GIẢNG VIÊN: PGS.TS. NGUYỄN CÔNG ĐỨC PHẦN THỨ BA: NGÔN NGỮ HỌC LỊCH ĐẠI Bố cục bài thuyết trình Chương I : Đại cương Chương II: Những hiện tượng chuyển biến ngữ âm Chương III: Hậu quả ngữ pháp chuyển biến ngữ âm Chương IV: Loại suy Chương V: Loại suy và biến hóa Chương VI: Từ nguyên học dân gian Chương VII: Hiện tượng chắp dính Chương VIII: Đơn vị, đồng nhất và hiện tượng lịch đại
Trang 1PHẦN THỨ BA: NGÔN NGỮ HỌC LỊCH ĐẠI
NHÓM THỰC HIỆN:
MÔN HỌC: F.DE SAUSSURE VÀ GIÁO TRÌNH NGÔN NGỮ HỌC
ĐẠI CƯƠNG
GIẢNG VIÊN: PGS.TS NGUYỄN CÔNG ĐỨC
Kim Loan - Quỳnh Như - Chí Thiện - Thanh Tuyền
Trang 226 /11/1857 1876 - 1878
Đại học Leipzig (Đức) Geneva (Thuỵ Sĩ)
Nghiên cứu về hệ thống nguyên thuỷ các nguyên âm trong các ngôn ngữ Ấn - Âu
1916 1882
Phó thư kí Hội ngôn ngữ học Paris
Từ 1891 đến cuối đời dạy tiếng Sanskrit và ngữ pháp so sánh
Trường đại học Geneva
Trang 3Bố cục bài thuyết trình
Chương I : Đại cương
Chương II: Những hiện tượng chuyển biến ngữ âm
Chương III: Hậu quả ngữ pháp chuyển biến ngữ âm
Chương IV: Loại suy
Chương V: Loại suy và biến hóa
Chương VI: Từ nguyên học dân gian
Chương VII:Hiện tượng chắp dính
Chương VIII: Đơn vị, đồng nhất và hiện tượng lịch đại
Trang 4PHẦN THỨ BA: NGÔN NGỮ HỌC LỊCH ĐẠI - CHƯƠNG I: ĐẠI CƯƠNG
CHƯƠNG I: ĐẠI CƯƠNG
Ngôn ngữ học lịch đại nghiên cứu những mối quan hệ không phải giữa những yếu tố cùng tồn tại trong một
trạng thái ngôn ngữ, mà là những yếu tố kế tiếp, thay thế nhau trong thời gian.
Trang 5Vì bởi: để xác định một phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ học đúng đắn, Saussure đã đối lập mặt
đồng đại và mặt lịch đại và khẳng định: ngôn ngữ học đích thực có nhiệm vụ nghiên cứu ngôn ngữ học
đồng đại, tĩnh trạng dù cho nó không thể bỏ qua mặt lịch đại của ngôn ngữ
PHẦN THỨ BA: NGÔN NGỮ HỌC LỊCH ĐẠI - CHƯƠNG I: ĐẠI CƯƠNG
Trang 6•Đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học lịch đại
PHẦN THỨ BA: NGÔN NGỮ HỌC LỊCH ĐẠI - CHƯƠNG I: ĐẠI CƯƠNG
Theo Saussure, “Ngữ âm học lịch sử (phonétique), và toàn bộ ngành ngữ âm học này, là đối
tượng thứ nhất của ngôn ngữ học lịch đại”
Ngữ âm học lịch sử, không quan tâm đến ngữ nghĩa hay ngữ pháp của từ Phân tích ngữ âm
của một từ, bỏ qua tính chất bên trong mà chỉ chú ý vào vỏ ngữ âm của nó
Trang 7PHẦN THỨ BA: NGÔN NGỮ HỌC LỊCH ĐẠI - CHƯƠNG I: ĐẠI CƯƠNG
Tóm lại, sự biến hóa của một sự kiện ngữ pháp không thể so sánh với sự biến hóa của một ngữ
âm Vì sự biến hóa ngữ pháp được phân tích ra thành cả một loạt sự kiện đơn giản khác nhau,
trong đó chỉ có một bộ phận nằm trong lĩnh vực ngữ âm học
Trang 8PHẦN THỨ BA: NGÔN NGỮ HỌC LỊCH ĐẠI – CHƯƠNG II: NHỮNG HIỆN TƯỢNG CHUYỂN BIẾN NGỮ ÂM
1 Tính quy tắc tuyệt đối của nó CHƯƠNG II: NHỮNG HIỆN TƯỢNG CHUYỂN BIẾN NGỮ ÂM
Saussure cho rằng “Sự chuyển biến âm không tác động đến các từ, mà đến các âm thanh Cái thay đổi là
âm ( phoneme) : một biến cố cá biệt, như một biến cố lịch đại khác, nhưng lại có tác dụng làm biến hóa
một cách đồng loạt tất cả những từ trong đó có âm đó; nói rằng những sự biến chuyển ngữ âm có tính quy
tắc tuyệt đối là theo nghĩa đó”
Trang 9• Ví dụ:
Trong tiếng Pháp, mọi âm l ướt đều trở thành y (jod) :
piller, bouillir được phát âm là piye, buyir,…
Trong tiếng La Tinh, cái âm trước kia vốn là s giữa hai nguyên âm, đến một thời đại sau đã chuyển thành r :
genesis, asena -> generis, arena, …
PHẦN THỨ BA: NGÔN NGỮ HỌC LỊCH ĐẠI – CHƯƠNG II: NHỮNG HIỆN TƯỢNG CHUYỂN BIẾN NGỮ ÂM
Trang 102 Điều kiện của những sự chuyển biến ngữ âm:
Những hiện tượng ngữ âm, không phải bao giờ cũng tuyệt đối, mà thường gắn liền với những điều kiện
nhất định: bối cảnh, trọng âm,…
s trong tiếng La Tinh chỉ trở thành r khi đứng giữa hai nguyên âm và một số ở vị trí khác, các trường hợp
khác không xảy ra biến ngữ âm (est, senex, equos)
Trong tiếng Đức những ῑ trở thành ei, ai, chỉ khi nào đứng trong âm tiết có trọng âm.
PHẦN THỨ BA: NGÔN NGỮ HỌC LỊCH ĐẠI – CHƯƠNG II: NHỮNG HIỆN TƯỢNG CHUYỂN BIẾN NGỮ ÂM
Trang 11Theo ông cách chia hợp lý hơn đó là hiện tượng ngữ âm tự phát và kết hợp.
Là những hiện tượng đó do một nguyên nhân bên
trong gây nên
Là khi nào nó do sự có mặt của một hay nhiều âm (phonème) khác gây nên
âm o -> âm ɑ
âm k1 -> âm h
âm t -> âm z
Âm ct, pt -> tt Ý factum → gatto captivum → cattivo
PHẦN THỨ BA: NGÔN NGỮ HỌC LỊCH ĐẠI – CHƯƠNG II: NHỮNG HIỆN TƯỢNG CHUYỂN BIẾN NGỮ ÂM
Trang 12PHẦN THỨ BA: NGÔN NGỮ HỌC LỊCH ĐẠI - CHƯƠNG II: NHỮNG HIỆN TƯỢNG CHUYỂN BIẾN NGỮ ÂM
Trang 13PHẦN THỨ BA: NGÔN NGỮ HỌC LỊCH ĐẠI – CHƯƠNG II: NHỮNG HIỆN TƯỢNG CHUYỂN BIẾN NGỮ ÂM
4 Nguyên nhân của những sự chuyển biến ngữ âm
1. Nòi giống
2. Sự thích nghi đối với điều kiện thổ địa và khí hậu
3. Người ta đã viện đến quy luật “cố gắng tối thiểu”
4. Do quá trình giáo dục ngữ âm thời thơ ấu
5. Trạng thái chung của dân tộc ở một thời kỳ nhất định
6. Giả thuyết về "cái nền trước kia của ngôn ngữ“
7. Đồng nhất chuyển biến ngữ âm với sự thay đổi thời trang
Trang 14PHẦN THỨ BA: NGÔN NGỮ HỌC LỊCH ĐẠI – CHƯƠNG II: NHỮNG HIỆN TƯỢNG CHUYỂN BIẾN NGỮ ÂM
5 Tác dụng của những sự chuyển biến ngữ âm là vô hạn.
Nếu tìm cách ước lượng hiệu quả của những sự chuyển biến này, người ta sẽ nhanh chóng thấy rằng hiệu
quả đó là vô hạn và không sao ước lượng được.
Hiện tượng ngữ âm còn có tính chất vô hạn và không thể ước lượng được, ở chỗ nó tác động đến
bất cứ loại dấu hiệu nào, không phân biệt đó là một vị từ hay một danh từ, đó là một căn tố hay một
hậu tố, một biến tố
Trang 15PHẦN THỨ BA: NGÔN NGỮ HỌC LỊCH ĐẠI – CHƯƠNG III: NHỮNG HẬU QUẢ NGỮ PHÁP CỦA SỰ CHUYỂN BIẾN NGỮ ÂM
1 Đứt liên hệ ngữ pháp
CHƯƠNG III: NHỮNG HẬU QUẢ NGỮ PHÁP
CỦA SỰ CHUYỂN BIẾN NGỮ ÂM
Hậu quả đầu tiên của hiện tượng ngữ âm là làm đứt mối liên hệ ngữ pháp giữa hai hay nhiều từ
mansiõ - *mansionaticus maison || ménage
Trang 16PHẦN THỨ BA: NGÔN NGỮ HỌC LỊCH ĐẠI – CHƯƠNG III: NHỮNG HẬU QUẢ NGỮ PHÁP CỦA SỰ CHUYỂN BIẾN NGỮ ÂM
2 Xóa mờ cấu trúc của từ
Hai bộ phận riêng biệt của một từ vốn góp phần xác định giá trị của nó không còn phân tích ra được nữa
Các hình thái đơn: hunc, hanc, hāc -> hon-ce, han-ce, hā-ce
-> là kết quả của một hiện tượng chắp dính một đại từ với tiểu tố -ce, nhưng về sau –e mất đi, người ta
cũng không thể phân biệt các yếu tố hunc, hanc, hāc,
Trang 17PHẦN THỨ BA: NGÔN NGỮ HỌC LỊCH ĐẠI – CHƯƠNG III: NHỮNG HẬU QUẢ NGỮ PHÁP CỦA SỰ CHUYỂN BIẾN NGỮ ÂM
3 Không làm gì có những từ song lập ngữ âm
Khi nhận thấy sự đồng nhất tương đối giữa
barõ:barõnem ber: baron
• Người ta dễ có khuynh hướng nói rằng một đơn vị vốn là duy nhất (-bar) đã phát triển theo hai khuynh
hướng khác nhau
• Trên thực tế, không có những từ song lập ngữ âm Sự biến hóa của âm thanh chẳng qua chỉ là làm rõ thêm những sự khác nhau vốn có từ trước
Trang 18PHẦN THỨ BA: NGÔN NGỮ HỌC LỊCH ĐẠI – CHƯƠNG III: NHỮNG HẬU QUẢ NGỮ PHÁP CỦA SỰ CHUYỂN BIẾN NGỮ ÂM
4 Sự luân phiên ngữ âm
Trong hai từ maison, ménage, người ta khó lòng nảy ra ý muốn đi tìm cái gì làm nên sự khác biệt nhau
giữa hai từ Nhưng nhiều khi hai từ thân thuộc chỉ khác nhau vì một hay hai yếu tố có thể tách ra một cách
dễ dàng và có thể gặp lại một cách đều đặn trong một đôi song song nhất thì trong trường hợp đó , ta có
một sự kiện ngữ pháp rộng nhất và thông thường nhất trong đó những sự chuyển biến ngữ âm có một vai
trò: sự kiện đó gọi là luân phiên.
Trang 19PHẦN THỨ BA: NGÔN NGỮ HỌC LỊCH ĐẠI – CHƯƠNG III: NHỮNG HẬU QUẢ NGỮ PHÁP CỦA SỰ CHUYỂN BIẾN NGỮ ÂM
5 Các quy luật luân phiên
Có thể nói đến những quy luật ngữ pháp về cách luân phiên, nhưng những quy luật này chỉ là kết quả
ngẫu nhiên của những sự kiện ngữ âm đã làm cho nó nảy sinh Cũng như tất cả các quy luật đồng đại,
những quy luật này chỉ là những nguyên tắc phân bố không có hiệu lực mệnh lệnh
Ví dụ như trong tiếng Cổ Thượng Đức vốn có hình thái:
Geban|gibit Feld|gafildi
Trang 20PHẦN THỨ BA: NGÔN NGỮ HỌC LỊCH ĐẠI – CHƯƠNG III: NHỮNG HẬU QUẢ NGỮ PHÁP CỦA SỰ CHUYỂN BIẾN NGỮ ÂM
6 Luân phiên và liên hệ ngữ pháp
Sự đối lập ngữ âm ít nhiều có tính quy tắc giữa hai yếu tố, đều có xu hướng xác lập một mối liên hệ giữa
hai yếu tố này
Đối với những luân phiên không mang ý nghĩa nhưng gắn liền với một điều kiện thuần túy ngữ âm cũng
vậy
Sự khác nhau này không hề tổn hại đến tính thống nhất về nhận thức, bởi vì nghĩa và chức năng được coi là
đồng nhất và ngôn ngữ đã biết rõ trường hợp nào phải dung dạng thức nào
Trang 21PHẦN THỨ BA: NGÔN NGỮ HỌC LỊCH ĐẠI – CHƯƠNG IV: LOẠI SUY
CHƯƠNG IV: LOẠI SUY
1 Định nghĩa và dẫn chứng
Thế loại suy giả định một khuôn mẫu và việc bắt chước khuôn mẫu đó một cách có quy tắc Một hình thái
loại suy là một hình thái cấu tạo theo mẫu của một hay nhiều hình thái khác theo một quy tắc nhất định
Chẳng hạn, hình thái danh cách La tinh honor là hình thái loại suy Hiện tượng từ honōsem sang honōrem,
từ đó căn tố honos chuyển thành hình thái mới honor.
Trang 22PHẦN THỨ BA: NGÔN NGỮ HỌC LỊCH ĐẠI – CHƯƠNG IV: LOẠI SUY
Trong tiếng Pháp, có sự biến chuyển các hình thái không thể giải thích bằng ngữ âm: il preuv, il prouve; nous
prouvons, ils preuvent, ils prouvent; amat, il aime…
Trong tiếng Hy Lạp, “s” đứng giữa hai nguyên âm đã mất đi, chuyển từ -eso- thành –eo- như genesos ->
géneos Tuy nhiên, ở thời tương lai và thì aoriste âm “s” vẫn có ở tất cả các vị từ có nguyên âm: lūso, élūsa,
Trang 23PHẦN THỨ BA: NGÔN NGỮ HỌC LỊCH ĐẠI – CHƯƠNG IV: LOẠI SUY
2 Hiện tượng loại suy không phải là những sự chuyển biến
Mọi sự kiện loại suy bao gồm 3 nhân tố: 1 hình loại cổ truyền, hợp pháp, được thừa hưởng; 2 Hình loại kình
địch (hình thái mới); 3 Yếu tố phát sinh hình thành loại hình kình địch Có thể hình dung hiện tượng này
bằng lược đồ sau đây:
Trang 24PHẦN THỨ BA: NGÔN NGỮ HỌC LỊCH ĐẠI – CHƯƠNG IV: LOẠI SUY
3 Loại suy: nguyên lý của sự sáng tạo của ngôn ngữ
Nguyên lý của thế loại suy là thuộc lĩnh vực ngữ pháp hơn là lĩnh vực tâm lý Vì ở lĩnh vực tâm lý chưa đủ
để phân biệt thế loại suy với các hiện tượng chuyển biến ngữ âm
Có hai điều cần phải phân biệt là:
• Thứ nhất sự hiểu biết những mối quan hệ giữa các hình thức có tác dụng phái sinh
• Thứ hai là cái kết quả do sự so sánh gợi lên, cái hình thái do người bản ngữ ứng khẩu ra để diễn đạt ý nghĩ của mình
Trang 25PHẦN THỨ BA: NGÔN NGỮ HỌC LỊCH ĐẠI – CHƯƠNG IV: LOẠI SUY
-> Loại suy giúp ta phân biệt ngôn ngữ và lời nói Còn trong mọi sự sáng tạo thì điều có sự so sánh vô ý
thức và các hình thái có tác dụng phái sinh được sắp xếp theo mối quan hệ liên tưởng và ngữ đoạn
Sự hoạt động liên tục của ngôn ngữ có tác dụng phân hóa các đơn vị nó vận dụng và chứa đựng toàn bộ khả
năng của cách nói phù hợp với thói quen, ngoài ra còn chứa đựng tất cả khả năng của cấu tạo loại suy Cho
nên những yếu tố của quá trình phái sinh đã có sẵn từ trước khi sự sáng tạo xuất hiện
Trang 26PHẦN THỨ BA: NGÔN NGỮ HỌC LỊCH ĐẠI – CHƯƠNG V: LOẠI SUY VÀ BIẾN HÓA
CHƯƠNG V: LOẠI SUY VÀ BIẾN HÓA
1 Sự sáng tạo loại suy đi vào ngôn ngữ như thế nào?
Không có cái gì đi vào ngôn ngữ mà lại chưa được thử thách trong lời nói, tất cả các hiện tượng về biến
hóa đều bắt nguồn trong lĩnh vực cá nhân
Mỗi lần có một sự sáng tạo đi hẳn vào ngôn ngữ và loại trừ đối thủ của nó ra, thì như vậy là có một cái
gì đã được sáng tạo và một cái gì đã bị gạt bỏ, do đó thế loại suy chiếm một vị trí hàng đầu trong lý
luận về sự diễn biến
Trang 27PHẦN THỨ BA: NGÔN NGỮ HỌC LỊCH ĐẠI – CHƯƠNG V: LOẠI SUY VÀ BIẾN HÓA
2 Những sự sáng tạo loại suy, triệu chứng của những sự thay đổi về cách thuyết minh
Ngôn ngữ không ngừng thuyết minh và phân tích những đơn vị mà nó được vận dụng Nhưng cách thuyết
minh này ở mỗi thế hệ mỗi khác, đó là do sự ảnh hưởng của một vài nhân tố
Nhân tố thứ nhất và quan trọng nhất là sự chuyển biến ngữ âm Nhưng không phải chỉ có sự kiện ngữ âm
mà còn có hiện tượng chấp dính
Trang 28PHẦN THỨ BA: NGÔN NGỮ HỌC LỊCH ĐẠI – CHƯƠNG V: LOẠI SUY VÀ BIẾN HÓA
3 Thế loại suy, một nguyên lý đổi mới và bảo tồn.
Trong khối lượng khổng lồ những hiện tượng loại suy có thể quan sát thấy trong vài thế kỷ biến hóa, hầu
hết các yếu tố đều được bảo tồn, chỉ có điều là nó được phân phối khác đi Những cái mới do thế loại suy
đưa vào có tính chất bề ngoài nhiều hơn là thực chất
Như vậy, việc duy trì một hình thái có thể do hai nguyên nhân đối lập trực tiếp với nhau: sự cô lập hoàn
toàn hay tình thế được đóng khung chặt chẽ trong một hệ thống
Trang 29PHẦN THỨ BA: NGÔN NGỮ HỌC LỊCH ĐẠI – CHƯƠNG VI: TỪ NGUYÊN HỌC DÂN GIAN
CHƯƠNG VI: TỪ NGUYÊN HỌC DÂN GIAN
Có những khi chúng ta phát âm sai lạc những từ mà ta không biết rõ hình thái và ý nghĩa, và đôi khi tập quán
sử dụng chấp nhận những cách phát âm sai lạc đó
Những sự đổi mới này tuy kỳ quặc thật, song không phải xuất hiện một cách hoàn toàn ngẫu nhiên; đó là
những cố gắng nhằm giải thích một cách áng chừng một từ khó bằng cách liên hệ nó với một cái gì đã biết
sẵn
=> Người ta gọi hiện tượng này là từ nguyên học dân gian
Trang 30PHẦN THỨ BA: NGÔN NGỮ HỌC LỊCH ĐẠI – CHƯƠNG VI: TỪ NGUYÊN HỌC DÂN GIAN
Sự khác nhau duy nhất sẽ là ở chỗ những kiểu cấu tạo của thế loại suy vốn hợp lý, còn từ nguyên học
dân gian thì tác động một cách hú họa và chỉ đưa đến những chuyện râu ông nọ cắm cằm bà kia
Trang 31PHẦN THỨ BA: NGÔN NGỮ HỌC LỊCH ĐẠI – CHƯƠNG VI: TỪ NGUYÊN HỌC DÂN GIAN
Trước hết, có trường hợp mà từ đang xem xét được thuyết minh theo một kiểu mới, nhưng hình thái của
nó vẫn không thay đổi Ví dụ:
Tiếng Đức “durchblauen” -> “bliwan”
(đánh nhừ tử) (đánh roi)
=> Nhưng người ta liên hệ nói với “blau” (xanh), vì đánh lắm thì “bầm” ra
Trang 32PHẦN THỨ BA: NGÔN NGỮ HỌC LỊCH ĐẠI – CHƯƠNG VI: TỪ NGUYÊN HỌC DÂN GIAN
• Điều đó có thể khiến người ta nghĩ rằng ở đây có một sự thay đổi về hình thái học do cách thuyết minh mới; nhưng thật ra đó là một trường hợp ảnh hưởng của hình thái chữ viết mà người ta dùng, trong khi vẫn
không đổi cách phát âm, để biểu thị quan niệm của mình về nguồn gốc của từ
VD:
“Lais” là động danh từ của laisser, nhưng bây giờ người ta lại cho nó là động danh từ của “legeur” nên viết là “legs”, thậm chí có những người phát âm là “l-e-g-s”
Trang 33PHẦN THỨ BA: NGÔN NGỮ HỌC LỊCH ĐẠI – CHƯƠNG VI: TỪ NGUYÊN HỌC DÂN GIAN
•Nhưng thường thường thì người ta bóp méo từ hữu quan để thích nghi nó với những yếu tố mà người ta tưởng nhận ra được trong từ đó Ví dụ:
-Choucroute (bắp cải chua) do Sauerkraut
-Trong tiếng Đức, dromedarius (con lạc đà) đã trở thành “Trampeltier” (con vật giẫm chân)
=> hình thái phức hợp này mới, nhưng nó chứa đựng từ đã có sẵn, trampeln (giẫm chân) và Tier (con
thú)
Trang 34PHẦN THỨ BA: NGÔN NGỮ HỌC LỊCH ĐẠI – CHƯƠNG VI: TỪ NGUYÊN HỌC DÂN GIAN
Bên cạnh yếu tố có thể hiểu còn tồn tại, mỗi từ còn có một bộ phận không có gì là cổ cả (Kar-, escar-, cal-)
Ví dụ:
- carbunculus (hòn than nhỏ, tiếng La Tinh) > Karfunkel (vì liên hệ với funkel (lấp lánh), tiếng Đức)
-carbunculus > escarboucle (liên hệ với boucle, tiếng Pháp)
-calfeter/calfetrer > calfeutrer
=> Đây là những mảng mà sự thuyết minh đã không với tới được; có thể nói đó là những trường hợp từ
nguyên học dân gian đã dừng lại ở giữa chừng
Trang 35PHẦN THỨ BA: NGÔN NGỮ HỌC LỊCH ĐẠI – CHƯƠNG VI: TỪ NGUYÊN HỌC DÂN GIAN
Như vậy, mức độ sai lạc không tạo nên những sự khác nhau căn bản giữa những từ bị từ nguyên học dân
gian hành hạ; nó đều có tính chất là những cách thuyết minh thuần túy đối với những hình thái khó hiểu
bằng những hình thái quen thuộc
Trang 36PHẦN THỨ BA: NGÔN NGỮ HỌC LỊCH ĐẠI – CHƯƠNG VI: TỪ NGUYÊN HỌC DÂN GIAN
Giống:
Trong cả hai hiện tượng, người ta đều sử dụng những yếu tố có nghĩa do ngôn ngữ cung cấp
Khác
- Thể loại suy bao giờ cũng giả định rằng hình thái trước đã bị quên hẳn,
- Thể loại suy không lấy một chút gì trong chất liệu của những dấu hiệu mà nó thay thế
- Từ nguyên học dân gian chung quy là một cách thuyết minh hình thái cũ; kỷ niệm của hình thái này,
dù chỉ mờ nhạ, cũng là xuất phát điểm của sự sai lệch mà nó phải chịu