Đối tượng nghiên cứu - Sự lựa chọn các vấn đề kinh tế cơ bản của các tế bào kinh tế: Cá nhân, một tập thể, một tổ chức, một doanh nghiệp ...trong sản xuất và tiêu dùng Trong sản xuất
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH KHOA KINH TẾ - DU LỊCH
GIÁO TRÌNH MÔN KINH TẾ VI MÔ
(Lưu hành nội bộ)
Giảng viên: TS Nguyễn Xuân Hảo
Quảng Bình năm 2017
Trang 2Chương 1:
KINH TẾ HỌC VI MÔ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ KINH TẾ CƠ BẢN CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KINH TẾ
Có một số vấn đề mà kinh tế học thường quan tâm đó là:
Nghiên cứu giá lao động, giá vốn và giá đất đai được xác định trong nền kinh tế như thế nào, các loại giá này được vận dụng ra sao trong việc phân bổ các nguồn lực
Khám phá các hành vi của thị trường tài chính và phân tích sự phân bổ của thị trường này vào các lĩnh vực kinh tế như thế nào
Nghiên cứu các chính sách điều tiết của chính phủ tới tính hiệu quả của thị trường
Khảo sát tình hình phân phối thu nhập và kiến nghị các giải pháp trợ giúp người nghèo mà không làm cản trở các hoạt đọng của nền kinh tế
Nghiên cứu tác động của chi tiêu Nhà nước, thuế và thâm hụt ngân sách tới tăng trưởng
Như vậy, có thể nói một cách khác: Kinh tế học là việc nghiên cứu xã hội
sử dụng các nguồn lực khan hiếm như thế nào để sản xuất ra các hàng hoá có giá trị và phân phối chúng cho các đối tượng khác nhau
Trong phân tích kinh tế, người ta chia Kinh tế học làm 2 bộ phận: Kinh tế học
Vĩ mô và kinh tế học Vi mô
1.1.1.1 Kinh tế học vĩ mô
"Kinh tế học Vĩ mô - một phân ngành của kinh tế học- nghiên cứu sự vận động
và những mối quan hệ kinh tế chủ yếu của một đất nước trên bình diện toàn bộ nền kinh tế quốc dân"
Nói một cách khác, kinh tế học vĩ mô đi sâu nghiên cứu những vấn đề kinh tế tổng hợp, những vấn đề kinh tế lớn của toàn bộ nền kinh tế quốc dân (KTQD), những mục tiêu chung của quốc gia như: tăng trưởng, phát triển, lạm phát, thất nghiệp, thu nhập, xuất nhập khẩu hàng hoá và tư bản, sự phân phối nguồn lực và phân phối thu nhập giữa các thành viên trong xã hội, nhằm tìm cách hoàn thiện
và nâng cao hiệu quả kinh tế của toàn bộ nền KTQD
Trang 3Tăng trưởng có liên quan đến GNP, GDP, tốc độ tăng trưởng phát triển
Thất nghiệp hay vấn đề việc làm liên quan đến chính sách sử dụng lao động Phân phối thu nhập: tiền lương, các chế độ cho người lao động
1.1.1.2 Kinh tế học vi mô
Kinh tế Vi mô là một môn khoa học quan tâm đến việc nghiên cứu, phân tích
và lựa chọn các vấn đề kinh tế cụ thể của các tế bào kinh tế trong một nền kinh
tế Còn kinh tế học vĩ mô tìm hiểu để cải thiện kết quả hoạt động của toàn bộ nền
kinh tế Nó nghiên cứu cả một bức tranh lớn, nó quan tâm đến mục tiêu kinh tế của cả một quốc gia
Kinh tế học vi mô nghiên cứu các hành vi cụ thể của từng cá nhân, từng doanh nghiệp trong việc lựa chọn và quyết định ba vấn đề kinh tế cơ bản cho mình là sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và phân phối thu nhập ra sao để có
thể đứng vững và phát triển trong cạnh tranh trên thị trường Khác biệt với nó, kinh tế vĩ mô đi sâu nghiên cứu những vấn đề kinh tế lớn của toàn bộ nền kinh tế quốc dân và những mục tiêu chung của quốc gia
Tóm lại: Kinh tế học Vi mô là một bộ phận của kinh tế học, quan tâm đến việc nghiên cứu, phân tích và lựa chọn các vấn đề kinh tế cụ thể của các tế bào kinh tế, các bộ phận kinh tế trong nền KTQD như: một cá nhân, một tập thể, một doanh nghiệp Nghiên cứu những hành vi của họ trong việc lựa chọn quyết định tối ưu ba vấn đề kinh tế cơ bản là: sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai?
1.1.1.3 Mối quan hệ giữa kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô
Kinh tế Vĩ mô và kinh tế Vi mô tuy khác nhau nhưng đều là nội dung quan trọng của Kinh tế học, chúng có mối quan hệ mật thiết, hữu cơ và bổ sung cho nhau tạo thành một hệ thống kiến thức của kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước
- Thực tế đã chứng minh kết quả của kinh tế vĩ mô phụ thuộc vào hành vi của kinh tế Vi mô, KTQD phụ thuộc vào sự phát triển của các doanh nghiệp, chẳng khác gì một cơ thể sống phụ thuộc vào các tế bào sống
Ngược lại, kinh tế vĩ mô tạo hành lang môi trường, điều kiện cho kinh tế vi
mô phát triển, đó chính là hành vi của kinh tế vi mô chịu ảnh hưởng của kinh tế
vĩ mô
- Trong thực tiển quản lý kinh tế, nếu chỉ giải quyết những vấn đề kinh tế Vi
mô (quản lý sản xuất kinh doanh), mà không có sự điều chỉnh cần thiết của kinh
Trang 4tế Vĩ mô (quản lý Nhà nước về kinh tế) thì chẳng khác gì "chỉ thấy từng cây mà không nhìn thấy cả rừng cây Chỉ thấy từng tế bào kinh tế mà không nhìn thấy cả nền kinh tế"
1.1.2 Đối tƣợng và nội dung của kinh tế học vi mô
Kinh tế Vi mô là một môn khoa học về kinh tế, một môn khoa học cơ bản cung cấp kiến thức, lý luận và phương pháp kinh tế cho các môn quản lý doanh nghiệp trong các ngành KTQD
Kinh tế Vi mô là môn khoa học về sự lựa chọn của hoạt động kinh tế Vi mô trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, đó là sự lựa chọn để giải quyết
ba vấn đề kinh tế cơ bản của một doanh nghiệp, một tế bào kinh tế: sản xuất cái
gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai
Bởi vậy, đối tượng nghiên cứu của kinh tế học vi mô chính là:
1.1.2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Sự lựa chọn các vấn đề kinh tế cơ bản của các tế bào kinh tế: Cá nhân, một
tập thể, một tổ chức, một doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu dùng
Trong sản xuất các chủ thể cần lưu ý đến chi phí, giá cả, sản lượng với
mục đích để thu được lợi nhuận lớn nhất trong giới hạn nguồn lực cho phép
Trong tiêu dùng phải phấn đấu làm sao thu được lợi ích tối đa trong nguồn
ngân sách hạn chế
- Tính quy luật và xu thế vận động tất yếu của các hoạt động kinh tế vi mô:
nghiên cứu cung - cầu và quan hệ cung - cầu hàng hoá trên thị trường; cấu trúc của thị trường
- Những khuyết tật của kinh tế thị trường và vai trò của Chính phủ trong việc
điều tiết các hoạt động của kinh tế vi mô
1.1.2.2 Nội dung nghiên cứu
Gồm có các nội dung chủ yếu sau:
Chương 1 - Kinh tế học Vi mô và những vấn đề kinh tế cơ bản của doanh nghiệp Chương này nghiên cứu đối tượng, nội dung, phương pháp nghiên cứu KTVM, những vấn đề kinh tế cơ bản của doanh nghiệp, lựa chọn kinh tế tối ưu, ảnh hưởng của quy luật khan hiếm, lợi suất giảm dần, quy luật chi phí tương đối ngày càng tăng, hiệu quả kinh tế
Chương 2 - Cung-cầu, nghiên cứu nội dung chủ yếu của cung-cầu, sự thay đổi cung-cầu, quan hệ cung cầu ảnh hưởng đến giá cả và ngược lại
Chương 3 - Lý thuyết về hành vi người tiêu dùng, nghiên cứu các vấn đề về nội dung của nhu cầu và tiêu dùng, các nhân tố ảnh hưởng hàm tiêu dùng, tối đa hoá lợi ích và tiêu dùng tối ưu, lợi ích cận biên và sự co giản của cầu
Chương 4 - Lý thuyết về hành vi của nhà sản xuất, nghiên cứu lý thuyết về sản xuất, về chi phí, về tối đa hoá lợi nhuận
Chương 5 - Cạnh tranh và độc quyền, nghiên cứu thị trường cạnh tranh hoàn hảo, thị trường độc quyền, thị trường cạnh tranh không hoàn hảo
Trang 5Chương 6 - Thị trường các yếu tố sản xuất, nghiên cứu những vấn đề cơ bản
về thị trường lao động và thị trường vốn
Chương 7 - Những hạn chế của thị trường và vai trò của Chính phủ, nghiên cứu những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường và sự cần thiết Chính phủ tham gia điều tiết đối với nền kinh tế thị trường
1.1.3 Phương pháp nghiên cứu
Kinh tế học vi mô là một môn khoa học kinh tế, là khoa học về sự lựa chọn,
nó có quan hệ mật thiết với môn kinh tế học vĩ mô nên có phương pháp nghiên cứu chung: là phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử đảm bảo tính lô gíc khoa học
Đồng thời, kinh tế học vi mô còn có phương pháp nghiên cứu cụ thể sau: Nắm vững bản chất và phương pháp lựa chọn
Gắn chặt việc nghiên cứu lý luận, phương pháp luận với thực hành trong quá trình học tập
Gắn chặt việc nghiên cứu lý luận, phương pháp luận với thực tiễn sinh động phong phú, phức tạp của các hoạt động kinh tế vi mô của các doanh nghiệp ở Việt Nam và các nước
Cần nghiên cứu, tiếp thu những kinh nghiệm thực tiễn về các hoạt động KTVM trong các doanh nghiệp tiên tiến trong và ngoài nước
Phải dùng phương pháp cân bằng nội bộ, bộ phận, xem xét từng đơn vị không xét tới sự tác động đến vấn đề khác, xem xét một yếu tố thay đổi trong điều kiện các yếu tố khác không đổi
Phải đơn giản hoá việc nghiên cứu trong các mối quan hệ phức tạp
Sử dụng phương pháp mô hình hoá, công cụ toán học, quan sát, trừu tượng hóa, lượng hóa để rút ra những kết luận, bổ sung cho lý thuyết kinh tế học Vi
mô ngày càng hoàn thiện
1.2 DOANH NGHIỆP VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ KINH TẾ CƠ BẢN CỦA
Doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế được thành lập làm nhiệm vụ kinh doanh hàng hóa dịch vụ, đáp ứng nhu cầu thị trường, với mục đích để kiếm lời
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh
Một doanh nghiệp tiến hành kinh doanh có hiệu quả là doanh nghiệp phải thoả mản được tối đa nhu cầu thị trường và xã hội về hàng hoá và dịch vụ trong
Trang 6giới hạn cho phép của nguồn lực hiện có và thu được lợi nhuận nhiều nhất, đem lại hiệu kinh tê xã hội cao nhất
1.2.1.2 Mục tiêu của doanh nghiệp
Bất kỳ một doanh nghiệp nào hoạt động trên thị trường đều có hai mục tiêu chính sau đây:
- Mục tiêu kinh tế:
Mục tiêu lợi nhuận, đây là mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp Đạt được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh, làm tròn nghĩa vụ đóng góp theo luật định đồng thời tạo nguồn tăng thu nhập cho người lao động
Mục tiêu phát triển doanh nghiệp, đây là mục tiêu kinh tế lâu dài của doanh nghiệp, bởi tối đa hoá lợi nhuận là điều kiện, tiền đề cho phát triển doanh nghiệp
Mục tiêu sản xuất khối lượng hàng hoá tối đa thoả mản các nhu cầu của
xã hội
- Mục tiêu xã hội
Bảo vệ và thoả mản nhu cầu và quyền lợi cho mọi thành viên
Bảo vệ quyền lợi cho bạn hàng, cho người tiêu dùng
Thể hiện công tác chăm lo xã hội, từ thiện, an ninh
Mục tiêu bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm các nguồn tài nguyên thiên nhiên vốn là khan hiếm
Tất nhiên, các doanh nghiệp phải biết kết hợp hài hoà các mục tiêu trên để
đạt được mục tiêu trước mắt và mục tiêu lâu dài, lợi ích đơn vị và lợi ích xã hội
1.2.1.3 Phân loại các doanh nghiệp
Có thể phân loại các doanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau:
- Theo ngành kinh tế kỹ thuật có các doanh nghiệp: Công nghiệp; Nông
nghiệp; Lâm nghiệp; Ngư nghiệp Thương nghiệp; doanh nghiệp du lịch, dịch vụ; doanh nghiệp vận tải
- Theo cấp quản lý có: Doanh nghiệp thuộc Trung ương quản lý; doanh
nghiệp thuộc địa phương quản lý
- Theo hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất: doanh nghiệp Nhà nước; doanh
nghiệp Tư nhân; công ty Cổ phần; công ty Trách nhiệm hữu hạn; Hợp tác xã Trong đó doanh nghiệp Nhà nước nắm vai trò chủ đạo, có vị trí trọng yếu trong
hệ thống các doanh nghiệp ở nước ta
- Theo quy mô sản xuất: doanh nghiệp có quy mô lớn; doanh nghiệp có quy
mô vừa; doanh nghiệp có quy mô nhỏ Trong đó các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ với kỹ thuật hiện đại có nhiều ưu điểm hơn trong điều kiện đổi mới kinh tế của nước ta hiện nay
- Theo trình độ kỹ thuật: có doanh nghiệp sữ dụng lao động thủ công, doanh
nghiệp nữa cơ khí, doanh nghiệp cơ khí hoá và tự động hoá
Trang 7Các doanh nghiệp đều có quyền bình đẳng trước pháp luật của Nhà nước
trong sản xuất kinh doanh, được hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước định hướng xã hội chủ nhĩa (XHCN)
Nhiệm vụ, quyền hạn và quyền lợi của các doanh nghiệp gắn chặt với nhau
Các doanh nghiệp được thành lập, hoặc giải thể theo đúng quy định của pháp
luật
Mối quan hệ giữa các doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với các đơn vị kinh
tế trong các thành phần kinh tế là ở chổ doanh nghiệp vừa là người bán vừa là người mua
1.2.1.4 Quá trình kinh doanh của doanh nghiệp
Quá trình kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế-
kỹ thuật, xã hội của từng loại doanh nghiệp Có thể khái quát quá trình kinh doanh của một vài doanh nghiệp sau:
- Đối với các doanh nghiệp sản xuất của cải vật chất, quá trình kinh doanh
bao gồm từ việc nghiên cứu, xác định nhu cầu thị trường về hàng hoá dịch vụ đến việc cuối cùng là tổ chức tiêu thụ hàng hoá và thu tiền về cho doanh nghiệp Quá trình kinh doanh bao gồm các giai đoạn chủ yếu sau:
Nghiên cứu nhu cầu thị trường về hàng hoá và dịch vụ để quyết định xem sản xuất cái gì
Chuẩn bị đồng bộ các yếu tố đầu vào để thực hiện quyết định
Tổ chức quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào để tạo ra hàng hoá và dịch vụ Tổ chức quá trình tiêu thụ hàng hoá dịch vụ bán hàng thu tiền về
- Đối với các doanh nghiệp thương mại- dịch vụ, quá trình kinh doanh diễn
ra chủ yếu là mua và bán hàng hoá dịch vụ, nó bao gồm các giai đoạn sau:
Nghiên cứu nhu cầu thị trường về hàng hoá và dịch vụ để từ đó lựa chọn và quyết định lượng hàng cần mua để bán cho khách hàng theo nhu cầu của thị trường
Tổ chức việc mua các hàng hoá dịch vụ theo nhu cầu thị trường
Tổ chức việc bao gói hoặc chế biến, bảo quản, chuẩn bị bán hàng hoá và dịch vụ
.Tổ chức việc bán hàng hoá và thu tiền về cho doanh nghiệp và chuẩn bị tiếp cho quá trình kinh doanh tiếp theo
1.2.1.5 Chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp
Chu kỳ kinh doanh là khoảng thời gian từ lúc bắt đầu khảo sát nghiên cứu nhu cầu thị trường về hàng hoá và dịch vụ cho đến khi bán xong hàng hoá, dịch
vụ thu tiền về cho doanh nghiệp
Chu kỳ kinh doanh bao gồm các loại thời gian chủ yếu sau:
- Thời gian khảo sát nghiên cứu nhu cầu thị trường và quyết định sản xuất (mua hàng hoá, dịch vụ gì)
- Thời gian chuẩn bị các đầu vào
- Thời gian tổ chức quá trình sản xuất, bao gói, chế biến, bảo quản, vay, gửi tiền
Trang 8- Thời gian tiêu thụ hàng hoá dịch vụ thu tiền về cho doanh nghiệp
Chu kỳ kinh doanh phụ thuộc vào quá trình kinh doanh Trong chu kỳ kinh doanh, thời gian tổ chức sản xuất là lớn nhất, mà trong đó thời gian công nghệ
(thời gian chế tạo) có vị trí quyết định
Bởi vậy, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh một trong những biện pháp
quan trọng nhất là rút ngắn chu kỳ kinh doanh Muốn rút ngắn thời gian chu kỳ kinh doanh cần phải sử dụng nhiều biện pháp để đẩy nhanh quá trình kinh doanh, trong đó hết sức coi trọng các biện pháp kinh tế, tổ chức kỹ thuật công nghệ, phương pháp quản lý
Việc rút ngắn chu kỳ kinh doanh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đến việc tăng nhanh kết quả kinh doanh, giảm thiểu được chi phí và nâng cao hiệu quả kinh tế
1.2.2 Những vấn đề kinh tế cơ bản của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển
đều phải giải quyết tốt ba vấn đề kinh tế cơ bản: quyết định sản xuất cái gì, quyết định sản xuất như thế nào và quyết định sản xuất cho ai
1.2.2.1 Quyết định sản xuất cái gì
Nhu cầu thị trường rất phong phú, đa dạng và ngày một tăng cả về số và chất lượng Nhưng thực tế nhu cầu có khả năng thanh toán lại có hạn, do đó xã hội và con người phải lựa chọn từng loại nhu cầu mang lại lợi ích nhiều nhất cho họ Tổng số các nhu cầu có khả năng thanh toán của xã hội và của người tiêu dùng chính là nhu cầu có khả năng thanh toán của thị trường
Nhu cầu có khả năng thanh toán là căn cứ, xuất phát điểm để định hướng cho chính phủ và các nhà sản xuất quyết định sản xuất (hay cung ứng) cái gì - Cụ
thể hơn đó là phải sản xuất hay cung ứng cái mà thị trường cần để có thể đạt lợi nhuận tối đa
Cung, cầu, cạnh tranh trên thị trường tác động qua lại lẫn nhau để có thể ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định giá cả thị trường và số lượng hàng hoá cần cung cấp trên một thị trường nhất định đó,
Giá cả thị trường là thông tin có ý nghĩa quyết định đối với việc lựa chọn sản xuất và cung ứng sao cho có lợi nhất Nó chính là "bàn tay vô hình" điều chỉnh quan hệ cung, cầu giúp doanh nghiệp lựa chọn đưa ra quyết định sản xuất
Tóm lại, nhu cầu thị trường là vô hạn, khả năng thanh toán là có hạn, doanh nghiệp cần phải lựa chọn sản xuất cái gì và sản xuất với số lượng bao nhiêu, khi nào thì cung ứng ra thị trường đều do nhu cầu thị trường quyết định
Sản xuất loại hàng hoá nào phù hợp với khả năng thanh toán của thị trường
là điều mang tính sống còn của doanh nghiệp
Quyết định sản xuất cái gì, tức là sản xuất cái mà thị trường cần, với số lượng bao nhiêu, chất lượng như thế nào và mẩu mã ra sao để đảm bảo thị trường chấp nhận
1.2.2.2 Quyết định sản xuất như thế nào
Sản xuất như thế nào nghĩa là lựa chọn phương pháp sản xuất nào và kết
hợp các yếu tố đầu vào ra sao, sử dụng công nghệ sản xuất nào để đạt được hiệu
Trang 9quả kinh tế cao nhất- Tức là với chi phí sản xuất ít nhất, thu được lợi nhuận lớn nhất
Trong kinh tế thị trường cách duy nhất để các nhà kinh doanh chiếm ưu thế
về giá cả, chất lượng, đa dạng về chủng loại là việc tìm kiếm đầu vào hợp lý, cải tiến kỹ thuật, đổi mới về công nghệ, nâng cao trình độ tay nghề của công nhân, cải tiến phương pháp quản lý và nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thị
trường
Giải thích: Sau khi lựa chọn được cần sản xuất cái gì, các doanh nghiệp phải
xem xét và lựa chọn việc sản xuất hàng hoá và dịch vụ đó như thế nào để sản xuất nhanh và nhiều hàng hoá theo nhu cầu thị trường với chi phí thấp nhất, cạnh tranh thắng lợi trên thị trường đểt có lợi nhuận cao nhất Với động cơ lợi nhuận, doanh nghiệp phải lựa chọn và quyết định giao cho ai, sản xuất hàng hoá, dịch vụ này bằng nguyên vật liệu gì, công nghệ sản xuất nào để đem lại lợi nhuận cao nhất
1.2.2.3 Quyết định sản xuất cho ai
Bao gồm việc xác định rỏ ai sẽ được hưởng thụ và thu lợi từ những hàng hoá, dịch vụ được xã hội sản xuất ra Vấn đề mấu chốt ở đây là cần giải quyết việc phân phối kết quả hoạt động cho ai và như thế nào để vừa đảm bảo công bằng xã hội, vừa kích thích được sản xuất, tạo được động lực phát triển kinh tế -
xã hội, đáp ứng nhu cầu công cộng và các nhu cầu khác
Thị trường quyết định giá cả của các yếu tố sản xuất, do vậy thị trường cũng quyết định thu nhập củat các đầu ra- thu nhập về hàng hoá và dịch vụ
Thu nhập của xã hội, của tập thể hay của cá nhân phụ thuộc vào quyền sở hữu và giá trị của các yếu tố sản xuất, phụ thuộc vào lượng hàng hoá và giá cả của hàng hoá dịch vụ
Về nguyên tắc phân phối theo lao động, người lao động phải được hưởng lợi ích từ hàng hoá mà họ làm ra
Hay nói môt cách khác, cần đảm bảo cho mọi người lao động được hưởng và được lợi từ những hàng hoá và dịch vụ của doanh nghiệp đã tiêu thụ trên cơ sở căn cứ vào những cống hiến của họ đối với quá trình sản xuất ra những hàng hoá dịch vụ ấy, đồng thời chú ý thoả đáng đến những vấn đề xã hội đối với con người
Tóm lại, Ba vấn đề cơ bản nói trên đều được giải quyết trong mọi xã hội
(không phân biệt chế độ chính trị ), trong mỗi đơn vị Mỗi đơn vị phải quyết định cho bằng được:
- Sản xuất đầu ra nào, số lượng bao nhiêu, chất lượng như thế nào?
- Sản xuất những đầu ra ấy bằng những đầu vào nào, kỹ thuật gì, công nghệ
ra sao để có chi phí thấp nhất?
- Cần sản xuất và phân phối các đầu ra đó cho ai là tối ưu nhất?
Quá trình phát triễn kinh tế của mỗi nước, mỗi ngành, mỗi địa phương, mỗi doanh nghiệp chính là dựa vào quá trình lựa chọn để quyết định ba vấn đề cơ bản nói trên Tuy nhiên việc lựa chọn này còn tuỳ thuộc vào trình độ phát triễn kinh
Trang 10tế -xã hội, vai trò và sự can thiệp của các chính phủ, phụ thuộc vào chế độ chính
trị- xã hội của mỗi nước
1.3 LÝ THUYẾT LỰA CHỌN
1.3.1 Những vấn đề cơ bản của lý thuyết lựa chọn
Việc lựa chọn kinh tế tối ưu trong các hoạt động kinh tế vi mô có ý nghĩa quyết định đến việc bảo đảm hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh Nhưng việc lựa chọn nói trên đều dựa trên cơ sở khoa học của lý thuyết lựa chọn Từ đó mới xây dựng được các phương pháp ứng dụng
cụ thể trong từng trường hợp, lĩnh vực và từng doanh nghiệp cụ thể
1.3.1.1 Cơ sở của sự lựa chọn
- Chi phí cơ hội:
Đây là khái niệm hữu ích nhất được sử dụng trong lý thuyết lựa chọn Đây là một ý tưởng đơn giản nhưng được vận dụng hết sức rộng rãi trong cuộc sống Nó
là công cụ để xử lý một loạt vấn đề kinh tế khác nhau
Vậy chi phí cơ hội là gì? Chi phí cơ hội là giá trị cơ hội tốt nhất bị bỏ qua khi đưa ra một quyết định lựa chọn kinh tế
Ví dụ: Một doanh nghiệp có 1000.000.000 đồng, quyết định đầu tư kinh doanh một loại hàng hoá nào đó thay vì gửi vào ngân hàng để tính lãi suất Giả định lãi suất tiền gửi trên thị trường là 10%/năm Như vậy chi phí cơ hội của quyết định đầu tư trên (tính cả năm) là 100.000.000 đồng
- Theo quy luật chi phí cơ hội tăng lên thì để thu nhập được nhiều hơn một loại hàng hoá nào đó, chúng ta phải hy sinh một lượng lớn hơn các loại hàng hoá khác Do vậy người ta lý giải hành vi kinh tế bằng cách luận chứng rằng các
tác nhân kinh tế sẽ lựa chọn bằng cách cân nhắc, so sánh những lợi ích do sự lựa chọn đó đem lại và chi phí tính theo những cơ hội đã bỏ qua
Ví dụ, khi quyết định sử dụng thời gian của mình trong ngày, tôi đã chọn cách sử dụng là nghe chuyên gia giảng chuyên đề, vì nó lợi ích lớn hơn nếu sử dụng thời gian đó để đọc sách
Lựa chọn là cách thức mà người sản xuất và người tiêu dùng sử dụng dựa trên cơ sở khoa học để đưa ra những quyết định kinh tế tối ưu
Lựa chọn là tìm cách luận giải có cơ sở khoa học các cách thức mà cá nhân cũng như doanh nghiệp sử dụng để đưa ra những quyết định tối ưu
- Sự lựa chọn là cần thiết bởi vì xuất phát từ mối quan hệ giữa nhu cầu tiêu
dùng của con người là vô hạn, nguồn lực lại có giới hạn, nên chúng ta phải lựa chọn
- Lựa chọn có tính khả thi: sự lựa chọn có thể thực hiện được là vì nguồn lực
mặc dù khan hiến, nhưng chúng ta có thể sử dụng vào mục đích này hay mục đích khác tuỳ theo cách thức lựa chọn của chúng ta
Tóm lại, cả người sản và người tiêu dùng đều cần phải lựa chọn (người sản
xuất lựa chọn sự kết hợp đầu vào, người tiêu dùng lựa chọn sự kết hợp tiêu dùng hàng hoá) Quyết định của sự lựa chọn phải mang lại lợi ích kinh tế cao nhất
Trang 111.3.1.2 Mục tiêu của sự lựa chọn
Sự lựa chọn được thực hiện trên cơ sở mục tiêu của những tác nhân kinh tế, những mục tiêu này có thể xác định bởi hạn chế của ngân sách gia đình và giá cả của hàng hoá; nguồn vốn của một doanh nghiệp; ngân sách của một quốc gia nhưng suy đến cùng mục tiêu của sự lựa chọn là lợi ích kinh tế
- Đối với người sản xuất mục tiêu theo đuổi của họ là lợi nhuận tối đa Trong
kinh tế thị trường sản xuất kinh doanh phải có lợi nhuận mới tồn tại được trong cạnh tranh
- Đối với người tiêu dùng mục tiêu của họ là tối đa hoá lợi ích, tức là lựa
chọn một tập hợp hàng hoá cho phép thu được lợi ích lớn nhất trên cơ sở đường ngân sách của họ và giá cả của hàng hoá
Đối với một quốc gia mục tiêu của sự lựa chọn là mang lại nhiều phúc lợi cho mọi người
1.3.2 Bản chất và phương pháp lựa chọn kinh tế tối ưu
1.3.2.1 Bản chất của sự lựa chọn
Từ nghiên cứu về lý thuyết lựa chọn, chúng ta có thể rút ra bản chất của sự lựa chọn kinh tế vì sự lựa chọn của một cá nhân, một doanh nghiệp có ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế Chẳng hạn như ta sản xuất hàng hoá này hay
hàng hoá khác đều phải tính đến tài nguyên, như vậy bản chất của sự lựa chọn là:
- Lựa chọn quyết định sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai, trong giới hạn nguồn lực cho phép Sự lựa chọn tối ưu trước hết ưu tiên về kinh
tế, nhưng đồng thời phải chú ý về mặt xã hội ngay trong từng doanh nghiệp
- Lựa chọn ở đây là lựa chọn sự kết hợp các yếu tố đầu vào một cách tối ưu,
để sản xuất ra hổn hợp đầu ra lớn nhất đáp ứng nhu cầu thị trường và xã hội
Đây là quyết định quan trọng nhất của người sản xuất
Chính sự lựa chọn đúng đắn sẽ cho phép chúng ta có thể thu được nhiều lợi ích nhất từ những nguồn lực mà chúng ta có Lợi ích ở đây phải xét cả lợi ích
kinh tế, lợi ích xã hội, lợi ích về an ninh quốc gia v.v nhưng trong kinh doanh thì lợi ích kinh tế là cao nhất cho một doanh nghiệp, là tiêu chuẩn của sự lựa chọn
1.3.2.2 Phương pháp của sự lựa chọn
Việc lựa chọn kinh tế tối ưu, thông thường người ta sử dụng mô hình toán, với các bài toán tối ưu Nhưng ràng buộc quan trọng nhất là giới hạn năng lực sản xuất- tức là việc chúng ta sản xuất cái gì và bao nhiêu trong một khoảng thời gian nào đó luôn có một giới hạn nhất định của nguồn lực cho phép
Việc lựa chọn để có những quyết định kinh tế tối ưu mà chúng ta tiến hành
được minh hoạ bằng đường giới hạn năng lực sản xuất Được ký hiệu PPF (Production Possibility Frontier)
Đường (PPF) là đường thể hiện các mức phối hợp tối đa về khối lượng các loại sản phẩm có thể sản suất ra được, khi sử dụng toàn bộ nguồn lực sẳn có của nền kinh tế
Trang 12Nhưng trên đường năng lực sản xuất cho phép đó, chúng ta sẽ chọn tại điểm
nào thì tối ưu nhất Để đơn giản ta nghiên cứu sự kết hợp sản xuất hai loại hàng
hóa sau đây
Ví dụ: Giả sử có một doanh nghiệp có thể sản xuất được hai loại hàng hoá
đó là: sản xuất thiết bị (X) và sản xuất hàng tiêu dùng (Y) với khả năng sản xuất
có thể thay thế cho nhau như sau:
Khả năng sản xuất có thể thay thế cho nhau ( đơn vị triệu đồng)
Trên trục tung của đồ thị chỉ khả năng sản xuất hàng hóa tiêu dùng, trục
hoành chỉ khả năng sản xuất thiết bị và từ các phương án kết hợp A, B, C, D, E,
F ta có thể xây dựng đường PPF
Tất cả những điểm nằm trên đường PPF đều cho ta sự lựa chọn có hiệu quả
nhất, vì nó tận dụng hết khả năng sản xuất Điểm có hiệu quả nhất là điểm thuộc
PPF và có phối hợp sản xuất hàng hoá đáp ứng tối đa nhu cầu thị trường và xã
hội
Những điểm nằm ngoài PPF thì không thể đạt được, còn những điểm nằm
dười đường PPF lại không mong muốn
Tóm lại, qua nghiên cứu lý thuyết lựa chọn kinh tế tối ưu trong giới hạn của
nguồn lực cho ta thấy :
Kinh tế học nói chung kinh tế vi mô nói riêng là khoa học của sự lựa chọn
Trong nền kinh tế thị trường theo quan hệ cung cầu nguồn lực càng khan hiếm
thì việc lựa chọn càng chặt chẽ, khó khăn; cạnh tranh càng gay gắt thì sự lựa
chọn càng phức tạp
Cần phải khai thác để sử dụng đầy đủ và có hiệu quả các nguồn lực hiện có
để thoả mãn nhu cầu thị trường và xã hội đạt được lợi nhuận cao nhất
Góp phần làm sáng tỏ việc lựa chọn ba vấn đề kinh tế cơ bản trong giới hạn
của nguồn lực cho phép
Giúp cho con người lựa chọn tối ưu nhu cầu của cuộc sống, sự thích nghi và
phát triển của trong từng thời kỳ, từng hoàn cảnh cụ thể
1.4 ẢNH HƯỞNG CỦA QUY LUẬT LỢI SUẤT GIẢM DẦN, CHI PHÍ CƠ
HỘI NGÀY CÀNG TĂNG
1.4.1 Ảnh hưởng của quy luật khan hiếm
Trang 13Việc lựa chọn ba vấn đề kinh tế cơ bản của doanh nghiệp sẽ không là vấn đề
nếu tài nguyên có không hạn chế Chúng ta sẽ sản xuất bất kỳ hàng hoá nào với
số lượng vô hạn Nhưng thực tế không phải như vậy, bởi vì nguồn lực ngày một hạn chế, tài nguyên ngày một khan hiếm và cạn kiệt Khi sản lượng sản xuất càng cao, tiêu thụ ngày càng nhiều thì tình trạng khan hiếm ngày càng gay gắt Nhu cầu tiêu dùng ngày càng đa dạng, phong phú và chất lượng ngày càng
cao nhưng tài nguyên để thoả mản nhu cầu ấy lại bị có hạn, ngày một khan hiếm (đât đai, khoáng sản, lao động)
Do đó vấn đề lựa chọn kinh tế tối ưu ngày trở nên khó khăn và khó có thể thực hiện được Các doanh nghiệp phải lựa chọn các vấn đề kinh tế cơ bản của mình trong giới hạn cho phép của khả năng sản xuất mà xã hội đã phân phối cho,
để đạt lợi nhuận cao nhất
1.4.2 Ảnh hưởng của quy luật lợi suất giảm dần
Quy luật lợi suất giảm dần đề cập khối lượng đầu ra có thêm ngày càng
giảm, khi ta liên tiếp bỏ những đơn vị bằng nhau của một đầu vào biến đổi (lao động) vào một số lượng cố định của một đầu vào khác (đất đai)
Ví dụ: Tại mọt trang trại trồng ngô:
Nếu có 1 lao động bỏ vào sản xuất thì có sản lượng 2000 kg
Nếu tăng thêm 1 lao động có sản lượng 3000 kg
Nếu tăng thêm 1 lao động có sản lượng 3500 kg
Rõ ràng tăng thêm 1 lao động thì sản lượng tăng thêm 1000 kg
Nếu tăng thêm 2 lao động thì sản lượng chỉ tăng thêm 1500 kg
Lợi suất theo quy mô không đổi: Sự tăng thêm cân đối về quy mô sản xuất,
khi tất cả các đầu vào đều tăng theo mọt tỷ lệ và đầu ra cúng tăng theo một tỷ lệ
đó Tuy nhiên trong thực tế lợi suất theo quy mô không đổi không hẳn xảy ra như vậy
Lợi suất giảm dần sử dụng đường giới hạn năng lực sản xuất Quy luật lợi
suất giảm dần cúng có thể thấy được trên đường cong giới hạn khả năng sản xuất Khi lao động và đất đai cùng tăng làm cho đường năng lực sản xuất dịch chuyển
ra ngoài, khi ấy lợi suất tăng theo quy mô sản xuất, nên đầu ra tăng lên cùng nhịp
độ tăng của đầu vào
Kết luận: Quy luật lợi suất giảm dần có nội dung chủ yếu là một sự tăng lên của một đầu vào biến đổi so với đầu vào khác cố định, trong một trình độ kỹ thuật nhất định sẽ nâng cao tổng sản lượng Nhưng ở một thời điểm nào đó sản lượng thêm có được nhờ cùng một lượng bổ sung ở đầu vào có khả năng ngày một nhỏ hơn
Quy luật này giúp cho các doanh nghiệp tính toán, lựa chọn các phương án đầu tư một cách có hiệu quả cao
1.4.3 Ảnh hưởng của quy luật chi phí cơ hội ngày càng tăng
Theo quy luật chi phí cơ hội ngày càng tăng khi muốn có thêm một lượng
bằng nhau về một đầu ra (sản phẩm, mặt hàng) nào đó, xã hội phải hy sinh ngày càng nhiều số lường đầu ra ( sản phẩm, mặt hàng) khác
Trang 14Đường cong lồi giới hạn khả năng sản xuất biểu thị quy luật chi phí cơ hội ngày càng tăng
Quy luật chi phí cơ hội ngày càng tăng có quan hệ với quy luật lợi suất giảm
dần
Quy luật chi phí cơ hội ngày càng tăng giúp cho cúng ta tính toán và lựa
chọn sản xuất cài gì, như thế nào để có lợi nhất
1.4.4 Ảnh hưởng của hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một khái niệm dùng để chỉ mối quan hệ kết quả thực
hiện các mục tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí mà chủ thể đó bỏ ra để có kết quả đó trong một điều kiện nhất định
Theo quan điểm kinh tế học vi mô thì hiệu quả kinh tế phải nằm trên đường
năng lực sản xuất Từ đó có một số kết luận như sau:
Tất cả những quyết định sản xuất cái gì nằm trên đường PPF là có hiệu quả
Hiệu quả kinh tế là tiêu chuẩn cao nhất của mọi sự lựa chọn kinh tế của các
doanh nghiệp trong nền kinh tế
Trang 15Chương 2:
CUNG - CẦU
2.1 CẦU Ký hiệu D (Demand)
Tiêu dùng là một hành vi rất quan trọng của con người, đó chính là hành động nhằm thoả mãn những nguyện vọng, trí tưởng tượng riêng về nhu cầu tình cảm, vật chất của con người Sự thoả mãn nói trên có thể đạt được thông qua các sản phẩm và việc tiêu dùng các sản phẩm đó, các sản phẩm có thể là những sản phẩm vật chất (như thức ăn, quần áo, nhà ở ) hoặc có thể là những sản phẩm phi vật chất (như hoạt động dịch vụ, tin tức, âm nhạc, phim ảnh ) phần lớn các sản phẩm này được tạo ra trong quá trình lao động, sản xuất phục vụ nhu cầu tiêu dùng, tuy nhiên hành vi tiêu dùng của từng cá nhân rất khác nhau, phụ thuộc vào nhu cầu riêng của họ
2.1.1 Khái niệm
Cầu là số lượng hàng hoá hay dịch vụ mà người mua có khả năng và sẳn
sàng mua ở các mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định, với giả định các yếu tố khác không đổi
Như vậy khi nói đến cầu ta phải hiểu hai yếu tố cơ bản là: Có khả năng mua
và sẳn sàng mua hàng hoá hay dịch vụ đó Thiếu một trong hai yếu tố cơ bản đó
thì không có cầu
Cầu khác với nhu cầu, nhu cầu là những mong muốn và nguyện vọng vô hạn
của con người, do sự khan hiếm làm cho hầu hết các nhu cầu không được thoả mãn
Ví dụ: Bạn rất muốn có chiếc ô tô sang trọng - Đó là nhu cầu của bạn, nếu bạn không có tiền mua (khả năng) thì cầu về chiếc ô tô đó bằng không Tượng tự bạn có sẵn tiền song bạn không muốn mua chiếc xe đạp, thì cầu của bạn về chiếc
xe đó cũng bằng không
Lượng cầu: Lượng cầu là số lượng hàng hoá hay dịch vụ mà người mua có
khả năng và sẳn sàng mua ở mức giá đã cho trong một khoảng thời gian nhất định, với giả định các yếu tố khác không đổi
Cầu phản ánh hành vi của người mua ở mọi mức giá, ở một mức giá đã cho
có một lượng cầu cụ thể Như vậy ta thấy rằng cầu là toàn bộ mối quan hệ giữa lượng cầu và giá cả
2.1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến cầu và lượng cầu
a Giá cả bản thân hàng hoá (X): Ký hiệu Pxt (Price)
Đây là yếu tố tác động mạnh đến lượng cầu Khi giá cả hàng hoá tăng lên thì
lượng cầu giảm xuống và ngược lại
Lượng hàng hoá, dịch vụ: Ký hiệu: Q (Quantity)
b Giá cả hàng hoá có liên quan: Ký hiệu Pyt, Pzt
Cầu của hàng hoá không chỉ phụ thuộc vào giá cả bản thân hàng hoá, mà còn chịu ảnh hưởng bởi sự thay đổi của giá cả các loại hàng hoá có liên quan
Trang 16Ví dụ: Cầu của thịt lợn, phụ thuộc vào giá cả của cá; cầu ô tô phụ thuộc vào giá xăng
Hàng hoá có liên quan được chia làm hai loại: Hàng hoá thay thế và hàng hoá
bổ sung
- Hàng hoá thay thế (Y): Là hàng hoá có thể sử dụng để thay thế cho hàng hoá khác Ví dụ, dùng cocola thay cho 7UP, dùng tấm lợp xi măng thay cho ngói
Khi giá cả hàng hoá này (Y) tăng hoặc giảm thì cầu hàng hoá khác (X) tăng hoặc giảm
- Hàng hoá bổ sung (Z): Là hàng hoá được dùng đồng thời với hàng hoá khác Ví dụ, dùng xe máy đồng thời với xăng
Khi giá cả hàng hoá này (Z) tăng hoặc giảm, thì cầu hàng hoá khác (X) giảm
hoặc tăng
c Thu nhập của người tiêu dùng: Ký hiệu It (Income)
Thu nhập người tiêu dùng ảnh hưởng rất lớn đến khả năng mua hàng, từ đó ảnh hưởng đến khối lượng hàng hoá tiêu thụ trên thị trường Nhìn chung khi thu nhập của người tiêu dùng tăng hoặc giảm thì cầu của hàng hoá tăng hoặc giảm Tuy nhiên thái độ mua sắm của họ lại phụ thuộc vào từng loại hàng hoá khác nhau
Hàng hóa thông thường có hai loại: hàng hóa thiết yếu và hàng hóa cao cấp Đối với hàng hoá thiết yếu (là những hàng hóa phục vụ cho nhu cầu cơ bản như: gạo, áo quần, nhà ở ) khi thu nhập tăng lên thì cầu tăng không đáng kể, giữ nguyên và thậm chí giảm xuống
Đối với hàng hoá cao cấp (xa xỉ phẩm như: ô tô sang trọng, du lịch nước ngoài ) khi thu nhập tăng lên thì cầu tăng hoặc tăng mạnh
Đối với hàng hoá thứ cấp (là hàng hóa có chất lượng thấp, lặc mốt, không hợp thị hiếu, hàng giá rẽ, hàng phế phẩm ) khi thu nhập tăng thì cầu về hàng hoá, dịch vụ này giảm rất mạnh
d Thị hiếu người tiêu dùng: Ký hiệu Tt ( Taste)
Thị hiếu là sở thích hay sự ưu tiên của người tiêu dùng đối với hàng hoá, dịch vụ Do tập quán, tục lệ, trình độ văn hoá xã hội, hoặc do tác động của quảng cáo mà hình thành
Thị hiếu có ảnh hưởng đếu cầu của người tiêu dùng Thị hiếu thay đổi làm cho cầu hàng hoá, dịch vụ thay đổi, đặc biệt là trong lĩnh vực thời trang
e Dân số: Ký hiệu Nt (Num ber of consumer)
Số lượng người tiêu dùng tăng hay giảm, thì cầu hàng hoá, dịch vụ tăng hay giảm
f Các kỳ vọng: Ký hiệu Et (Expectation)
Cầu hàng hoá, dịch vụ sẽ thay đổi phụ thuộc vào sự mong đợi của người tiêu dùng Nếu người tiêu dùng hy vọng rằng giá cả hàng hoá sẽ giảm trong tương lai
Trang 17thì cầu hàng hoá hiện tại sẽ giảm và ngược lại Các kỳ vọng cũng có thể về thu nhập, về thị hiếu, về số lượng người tiêu dùng đều tác động đến cầu hàng hoá
xt là lượng cầu hàng hoá X trong thời gian t
- Để đơn giản cho việc tính toán, người ta chỉ xác định hàm số của cầu đối với biến Px và nó là hàm tuyến tính, còn các biến khác ta không xét đến Vậy hàm cầu có dạng: QD = f(PX)
Đây là hàm bậc nhất, mặt khác mối quan hệ giữa lượng cầu và giá là mối quan hệ tỷ lệ nghịch Do đó, hàm cầu có dạng:
QD = -aP + b hay PD = -aQ + b (a > 0)
- Cầu cá nhân và cầu thị trường:
Cầu cá nhân là số lượng hàng hoá hay dịch vụ mà một người tiêu dùng có khả năng và sẳn sàng mua ở các mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định, với giả định các yếu tố khác không đổi
Cầu thị trường là tổng số lượng hàng hoá hoặc dịch vụ mà mọi người có khả
năng và sẳn sàng mua ở các mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất
định, với giả định các yếu tố khác không đổi
Cầu thị trường là tổng cầu cá nhân, trong một khoảng thời gian nhất định
Q(tt)D = Q1 + Q2 + Q3 + + Qn = QiD
2.1.4 Biểu cầu
Biểu cầu là bảng thống kê miêu tả số lượng hàng hoá hay dịch vụ mà người mua có khả năng và sẳn sàng mua ở mọi mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định, với giả định các yếu tố khác không đổi
Biểu cầu cá nhân và biểu cầu thị trường
a Biểu cầu cá nhân:
Biểu cầu cá nhân là bảng miêu tả số lượng hàng hoá, dịch vụ của cầu cá nhân
Ví dụ: Qua nghiên cứu và thống kê cầu về nước giải khát trong ngày của cá nhân A như sau:
P (nghìn đồng/ly) 2 3 4 5
Q (ly nước giải khát) 4 3 2 1
Ở mổi mức giá có một lượng cầu nhất định: P1 = 2.000đ, có Q1= 4 ly nước giải khát; P2= 3.000đ, có Q2 = 3 ly nước giải khát
b- Biểu cầu thị trường:
Biểu cầu thị trường là biểu thống kê cầu thị trường:
Trang 18Ví dụ: Qua nghiên cứu và thống kê cầu về nước giải khát trong ngày của cá
nhân A, B, C như sau:
Đường cầu là đường biểu diễn mối quan hệ giữa giá cả và lượng cầu lên đồ
thị (Trên hệ trục toạ độ QOP) Theo quy ước: trục tung biểu diễn giá, trục hoành
biểu diễn lượng cầu
Đường cầu cũng có đường cầu cá nhân A (a) và đường cầu thị trường (b)
Mổi điểm trên đường cầu cho ta biết, tại một mức giá cụ thể có một
lượng cầu cụ thể Còn toàn bộ đường cầu cho ta biết cầu của một loại hàng hoá,
dịch vụ cụ thể nào đó
Để đơn giản cho việc tính toán người ta thường quy đường cầu về dạng
đường thẳng (dạng tuyến tính)
Quan hệ giữa giá cả và lượng cầu là quan hệ nghịch biến nên đường cầu có
dạng nghiêng dốc xuống về bên phải thể hiện luật cầu
2.1.6 Luật cầu
Nội dung quy luật: Số lượng hàng hoá, dịch vụ được cầu trong một khoảng
thời gian đã cho tăng lên khi giá cả của nó giảm xuống, với giả định các yếu tố
Trang 19Tại sao khi giá cả giảm xuống lượng cầu lại tăng lên? Vì khi giá cả giảm xuống người tiêu dùng cảm thấy như mình giàu lên, họ có khả năng mua nhiều hàng hoá hơn Còn khi giá cao lượng cầu giảm là vì mổi hàng hoá đều có thể được thay thế bởi hàng hoá khác Khi giá cả của hàng hoá nào đó tăng thì người tiêu dùng tìm mua hàng hoá khác thay thế để sử dụng
Ví dụ: Giá thịt lợn đắt người tiêu dùng mua cá để thay thế
2.1.7 Sự vận động dọc theo đường cầu và sự dịch chuyển của đường cầu
Lượng cầu tại một mức giá đã cho biểu thị bằng một điểm trên đường cầu, còn toàn bộ đường cầu phản ánh cầu của hàng hoá hay dịch vụ cụ thể Từ khái niệm đó ta phân biệt được:
Khi lượng cầu thay đổi là sự vận động dọc theo đường cầu Yếu tố tác động
để cho lượng cầu thay đổi là giá cả bản thân hàng hoá, dịch vụ đó (Ha)
Sự thay đổi của cầu làm dịch chuyển toàn bộ đường cầu Tác động đến cầu là
các yếu tố khác như giá cả hàng hoá có liên quan, thu nhập của người tiêu dùng,dân số (Hb)
2.2 CUNG Ký hiệu S (Supply)
Cung là nói đến người sản xuất, người cung ứng hàng hoá cho thị trường
2.2.1 Khái niệm
Cung là số lượng hàng hoá hay dịch vụ mà người bán có khả năng và sẳn
sàng bán ở các mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định, với giả định các yếu tố khác không đổi
Như vậy khi nói đến cung ta phải hiểu hai yếu tố cơ bản là: Có khả năng và sẳn sàng bán hàng hoá hay dịch vụ đó Thiếu một trong hai yếu tố cơ bản đó thì
không có cung
Người sản xuất có hàng hoá nhưng họ không muốn bán vì giá rẽ thì cũng không có cung và cầu sẽ không được thoả mãn Ngoài ra khi nói đến cung chúng
ta phải lưu ý đến bối cảnh không gian và thời gian cụ thể vì đây là nhân tố ảnh
hưởng trực tiếp đến cung
Lượng cung: Lượng cung là số lượng hàng hoá hay dịch vụ mà người bán
có khả năng và sẳn sàng bán ở mức giá đã cho trong một khoảng thời gian nhất định, với giả định các yếu tố khác không đổi
Cung phản ánh hành vi của người bán ở mọi mức giá, ở một mức giá đã cho
có một lượng cung cụ thể Như vậy ta thấy rằng cung là toàn bộ mối quan hệ giữa lượng cung và giá cả
Trang 202.2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến cung và lượng cung
a Giá cả bản thân hàng hoá (X): Ký hiệu Pxt (Price)
Đây là yếu tố tác động mạnh đến lượng cung Khi giá cả hàng hoá tăng lên
thì lượng cung tăng lên và ngược lại
b Giá cả các yếu tố sản xuất: Ký hiệu P (K,L) t
Khi giá cả các yếu tố sản xuất thay đổi sẽ làm cho chi phí sản xuất thay đổi, dẩn đến lợi nhuận của nhà sản xuất thay đổi và do đó ảnh hưởng đến lượng hàng hoá, dịch vụ cung ứng ra thị trường
c Trình độ công nghệ: Ký hiệu Tt ( Technology)
Trình độ công nghệ là một yếu tố quan trọng góp phần nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất trong quá trình chế tạo sản phẩm Sự cải tiến công nghệ sẽ làm tăng khả năng cung ứng sản phẩm trên thị trường và ngược lại
d Số lượng người sản xuất: Ký hiệu Nt(Number of Producer)
Số lượng người sản xuất nhiều thì cung hàng hoá, dịch vụ càng lớn và ngược lại
e Chính sách thuế của Chính phủ: Ký hiệu Tax
Chính sách thuế có ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định sản xuất của các doanh nghiệp, do đó ảnh hưởng đến mức cung hàng hoá, dịch vụ trên thị trường Mức thuế cao làm ảnh hưởng đến lợi nhuận của các doanh nghiệp nên họ không muốn sản xuất và ngược lại
f Các kỳ vọng: Ký hiệu Et
Cung hàng hoá, dịch vụ sẽ thay đổi phụ thuộc vào sự mong đợi của người sản xuất Nếu người sản xuất hy vọng rằng giá cả hàng hoá, dịch vụ, giá cả các yếu tố sản xuất, chính sách thuế thuận lợi sẽ mở rộng mức cung và ngược lại
xt là lượng cung hàng hoá X trong thời gian t
- Để đơn giản trong tính toán, người ta chỉ xác định hàm số của cung đối với giá (PX) và là hàm tuyến tính Còn các yếu tố khác không xét đến Vậy hàm số cung là: QS = f(PX)
Đây là một hàm bậc nhất, mặt khác mối quan hệ giữa lượng cung và giá là mối quan hệ tỷ lệ thuận Do đó hàm cung có dạng:
QS = aQ + b hay PS = aQ + b
- Cung cá nhân và cung thị trường:
Cung cá nhân là số lượng hàng hoá hay dịch vụ mà một người bán có khả năng và sẳn sàng bán ở các mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định, với giả định các yếu tố khác không đổi
Trang 21Cung thị trường là tổng số lượng hàng hoá hoặc dịch vụ mà mọi người có khả năng và sẳn sàng bán ở mọi mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định, với giả định các yếu tố khác không đổi
Cung thị trường là tổng cung cá nhân, trong một khoảng thời gian nhất định
Q(tt)S = Q1 + Q2 + Q3 + + Qn = QjS
2.2.4 Biểu cung
Biểu cung là bảng thống kê miêu tả số lượng hàng hoá hay dịch vụ mà người bán có khả năng và sẳn sàng bán ở mọi mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định, với giả định các yếu tố khác không đổi
Biểu cung cá nhân và biểu cung thị trường
a Biểu cung cá nhân:
Biểu cung cá nhân là bảng miêu tả số lượng hàng hoá hay dịch của cung cá nhân
Ví dụ: Qua khoả sát ta thống kê được cung về dịch vụ đánh máy trang văn bản của cá nhân A như sau:
P (Giá đánh máy một trang văn
bản, đơn vị tính 1.000 đồng)
QSA Lượng cung (trang)
Ở mổi mức giá có một lượng cung cụ thể: P1 = 2.000đ, có Q1= 10 trang; P3
Trang 222.2.5 Đường cung
Đường cung là đường biểu diễn mối quan hệ giữa giá cả và lượng cung lên
đồ thị (Trên hệ trục toạ độ POQ) Theo quy ước, trục tung biểu diễn giá, trục hoành biểu diễn lượng cung
Đường cung cũng có đường cung cá nhân (a) và đường cung thị trường (b)
Để đơn giản cho việc tính toán người ta thường quy đường cung về dạng đường thẳng (dạng tuyến tính)
Quan hệ giữa giá cả và lượng cung là quan hệ đồng biến nên đường cung có dạng nghiêng dốc lên về bên phải thể hiện luật cung
2.2.6 Luật cung
Nội dung quy luật: Số lượng hàng hoá, dịch vụ được cung trong một khoảng thời gian đã cho tăng lên khi giá cả của nó tăng lên, với giả định các yếu tố khác không đổi
Giải thích: Tại sao khi giá cả tăng lên lượng cung lại tăng lên? câu giải thích
ở đây là lợi nhuận, giả định giá cả các yếu tố đầu vào không đổi, giá cả hàng hoá tăng lên, có nghĩa là lợi nhuận tăng lên khuyến khích người sản xuất, làm tăng lượng cung hàng hoá trên thị trường
Trang 23Ví dụ: Sản xuất gạch men chẳng hạn, giá nhiên liệu, men, màu không đổi trong lúc giá gạch lại tăng, làm cho doanh nghiệp thu được lợi nhuận lớn hơn, doanh nghiệp muốn sản xuất gạch nhiều hơn để cung ứng cho thị trường
2.2.7 Sự vận động dọc theo đường cung và sự dịch chuyển của đường cung
Lượng cung tại một mức giá đã cho biểu thị bằng một điểm trên đường cung, còn toàn bộ đường cung phản ánh cung của hàng hoá hay dịch vụ cụ thể Từ khái niệm đó ta phân biệt được:
Khi lượng cung thay đổi là sự vận động dọc theo đường cung Yếu tố tác
động để cho lượng cung thay đổi là giá cả bản thân hàng hoá hay dịch vụ đó (Ha)
Sự thay đổi của cung làm dịch chuyển toàn bộ đường cung Tác động đến
cung là các yếu tố khác như giá cả các yếu tố đầu vào, trình độ công nghệ, số lượng người sản xuất (Hb)
P S P S' S S"
A Giảm Tăng Tăng, giảm lượng cung cung cung
Để đo mức độ thay đổi của lượng cầu dưới tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến nó, trong phân tích kinh tế người ta sử dụng hệ số co dãn (độ co dãn) của cầu
2.3.1 Sự co dãn của cầu theo giá
Độ co dãn của cầu theo giá của một hàng hoá là phần trăm (%) thay đổi của lượng cầu hàng hoá đó so với phần trăm (%) thay đổi giá cả bản thân hàng hoá
đó, với giả định các yếu tố khác không đổi
Ta có công thức định nghĩa: EDx =
Trong đó
Gọi EDx là độ co dãn của cầu (Elasticity of demand)
Qx Thay đổi tuyệt đối của lượng cầu hàng hóa X
%Qx phần trăm thay đổi của lượng cầu hàng hóa X
%Qx
%Px
Trang 24Px Thay đổi tuyệt đối giá hàng hóa X
%Px phần trăm thay đổi giá hàng hóa X
Hệ số co dãn của cầu theo giá được tính cho hai trường hợp:
2.3.1.1 Hệ số co dãn khoảng
Hệ số co dãn khoảng là ta tính hệ số co dãn của cầu trên một khoảng hữu hạn
nào đó của đường cầu (ứng với một khoảng giá cụ thể)
PA, PB là giá cả hàng hoá tại điểm A, B
QA, QB là lượng cầu của hàng hoá tại điểm A, B
Ví dụ: Ta có số liệu cầu của một cửa hiệu về giày da như sau:
Trên đường cầu là khoảng AB; A(4,10); B(8, 6)
Xét sự thay đổi tuyệt đối của lượng cầu (Qx): Qx = Q2 - Q1 = 8 - 4 = 4
ần trăm thay đổi của lượng cầu (%Qx): %Qx = Qx/Qx 100%, trong
đó chúng ta đã biết: Qx = 4 , Vậy còn Qx ta chọn 8 hay 4 ở đây các nhà kinh tế
lấy số trung bình tức là: (Q2 + Q1) : 2 = (8+4) : 2 = 6
%5,66
%1002
48
48
%1002
A B X
Q Q
Q Q Q
Ta nói lượng cầu thay đổi 66,5%
%50
%1002
106
106
%1002
A B
P P P
Ta nói giá thay đổi 50%
Trang 25Như vậy ta có hệ số co dãn của cầu như sau: 1,33
%50
%65
X
P
Q E
Qua kết quả cho ta thấy: Hệ số co dãn của cầu thường mang giá trị âm- phản
ánh quan hệ vận động ngược chiều giữa cầu với giá Nhưng để kết luận vấn đề ta
phải lấy giá trị tuyệt đối của EDx = 1,33
Kết luận: Khi giá cả thay đổi 1% thì lượng cầu thay đổi 1,33%
2.3.1.2 Hệ số co dãn điểm
Là ta xét hệ số co dãn của cầu tại một điểm hữu hạn nào đó trên đường cầu,
ứng với một mức giá đã cho
Ta có công thức tính hệ số co dãn điểm như sau:
EDx = = Q'(P) (Khi hàm cầu cho: Q = - aP + b)
EDx = = (Khi hàm cầu cho: P = - aQ + b)
Áp dụng vào bài toán trên ta tính EDx tại điểm, có P = 8 (dựa vào số liệu
trên biểu cầu ta lập được phương trình đường cầu là: P = - Q + 14 ) và ta tính
được Q = 6
EDx = = = - 1,33 E = 1,33
Hệ số co dãn của cầu theo giá nói lên sự phản ứng của người tiêu dùng khi
giá cả hàng hoá thay đổi, là thước đo độ nhạy cảm của lượng cầu
2.3.1.3 Phân loại hệ số co dãn
Từ công thức tính hệ số co dãn của cầu: E = với E sẽ có những
trường hợp sau đây xảy ra:
- E = cầu co dãn hoàn toàn
- E > 1 cầu co dãn tương đối (cầu co dãn nhiều)
- E = 1 cầu co dãn đơn vị
- 0<E < 1 cầu co dãn không tương đối (cầu co dãn ít)
- E = 0 cầu không co dãn
Chú ý: Lý thuyết về co dãn của cầu vừa nêu ở trên hoàn toàn áp dụng được
cho cung Chỉ khác là độ co dãn của cung thường mang giá trị dương, vì P và Q
là hai đại lượng đồng biến
2.3.1.4 Quan hệ giữa co dãn của cầu với tổng doanh thu
* Tổng doanh thu: Ký hiệu TR (Total Revenue)
1 Px P'(Q) Qx
1 8 (-Q + 14)' 6
Trang 26Tổng doanh thu là tổng số tiền thu được nhờ bán hàng hoá hay dịch vụ ở các mức giá khác nhau trong một thời kỳ nhất định
Công thức tính: TR = P Q
* Doanh thu cận biên: Ký hiệu MR (Marginal Revenue)
Doanh thu cận biên (biên tế , tới hạn, lề) là phần doanh thu tăng thêm khi bán
thêm một đơn vị hàng hoá hay dịch vụ Nói cách khác là sự thay đổi của tổng doanh thu khi tiêu thụ thêm một đơn vị bán ra
Công thức tính: MR = = = = TR'(Q)
(MR = TRn - TRn-1 , khi Q = 1)
MR = 0 thì TRmax
* Quan hệ giữa co dãn của cầu đối với giá cả và tổng doanh thu:
E > 1 Cầu co dãn nhiều (cầu co dãn tương đối) Doanh thu nghịch biến với
giá cả (Ha), (tức là khi giá cả hàng hoá tăng,giảm; doanh thu giảm, tăng)
0< E < 1 Cầu co dãn ít (cầu co dãn không tương đối) Doanh thu đồng biến
với giá cả (Hb), khi giá cả hàng hoá tăng, giảm; doanh thu giảm, tăng
E = 1 Cầu co dãn đơn vị Giá cả thay đổi, doanh thu không thay đổi (Hc) E = 0 Cầu không co dãn Dù giá thay đổi, lượng cầu không thay đổi (Hd)
* E = Cầu co dãn hoàn toàn Giá không thay đổi, nhưng lượng cầu thay đổi (He)
(a) ( b) (c) (d) (e)
2.3.2 Sự co dãn của cầu theo giá cả hàng hoá liên quan (co dãn chéo)
- Khái niệm: Độ co dãn chéo của cầu theo giá là % biến đổi của lượng cầu
của một hàng hoá này so với % biến đổi của giá hàng hoá khác
Co dãn của cầu theo giá cả hàng hóa có liên quan :
EDxy = Trong đó:
Py Thay đổi tuyệt đối giá hàng hóa Y
%Py phần trăm thay đổi giá hàng hóa Y
Biến đổi công thức bằng toán học ta có hai công thức sau đây:
Trang 27Co dãn chéo là co dãn của cầu đối với gía cả hàng hoá có liên quan
Công thức: EDxy =
EDXY = Trong đó:
QX2 là lượng cầu hàng hoá X tương ứng với giá hàng hoá Y là PY2
QX1 là lượng cầu hàng hoá X tương ứng với giá hàng hoá Y là PY1
Ví dụ: Có số liệu về giá thịt lợn (Y) và lượng cầu về cá (X) như sau:
Py (1.000 đồng) Qx (tấn /tháng)
EDxy = = 1,27
Khi giá cả thịt lợn tăng 1% thì lượng cầu về cá tăng 1,27%
- Phân loại độ co dãn chéo của câu theo giá:
E > 0 X và Y là hai hàng hoá thay thế
E < 0 X và Y là hai là hàng hoá bổ sung
E = 0 X và Y là hai là hàng hoá không liên quan
2.3.3 Hệ số co dãn của cầu đối với thu nhập
- Khái niệm: Độ co dãn của cầu theo thu nhập của một hàng hoá là % biến
đổi lượng cầu của hàng hoá đó so với % biến đổi của thu nhập
Gọi độ co dãn của cầu theo thu nhập của hàng hàng hoá X là ED
XI
DXI =
Trong đó: I Thay đổi tuyệt đối thu nhập người tiêu dùng
%I phần trăm thay đổi thu nhập của người tiêu dùng
Biến đổi công thức ta có:
- Ví dụ: Có số liệu về thu nhập bình quân của hộ gia đình tháng của một thành
phố và lượng cầu về tủ lạnh của một cửa hàng thương mại như sau:
%Qx
%I
(QX2 - QX1)(I2 + I1) (QX2 + QX1)(I2 - I1)
Trang 28- Phân loại độ co dãn của cầu theo thu nhập:
- E > 0 : X là hàng hoá thông thường:
0 < E < 1: X là hàng hoá thiết yếu,
E > 1: X là hàng hoá cao cấp
- E < 0: X là hàng hoá thứ cấp
- E = 0: X là hàng hoá không liên quan đến thu nhập
2.4 CÂN BẰNG CUNG - CẦU
2.4.1 Trạng thái cân bằng cung cầu
Khi cầu đối với một loại hàng hoá nào đó xuất hiện trên thị trường, người sản xuất sẽ tìm cách đáp ứng mức cầu đó
Trạng thái cân bằng cung cầu đối với một loại hàng hoá nào đó, là trạng thái khi việc cung ứng hàng hoá đó đủ thỏa mãn cầu đối với nó trong một thời kỳ nhất định
Trạng thái cân bằng cung cầu là trạng thái tương ứng với một mức giá nào
đó có lượng cung bằng lượng cầu
Trên đồ thị biểu diễn đường cung, đường cầu, thực hiện cân bằng cung, cầu
tại điểm E (Equilibrium and quantity) là điểm giao nhau của đường cung và
đường cầu
Tại điểm cân bằng có: PD = PS gọi là giá cân bằng Ký hiệu Pe
và QD = QS gọi là lượng cân bằng Ký hiệu Qe
Cách xác định:
- Dựa vào biểu cung cầu: Biểu cung cầu là bảng ghi đồng thời cả lượng cung
và lượng cầu tương ứng với mỗi mức giá
Trở lại ví dụ trên: Ta có biểu cung - cầu
P
(1.000
đ)
QD(trang)
QS(trang)
Trạng thái thị trường
Trang 29
Trên cơ sở biểu cung cầu, tìm mức giá nào đó có QD = QS
Cụ thể ở trên Q* = 40trang , P* = 3000đ/trang
- Dựa vào phương trình đường cung và đường cầu
Nếu phương trình đường cung và dường cầu có dạng hàm giá => cho PD
= PS => Q* => P*
Nếu phương trình đường cung và dường cầu có dạng hàm sản lượng =>
cho QD = QS => Q* => P*
Ví dụ: Có phương trình đường cung và đường cầu về thị trường hàng hoá
A ở một địa phương như sau:
QS = -1 +2P
QD = 11 - P Hãy xác định giá và lượng cân bằng? Giáo viên giải cho sinh viên
- Dựa vào đồ thị đường cung, đường cầu: điểm cân bằng thị trường chính
là điểm cắt nhau giữa đường cung và đường cầu (ở đồ thị trên) Đặc điểm của mức giá và lượng cân bằng là không xác định cho từng cá nhân riêng lẽ, mà nó được xác định cho toàn bộ tập thể người mua và người bán (thị trường) Đây chính là quy định khách quan của "bàn tay vô hình" trong cơ chế thị trường
Các yếu tố tác động lên cung cầu là tác động cân bằng và theo chiều trái ngược nhau, nên quá trình điều chỉnh trạng thái cân bằng thường xuyên xảy ra
Do đó trạng thái cân bằng trên thị trường là ngẩu nhiên và tạm thời
2.4.2 Trạng thái dư thừa và thiếu hụt của thị trường
Như chúng ta phân tích ở trên, trạng thái cân bằng của thị trường là tạm thời
do các yếu tố tác động trái ngược nhau Do vậy khi giá cả trên thị trường thay đổi, khác với giá cân bằng (thấp hoặc cao hơn giá cân bằng), từ đó gây ra hiện tượng dư thừa hoặc thiếu hụt trên thị trường
2.4.2.1 Trạng thái dư thừa
Với mức giá cao hơn mức giá cân bằng,
người sản xuất muốn cung ứng hàng hoá ra thị
trường nhiều hơn (theo luật cung) Tuy nhiên
người tiêu dùng sẽ giảm bớt nhu cầu của mình
(theo luật cầu) và như vậy thị trường sẽ dư thừa
hàng hoá
Trạng thái dư thừa hàng hoá là trạng thái
tương ứng một mức giá nào đó lượng cung lớn
hơn lượng cầu ( Q S > Q D )
Khi giá cả thực tế lớn hơn giá cân bằng thị
Trang 30Dư thừa trên thị trường là kết quả của cung
lớn hơn cầu ở mức giá nào đó, gọi là thặng dư
cung
2.4.2.2 Trạng thái thiếu hụt
Với mức giá thấp hơn mức giá cân bằng,
người sản xuất không muốn cung ứng hàng
hoá ra thị trường nhiều hơn (theo luật cung), vì
như vậy mức lợi nhuận của họ sẽ bị giảm sút
Nhưng người tiêu dùng lại cảm thấy như mình
"giàu lên" họ mua sắm nhiều hàng hoá hơn
(theo luật cầu) và như vậy thị trường sẽ sinh ra
hiện tượng thiếu hụt hàng hoá
Thiếu hụt trên thị trường là kết quả của cầu
lớn hơn cung ở mức giá nào đó, gọi là thặng dư
cầu
Trạng thái thiếu hụt hàng hoá là trạng thái
tương ứng một mức giá nào đó lượng cung nhỏ
hơn lượng cầu (Q S < Q D )
Khi giá cả thực tế nhỏ hơn giá cân bằng
thị trường thì ta c Q S < Q D
Lượng thiếu hụt = Q S - Q D
Tóm lại: Điều mà chúng ta thấy được là bất cứ lúc nào giá cả trên thị trường
cao hoặc thấp hơn mức giá cân bằng, thì thị trường sẽ xuất hiện trạng thái dư thừa hay thiếu hụt Để khắc phục tình trạng đó, cả người bán lẫn người mua đều
tự điều chỉnh hành vi của mình để đạt tới sự cân bằng cung - cầu trên thị trường
2.4.3 Sự thay đổi của trạng thái cân bằng
- Trạng thái cân bằng thị trường xảy ra đối với một hàng hoá là tồn tại không vĩnh cửu Trạng thái cân bằng đó chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định Trạng thái cân bằng đó sẽ thay đổi khi bất kì yếu tố nào có thể làm dịch chuyển đường cung hoặc đường cầu Khi đó trạng thái cân bằng mới được xác lập và tồn tại cho đến khi lại có sự dịch chuyển của đường cung, đường cầu
Ví dụ: Khi thị hiếu của người tiêu dùng tăng lên làm cho đường cầu về hàng hoá đó dịch chuyển từ D -> D' Trạng thái thái cân bằng dịch chuyển từ E -> E'
P P P
E E' E
E' E E'
0 (a) Q 0 (b) Q 0 (c) Q Trạng thái cân bằng mới này tồn tại cho đến khi các đường cung - cầu mới xuất hiện
Trang 312.4.4 Kiểm soát giá của Chính phủ
Chính phủ thường cố gắng kiểm soát và điều tiết giá cả thị trường Tuy nhiên
có đôi khi việc định giá đó không phù hợp với điều kiện khách quan và làm giảm tính hiệu quả của thị trường Ví dụ chúng ta hảy xem xét Chính phủ đưa ra các mức giá trần và giá sàn:
2.4.4.1 Mức giá trần - P C
Giá trần là mức giá tối đa mà Chính phủ quy định đối với một số hàng hoá
nhằm mục đích bảo hộ một nhóm nười nhất định (thường là người tiêu dùng)
Ví dụ: Chính phủ nuốn đảm bảo cho các hộ gia đình có thu nhập thấp, sinh viên, người nghèo cô đơn Chính phủ quy định mức giá cho thuê nhà ở tối đa
Mức giá trần thường thấp hơn mức giá cân bằng trên thị trường, nên thường gây ra hiện tượng thiếu hụt hàng hoá trên thị trường (QD > QS) Nguyên nhân là
do giá cả thấp không khuyến khích chủ cho thuê nhà đầu tư (Ha)
2.4.4.2 Mức giá sàn - P f
Giá sàn là mức giá tối thiểu mà Chính phủ quy định đối với một số hàng
hoá nhằm bảo hộ một nhóm nười nhất định (thường là người sản xuất)
Ví dụ: Chính phủ quy định mức tiền lương tối thiểu cho người lao động, để đảm bảo mức sống tối thiểu cho công nhân mà các doanh nghiệp phải trả
Mức giá sàn thường cao hơn mức giá cân bằng thị trường nên thường gây ra hiện tượng dư thừa hàng hoá trên thị trường (QD > QS) Do đó, không khuyến
khích được các chủ doanh nghiệp thuê mướn công nhân, do đó dễ gây ra hiện tượng thất nghiệp (Hb)
P (a) P (b)
Pe E Pf
PC Pe
Tóm lại: Qua việc kiểm sát giá của chính phủ thường dẫn đến hiện tượng dư
thừa hay thiếu hụt hàng hóa trên thị trường, vì vậy đây không phải là giải pháp tốt cho vấn đề phân bố tài nguyên
Trang 32Chương 3:
LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI NGƯỜI TIÊU DÙNG
Lý thuyết về cầu được trình bày ở chương trước mang tính định tính, cho ta thấy một số bản chất trong hành vi của người tiêu dùng Trên thực tế các nhà kinh doanh muốn biết doanh số bán của mình sẽ thay đổi như thế nào khi giá cả hàng hoá, thu nhập của người tiêu dùng thay đổi Người tiêu dùng sẽ quyết định phân bố nguồn ngân sách của mình khi mua một hay một tập hợp hàng hoá để tiêu dùng, khi giá cả hàng hoá trên thị trường, thu nhập của mình thay đổi Nội dung của chương này chúng ta sẽ giải quyết
3.1 LÝ THUYẾT VỀ LỢI ÍCH
3.1.1 Mục tiêu tác phong ứng xử của người tiêu dùng
- Mục tiêu của người tiêu dùng
Tiêu dùng là hành vi quan trọng của con người, là hành động thoã mãn nguyện vọng, các nhu cầu về vật chất và tinh thần Sự thoả mãn đó chỉ có thể đạt được thông qua việc tiêu dùng các hàng hoá và dịch vụ
Như vậy, mục tiêu của người tiêu dùng là làm thế nào để thoả mãn tối đa những ước muốn và nguyện vọng của họ Tức là khi tiêu dùng các hàng hoá và dịch vụ làm sao phải mang lại lợi ích lớn nhất
- Tác phong ứng xử của người tiêu dùng phụ thuộc vào các yếu tố: giá cả
hàng hoá, thu nhập, thị hiếu, kỳ vọng
Người tiêu dùng không thể có được tất cả mọi hàng hoá, dịch vụ vì nguồn tài nguyên của họ có hạn, họ chỉ có thể căn cứ vào nguồn tài nguyên hiện có như: thu nhập của lao động, tài sản được thừa kế để quyết định mua những hàng hoá nào đem lại cho họ sự thoả mãn tối đa có thể có, tức là họ phấn đấu tối đa hoá sự thoả mãn trong điều kiện khan hiếm về tài nguyên
3.1.2 Lý thuyết về lợi ích
Có thể nói, động cơ đầu tiên đưa người ta đến mua sắm một hàng hoá hay
dịch vụ nào đó chính là người ta phải có sở thích về hàng hoá, dịch vụ đó, tức là
muốn được tiêu dùng chúng Nếu không có sở thích thì họ sẽ không bao giờ tiêu dùng chúng
Lấy vài ví dụ để minh hoạ:
3.1.2.1 Lợi ích, tổng lợi ích, lợi ích cận biên
a Lợi ích: Ký hiệu U (Utility)
Lợi ích được hiểu như là sự như ý sự hài lòng do tiêu dùng hàng hoá hay dich vụ mang lại, trong một khoảng thời gian nhất định
Chú ý: Lợi ích là một khái niệm trừu tượng, mang tính chủ quan:
* Tuỳ theo đặc tính của cá biệt:
- Để thoả mãn một nhu cầu có thể sử dụng nhiều loại hàng hoá khác nhau
Trang 33Một hàng hoá có thể đáp ứng nhiều nhu cầu
- Cùng một loại hàng hoá lợi ích mang lại cho cá biệt khác nhau
* Nó trừu tượng ở chổ: Do đặc tính cá biệt lợi ích của người tiêu dùng rất khác nhau Vì vậy không thể đo lường lợi ích bằng đơn vị vật lý thông thường,
mà người ta quy ước với nhau chỉ dùng (Unit) đơn vị lợi ích
b Tổng lợi ích: Ký hiệu TU (Total Utility)
Tổng lợi ích (hay lợi ích toàn bộ) là tổng thể sự hài lòng do toàn bộ sự tiêu dùng hàng hoá hay dịch vụ mang lại, trong một khoảng thời gian nhất định Khi nghiên cứu tổng lợi ích cần phân biệt: Tổng lợi ích do tiêu dùng một hàng hoá mang lại và Tổng lợi ích do tiêu dùng nhiều hàng hoá khác nhau mang lại
c Lợi ích cận biên: Ký hiệu MU (Marginal Utility)
Lợi ích cận biên (lề, biên tế, tới hạn ) là lợi ích tăng thêm khi tiêu dùng thêm một đơn vị hàng hoá hay dịch vụ nào đó
Công thức tính:
) ( 1
n n
n
Q
TU Q
Q
TU TU
Ví dụ: Một người uống nước (không mất tiền) khi đang khát nước, người đó
sẽ ít khát hơn khi uống ly nước thứ 2 và càng ít khát hơn khi uống ly nước thứ 3 ; thứ 4 Như vậy lợi ích giảm dần theo mức độ tiêu thụ
Số liệu về tổng lợi ích và lợi ích cận biên cho ở bảng sau:
Trang 34- Mổi đơn vị tiêu thụ bổ sung sẽ đem lại sự thoả mãn ít hơn đơn vị trước đó, tổng lợi ích vẩn tiếp tục tăng nhưng ngày càng chậm lại và lợi ích cận biên thì giảm dần
- Khi tổng lợi ích đạt giá trị cực đại (TUmax) thì lợi ích cận biên bằng không (MU = 0) Bây giờ người tiêu dùng tiếp tục tiêu dùng thêm hàng hoá thì lợi ích cận biên sẽ âm (MU < 0) và tổng lợi ích sẽ giảm xuống
- Thực tế cho thấy sự khoái cảm sẽ giảm đi với mổi đơn vị hàng hoá tiêu dùng thêm, điều này đúng cho mọi hàng hoá, dịch vụ Từ hiện tượng đó các nhà kinh tế đã khái quát chúng thành quy luật lợi ích cận biên giảm dần
d Quy luật lợi ích cận biên giảm dần:
Nội dung: Lợi ích cân biên của một hàng hoá nào đó có xu hướng giảm đi khi lượng hàng hoá đó được tiêu dùng nhiều hơn trong một khoảng thời gian nhất định
Sở dĩ lợi ích cận biên ngày càng giảm đi là do giảm sự hài lòng hay thích thú của bạn đối với mặt hàng đó khi tiêu dùng thêm mặt hàng đó Hơn nữa một sự tiêu dùng quá tải sẽ gây cảm giác khó chịu cho người tiêu dùng Thực vậy, khi người tiêu dùng uống đến cốc nước thứ 5 thì cảm giác ngon lành sẽ không còn nữa và thay vào đó là sự khó chịu và đau tức dạ dày
Chú ý: Quy luật lợi ích cận biên giảm dần chỉ đúng trong thời gian ngắn
* Ý nghĩa của quy luật:
- Quy luật lợi ích cận biên giảm dần giải thích cho chúng ta biết khi nào thì
người tiêu dùng mua hàng hoá và khi nào họ thôi không mua nữa
- Quy luật lợi ích cận biên giảm dần là công cụ hữu ích cho các nhà kinh tế nghiên cứu hành vi của người tiêu dùng và giải thích nhiều hiện tượng kinh tế
Ví dụ, quy luật lợi ích cận biên giảm dần giải thích sự xuống dốc của đường cầu và thặng dư tiêu dùng
Chúng ta thấy mối quan hệ giữa lợi ích và giá cả Theo mối quan hệ này thì
MU càng lớn người tiêu dùng sẳn sàng trả giá cao hơn cho nó và khi MU giảm xuống thì việc chi trả cũng giảm theo, như vậy có thể dùng giá để đo MU của người tiêu dùng khi tiêu dùng một hàng hoá
MU
Trang 35Nếu so sánh như thế ta thấy có sự tương tự về dạng của đường cầu và dạng của đường MU Nó thể hiện một điều đằng sau đường cầu chứa đựng lợi ích cận biên (MU) giảm dần của người tiêu dùng, hay do quy luật lợi ích cận biên giảm dần đường cầu nghiêng xuống dưới về bên phải
Đến đây ta có MU = D như hình vẽ trên, nếu đơn vị tiêu dùng rời rạc ta sẽ
có đường cầu gấp khúc từng đoạn Nếu như đơn vị tiêu dùng càng nhỏ (vô cùng nhỏ) thì đường MU = D là một đường thẳng liền nghiêng dốc xuống về bên phải Đường cầu thị trường là tổng của các đường cầu cá nhân., như vậy:
Dtt = MUi
3.1.2.2 Thặng dư tiêu dùng và tổng mức chi tiêu
a Thặng dƣ tiêu dùng Ký hiệu CS (Consumer Surplus)
Thặng dư tiêu dùng là khoảng chênh lệch giữa lợi ích thu được của người tiêu dùng khi tiêu dùng một đơn vị hàng hoá nào đó với chi phí thực tế bỏ ra để thu được lợi ích đó
Nói cách khác là chênh lệch giữa lợi ích cận biên thu được (MU) và chi phí cận biên (MC) khi tiêu dùng một đơn vị hàng hoá
Trở lại ví dụ trên: Bây giờ người uống nước phải mất tiền (bỏ tiền ra mua) Giả sử giá thị trường một cốc nước là 1.000 đồng, được biểu thị bằng đường nằm ngang (BE) trên đồ thị
dư là: 4.000 đồng - 1.000 đồng = 3.000 đồng
Thặng dư tiêu dùng xuất hiện khi người tiêu dùng thu được lợi ích lớn hơn lượng tiền mà họ phải chi trả trong thực tế (tức là khi MU > P mới có thăng dư tiêu dùng)
Người tiêu dùng muốn tối đa hoá lợi ích, nên họ sẽ mua đến khi lợi ích cận biên của cốc nước cuối cùng bằng chi phí cận biên của nó (MU = MC), giá cả thị trường Như ví dụ trên thì người tiêu dùng sẽ mua đến cốc nước thứ tư (có MU = MC) và không mua đến cốc nước thứ 5, vì nó không đem lại lợi ích cho họ nữa
Trang 36Thăng dư tiêu dùng (CS) thể hiệu trên đồ thị bằng diên tích phần gạch gạch (hình a), nhưng nếu là đơn vị tiêu dùng rất nhỏ và MU = D, nên nó sẽ là diện tích của hình tam giác ABE (Hb) (E ở đây biểu hiện điểm cân bằng cung cầu thị trường).
Ta sẽ có công thức tính: CS = (PD
(Q=0) - Pe) Qe
b.Tổng mức chi tiêu: ký hiệu TR e
Tổng mức chi tiêu là tổng số tiền mà người tiêu dùng bỏ ra để mua hàng hoá, dịch vụ theo giá cả thị trường trong một khoảng thời gian nhất định
Theo ví dụ trên thì thực tế người tiêu dùng mua:
4 cốc x 1.000 đồng/cốc = 4.000 đồng
Ta có công thức tính: TRe = Pe Qe
3.1.2.3 Nguyên tắc cân bằng tiêu dùng
Trên đây chúng ta đang xét người tiêu dùng chỉ tiêu dùng một loại hàng hoá Bây giờ ta hảy xét người tiêu dùng tiêu dùng nhiều loại hàng hoá (một tập hợp hàng hoá), trong cùng một thời điểm, họ sẽ ứng xử như thế nào với tập hợp hàng hoá đó, trong nguồn ngân sách hiện có của mình, để mang lại lợi ích lớn nhất
Để có được sự thỏa mãn lớn nhất khi sử dụng một tập hợp hàng hóa (hai hàng hóa trở lên) trong cùng một thời điểm với giá cả thị trường và trong giới hạn của nguồn thu nhập mà tiêu dùng có được thì người tiêu dùng sẽ lựa chọn
một cơ cấu tiêu dùng hàng hoá sao cho: Lợi ích cận biên trên một đồng chi mua của hàng hoá này, phải bằng lợi ích cận biên trên một đồng chi mua của hàng hoá khác và bằng Lợi ích cận biên trên một đồng chi mua của hàng hoá bất kỳ
N N Z
Z Y
Y X
X
P
MU P
MU P
MU P
3.2 LỰA CHỌN TIÊU DÙNG TỐI ƢU
3.2.1 Lựa chọn tiêu dùng tối ƣu khi biết U, TU, MU
Mục đích của người tiêu dùng là đạt được sự thoả mãn tối đa bằng nguồn thu nhập hạn chế Việc chi mua của họ phải chấp nhận chi phí cơ hội, chi mua hàng hoá này đồng thời làm giảm cơ hội để mua hàng hoá khác Vì vậy họ phải quyết định như thế nào đó để đạt được sự thoả mãn tối đa
1
2
Trang 37Rỏ ràng sự lựa chọn của người tiêu dùng bị ràng buộc bởi hai yếu tố: chủ quan
là sở thích của họ và khách quan là giá cả hàng hoá và nguồn thu nhập có thể có
Cơ sở để phân tích sự lựa chọn trên là lý thuyết về lợi ích và quy luật cầu: Theo lý thuyết lợi ích, thì người tiêu dùng sẽ lựa chọn mua hàng hoá nào đem lại lợi ích cho họ là lớn nhất Theo quy luật cầu người tiêu dùng sẽ dành ưu tiên cho hàng hoá nào có giá cả rẽ hơn
Như vậy phải so sánh lợi ích thấy trước của sự tiêu dùng với chi phí bỏ ra để mua hàng hoá, đồng thời việc lựa chọn phải phù hợp với nguồn thu nhập có thể
có của người tiêu dùng
- Nguyên tắc tiêu dùng: Max i (MU i / P i )
MUi là lợi ích cận biên của hàng hoá i
Pi là giá cả của hàng hoá i
Từ sự phân tích trên ta có thể minh hoạ bằng một ví dụ cụ thể như sau:
Ví dụ: Có học sinh H sử dụng hết số tiền của mình I = 4.000 đồng để mua hai loại hàng hoá X và Y, là ăn bánh mì và đọc sách, với giá tương ứng Px = 1.000 đồng/cái; Py = 1.000 đồng/lần đọc Tổng lợi ích khi tiêu dùng hai loại hàng hoá trên cho ở bảng sau:
Để giải quyết bài toán trên ta phải thực qua 2 bước
Bước 1: Lập bảng tính lợi ích cận biên (MU = TUn - TUn-1) và lợi ích cận biên trên một đồng chi mua cho mổi loại hàng hoá (MUx /Px và MUy / Py )
Chọn tập hợp tiêu dùng tối ưu (X*, Y*), theo nguyên tắc max(MU/P)
Ta thấy khi học sinh H tiêu dùng 2 đơn vị X và 2 đơn vị Y có:
Trang 38Y Y X
X
P
MU P
và mức thu nhập cho trước
- Phương trình đường ngân sách:
Gọi I là thu nhập của người tiêu dùng, hai hàng hoá là X và Y, với giá tương ứng Px, Py
Ta có phương trình đường ngân sách: I = Px X + Py Y
Y = - X Px/Py + I/Py
- Độ dốc của đường ngân sách = - Px/Py
Đặc điểm của đường ngân sách: Y
Nghiêng dốc xuống về bên phải Y =I/Py A
Độ nghiêng phụ thuộc vào giá cả
thị trường của hàng hoá E
0 X = I/Px X Đường ngân sách thể hiện trên hệ toạ độ YOX chia không gian lựa chọn ra làm hai miền, tập hợp có thể đạt được và tập hợp không thể đạt được, đồng thời thể hiện tất cả các sự kết hợp có thể có để lựa chọn tiêu dùng hai hàng hoá X và
Y, do vậy đường ngân sách còn được gọi là đường giới hạn khả năng tiêu dùng
b Đường bàng quan: (đường đẳng ích)
Đường bàng quan là tập hợp của những điểm biểu diễn những kết hợp có thể
có, khi người tiêu dùng sử dụng hai hàng hoá trong cùng một thời điểm, tất cả những kết hợp đó đều cho cùng một mức lợi ích như nhau
Như vậy một mức lợi ích của người tiêu dùng đại diện cho một đường bàng quan và các mức lợi ích khác nhau đại diện cho các đường bàng quan khác nhau
Y Đặc điểm của đường bàng quan
- Cong lồi về phía gốc toạ độ
- Mổi đường biểu diễn một mức lợi ích
- Đường càng xa gốc toạ độ lợi ích càng lớn
Trang 39- Đường bàng quan nghiêng dốc về phía phải (độ dốc tuỳ theo sở thích của từng
cá nhân) biểu hiện muốn tăng số lượng tiêu dùng hàng hoá này thì giảm bớt tiêu dùng số lượng hàng hoá kia hay còn gọi là tỷ lệ thay thế biên MRS
Độ dốc của đường bàng quan = MRSX/Y = -
Sự lựa chọn tối ưu của người tiêu dùng phải thoả mãn hai điều kiện:
- Sử dụng toàn bộ ngân sách tiêu dùng (thuộc đường ngân sách)
hải đem lại lợi ích lớn nhất (đường bàng quan xa gốc toạ độ nhất)
Với cùng một ngân sách, cho ta kết hợp hàng hoá tiêu dùng đem lại mức độ lợi ích khác nhau, từ đó có rất nhiêu đường bàng quan
Kết hợp tiêu dùng tối ưu là điểm tiếp xúc của dường ngân sách với đường bàng quan xa gốc toạ độ nhất (có lợi ích lớn nhất), mà người tiêu dùng có thể đạt được
thỏa mãn điều kiện nguyên tắc tiêu dùng
Trang 40Chương 4:
LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI CỦA NHÀ SẢN XUẤT
Trong các chương trước chúng ta nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến cầu hàng hoá của thị trường, sự ưa thích và thái độ hành vi của người tiêu dùng Trong chương này chúng ta sẽ nghiên cứu khía cạnh của cung hàng hoá và khảo sát thái độ hành vi của người sản xuất Xem xét các doanh nghiệp tổ chức sản xuất như thế nào để có hiệu quả nhất
Hoạt động trong cơ chế thị trường, bất cứ một doanh nghiệp nào cũng phải tự
đề ra cho mình một hệ thồng mục tiêu như: Lợi nhuận, sự tăng trưởng và phát triển, an toàn , kéo dài tuổi thọ, đảm bảo không ngừng nâng cao đời sống cho các thành viên Trong đó mục tiêu tổng hợp và quan trọng nhất là tối đa hoá lợi nhuận
Chương này không đi sâu phân tích những đặc điểm kinh tế kỹ thuật, những hình thức pháp lý của doanh nghiệp mà chỉ nghiên cứu hành vi sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp nhằm giải quyết mối quan hệ giữa sản lượng, chi phí sản xuất và lợi nhuận, doanh nghiệp quyết định sản xuất như thế nào để có lợi nhuận tối đa
4.1 LÝ THUYẾT VỀ SẢN XUẤT
4.1.1 Các yếu tố sản xuất và sản phẩm của doanh nghiệp
a Các yếu tố sản xuất:
Sản xuất là quá trình chuyển hoá các đầu vào thành các đầu ra tương ứng
(sản xuất hiểu theo nghĩa rộng là bao gồm cả quá trình lưu thông và dịch vụ)
Những của cải cung ứng cho sản xuất, được gọi là các yếu tố sản xuất (hay còn
gọi là các yếu tố đầu vào)
Các yếu tố sản xuất gồm nhiều loại, nhưng để đơn giản người ta chia thành hai loại chính đó là:
- Lao động: được ký hiệu L (La bour)
- Vốn: được ký hiệu K (trong tiếng Đức Kapi tal)
Là những của cải bị tiêu hao trong quá trình sản xuất như: nguyên, nhiên, vật
liệu, những của cải lâu bền như: máy móc thiết bị, nhà xưởng, đất đai
b Sản phẩm của doanh nghiệp:
Các yếu tố K và L được kết hợp với nhau trong quá trình sản xuất tạo ra những của cải gọi là sản phẩm của doanh nghiệp (hay còn gọi là đầu ra) Thường được
ký hiệu Q (Quantity)
Q ở đây có thể là: vải của nhà máy Dệt, than của xí nghiệp khai thác Than, tấn/ km của một xí nghiệp Vận tải, hay số lượng người cắt tóc gội đầu của một hiệu Cắt tóc
Một doanh nghiệp chỉ sản xuất một loại sản phẩm gọi là đơn sản xuất
Một doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm gọi là đa sản xuất
Tình hình sản xuất được xem xét trong hai thời kỳ: ngắn hạn, có yếu tố sản xuất cố định, dài hạn khi mọi yếu tố sản xuất đều thay đổi