chúng ta lựa chọn quyết định đó và bỏ qua quyết định khác trong điều kiện khan hiếm các yếu tố thực hiện quyết định Khái niệm chi phí cơ hội cho thấy rằng các chi phí tính bằng tiền thực tế bỏ ra không phải luôn là một số phản ảnh chính xác các chi phí thực
tế
Chẳng hạn, hiện tại bạn đang là sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Quảng Bình, bạn quyết định liệu có nên tiếp tục học hay dừng học Lợi ích của việc học tiếp là làm giàu thêm kiến thức và có được những cơ hội tốt hơn trong tương lai Nhưng chi phí của học tiếp là gì? Nếu dừng học và đi bán hàng tại một công ty kinh doanh nào đó, bạn có thể nhận đủ thu nhập để ổn định cuộc sống, đi du lịch và có nhiều thời gian giao lưu với bạn bè Nếu học tiếp thì bạn không thể có những thứ đó Bạn có thể có những thứ đó sau này, và đó chính là một trong những sự hy sinh từ việc học tiếp Tuy nhiên, hiện tại mọi chi phí sinh hoạt, đóng học phí và mua tài liệu đều do gia đình bạn chu cấp, và bạn không có tiền để đi du lịch Ôn bài, đọc tài liệu tham khảo, làm bài tập về nhà cũng đồng nghĩa với việc bạn còn ít thời gian hơn để giao lưu với bạn bè Chi phí
cơ hội của việc học tiếp là phương án thay thế có giá trị nhất mà bạn có thể làm nếu bạn dừng học Khái niệm chi phí cơ hội có thể được minh hoạ thông qua đường PPF (Hình 1), giả sử quyết định sản xuất thêm lương thực từ 1 tấn ở điểm B lên 2 tấn ở điểm C, chi phí cơ hội cho quyết định này chính là số quần áo bị mất đi để sản xuất thêm lương thực Trong trường hợp này, chi phí cơ hội của 1 tấn lương thực là 1 nghìn bộ quần áo Hoàn toàn tương tự, tại một điểm cho trước trên đường PPF, muốn tăng thêm lương thực đòi hỏi phải giảm bớt quần áo, lượng quần áo bị mất đi là chi phí cơ hội của lượng vải tăng thêm
Ví dụ: Một người có lượng tiền là 150 triệu đồng, người này có các cơ hội sử
dụng số tiền này là: (1) Tiết kiệm để ở gia đình và thu nhập tăng thêm bằng 0; (2) Gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng và thu nhập tăng thêm cuối năm là 7 triệu đồng; (3) Sử dụng tiền để mua trái phiếu, thu nhập trái phiếu cuối năm là 8 triệu đồng ; (4) Mở quán
cà phê dự kiến cuối năm thu 10 triệu đồng Nếu người này chọn phương án 2 là gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng , vậy các phương án bị bỏ qua là 1,3,4 Chi phí cơ hội của việc lựa chọn phương án 2 là phương án 4 với chi phí là 10 triệu đồng Nếu người này chọn phương án 4 là mở quán cà phê, vậy các phương án bị bỏ qua là 1,2,3 Chi phí cơ hội của việc lựa chọn phương án 4 là phương án 3 với chi phí là 8 triệu đồng
1.2.4 Quy luật thu nhập giảm dần (Quy luật năng suất cận biên giảm dần)
Quy luật này cho biết số lượng đầu ra có thêm sẽ ngày càng giảm khi liên tiếp đầu tư thêm những đơn vị bằng nhau của một đầu vào biến đổi trong điều kiện các yếu
tố đầu vào khác cố định Quy luật thu nhập giảm dần nói lên mối liên hệ không phải
Trang 10giữa hai loại hàng hoá mà là giữa một đầu vào của quá trình sản xuất với đầu ra do đầu vào đó tạo ra
Ví dụ: Bảng 2 cung cấp các số liệu về số lao động, sản lượng thóc sản xuất ra trong
vòng 1 vụ với điều kiện diện tích gieo trồng cố định là 100 ha
Bảng 2: Quy luật năng suất cận biên giảm dần
Số lượng lao động L (người) Sản lượng thóc M(tạ) Sản lượng biên lao động
Hệ quả: Lựa chọn và quyết định đầu tư đầu vào để có hiệu quả cao nhất MPL =
∆M/∆L Gọi PL, PM là đơn giá đầu vào lao động và đầu ra của lúa ∆L, ∆M: Gia tăng lao động và sản lượng lúa PL*∆L: Chi phí đầu tư thêm PM*∆M: Giá trị đầu ra có thêm
Nếu PL*∆L > PM*∆M: nên giảm đầu tư;
PL*∆L < PM*∆M: nên tăng đầu tư;
PL*∆L = PM*∆M: điểm đầu tư tối ưu
∆M/∆L = PL/PM hay MPL = PL/PM
Như vậy, khi diện tích và các yếu tố khác cố định, mỗi đầu vào lao động tăng thêm sẽ có ngày càng ít đầu vào cố định để cùng làm việc Do đó, những đầu vào được
bổ sung sẽ tạo ra ngày càng ít đầu ra tăng thêm
Quy luật thu nhập giảm dần không phải lúc nào cũng đúng Trong nhiều trường hợp, nó chỉ có hiệu lực khi đã bổ sung một số lượng rất lớn các lượng bằng nhau của đầu vào biến thiên Nói cách khác, lúc đầu đầu vào biến thiên có thể đem lại thu nhập
bổ sung ngày càng tăng nhưng cuối cùng quy luật thu nhập giảm dần sẽ xảy ra
1.2.5 Quy luật chi phí cơ hội ngày càng tăng
Quy luật này cho biết để có thêm những số lượng bằng nhau về một mặt hàng,
xã hội phải hy sinh ngày càng nhiều hơn số lượng mặt hàng khác Trở lại hình 1, nếu nền kinh tế nằm trên đường PPF, muốn tăng thêm 1 tấn lương thực ta phải hy sinh một lượng quần áo nhất định, nhưng muốn tăng thêm 1 tấn lương thực nữa đòi hỏi phải hy sinh một lượng quần áo lớn hơn trước Ngược lại, khi muốn tăng thêm một lượng quần
áo nhất định đòi hỏi phải hy sinh lương thực ngày càng nhiều Đó cũng chính là lý do giải thích tại sao đường PPF có dạng cong lồi ra ngoài Các đường PPF có dạng thẳng hay lõm vào gốc toạ độ không thể mô tả được xu hướng trên Vấn đề đặt ra là tại sao lại như vậy và có phải quy luật này lúc nào cũng đúng không? Giả sử việc sản xuất quần
Trang 11áo chủ yếu dùng đến lao động và hầu như không dùng đến đất đai, còn việc sản xuất lương thực cần đến cả lao động và đất đai Nếu đất đai được coi là cố định Tại điểm A
ta thấy việc giảm đi từng đơn vị quần áo sẽ cho phép chuyển số lao động ra khỏi ngành sản xuất quần áo để chuyển sang ngành sản xuất lương thực Tuy nhiên, do đất đai cố định nên theo quy luật thu nhập giảm dần, số lao động như nhau được bổ sung cho ngành sản xuất lương thực sẽ tạo ra ngày càng ít lương thực Như vậy, việc hy sinh lần lượt từng đơn vị quần áo sẽ cho ta ngày càng ít lương thực và quy luật chi phí cơ hội ngày càng tăng đã được chứng minh Từ lập luận trên có thể thấy, điều kiện để tồn tại quy luật này là tỷ lệ sử dụng đầu vào của hai loại hàng hoá phải khác nhau Nếu tỷ lệ này như nhau thì đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ trở thành đường thẳng và quy luật này không đúng nữa
1.2.6 Sản lượng tiềm năng và tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên
Sản lượng tiềm năng (Yp - Potentional output) là mức sản lượng mà nền kinh tế đạt được tương ứng với mức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên (Un - natural rate of unemployment) và tỷ lệ lạm phát vừa phải mà nền kinh tế có thể chấp nhận được
Lưu ý: Sản lượng tiềm năng (Yp) chưa phải là mức sản lượng tối đa, đồng thời nó có
khuynh hướng tăng lên theo thời gian (do khả năng sản xuất của nền kinh tế luôn có khuynh hướng tăng lên) Trong thực tế, sản lượng thực tế (Ya) luôn biến động xoay quanh sản lượng tiềm năng Yp nên tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ lạm phát cũng biến động, tạo ra chu kỳ kinh doanh
Khi Ya = Yp: Nền kinh tế đạt trạng thái toàn dụng Khi Ya < Yp: Nền kinh tế đang trong trạng thái khiếm dụng Nghĩa là lúc này Ua> Un
1.3 Mục tiêu và các công cụ trong kinh tế vĩ mô
1.3.1 Các mục tiêu kinh tế vĩ mô
Thành tựu kinh tế vĩ mô của một đất nước thường được đánh dấu theo 3 dấu hiệu chủ yếu:
- Sự ổn định kinh tế: kết quả của việc giải quyết tốt những vấn đề cấp bách như lạm phát, suy thoái, thất nghiệp trong thời kỳ ngắn hạn
- Tăng trưởng kinh tế đòi hỏi giải quyết những vấn đề dài hạn hơn như chính sách tiết kiệm, chính sách đầu tư, chính sách công nghệ, chính sách đào tạo…
- Công bằng trong phân phối vừa là vấn đề xã hội vừa là vấn đề kinh tế
Để có thể đạt được sự ổn định, tăng trưởng và công bằng, các chính sách kinh tế
vĩ mô phải hướng tới các mục tiêu cụ thể sau:
a Sản lượng: tốc độ tăng trưởng cao, vững chắc và sản lượng thực tế cao tương ứng với mức sản lượng tiềm năng
b Việc làm: tạo được nhiều việc làm tốt và hạ thấp tỷ lệ thất nghiệp
c Ổn định giá cả: hạ thấp và kiểm soát được lạm phát trong điều kiện thị trường tự do
Trang 12d Kinh tế đối ngoại: ổn định tỷ giá hối đối và cân bằng cán cân thanh toán
e Phân phối: công bằng
1.3.2 Các chính sách kinh tế vĩ mô chủ yếu
a Chính sách tài khóa (Fiscal Policy): nhằm điều chỉnh thu nhập và chi tiêu của chính
phủ để hướng nền kinh tế vào một mức sản lượng và việc làm mong muốn Chính sách này có công cụ chủ yếu là chi tiêu chính phủ và thuế ảnh hưởng trực tiếp đến tổng cầu
và sản lượng
+ Chi tiêu của Chính phủ (G - Government): Chi tiêu của Chính phủ có ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô của chi tiêu công cộng, do đó có thể trực tiếp tác động đến tổng cầu và sản lượng
+ Thuế (T - Tax): Thuế làm giảm các khoản thu nhập, do đó làm giảm chi tiêu của khu vực tư nhân, từ đó tác động tới tổng cầu và sản lượng
Trong ngắn hạn, chính sách tài khoá có tác động đến sản lượng thực tế và lạm phát, phù hợp với các mục tiêu ổn định kinh tế Trong dài hạn, chính sách tài khoá có thể có tác dụng điều chỉnh cơ cấu kinh tế, giúp cho sự tăng trưởng và phát triển lâu dài
b Chính sách tiền tệ (Monetary Policy): chủ yếu nhằm tác động đến đầu tư tư nhân,
hướng nền kinh tế vào mức sản lượng và việc làm mong muốn Chính sách này có 2 công cụ chủ yếu là lượng cung về tiền và 1ãi suất ảnh hưởng đến tổng cầu và sản lượng + Cung về tiền (MS - Money Supply)
+ Lãi suất (r - interest rate)
Khi Ngân hàng trung ương thay đổi lượng cung về tiền, lãi suất sẽ tăng hoặc giảm, tác động đến đầu tư tư nhân, do đó ảnh hưởng đến tổng cầu và sản lượng Chính sách tiền
tệ có tác động quan trọng đến GDP thực tế trong ngắn hạn, song do tác động đến đầu tư nên nó cũng có ảnh hưởng lớn đến GDP tiềm năng trong dài hạn
c Chính sách thu nhập (Incomes Policy): chính sách này sử dụng nhiều loại công cụ, từ
các công cụ có tính chất cứng rắn như giá, lương, những chỉ dẫn chung để ấn định tiền công và giá cả, những quy tắc pháp lý ràng buộc sự thay đổi giá cả và tiền lương… đến những công cụ mềm dẻo hơn như việc hướng dẫn, khuyến khích bằng thuế thu nhập
d Chính sách kinh tế đối ngoại (Foreign Policy): nhằm ổn định tỷ giá hối đối và giữ
cho thâm hụt cán cân thanh toán ở mức có thể chấp nhận được
Trang 13
CHƯƠNG 2: TỔNG SẢN PHẨM VÀ THU NHẬP QUỐC DÂN
Chương này giúp sinh viên:
- Các khái niệm liên quan đến chỉ tiêu tổng sản phẩm và ý nghĩa trong phân tích kinh
tế
- Các phương pháp tính toán, đo lường tổng sản phẩm và thu nhập quốc dân
- Mối liên hệ giữa các chỉ tiêu tổng sản phẩm, thu nhập quốc dân và các đồng nhất thức kinh tế vĩ mô cơ bản
2.1 Tổng sản phẩm trong nước GDP
2.1.1 Khái niệm
Tổng sản phẩm trong nước (GDP - Gross Domestic Product) là giá trị thị trường của tất cả hàng hoá và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia hay một địa phương trong một thời kỳ nhất định Để hiểu thấu đáo định nghĩa này, chúng ta cần lưu ý đến nội dung chuyển tải của từng cụm từ một
- “Giá trị thị trường” là giá trị tính bằng tiền hay tính theo giá cả của hàng hoá
được người mua và người bán chấp nhận trên thị trường hàng hoá và dịch vụ Nói một cách nôm na là thuận mua, vừa bán
- Cụm từ “của tất cả” ý nói GDP tìm cách tính toán hết tất cả các hàng hoá và
dịch vụ được sản xuất và bán hợp pháp trên thị trường Nó bao gồm giá trị thị trường không chỉ của các sản phẩm nông nghiệp như gạo, ngô, khoai, sắn, thịt bò, thịt lợn,… các sản phẩm công nghiệp như quần áo, giày dép,… mà còn của các loại dịch vụ như
du lịch, giáo dục, y tế,… Tuy nhiên, một số sản phẩm không được tính trong GDP do việc đo lường chúng quá khó khăn như: các sản phẩm tự sản tự tiêu (tự cấp tự túc) trong các hộ gia đình (ví dụ: rau quả trong vườn nhà, các dịch vụ sữa chữa nhỏ,…) GDP cũng không tính tới giá trị giao dịch của một số sản phẩm lưu thông bất hợp pháp hay thuộc kinh tế ngầm như ma tuý,…
- Cụm từ “hàng hoá và dịch vụ cuối cùng” nhằm nhấn mạnh GDP chỉ tính giá
trị của các loại hàng hoá, dịch vụ cuối cùng, không tính giá trị của các loại hàng hoá, dịch vụ trung gian Như vậy, ở đây chúng ta cần phân biệt hai khái niệm: hàng hoá, dịch vụ cuối cùng và hàng hoá, dịch vụ trung gian
Hàng hoá, dịch vụ cuối cùng là những sản phẩm cuối cùng của quá trình sản xuất và được người mua sử dụng dưới dạng sản phẩm hoàn chỉnh Nói cách khác, một sản phẩm được xem là hàng hoá, dịch vụ cuối cùng khi thoả mãn 2 điều kiện: (1) Kết thúc quá trình sản xuất, phải là thành phẩm; (2) Đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cuối cùng của nền kinh tế như: ăn, mặc, đầu tư, xuất khẩu,…Ngược lại, những hàng hoá, dịch vụ nào không thoả mãn 2 điều kiện nói trên là hàng hoá, dịch vụ trung gian (Đó là những sản phẩm đóng vai trò là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất và được sử dụng hết
Trang 14trong quá trình đó) Cần phân biệt hàng hoá, dịch vụ cuối cùng và hàng hoá, dịch vụ trung gian vì đôi khi cùng một hàng hoá có thể là hàng hoá cuối cùng của ngành này nhưng lại là hàng hoá trung gian của ngành khác
Ví dụ: Vải là sản phẩm cuối cùng của ngành dệt nhưng lại là sản phẩm trung gian của
ngành may Hay các loại sản phẩm như thịt lợn: Nếu phục vụ cho mục đích ăn, xuất khẩu: hàng hoá cuối cùng → được tính vào GDP
Nhưng nếu cũng thịt lợn thành phẩm đó được sử dụng làm nguyên liệu chế biến cho một dây chuyền thịt hộp chẳng hạn → hàng hoá trung gian: không được tính vào GDP Phân biệt hàng hoá, dịch vụ cuối cùng và hàng hoá, dịch vụ trung gian nhằm khắc phục hiện tượng tính trùng trong đo lường GDP
Ví dụ: Trong ngành sản xuất xe máy Khi tính GDP, nếu chúng ta cộng tất cả giá trị
sản lượng của cao su, lốp xe và xe máy được tạo ra trong một nền kinh tế lại với nhau thì sẽ là vô nghĩa vì giá trị của lốp xe đã tính đến giá trị của cao su dùng để sản xuất ra lốp xe đưa vào xe máy Ở đây, cao su và lốp xe là những hàng hoá trung gian
- “Trong phạm vi một nước” có nghĩa là giá trị của tất các hàng hoá được sản
xuất ra trong phạm vi lãnh thổ nước nào thì tính vào GDP nước đó, bất kể hàng hoá đó được tạo ra bởi công dân nước nào và doanh nghiệp thuộc sở hữu trong nước hay nước ngoài Như vậy, GDP xác định theo phạm vi lãnh thổ của một quốc gia hay một địa phương được xác định theo 2 phần:
+ Phần hàng hoá và dịch vụ cuối cùng mà công dân của một quốc gia hay địa phương đó tạo ra
+ Phần hàng hoá và dịch vụ cuối cùng do người nước ngoài hay người địa phương khác tạo ra ở quốc gia hay địa phương đó
Ví dụ: Các tập đoàn nước ngoài đến Việt Nam đầu tư, chẳng hạn tập đoàn Intel
của Mỹ đến Việt Nam đầu tư: mọi giá trị mà Intel tạo ra trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam được tính vào GDP của Việt Nam Hay một doanh nhân người Huế ra Hà Nội làm ăn: toàn bộ giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ mà doanh nhân đó tạo ra trên phạm vi lãnh thổ Hà nội sẽ được tính vào GDP của Hà nội chứ không phải GDP của Huế (tính vào GNP của Huế) Ở phần sau chúng ta sẽ nghiên cứu thêm khái niệm GNP và phân biệt nó với GDP
- "Trong một thời kỳ nhất định” nghĩa là GDP phản ánh giá trị sản lượng tạo ra
trong một khoảng thời gian cụ thể (năm, quý)
2.1.2 Phân loại GDP ( danh nghĩa, GDP thực tế và chỉ số điều chỉnh GDP)
a GDP danh nghĩa (GDPn - Nominal GDP): GDP danh nghĩa là giá trị sản lượng hàng
hoá và dịch vụ tính theo giá hiện hành, hay là tổng của lượng hàng hoá và dịch vụ được
sản xuất ra trong một năm nhân với giá của hàng hoá và dịch vụ ấy trong năm đó
Công thức:
Trang 15t t t
n i i
GDP q p (i=1,m) Trong đó:
p : giá hiện hành của hàng hóa, dịch vụ cuối cùng i ở năm t
Lưu ý: Ở đây, tính theo giá hiện hành khác với giá thời điểm Có thể nói, trong nền
kinh tế thị trường, một năm có hàng nghìn mức giá biến động lên xuống khác nhau Vậy, chọn mức giá nào để tính? → mức giá chung (phần sau chúng ta sẽ được học cụ thể hơn: DGDP và CPI)
Ví dụ: Có 10 tấn cà phê bán ở 3 thời điểm khác nhau trong năm với 3 mức giá khác
nhau: tấn đầu tiên bán giá 7000.000đ, 4 tấn tiếp theo bán giá 8000.000đ, 5 tấn cuối bán giá 10.000.000đ → Chọn giá nào để tính? Giá cao nhất? Giá thấp nhất hay như thế nào? Ở đây chúng ta phải sử dụng phương pháp bình quân gia quyền như trong lý thuyết thống kê đã học:
P = (7000.000*1 + 8000.0000*4 + 10.000.000*5)/10 = 37.700.000 (đ/tấn)
b GDP thực tế (GDPr - Real GDP)
GDP thực tế là giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ hiện hành của nền kinh tế được đánh giá theo mức giá cố định của năm cơ sở (năm gốc) hay là tổng của lượng hàng hoá và dịch vụ được sản xuất ra trong một năm nhân với giá cố định của các hàng hoá và dịch vụ ấy trong năm gốc
Công thức:
0
i t i t
r q p GDP (i = 1,m) ( 0
i
p giá cố định của hàng hoá, dịch vụ i ở năm cơ sở hay năm gốc)
Trong thực tế, nếu quan sát thấy GDP danh nghĩa tăng từ năm này sang năm khác thì chưa thể kết luận sự tăng đó là do sản lượng hàng hoá và dịch vụ tăng hay do mức giá tăng Nhưng nếu quan sát thấy GDP thực tế tăng thì có thể khẳng định rằng sản lượng hàng hoá và dịch vụ đã tăng vì mức giá được tính cố định theo năm gốc Do đó, chỉ tiêu GDP thực tế là thước đo tốt hơn về kết quả sản xuất của nền kinh tế theo thời gian
Hầu hết mức giá chung đều tăng, ngoại trừ một số mặt hàng cá biệt, giá có thể giảm như: máy tính, ti vi, tủ lạnh,… những sản phẩm do lỗi thời về công nghệ nên giá
rẻ Tuy nhiên, những sản phẩm này quyền số không lớn lắm (nghĩa là phần giá giảm xuống ít hơn phần giá tăng thêm của những mặt hàng khác nên tính chung giá cả sẽ tăng lên) Chúng ta có thể biểu diễn trên trục thời gian:
Pt < P0 Pt = P0 Pt > P0
Trang 16Tại thời điểm gốc: GDPn = GDPr (vì Pt = P0)
Trước thời điểm gốc: GDPn < GDPr (vì Pt < P0)
Sau thời điểm gốc: GDPn > GDPr (vì Pt > P0)
Lưu ý: Khi nào sử dụng GDPn, khi nào sử dụng GDPr?
- Khi so sánh quan hệ tài chính, so sánh kết quả hoạt động của các nền kinh tế với nhau, của các địa phương hoặc các ngành trong nền kinh tế với nhau thì nên dùng GDP danh nghĩa
- Khi so sánh GDP qua các năm, để đánh giá tốc độ tăng trưởng kinh tế thì phải dùng GDP thực tế
Ở đây, chúng ta sử dụng 2 mức độ: nên dùng và phải dùng Nên dùng: có thể dùng cả 2 chỉ tiêu nhưng nên dùng GDPn thì tốt hơn Phải dùng: chỉ dùng GDPr, không dùng GDPn
Ví dụ 1: Nên dùng: Giả sử, khi so sánh Việt Nam với một quốc gia siêu cường về kinh
tế như Nhật Bản:
Năm 2015 GDPn của Nhật Bản là 4882 tỷ USD, GDPn của Việt Nam 78,1 tỷ USD (Sử dụng GDPn tốt hơn vì nếu sử dụng GDPr chúng ta phải lấy giá của một năm nào đó làm gốc để so sánh, chẳng hạn lấy giá năm 2010 làm gốc) Sử dụng cách này vẫn có thể so sánh được nhưng không tốt bằng cách trên vì đòi hỏi chúng ta phải liên tưởng đến chỉ giá đồng $ năm 2000 So sánh GDPn sẽ phản ánh sát tình hình thực tế hơn → Do đó nên dùng GDPn trong những trường hợp này
n GDP 20% Điều này không đúng vì thật sự sự tăng này là do giá đội lên GDP qua 2 năm này thật
sự không tăng thêm tí nào → Do đó phải sử dụng GDPr để có thể so sánh chính xác
c Chỉ số điều chỉnh GDP (GDP Deflator - D GDP )
Chỉ số điều chỉnh GDP đo lường mức giá trung bình của tất cả mọi hàng hoá và dịch vụ được tính vào GDP Chỉ số điều chỉnh GDP được tính bằng tỷ số giữa GDP danh nghĩa và GDP thực tế
Chỉ số điều chỉnh GDP được tính bằng công thức sau:
100
*100
t i t i t
r
t n GDP
p q
p q GDP
GDP D
DGDP đo lường sự biến động của các hàng hoá, dịch vụ nói chung tính vào GDP hay nói cách khác nó phản ánh sự tăng giảm về mặt giá cả nói chung của các hàng hoá,
Trang 17dịch vụ trong nền kinh tế Do đó, một số tài liệu còn gọi là chỉ số giá cả hay chỉ số giảm phát
DGDP> 100: giá cả tăng lên → GDPn > GDPr (sau năm gốc)
DGDP< 100: giá cả giảm xuống → GDPn < GDPr (trước năm gốc)
DGDP= 100: giá cả không thay đổi → GDPn = GDPr (tại thời điểm gốc)
Trong công thức trên do GDP danh nghĩa phải bằng GDP thực tế ở năm cơ sở nên chỉ số điều chỉnh GDP ở năm cơ sở luôn bằng 1 Tuy nhiên, để tiện lợi trong việc đọc, các nhà thống kê kinh tế thường thể hiện giá trị của chỉ số điều chỉnh GDP hay chỉ
số giảm phát ở năm cơ sở là 100 thay vì là 1 Do đó, tỷ số giữa giá trị của GDP danh nghĩa và GDP thực tế được nhân với 100 (Nhân 100 ở công thức này là để dễ đọc chứ không phải để tính %)
Ví dụ: Thay vì đọc 1,15 hay 0,95 người ta đọc 115 hay 95 dễ hơn Ý nghĩa của chỉ số
GDP t
D
D D
(%)
Nhân 100 ở công thức này để tính %, khác với công thức tính DGDP
Ví dụ: Để tính tỷ lệ lạm phát năm 2007 của Việt Nam:
Nếu DGDP < DGDPt-1 → πt < 0 → giảm phát (là tình trạng mức giá chung của nền kinh tế giảm xuống trong một thời gian nhất định - chương VI)
Nếu DGDP = DGDPt-1 → Về mặt toán học: πt = 0 Nhưng trên thực tế không xảy ra trường hợp này
Người ta không sợ lạm phát mà rất sợ giảm phát Lạm phát gây ra nhiều tác hại Nhưng những tác hại mà giảm phát gây ra lớn gấp 10, 20 lần lạm phát Không có giải pháp để chống giảm phát → buộc phải phòng: không để cho giảm phát xảy ra Nếu xảy
ra giảm phát có thể làm mất nền kinh tế, mất chính trị Do đó, không một chính phủ nào
để giảm phát xảy ra: Khi có dấu hiệu giảm phát phải dập ngay
Lưu ý: Trong công thức tính tỷ lệ lạm phát trên chỉ tính cho hai mốc thời gian liền
nhau (năm t và năm (t-1)) Trường hợp hai mốc thời gian so sánh cách nhau thì công
Trang 18thức trên được gọi là tốc độ tăng giá, lấy tốc độ tăng giá này chia cho khoảng cách thời gian chúng ta được tỷ lệ lạm phát trung bình trong khoảng thời gian đó
d Chỉ số giá tiêu dùng (CPI - Consumer Price Index)
(1) Khái niệm: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đo lường mức giá trung bình của giỏ hàng hoá và dịch vụ mà một người tiêu dùng điển hình mua
Chỉ số giá tiêu dùng là một chỉ tiêu tương đối, phản ánh xu thế và mức độ biến động của giá bán lẻ hàng hoá tiêu dùng và dịch vụ dùng trong sinh hoạt của dân cư và các hộ gia đình Do đó, nó được dùng để theo dõi sự thay đổi của chi phí sinh hoạt theo thời gian
Khi chỉ số giá tiêu dùng tăng nghĩa là mức giá trung bình tăng Kết quả là người tiêu dùng phải chi nhiều tiền hơn để có thể mua được một lượng hàng hoá và dịch vụ như cũ nhằm duy trì mức sống trước đó của họ
Ở Việt Nam, hàng tháng tổng cục Thống kê tính toán và công bố những số liệu mới về CPI Trên cơ sở những con số thống kê này các nhà phân tích nhanh chóng đưa
ra những bình luận về nguyên nhân thay đổi giá cả, đồng thời dự báo triển vọng thay đổi giá cả trong tương lai trên các mặt báo hằng ngày hoặc đưa lên tivi Chúng ta có thể đọc thấy những con số thống kê này trong các Niên giám thống kê do Tổng Cục Thống
kê phát hành hằng năm
(2) Xây dựng chỉ số giá tiêu dùng CPI: Để xây dựng chỉ số giá tiêu dùng, trước
hết các nhà thống kê kinh tế chọn năm cơ sở (năm gốc) Tiếp đó, họ tiến hành các cuộc điều tra tiêu dùng trên khắp các vùng của đất nước để xác định “giỏ” hàng hoá và dịch
vụ điển hình mà dân cư mua trong năm cơ sở
0 0
0
i i i t i t
q p
q p I
Trang 19Ví dụ: Hiện nay, giỏ hàng đặc trưng để tính CPI của Việt Nam được hình thành bởi 10
- Thực phẩm 7 Phương tiện đi lại, bưu điện
2 Đồ uống và thuốc lá 8 Giáo dục
3 May mặc, giày dép, mũ nón 9 Văn hóa, thể thao, giải trí
4 Nhà ở và vật liệu xây dựng 10 Hàng hóa và dịch vụ khác
(3) Xác định tỷ lệ lạm phát: Có thể tính tỷ lệ lạm phát thông qua chỉ số giá tiêu dùng như sau:
100
*)
(%) Trong đó: t: Tỷ lệ lạm phát thời kỳ t
CPIt: Chỉ số giá tiêu dùng thời kỳ t
CPIt-1: Chỉ số giá tiêu dùng thời kỳ trước thời kỳ t
e Tăng trưởng kinh tế và quy tắc 70
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng mức sản xuất mà nền kinh tế tạo ra theo thời gian, đó là sự gia tăng của GDP thực tế theo thời gian Tăng trưởng bền vững là sự tăng trưởng của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại (ảnh hưởng) đến sự tăng trưởng của thế
hệ tương lai Từ các chỉ tiêu GDP, chúng ta tính được các loại tốc độ tăng trưởng kinh tế:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế liên hoàn: 1 * 100
r t
GDP
GDP GDP
Dạng khác của công thức trên: gt = ((GDPrt /GDPrt-1) -1)*100 (%)
-1 thể hiện trừ gốc của nó
Nhìn vào công thức này, nhận xét:
GDPrt > GDPrt-1: gt > 0: nền kinh tế tiến về phía trước
GDPrt < GDPrt-1: gt < 0: nền kinh tế tăng trưởng âm
GDPrt = GDPrt-1: gt = 0: nền kinh tế đứng im tại chỗ
3 trường hợp này có được chấp nhận trong mọi nền kinh tế không? Về lý thuyết: có 3 trường hợp này Nhưng trên thực tế, bao nhiêu năm nay trên thế giới chưa có nước nào xảy ra trường hợp nền kinh tế đứng im tại chỗ: gt = 0 Thông thường: gt > 0 Một số nước gặp bất trắc, rủi ro, khủng hoảng,…: gt < 0
Tốc độ tăng trưởng kinh tế định gốc:
Trang 20(%) 100
* ) 1 (
(%) 100
2
1
1 2
r
t r t
r
t r t
r
GDP
GDP GDP
GDP GDP
g
Trong đó: t1: năm gốc
t2 - t1 = 2,3,4,… (hiệu số của t2 và t1 được tính từ 2,3,… trở lên)
Về mặt số học, 2 công thức gt và g0 không khác nhau Nhưng trong kinh tế, 2 công thức này có sự khác biệt khá tinh vi
Nếu hiệu số t2 - t1 = 1: g0 ≡ gt.Thông thường: g0 > 0, trừ trường hợp đặc biệt: cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 - 1933,…) Điều này càng thể hiện rõ nét trong trường hợp t2 - t1 càng lớn (5,7,…)
Tăng trưởng định gốc thường nhận giá trị dương, không nhận giá trị âm hoặc bằng 0
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân: (2 1 1)*100
t r
t r GDP
Hãy tính tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của 2 nước này?
Tốc độ tăng trưởng bình quân của 2 nước này bằng nhau:
* Tăng trưởng kép và quy tắc 70:
Ví dụ: Hiện tại, có 100 triệu đồng, gửi Ngân hàng với lãi suất r = 17%/năm, gửi trong thời gian 10 năm Lãi gốc của tháng này trở thành lãi tháng sau (tính lãi kép) Hỏi sau 10 năm (đến lúc đáo hạn) có bao nhiêu tiền?? → Quy tắc 70 Tốc độ tăng trưởng bình quân còn đưa chúng ta đến khái niệm tăng trưởng kép Khái niệm này được dùng để chỉ sự tăng trưởng tích luỹ qua mỗi thời kỳ Tăng trưởng kép làm cho GDP của một nước tăng rất nhanh sau một khoảng thời gian dài Điều này cũng hàm ý nếu các nước có tốc độ tăng trưởng kép khác nhau, thì sự khác biệt nhỏ trong tốc độ tăng
Trang 21trưởng có thể dẫn tới sự khác biệt rất lớn trong GDP sau một thời gian dài.Để tính được tốc độ tăng trưởng kép, chúng ta phải khai căn, lấy logarit và phải thực hiện nhiều phép toán Các nhà kinh tế đã tìm ra một quy tắc đơn giản, gần đúng để nhanh chóng hình dung ra được sau bao lâu GDP thực tế của một nước sẽ tăng gấp đôi khi nó đạt một tốc
độ tăng trưởng kép nào đó Quá trình tìm kiếm đã dẫn các nhà kinh tế tới quy tắc 70
Quy tắc này nói rằng nếu một biến số tăng với tốc độ bình quân là x phần trăm năm thì nó sẽ tăng gấp đôi sau 70/x năm
2.2 Phương pháp xác định GDP
Trước đây GDP được tính toán dựa trên cơ sở hệ thống bảng cân đối kinh tế quốc dân (MPS) do Liên xô (cũ) soạn thảo Từ năm 1992 việc xác định GDP theo hệ thống tài khoản quốc gia (SNA)
2.2.1 Sơ đồ luân chuyển kinh tế vĩ mô
Xét một nền kinh tế khép kín tự cung cấp tự túc chỉ bao gồm hai tác nhân, các hộ gia đình và các doanh nghiệp giao dịch giữa hai tác nhân trên tạo nên dòng luân chuyển kinh tế vĩ mô theo hình sau:
Hình 2: Dòng luân chuyển kinh tế vĩ mô
- Dòng bên trong là sự luân chuyển của nguồn lực thật
- Dòng bên ngoài là các giao dịch thanh toán bằng tiền
- Sơ đồ dòng luân chuyển kinh tế vĩ mô gợi lên hai cách tính khối lượng sản phẩm trong một nền kinh tế: + Theo cung trên, chúng ta có thể tính tổng giá trị của các hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra trong nền kinh tế; + Theo cung dưới, chúng ta có thể tính tổng thu nhập từ các yếu tố sản xuất
Chi tiêu hàng hóa và
Trang 22- Sơ đồ này gợi ra những ý niệm về tầm quan trọng của hành vi tiêu dùng của các hộ gia đình: chính các hộ gia đình chứ không phải doanh nghiệp quyết định mức chi tiêu trong nền kinh tế, tác động đến việc mở rộng hay thu hẹp sản xuất
2.2.2 Phương pháp xác định GDP
a Phương pháp chi tiêu
Xác định GDP theo giá trị hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong nền kinh tế:
GDP = C + I + G + NX Trong đó:
Tiêu dùng của các hộ gia đình (C - Cosumption): Tiêu dùng của các hộ gia đình bao
gồm tổng giá trị các hàng hoá và dịch vụ cuối cùng mà các hộ gia đình mua được trên
thị trường để chi dùng cho mục đích đời sống Bao gồm những khoản chi cho:
- Hàng hoá vật chất: lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng,…( những mặt hàng có thể cân, đong, đo, đếm,…)
- Giá trị của các hoạt động dịch vụ phục vụ đời sống: du lịch, y tế, giáo dục,…
Nếu chi tiêu nhưng không phục vụ cho gia đình thì không tính vào C → không tính vào GDP Hộ gia đình tự sản xuất ( không mua từ bên ngoài) → không tính vào C
→ không tính vào GDP Vì nền kinh tế thị trường không khuyến khích việc tự cung, tự cấp mà khuyến khích trao đổi, mua bán lẫn nhau Nội trợ: tự làm → không được tính vào C → không được tính vào GDP
Ví dụ: Giả sử một phụ nữ lấy người quản gia giúp việc cho gia đình cô Sau khi cưới,
anh ta vẫn tiếp tục làm công việc trước đây Theo bạn, thì cuộc hôn nhân này có tác động đến GDP không? Nếu có, nó tác động đến GDP như thế nào?
→ Khi người phụ nữ lấy người quản gia, thì GDP giảm đi một lượng đúng bằng tiền lương trước đây trả cho người quản gia Điều này là do GDP được tính giảm đi một lượng bằng tiền lương mà người quản gia không được hưởng nữa Nếu GDP tính bằng giá trị hiện vật của tất cả các hàng hoá và dịch vụ thì đám cưới trên sẽ không ảnh hưởng đến GDP Tuy nhiên, trên thực tế GDP lại là một chỉ tiêu không hoàn hảo về hoạt động của nền kinh tế, bởi vì giá trị của một số hàng hoá và dịch vụ bị bỏ qua Khi công việc của người quản gia trở thành dịch vụ tự làm tại gia đình thì hoạt động không còn được tính vào GDP nữa Do đó, đứng về mặt kinh tế, kịch liệt phản đối người chủ lấy người giúp việc Như vậy, C chỉ bao gồm những hàng hoá dịch vụ mà hộ gia đình mua vào để phục vụ cho đời sống cá nhân, mà không bao gồm những hàng hoá, dịch vụ mà gia đình
tự sản xuất để tiêu dùng Chi xây dựng và mua nhà ở mới không tính vào tiêu dùng mà được hạch toán vào đầu tư tư nhân
Đầu tư (I - Investment): Đầu tư I phản ánh tổng đầu tư trong nước của khu vực tư nhân Nó bao gồm: Nhà xưởng mới xây dựng; Trang thiết bị máy móc mới sản xuất;
Trang 23Chênh lệch hàng hoá tồn kho Chênh lệch hàng hoá tồn kho thực chất là loại tài sản lưu
động Nó là những hàng hoá được giữ lại để sản xuất hay tiêu thụ sau này Nó được xem như vốn lưu động sử dụng cho năm sau, vì vậy trong năm đó người ta cộng vào
tổng số vốn đầu tư của nền kinh tế
Chênh lệch tồn kho = Giá trị tồn kho đầu năm - Giá trị tồn kho trong năm cuối năm
Nếu giá trị hàng tồn kho cuối năm > giá trị hàng tồn kho đầu năm: các doanh nghiệp tiêu thụ không hết sản phẩm sản xuất ra trong năm, do đó làm tăng tài khoản đầu tư I dẫn đến tăng GDP
Nếu giá trị hàng tồn kho cuối năm = giá trị hàng tồn kho đầu năm: các doanh nghiệp tiêu thụ hết sản phẩm sản xuất ra trong năm Do đó, không ảnh hưởng tới đầu tư cũng như GDP
Nếu giá trị hàng tồn kho cuối năm < giá trị hàng tồn kho đầu năm: các doanh nghiệp tiêu thụ hết sản phẩm sản xuất ra trong năm đồng thời tiêu thụ một phần hàng tồn kho năm trước chuyển sang Do đó làm giảm tài khoản đầu tư I, dẫn đến giảm GDP
Như vậy, chỉ được tính vào đầu tư đối với phần tồn kho của năm đang xét, tức là lượng tồn kho tăng thêm hoặc giảm bớt mà thôi Có thể thấy đây là một khoản điều chỉnh rất tinh vi, khoa học và chính xác trong quá trình tính toán GDP, nó khắc phục hiện tượng tính trùng và bỏ sót trong quá trình tính toán
Ngoài ra, chúng ta cần phân biệt khái niệm tổng đầu tư và đầu tư ròng Tổng đầu
Do đó, đầu tư ròng bằng tổng đầu tư trừ đi khấu hao: IN = I - De hay I = IN + De
Chi tiêu của Chính phủ G (Government): Chi tiêu của Chính phủ bao gồm 2 khoản
lớn: Chi mua hàng hoá, dịch vụ và chi chuyển nhượng (Tr - Transfer payments) Nhưng chỉ tính vào GDP những khoản chi mua hàng hoá, dịch vụ, còn các khoản chi chuyển nhượng không được tính vào GDP Chi chuyển nhượng Tr ví dụ như các khoản trợ cấp cho những người thuộc diện chính sách xã hội (người già, người tàn tật, …), những khoản chi này không thể hiện việc mua sắm hàng hoá và dịch vụ mà chỉ đơn thuần là việc chuyển tiền từ chính phủ sang các hộ gia đình Chuyển giao thu nhập như vậy làm thay đổi thu nhập của các hộ gia đình nhưng không tác động đến giá trị sản xuất của
nền kinh tế Do đó, Tr không được tính vào GDP
* Các khoản chi mua hàng hoá, dịch vụ của Chính phủ bao gồm: Xây dựng cơ sở hạ tầng; An ninh, quốc phòng; Y tế, giáo dục; Trả lương cho bộ máy quản lý nhà nước Những khoản chi này đều có những hàng hoá, dịch vụ đối ứng nên được tính vào GDP
Trang 24* Chi chuyển nhượng (Tr) bao gồm: Chi bảo hiểm thất nghiệp; Trợ cấp cho người tàn tật, mất sức; Trả lương hưu trí; Trả nợ của Chính phủ; Trợ giá công ty Những khoản
này không được tính vào GDP Như vậy, những khoản chi nào thuộc ngân sách quốc
gia nhưng không có hàng hoá, dịch vụ đối ứng thì không được tính vào GDP
Ví dụ: Nhà nước chi cho môi trường: có đối ứng: môi trường trong sạch hơn: được tính
vào GDP Nhà nước chi hỗ trợ người tàn tật, mất sức,…: không có đối ứng: không được tính vào GDP
Xuất khẩu ròng NX (Net Export): Xuất khẩu ròng về hàng hoá và dịch vụ (NX) là giá
trị xuất khẩu (Export - X) trừ đi giá trị nhập khẩu (Import - M) hay bằng khoản chi tiêu của người nước ngoài cho mua hàng hoá và dịch vụ được sản xuất ra ở trong nước trừ
đi khoản chi tiêu của người dân trong nước cho mua hàng hoá và dịch vụ tạo ra ở nước
ngoài
Công thức tính: NX = X - M
b Phương pháp thu nhập
Theo phương pháp này, GDP tính theo chi phí các yếu tố đầu vào của sản xuất
mà các doanh nghiệp phải thanh toán Tổng chi phí mà doanh nghiệp phải thanh toán trở thành thu nhập của công chúng GDP tính theo phương pháp này bao gồm những khoản sau:
- Tiền công, tiền lương (W - Wages): Là lượng thu nhập nhận được từ việc cung cấp sức lao động
- Tiền thuê nhà và đất (R - Rental)
- Lãi suất do công ty trả (i - interest): phụ thuộc vào lãi suất thị trường và lượng vốn vay
- Lợi nhuận công ty (Pr - Profit): là phần thu nhập còn lại của doanh thu sau khi đã trừ
đi chi phí sản xuất
- Khấu hao TSCĐ (De - Depreciation): là khoản tiền dùng để bù đắp sự hao mòn tài sản
Phương pháp này có thể dùng để đo lường đóng góp của từng ngành vào GDP Song để
đo lường giá trị sản xuất của mỗi ngành riêng biệt chúng ta phải thận trọng để chỉ tính giá trị gia tăng của ngành đó Do đó, phương pháp sản xuất còn được gọi là phương pháp giá trị gia tăng
GDP theo phương pháp sản xuất được tính bằng công thức:
Trang 25GDP = ∑VA i
Giá trị gia tăng (VA) là khoản chênh lệch giữa giá trị sản lượng của một doanh nghiệp với khoản mua vào về vật liệu và dịch vụ từ các doanh nghiệp khác, mà đã được dùng hết trong việc sản xuất ra sản lượng đó
VA = GO - IE
Trong đó:VA (Value Added) - Giá trị gia tăng
GO (Gross Output) - Tổng giá trị sản xuất
IE (Intermadiate Expenditure) - Chi phí trung gian
Tổng giá trị sản xuất (GO) là giá trị của toàn bộ lượng hàng hoá và dịch vụ mà doanh nghiệp sản xuất ra trong năm, nó bao gồm cả phần hàng hoá đã tiêu thụ và hàng tồn kho
Chi phí trung gian (IE) bao gồm những chi phí vật chất và dịch vụ mua bên ngoài được sử dụng một lần trong quá trình sản xuất như: chí phí nguyên nhiên vật liệu, chi phí vận chuyển,… Chi phí trung gian không bao hàm khấu hao TSCĐ vì TSCĐ được dùng nhiều lần trong quá trình sản xuất Phương pháp này loại trừ được sản phẩm trung gian của nền kinh tế trong quá trình tính toán GDP
Ví dụ: Có 3 doanh nghiệp: DN 1 sản xuất 10 kg gạo bán với giá 6000 đ/kg DN 2 mua 5
kg gạo làm bột, bán được 40.000 đ DN 3 mua 30.000 đ bột làm bánh, bán được 40.000đ Bỏ qua mọi khoản chi phí khác Hãy tính GDP??
Nếu lấy: 60.000 + 40.000 + 40.000 = 140.000 đ → Tính trùng!! Chi phí trung gian của
DN 1 = 0 Chi phí trung gian của DN 2 = 30.000 đ Chi phí trung gian của DN 3 = 30.000 đ Tổng chi phí trung gian: 60.000 đ
GDP = 140.000 - 60.000 = 80.000 đ
Lưu ý: Về nguyên tắc, việc tính GDP theo các phương pháp khác nhau phải cho cùng
kết quả như nhau Tuy nhiên, trên thực tế GDP tính theo 3 phương pháp trên có thể cho kết quả khác nhau do sai số thống kê và tính phức tạp của GDP
2.3 Mối quan hệ các chỉ tiêu kinh tế
2.3.1 Tổng sản phẩm quốc dân GNP - Gross National Product
Tổng sản phẩm quốc dân GNP đo lường tổng giá trị của các loại hàng hoá và dịch vụ cuối cùng mà một quốc gia hay một địa phương tạo ra trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm Như vậy, cũng giống với GDP, GNP cũng chỉ tính giá trị của các loại hàng hoá và dịch vụ cuối cùng, không tính đến giá trị của các loại hàng hoá và dịch vụ trung gian
GNP khác với GDP là nó xét theo quyền sở hữu về tư liệu sản xuất nên GNP bao gồm 2 phần:
- Phần do người trong nước hay trong địa phương tạo ra từ trong nước hay địa phương của họ
Trang 26- Phần do người trong nước hay người địa phương tạo ra ở nước ngoài hay ở địa phương khác
Nói cách khác, GNP bằng GDP cộng với thu nhập yếu tố ròng từ nước ngoài (NIA - Net factor Income from Abroad) hay chênh lệch giữa thu nhập được dân cư trong nước tạo ra ở nước ngoài và thu nhập của người nước ngoài tạo ra ở trong nước
GNP = GDP + NIA
NIA = Thu từ nước ngoài - Chi cho nước ngoài
Thu từ nước ngoài bao gồm các khoản như:
- Xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ, sức lao động
- Lợi tức cổ phần do mua cổ phần ở nước ngoài
- Lợi nhuận do đầu tư ra nước ngoài,…
Chi cho nước ngoài bao gồm các khoản như:
- Nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ, sức lao động
- Lợi tức cổ phần do người nước ngoài mua cổ phần ở trong nước
- Lợi nhuận do đầu tư nước ngoài vào trong nước,…
NIA có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn 0 Nếu NIA > 0 thì GNP > GDP và ngược lại Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam hiện nay mặc dù thu nhập của người Việt Nam kiếm được từ nước ngoài có tăng lên nhưng do khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài khá lớn nên GDP của Việt Nam thường lớn hơn GNP (nghĩa là NIA < 0) Tỷ lệ GDP so với GNP của Việt Nam phổ biến khoảng 98%
2.3.2 Sản phẩm quốc nội ròng NDP - Net Domestic Product
NDP = GDP - De
2.3.3 Sản phẩm quốc dân ròng NNP - Net National Product
Sản phẩm quốc dân ròng là phần GNP còn lại sau khi trừ khấu hao:
NNP = GNP - De
2.3.4 Thu nhập quốc dân NI - National Income
Thu nhập quốc dân là phần NNP còn lại sau khi trừ thuế gián thu: NI = NNP - Ti
NI phản ánh thu nhập từ các yếu tố sản xuất: lao động, vốn, đất đai, tài nguyên thiên nhiên, hay đồng thời cũng là thu nhập của các hộ gia đình trong nền kinh tế
2.3.5 Thu nhập cá nhân PI - Personal Income
Thu nhập cá nhân là khoản thu nhập mà các hộ gia đình và doanh nghiệp phi công ty (non - corporate businesses) nhận được từ các doanh nghiệp cho các dịch vụ yếu tố và
từ các chương trình trợ cấp của chính phủ về phúc lợi và bảo hiểm xã hội
PI = NI - Lợi nhuận nộp, không chia + Tr
Tr (Transfer payment): Trợ cấp của Chính phủ
2.3.6 Thu nhập khả dụng Y d - Disposible Income
Yd = NI - Td
Trang 27Thu nhập khả dụng là phần thu nhập quốc dân còn lại sau khi các hộ gia đình nộp lại các loại thuế trực thu và nhận được trợ cấp Chính phủ hay doanh nghiệp Trong đó:
Yd: thu nhập có thể sử dụng
Td: thuế trực thu
Tr: phần chuyển khoản lại
Thuế trực thu chủ yếu đánh vào thu nhập do lao động, thu nhập do thừa kế tài sản, các loại đóng góp của cá nhân như bảo hiểm xã hội, lệ phí giao thông, bảo hiểm y tế thuế thu nhập của các hộ gia đình kinh doanh cá thể, thuế lợi tức công ty
Các chỉ tiêu đo lường thu nhập của nền kinh tế kể trên tuy ít nhiều có khác nhau Song nhìn chung, chúng có mối liên hệ chặt chẽ và tăng, giảm cùng chiều với GDP tuy không nhất thiết theo cùng một tỷ lệ
Mối quan hệ giữa các chỉ tiêu GDP, GNP, Y, YD được tổng hợp theo sơ đồ sau: Các khái niệm GDP, GNP, Y, YD cũng như phương pháp xác định các chỉ tiêu
đó là tinh thần chủ yếu của hệ thống tài khoản quốc gia sử dụng rộng rãi trong các nước
có nền kinh tế thị trường Hệ thống tài khoản quốc gia giúp cho các cơ quan quản lý nhà nước theo dõi và thống kê một cách chính xác các hoạt động kinh tế diễn ra trong một thời kỳ của mỗi nền kinh tế
Bảng 4: Mối quan hệ giữa các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô
phản ánh kết quả của nền kinh tế
2.4 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI), tỷ lệ lạm phát (Inflation)
Các nhà kinh tế thường dùng hai chỉ tiêu để đánh giá lạm phát của nền kinh tế: chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và chỉ số giảm phát tổng sản phẩm trong nước
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) thuộc hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, phản ánh xu hướng và mức độ biến động giá theo thời gian của các mặt hàng trong "rổ" hàng hóa và dịch vụ đại diện
Trang 28Rổ hàng hóa, dịch vụ đại diện để tính chỉ số giá tiêu dùng là danh mục gồm các loại hàng hóa và dịch vụ phổ biến, đại diện cho tiêu dùng của dân cư Danh mục hiện nay để tính CPI ở nước ta có 494 loại mặt hàng
Vấn đề không phải là có bao nhiêu hàng trong rổ mà là phương pháp thống kê sử dụng
có đúng đắn và khách quan để hàng hóa được chọn vào rổ phản ánh 100% tiêu dùng của người dân hay không
Vài nét về chỉ số giá tiêu dùng
Qua các lần rà soát "rổ" hàng tính CPI, số lượng mặt hàng đại diện đã tăng từ
296 (năm gốc 1995) lên 494 (năm gốc 2005) Quyền số để tính chỉ số giá tiêu dùng cũng được rà soát và cập nhật theo số liệu các năm 2000 và 2005
Ðáng chú ý, tỷ trọng chi cho tiêu dùng lương thực, thực phẩm và dịch vụ ăn uống đã giảm dần từ 60,86% năm 1995 xuống 42,85% năm 2005 (tỷ trọng này của các nước khác như Thái-lan năm 2002 là 36,06%; Singapore năm 2004 là 23%)
Từ năm 1998 đến nay, CPI hằng tháng được tính với các gốc so sánh như sau: Năm gốc
cố định (hiện nay là năm 2005); Cùng tháng năm trước; tháng 12 năm trước; tháng trước
Mỗi gốc so sánh trên có ý nghĩa và phản ánh sự biến động giá tiêu dùng theo các góc độ khác nhau
Nếu so với năm gốc cố định, CPI phản ánh tình hình biến động và mức độ trượt giá sau một số năm, phục vụ công tác nghiên cứu phân tích biến động giá thời kỳ dài Nếu so với cùng tháng năm trước, CPI phản ánh tình hình biến động và mức độ trượt giá sau một năm
Chỉ số giá tiêu dùng và lạm phát
Các nhà kinh tế thường dùng hai chỉ tiêu để đánh giá lạm phát của nền kinh tế: chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và chỉ số giảm phát tổng sản phẩm trong nước CPI biểu thị biến động về mức giá chung của một rổ hàng hóa và dịch vụ cố định dùng cho tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình
Chỉ số giảm phát tổng sản phẩm trong nước biểu thị sự biến động về mặt bằng giá chung của toàn bộ hàng hóa và dịch vụ sản xuất ra trong lãnh thổ kinh tế của quốc gia
CPI không phải là chỉ số áp dụng cho GDP Nhưng vì tiêu dùng cuối cùng ở nhiều nước lên tới 50-90% GDP, nên CPI và chỉ số giảm phát cho GDP thường không khác nhau nhiều, kể cả ở những nước mà tỷ lệ tiêu dùng chỉ khoảng 50-60% GDP
CPI nhằm giúp theo dõi mức tăng giảm giá của hàng hóa tiêu dùng, các nhóm hàng quan trọng nhất có ảnh hưởng đến đời sống cũng như tâm lý của dân chúng
CPI có thể đo lường hằng tháng, không như chỉ số giảm phát cho GDP có tính tổng hợp hơn nên chỉ có thể đo lường hằng quý ở mức tin cậy hạn chế và nếu muốn đạt
độ tin cậy cao thì phải là chỉ số hằng năm vì lúc đó thống kê mới có thể thu thập đầy
đủ
CPI thường theo rất sát chỉ số giảm phát GDP vì tiêu dùng chiếm một tỷ lệ rất lớn trong GDP Vì vậy CPI được coi là thước đo lạm phát, các nước trên thế giới cũng đang sử dụng chỉ tiêu này để xác định tỷ lệ lạm phát Lạm phát hay tăng giá đối với các nhà kinh tế là đồng nghĩa
Trang 29Lạm phát cơ bản chính là lạm phát thể hiện việc thay đổi mức giá mang tính chất lâu dài, loại bỏ những biến động giá mang tính chất tạm thời trong chỉ số giá tiêu dùng
Lạm phát cơ bản là một chỉ báo quan trọng đối với xu hướng lạm phát hiện hành
và trong tương lai Chỉ số này giúp cho các nhà hoạch định chính sách có thể nhận biết được sự biến động giá tiêu dùng chỉ xảy ra trong thời gian ngắn hay đó là xu thế lâu dài Vì vậy, lạm phát cơ bản là thông tin đầu vào quan trọng trong việc điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương
Nguồn số liệu để tính chỉ tiêu lạm phát cơ bản chính là số liệu CPI được tính hằng tháng Như vậy, muốn tính chỉ tiêu lạm phát cơ bản (hoặc CPI trừ giá năng lượng
và thực phẩm), điều trước tiên cơ quan thống kê các nước phải tính CPI có đầy đủ các nhóm hàng liên quan đến đời sống dân cư, sau đó mới tiến hành tính toán loại trừ các ảnh hưởng gây ra các "cú sốc" ngẫu nhiên để tính chỉ tiêu lạm phát cơ bản (LPCB)
Trang 30CHƯƠNG 3: TỔNG CUNG VÀ TỔNG CẦU
Chương này giúp sinh viên:
- Hiểu biết sâu hơn một bước sự hình thành tổng cung và tổngcầu
- Nắm bắt được những yếu tố tác động đến tổng cung và tổng cầu, các mô hình
từ đơn giản đến phức tạp
- Vận dụng lý thuyết tổng cầu vào chính sách tài khóa
3.1 Hệ thống kinh tế học vĩ mô
Theo cách tiếp cận hệ thống, nền kinh tế được xem như là một hệ thống, gọi là
hệ thống kinh tế vĩ mô Hệ thống này theo P.A Samuelson được đặc trưng bởi 3 yếu tố sau:
- Đầu vào: bao gồm qui mô các nguồn lực, các nhân tố bên ngoài và các chính sách kinh sách kinh tế vĩ mô
+ Qui mô các nguồn lực (Tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực, nguồn vốn, tri thức công nghệ)
+ Các nhân tố bên ngoài (Khí hậu, thời tiết, quan hệ kinh tế quốc tế)
+ Các chính sách kinh tế vĩ mô (Chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ, chính sách kinh
tế đối ngoại, chính sách thu nhập)
- Đầu ra: cho biết kết quả hoạt động của nền kinh tế và cho biết mục tiêu kinh tế vĩ mô
đạt được như thế nào (Sản lượng, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, giá cả và tiền lương,
cán cân thanh toán,…)
- Hộp đen kinh tế vĩ mô: Trình bày cơ chế vận hành của nền kinh tế Hoạt động của hộp
đen sẽ quyết định chất lượng của các biến đầu ra Hai lực lượng quyết định sự hoạt
động của hộp đen kinh tế vĩ mô là tổng cung và tổng cầu
Tổng cung phụ thuộc vào chi phí sản xuất, giá cả và năng lực sản xuất của quốc gia Ngoài ra, tổng cung còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố làm tăng sản lượng tiềm năng, đó là các yếu tố: tài nguyên thiên nhiên, tư bản, nhân lực, tri thức công nghệ
Tổng cung liên quan đến sản lượng tiềm năng: Sản lượng tiềm năng (Yp) không phải là sản lượng tối đa mà là sản lượng cao nhất mà một nền kinh tế có thể duy trì, sản lượng đó ứng với tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên (Un) và không đẩy tỷ lệ lạm phát lên cao
Trang 31Thực chất, sản lượng tiềm năng nhỏ hơn sản lượng tối đa một khoảng, khoảng đó lớn hay bé phụ thuộc vào tình hình mỗi đất nước
Lưu ý: - Khối lượng hàng hoá và dịch vụ mà các doanh nghiệp bán ra trên thị trường xác định độ lớn của tổng cung
- Tổng cung tính cho một khoảng thời gian, không tính tại một thời điểm
- Khả năng sản xuất của nền kinh tế nói chung và của các doanh nghiệp nói riêng
là giới hạn cao nhất của tổng cung
Biểu diễn đường tổng cung trên đồ thị:
Hình 3: Đường tổng cung dài hạn và ngắn hạn
Đường tổng cung dài hạn (đường sản lượng tiềm năng) ASLR (AS long run) là
đường thẳng đứng tại mức sản lượng tiềm năng ASLR là đường thẳng chạy song song với trục tung.Sản lượng tiềm năng Yp quyết định vị trí của đường tổng cung dài hạn
Trong dài hạn, sản lượng độc lập với mức giá Do đó, trong dài hạn Chính phủ không
nên dùng công cụ giá để điều tiết quy mô sản xuất của các doanh nghiệp Đường tổng cung ngắn hạn ASSR (AS short run) là đường dốc lên, cho biết mối quan hệ cùng chiều giữa mức giá và sản lượng
Đường tổng cung ngắn hạn ASSR (AS short run) là đường dốc lên, cho biết mối quan hệ cùng chiều giữa mức giá và sản lượng Chúng ta cần chú ý đến độ dốc của đường tổng cung AS:
- Tại mức sản lượng rất thấp so với sản lượng tiềm năng (Ya < YP): đường tổng cung tương đối nằm ngang Điều này chứng tỏ các doanh nghiệp rất nhạy cảm trước sự thay đổi của giá cả: một thay đổi nhỏ về giá cả đầu ra sẽ khuyến khích các doanh nghiệp tăng nhanh sản lượng để đáp ứng nhu cầu đang tăng lên
- Tại mức sản lượng Ya > YP: đường tổng cung dốc ngược lên Điều này chứng
tỏ các doanh nghiệp ít nhạy cảm trước sự thay đổi của giá cả thị trường
Điều này cho thấy, ở dưới mức sản lượng tiềm năng, một sự thay đổi nhỏ về giá
cả đầu ra sẽ khuyến khích các doanh nghiệp tăng nhanh sản lượng để đáp ứng nhu cầu đang tăng lên Trong trường hợp này, Chính phủ rất nên dùng công cụ giá để điều tiết
Trang 32qui mô của các doanh nghiệp Từ mức sản lượng tiềm năng trở đi, độ dốc của đường
AS tăng lên rất cao, khi quốc gia tận dụng hết năng lực sản xuất thì AS thẳng đứng Tại
đó, mức giá có tăng thêm bao nhiêu đi nữa thì mức tăng cung cũng không thể tăng thêm
b Tổng cầu
Tổng cầu AD (Aggregate Demand) là tổng khối lượng hàng hoá và dịch vụ mà các tác nhân trong nền kinh tế mua vào tương ứng với mức giá cả, thu nhập và các chính sách kinh tế vĩ mô.Tổng cầu AD cũng chịu tác động của nhiều yếu tố như: giá cả chung
của nền kinh tế, thu nhập của hộ gia đình, chính sách thuế và chi tiêu của Chính phủ, khối lượng tiền tệ cung ứng
Biểu diễn đường tổng cầu trên đồ thị:
Trục tung: giá P; trục hoành: sản lượng Y A (P0,Q0) và B (P1,Q1): P0 > P1 → Y0
< Y1 Đường tổng cầu AD dốc xuống, nghiêng về phía phải cho biết mối quan hệ ngược chiều giữa giá cả và sản lượng Tổng cầu và đường tổng cầu chỉ cho biết mối quan hệ của mức giá chung với sản lượng, không cho biết mối quan hệ của các yếu tố khác với sản lượng
Hình 4: Đường tổng cầu Tại sao đường tổng cầu AD dốc xuống?
Đường tổng cầu AD dốc xuống phản ánh mức giá ảnh hưởng ngược chiều đến lượng tổng cầu Xét 4 thành tố của tổng cầu:
- Tiêu dùng của nhà nước - G được xem là một yếu tố ngoại sinh, vì mục đích chi tiêu của nhà nước không phụ thuộc vào mức giá, mà nhằm vào mục tiêu kinh tế vĩ
mô
- Tiêu dùng của hộ gia đình - C, mức giá giảm sẽ kích thích các hộ gia đình tiêu
dùng nhiều hơn, có nghĩa là lượng tổng cầu về GDP tăng lên và ngược lại (hiệu ứng của cải - wealth effect)
- Đầu tư - I: mức giá thấp hơn sẽ làm cho dân chúng giữ tiền mặt ít hơn để mua một lượng hàng hoá theo kế hoạch Nhiều hộ gia đình sẽ gửi tiền tiết kiệm nhiều hơn
Trang 33=> lãi suất có xu hướng giảm => đầu tư có xu hướng tăng => tăng tổng cầu (hiệu ứng lãi suất - interest rate effect )
- Xuất khẩu ròng - NX: Trong bối cảnh mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế, người tiêu dùng có xu hướng sử dụng nhiều hơn hàng hoá và dịch vụ sản xuất trong nước tại một tỷ giá hối đoái => xuất khẩu được khuyến khích và nhập khẩubị hạn chế
hơn => làm tăng lượng tổng cầu (hiệu ứng tỷ giá hối đoái - exchange rate effect)
Như vậy, cả ba hiệu ứng trên thể hiện mối quan hệ nghịch giữa mức giá P và tổng cầu AD: P giảm => AD tăng và ngược lại Đó chính là lý do đường AD dốc xuống
c Cân bằng tổng cung - tổng cầu
Sự cân bằng tổng cung - tổng cầu xảy ra khi nền kinh tế nằm ở giao điểm giữa hai đường AD và AS Đó chính là điểm E và E được gọi là điểm cân bằng của nền kinh
tế Tại E, tổng cung bằng tổng cầu, nói cách khác toàn bộ nhu cầu của nền kinh tế được các doanh nghiệp đáp ứng đầy đủ P0 là mức giá cân bằng, Y0 là mức sản lượng cân bằng
Hình 5: Cân bằng tổng cung và tổng cầu
Hình 6: Trạng thái suy thoái của nền kinh tế
Đồ thị trên phản ánh trạng thái suy thoái của nền kinh tế trong ngắn hạn
∆Y = Ya - YP: chỉ tiêu đánh giá mức độ suy thoái Mức độ suy thoái của nền kinh tế có thể được xác định dựa trên 3 dấu hiệu:Vị trí của điểm cân bằng E; Tương quan sản lượng; Tương quan tỷ lệ thất nghiệp
Trang 34Gọi Ua: tỷ lệ thất nghiệp thực tế tương ứng với mức sản lượng thực tế Ya Un: tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên tương ứng với mức sản lượng tự nhiên.Vì Ya < Yp nên Ua > Un
Đồ thị dưới đây phản ánh trạng thái cân bằng tối ưu của nền kinh tế trong ngắn hạn Khi
đó, Ya = YP nên Ua = Un
Hình 7: Trạng thái cân bằng tối ưu
Đồ thị dưới đây phản ánh trạng thái thịnh vượng của nền kinh tế trong ngắn hạn Khi đó,
- Trường phái cổ điển (trường phái trọng cung): Chỉ tác động vào đường tổng cung ngắn hạn ASSR, cố định tổng cầu và tổng cung dài hạn
- Trường phái hiện đại (trường phái trọng cầu): Chỉ tác động vào đường tổng cầu
AD, cố định tổng cung ngắn hạn và dài hạn
3.2.2 Sự di chuyển và dịch chuyển đường tổng cung và đường tổng cầu
a Khái niệm
Trang 35Di chuyển là một thuật ngữ đề cập đến hiện tượng trượt dọc trên một đường nhất định, đó là sự chuyển dịch trên cùng một đường tổng cung hay tổng cầu, do tác động của biến nội sinh (mức giá) trong điều kiện các biến ngoại sinh cố định
Dịch chuyển đề cập đến hiện tượng thay đổi vị trí của một đường, là quá trình dịch chuyển toàn bộ đường tổng cung hay tổng cầu, do tác động của các biến ngoại sinh trong điều kiện biến nội sinh (mức giá) cố định
b Nhân tố di chuyển, dịch chuyển tổng cung, tổng cầu
* Nhân tố di chuyển, dịch chuyển tổng cầu: Trên hệ trục Y - P, sự di chuyển dọc một
đường tổng cầu phản ánh sự thay đổi của lượng tổng cầu do sự thay đổi của mức giá trong điều kiện các biến ngoại sinh cố định Đường tổng cầu di chuyển ngược chiều khi
có sự thay đổi của mức giá trong điều kiện các biến ngoại sinh cố định
Hình 9: Sự di chuyển của AD
Khi một chính sách nào đó làm thay đổi lượng cầu về GDP tại mỗi mức giá cho trước, thì
AD sẽ dịch chuyển GDP tăng AD dịch chuyển sang phải và ngược lại
Hình 10: Sự dịch chuyển của AD
AD = C + I + G + X - M
Trong đó:
C: Chi tiêu của hộ gia đình
I: Chi cho đầu tư của các doanh nghiệp
G: Chi tiêu của Chính phủ
Trang 36- Xét chính sách đối ngoại:
+ Khi tỷ giá hối đoái tăng → đồng nội tệ tăng giá (đồng ngoại tệ mất giá) → xuất khẩu giảm, nhập khẩu tăng → tổng cầu AD giảm: AD dịch chuyển từ AD1 về AD0 Ngược lại, khi tỷ giá hối đoái giảm, tổng cầu AD tăng
- Xét chính sách thu nhập:
+ Khi tiền lương tăng (giảm) → thu nhập tăng (giảm) → chi cho tiêu dùng tăng (giảm) → tổng cầu AD tăng (giảm): AD dịch chuyển từ AD0 đến AD1 (AD dịch chuyển
từ AD1 về AD0)
* Nhân tố di chuyển, dịch chuyển tổng cung
Đường tổng cung ngắn hạn di chuyển cùng chiều khi có sự thay đổi của mức giá trong điều kiện các biến ngoại sinh cố định
Đường tổng cung dịch chuyển sang trái hoặc sang phải phụ thuộc vào tác động của lao động, tài nguyên, kỹ thuật và các chi phí đầu vào khác
Những yếu tố làm thay đổi chi phí sản xuất sẽ làm đường tổng cung dịch chuyển
Hình 11: Sự di chuyển và dịch chuyển của AS
Trang 37Tổng chi phí sản xuất (TC - Total Cost) là toàn bộ hao phí tính bằng tiền của các yếu tố đầu vào mà các doanh nghiệp đã sử dụng trong quá trình kinh doanh
Khi tổng chi phí sản xuất tăng kéo theo tổng cung ngắn hạn giảm: ASSR dịch chuyển sang trái từ AS1 về AS2 và ngược lại khi tổng chi phí sản xuất giảm thì đường tổng cung dịch chuyển sang phải Những yếu tố làm thay đổi tổng chi phí sản xuất là: Sự thay đổi về công nghệ sản xuất; Sự thay đổi về giá cả của các yếu tố đầu vào
Ngoài tổng chi phí sản xuất là yếu tố cơ bản làm dịch chuyển tổng cung còn có những yếu tố khác tác động như: thời tiết khí hậu, giá cả của hàng hoá khác, thị trường độc quyền Sự dịch chuyển của đường tổng cung dài hạn ASLR sẽ làm cho đường tổng cung ngắn hạn ASSR dịch chuyển theo và dịch chuyển cùng chiều
3.3 Quá trình tự điều chỉnh của nền kinh tế
3.3.1 Điều chỉnh ngắn hạn
Giả sử nền kinh tế đang ở trạng thái cân bằng tối ưu E0, nhưng do tác động của một yếu tố nào đó (chẳng hạn C tăng, I tăng, G tăng, NX tăng) làm cho đường tổng cầu đột ngột tăng lên, đường AD0 dịch chuyển đến AD1 Mức giá tăng lên từ P0 đến P1, các doanh nghiệp sẽ tăng sản lượng một cách tương ứng, cho đến khi đạt mức sản lượng Y1, tại đây AD = AS nên trạng thái cân bằng được thiết lập, E1 là điểm cân bằng ngắn hạn, tại
E1 giá cả và sản lượng đều tăng và tăng bao nhiêu hoàn toàn phụ thuộc vào độ dốc của đường AS
Hình 12: Quá trình tự điều chỉnh của nền kinh tế
3.3.2 Điều chỉnh trung hạn
Ở trạng thái E1 không phải mọi việc đã kết thúc, do giá cả tăng làm cho tiền lương tăng và chi phí sản xuất tăng, đường AS sẽ dịch chuyển giảm từ ASo đến AS1 Trạng thái cân bằng trung hạn được thiết lập ở E2 So với E1, tại E2 sản lượng đã giảm đi nhưng giá
cả đã tăng lên
3.3.3 Điều chỉnh dài hạn
Quá trình trên còn tiếp tục diễn ra, trong chừng mực sản lượng còn vượt quá sản lượng tiềm năng Yp thì đường tổng cung tiếp tục giảm dịch chuyển Kết quả là sản lượng
Trang 38giảm đi và giảm đến mức Yp Nền kinh tế đạt trạng thái cân bằng dài hạn tại E3 tương ứng với mức giá và sản lượng cân bằng P3 và Yp
3.3.4 Kết luận
Quá trình tự điều chỉnh của nền kinh tế diễn ra một cách chậm chạp và có thể kéo dài trong một thời gian nhất định Do đó, Chính phủ ở các quốc gia có thể can thiệp vào thị trường bằng các chính sách kinh tế vĩ mô tác động vào tổng cung, tổng cầu nhằm duy trì nền kinh tế ở mức sản lượng tiềm năng Yp và rút ngắn thời gian của một chu kỳ kinh doanh để đạt mục tiêu ổn định hoá nền kinh tế
3.4 Mối quan hệ giữa các biến số kinh tế vĩ mô cơ bản
3.4.1 Tổng sản phẩm quốc dân và tăng trưởng kinh tế
Tổng sản phẩm quốc dân (GNP - Gross National Product) là giá trị của toàn bộ hàng hoá và dịch vụ của một quốc gia sản xuất ra trong một thời gian nhất định (thường
3.4.2 Chu kỳ kinh doanh và sự thiếu hụt sản lượng
Chu kỳ kinh doanh là sự dao động của GNP thực tế xung quanh xu hướng tăng lên của sản lượng tiềm năng Độ chênh lệch giữa sản lượng tiềm năng và sản lượng thực tế gọi là thiếu hụt sản lượng
Thiếu hụt sản lượng = Sản lượng tiềm năng - Sản lượng thực tế
Khoảng cách giữa hai điểm cực đại hoặc cực tiểu kế tiếp nhau được gọi là một chu
kỳ, các điểm cực đại gọi là đỉnh, các điểm cực tiểu gọi là đáy Khi sản
lượng giảm từ đỉnh xuống đáy ta nói nền kinh tế đang bị thu hẹp (suy thoái), khi sản lượng từ đáy lên đỉnh ta nói nền kinh tế đang được mở rộng (hưng thịnh)
Ở các chu kỳ kinh doanh khác nhau, hình thái và thời gian cũng khác nhau Chính
sự biến động đó gây khó khăn rất nhiều cho các nhà kinh tế trong việc dự báo và hạn chế chu kỳ kinh doanh
3.4.3 Tăng trưởng và lạm phát
Thông thường những thời kỳ kinh tế phát đạt, tăng trưởng cao thì lạm phát có xu hướng tăng lên và ngược lại Song giữa tăng trưởng và lạm phát có mối quan hệ như thế nào, đâu là nguyên nhân, đâu là kết quả, kinh tế vĩ mô chưa có câu trả lời rõ ràng Nhưng muốn giảm lạm phát trong ngắn hạn thì các chính sách kinh tế đều hướng vào việc thắt