1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

THU HOẠCH KINH tế CHÍNH TRỊ lý LUẬN về GIÁ TRỊ TRONG bộ tư bản của các mác

26 468 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 165 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể nói rằng, bộ “ Tư bản” trình bày lý luận về CNTB và lịch sử của CNTB, nói đúng hơn là lý luận về sự phát sinh, phát triển và diệt vong của CNTB. Những người cùng thời với Mác đã thấy ngay được ở bộ “Tư bản” “lịch sử vấy máy của chủ nghĩa tư bản”. Trong lời tựa viết cho lần xuất bản thứ nhất của quyển I bộ “ Tư bản”, Mác viết “ Đối với mọi khoa học, bước đầu bao giờ cũng khó khăn, đó là chân lý. Cho nên trong trường hợp này, điểu khó khăn nhất là việc hiểu chương thứ nhất trong đó chủ yếu là phần phân tích hàng hóa”

Trang 1

LÝ LUẬN GIÁ TRỊ TRONG BỘ “ TƯ BẢN” CỦA MÁC

Có thể nói rằng, bộ “ Tư bản” trình bày lý luận về CNTB và lịch sử của

CNTB, nói đúng hơn là lý luận về sự phát sinh, phát triển và diệt vong của CNTB.Những người cùng thời với Mác đã thấy ngay được ở bộ “Tư bản” “lịch sử vấymáy của chủ nghĩa tư bản” Trong lời tựa viết cho lần xuất bản thứ nhất của quyển

I bộ “ Tư bản”, Mác viết “ Đối với mọi khoa học, bước đầu bao giờ cũng khókhăn, đó là chân lý Cho nên trong trường hợp này, điểu khó khăn nhất là việc hiểuchương thứ nhất trong đó chủ yếu là phần phân tích hàng hóa”

Trong bài bình luận về tác phẩn của Mác “ Góp phần phê phán kinh tế chínhtrị học” Ăng ghen viết “ Chính trị kinh tế học bắt đầu từ việc nghiên cứu hàng hóa,nghĩa là bắt đầu từ khi sản phẩm được đem trao đổi giữa những cá nhân riêng lẻhay là giữa các công xã nguyên thủy Sản phẩm được đưa vào lĩnh vực trao đổi thìtrở thành hàng hóa Nhưng sở dĩ là hàng hóa vì trong vật ấy, trong sản phẩm ấychớm nở mối quan hệ giữa hai cá nhân, hoặc hai công xã, tức quan hệ giữa ngườisản xuất và người tiêu dùng, mà ở đây họ không còn kết hợp trong một người nữa

Ở đây, chúng ta thấy ngay một ví dụ về một hiện tượng đặc biệt, nó quán triệt toàn

bộ chính trị kinh tế học và gây nên sự hiểu lầm ghê gớm trong đầu óc các nhà kinh

tế học tư sản: chính trị kinh tế học không nghiên cứu vật, mà nghiên cứu mối quan

hệ người với người, và xét cho cùng là mối quan hệ giữa các giai cấp với nhau,nhưng các mối quan hệ ấy bao giờ cũng gắn liền với vật và biểu hiện ra như làvật”1 Đoạn trích trên không những xác định một cách chính xác đối tượng kinh tếchính trị học mà còn xác định đối tượng của phần thứ nhất của bộ “Tư bản” Phầnnày nghiên cứu mối quan hệ giữa người với người cớ liên quan với vật và biểuhiện dưới hình thái quan hệ giữa vật với vật Quan hệ ấy tạm thời không biểu hiệnthành quan hệ giữa các giai cấp mà chỉ biểu hiện thành quan hệ “giữa người sảnsuất và người tiêu dung, hoặc giữa những người sở hữu hàng hóa mà mỗi người

1 C.Mác và Ăngghen: Toàn tập, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t 13, tr.498

Trang 2

trong đó khi thì biểu hiện là người bán khi thì biểu hiện là người mua

Mác nghiên cứu hàng hóa không phải như một hình thức “đặc thù”, “cá biệt”

và “ngẫu nhiên” của sản phẩm, mà là một hình thức phổ biến tạo thành một trongnhững đặc tính chủ yếu của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa Mặt khác, Mác nghiêncứu cơ cấu kinh tế của xã hôi tư sản theo phương pháp truy nguyên, tức là nghiêncứu nó trong sự phát sinh, phát triển của nó

Lý luận giá trị - lao động được trình bày trong phần I, QI bộ“Tư bản”,tức là tập 23, C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, từ trang 61 đến 229; gồm 3chương: Chương I - hàng hóa; Chương II - quá trình trao đổi; Chương III - tiềnhay lưu thông hàng hóa

I Nội dung của lý luận giá trị trong bộ “ Tư bản”

CHƯƠNG I: HÀNG HÓA

Đối tượng nghiên cứu của chương này được Mác nêu ngay từ đầu chương

“Trong những xã hội do phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa chi phối, thì củacải xã hội biểu hiện ra là một “đống hàng hóa khổng lồ” Do đó, công cuộc nghiêncứu của chúng ta bắt đầu từ việc phân tích hàng hóa, tức là hình thái nguyên tố củacủa cỉa ấy”2 Nhưng không phải Mác nghiên cứu hàng hóa một cách cô lập tách rờimối liên hệ với sản xuất, mà nghiên cứu nó như một hình thái ban đầu của phươngthức sản xuất tư bản chủ nghĩa

Như vậy, đối tượng nghiên cứu của chương I trong quyển I bộ “ Tư bản” làphương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa dưới hình thái nguyên tố ban đầu của nó,tức dưới hình thái hàng hóa của sản phẩm Trong chương này, Mác chia thành 4tiết với những đầu đề riêng nhằm vạch rõ trình tự nghiên cứu hàng hóa, tức vạch

rõ tính liên tục của sự phát triển các chủ đề, bao gồm:

I HAI NHÂN TỐ CỦA HÀNG HÓA: GIÁ TRỊ SỬ DỤNG VÀ GIÁ TRỊ( THỰC THỂ CỦA GIÁ TRỊ, ĐẠI LƯỢNG CỦA GIÁ TRỊ)

2 C.Mác và Ăngghen: Toàn tập, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t 23, tr.61

Trang 3

Trong phần này, C.Mác tập trung nghiên cứu hàng hóa và tiền tệ mà trướchết là hàng hóa, đồng thời vạch rõ quan hệ sản xuất của những người sản xuấthàng hóa thể hiện trong H và T Sở dĩ, C.Mác bắt đầu sự nghiên cứu phải đi từhàng hóa là vì theo ông: cái thống trị trong xã hội tư bản chủ nghĩa là hàng hóa,

nó biểu hiện ra là một “ đống hàng hóa khổng lồ” Theo C.Mác, hàng hóa trướchết phải là một vật có thể thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người, nhưng

đó là nhu cầu của người khác (hay nhu cầu xã hội) chứ không phải nhu cầu củabản thân người sản xuất ra nó, do đó hàng hóa phải là một vật mà người ta đemtrao đổi lấy một vật khác Chính tính chất có ích hay công dụng của vật đókhiến cho nó có thể đáp ứng được một nhu cầu nhất định và làm cho nó trở

thành một giá trị sử dụng Theo C.Mác, tính có ích đó không tồn tại ở bên ngoài

vật thể mà ở ngay chính nội tại bên trong do thuộc tính tự nhiên vốn có của vậtthể hàng hóa quyết định “ Tính có ích do thuộc tính của vật thể hang hóa quyếtđịnh, nó không tồn tại bên ngoài vật thể hàng hóa này…”3 Chính vì vậy, giá trị

sử dụng chỉ được thực hiện trong việc sử dụng hay tiêu dùng nó, là yếu tố cấuthành nội dung vật chất của của cải, và nó không phụ thuộc vào hình thái xã hộicủa của cải đó Tuy nhiên, theo C.Mác, trong hình thái xã hội mà ông đangnghiên cứu thì giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi

Đề cập về giá trị trao đổi, C.Mác chỉ ra rằng: giá trị trao đổi là một quan hệ

về số lượng những giá trị sử dụng được trao đổi với những giá trị sử dụng khác.C.Mác viết “ Giá trị trao đổi trước hết là biểu hiện ra như là một quan hệ về sốlượng, là một tỷ lệ theo đó những giá trị sử dụng này được trao đổi với nhữnggiá trị sử dụng khác”4 Quan hệ về số lượng đó nói lên rằng: trong hai vật (manghai giá trị sử dụng khác nhau) có một cái chung có cùng một đại lượng TheoC.Mác chỉ ra, cái chung đó không thể là những thuộc tính hình học, vật lý, hóa

3 C.Mác và Ăngghen: Sđd, tr.63

4 C.Mác và Ăngghen: Sđd, tr.63

Trang 4

học hay những thuộc tính tự nhiên nào khác của hàng hóa làm cho hàng hóa đótrở nên có ích, cái chung đó phải nằm ngay chính trong vật đó, bản thân nó

“không phải là vật thứ nhất mà cũng không phải là vật thứ hai”5

Từ những lập luận trên C.Mác đi đến khẳng định: cái chung khiến chohàng hóa có thể trao đổi được với nhau bởi chúng chính là sản phẩm của laođộng “ Nếu gạt giá trị sử dụng của vật thể hàng hóa ra một bên, thì vật thể hànghóa chỉ còn có một thuộc tính mà thôi, cụ thể là: chúng là sản phẩm của laođộng”6 Nhưng theo C.Mác, lao động đó (cái giống nhau đó) không phải là laođộng cụ thể của một ngành sản xuất riêng biệt như “ lao động của người thợ đồ

gỗ, hay là của người thợ nề, hay là của người thợ kéo sợi” mà là lao động củacon người nói chung hay lao động trừu tượng của con người “những loại laođộng ấy không còn khác nhau nữa, mà được quy thành thứ lao động giống nhaucủa con người, thành lao động trừu tượng của con người”7 Từ đó C.Mác đã chỉ

ra, giá trị hàng hóa là lao động của con người đã được tích lũy vào đó, hay sứclao động của con người đã được chi phí trong quá trình sản xuất để tạo ra hànghóa đó

Để đo lường đại lượng giá trị hàng hóa, theo C.Mác phải sử dụng đúng cái

“ thực thể tạo ra giá trị” chứa đựng trong hàng hóa, đó chính là lượng lao động

đã hao phí làm cơ sở để xác định Bản thân lượng lao động thì được đo bằngthời gian lao động nhưng không phải là thời gian lao động cá biệt của mộtngười sản xuất cụ thể, mà phải là thời gian lao động bình quân của toàn bộnhững lao động cụ thể đó gộp lại, hay nói cách khác đó chính là thời gian laođộng xã hội cần thiết để sản xuất ra hang hóa đó C.Mác viết “Mỗi một sức laođộng cá thể ấy, cũng như bất cứ sức lao động cá thể nào khác cũng là một sứclao động của con người, bởi vì nó có tính chất một sức lao động xã hội trung

5 C.Mác và Ăngghen: Sđd, tr.64

6 C.Mác và Ăngghen: Sđd, tr.65

7 C.Mác và Ăngghen: Sđd, tr.66

Trang 5

bình và hoạt động với tư cách là một sức lao động xã hội trung bình như thế; do

đó để để sản xuất ra một hàng hóa nhất định, nó chỉ dùng một thời gian laođộng trung bình cần thiết hay thời gian lao động xã hội cần thiết”8 Mà thời gianlao động xã hội cần thiết là thời gian lao động để sản xuất ra một giá trị sử dụngnào đó trong điều kiện sản xuất bình thường của xã hội với một trình độ thànhthạo trung bình và cường độ lao động trung bình trong xã hội đó Từ đó C.Máckhẳng định, lượng giá trị của hàng hóa là do “ lượng lao động xã hội cần thiết,hay thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất” ra hàng hóa đó quyết định

Do đó, lượng giá trị hàng hóa phụ thuộc vào thời gian lao động cần thiết

để sản xuất ra hàng hóa đó, mỗi sự thay đổi của thời gian lao động đó sẽ dẫn tới

sự thay đổi lượng giá trị của hàng hóa Tuy nhiên, thời gian lao động lại phụthuộc vào sức sản xuất của lao động, sức sản xuất của lao động càng lớn thì thờigian lao động cần thiết để sản xuất ra vật phẩm càng ít, khối lượng lao động kếttinh trong vật phẩm đó càng nhỏ và giá trị của vật phẩm càng ít và ngược lại.Sức sản xuất của lao động lại được quyết định bởi nhiều yếu tố như: trình độkhéo léo trung bình của người công nhân, sự phát triển của khoa học và trình độ

áp dụng khoa học, sự kết hợp xã hội của quá trình sản xuất, quy mô và hiệuxuất của tư liệu sản xuất, các điều kiện thiên nhiên…Như vậy, lượng giá trịhàng hóa tỷ lệ thuận với lượng lao động kết tinh trong hàng hóa và tỷ lệ nghịchvới sức sản xuất của lao động đó

II.TÍNH CHẤT HAI MẶT CỦA LAO ĐỘNG BIỂU HIỆN TRONGHÀNG HÓA

Mặc dù trong tiết I, Mác đã nghiên cứu lao động trừu tượng và phần nàolao động cụ thể nhưng Mác vẫn cần phải trở lại vấn đề này và nghiên cứu nómột cách kỹ hơn bởi theo Mác “ chính trị kinh tế học xoay quanh điểm này nênchúng ta phải bàn thật chi tiết hơn nữa” Đề cập đến tính chất hai mặt của lao

8 C.Mác và Ăngghen: Sđd, tr.67

Trang 6

động trong sản xuất hàng hóa, C.Mác đã khẳng định, ông “là người đầu tiên đãchứng minh một cách có phê phán tính chất hai mặt ấy của lao động chứa đựngtrong hàng hóa”9 C.Mác đã chỉ ra lao động của người sản xuất hàng hóa có tínhhai mặt là lao động cụ thể (lúc đầu C.Mác gọi là lao động có ích) và lao độngtrừu tượng

Theo C.Mác, lao động cụ thể (hay lao động có ích) là lao động của mộtloại hoạt động sản xuất nhất định, nó tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa Ôngviết “ Cái áo là một giá trị sử dụng thỏa mãn một nhu cầu nhất định Muốn tạo

ra nó cần phải có một loại hoạt động sản xuất nhất định”10 Mỗi loại lao động cụthể khác nhau tạo ra các giá trị sử dụng khác nhau, chính sự khác nhau đó làmchúng có thể đứng đối diện với nhau với tư cách là hàng hóa, bởi người ta

“không đổi một giá trị sử dụng lấy một giá trị sử dụng” giống nhau Đồng thời,mỗi loại lao động cụ thể được quyết định bởi mục đích, cách làm, đối tượng, tưliệu và kết quả của hoạt động đó và nó thể hiện sự phân công lao động xã hội-điều kiện tồn tại của sản xuất hàng hóa Trong nền sản xuất hàng hóa, các loạilao động cụ thể hợp thành hệ thống phân công lao động xã hội C.Mác viết “Trong một xã hội mà sản phẩm nói chung đều mang hình thái hàng hóa, nghĩa

là trong xã hội của những người sản xuất hàng hóa, thì sự khác nhau về chất đógiữa các loại lao động có ích…sẽ phát triển thành một hệ thống có rất nhiềungành, thành sự phân công lao động xã hội”11 Tuy nhiên, lao động cụ thể là mộtphạm trù vĩnh viễn, nó không phụ thuộc vào bất kỳ hình thái xã hội nào mà nótồn tại ,bởi đó là hoạt động “ tất yếu tự nhiên vĩnh cửu làm môi giới cho sự traođổi chất giữa con người với tự nhiên, tức là cho bản thân sự sống của conngười”

Đề cập về lao động trừu tượng, C.Mác chỉ ra rằng: lao động trừu tượng

9 C.Mác và Ăngghen: Sđd, tr.71

10 C.Mác và Ăngghen: Sđd, tr.71

11 C.Mác và Ăngghen: Sđd, tr.72

Trang 7

chính là lao động của người sản xuất hàng hóa khi đã gạt bỏ những hình thức cụthể chỉ còn lại sự hao phí về sức lực, thần kinh cơ bắp của con người C.Mácviết “ nếu như không kể tính chất cụ thể nhất định của hoạt động sản xuất, và do

đó đến tính có ích của lao động, thì trong lao động ấy chỉ còn lại có một cái là

sự tiêu phí sức lao động của con người…một sự chi phí sản xuất về óc, bắp thịt,thần kinh và bàn tay,vv , của con người”12 Tuy nhiên, lao động trừu tượng làphạm trù riêng có trong nền sản xuất hàng hóa

Trong hoạt động lao động của con người C,Mác chỉ ra tính chất lao độnggồm lao động giản đơn và lao động phức tạp Lao động giản đơn là lao độngcủa “bất kỳ một con người bình thường nào” có khả năng lao động Tính chấtlao động này ở mỗi vùng, miền, quốc gia và mỗi thời kỳ văn minh có sự khácnhau Lao động phức tạp theo C.Mác là “ lao động giản đơn được nâng lênthành lũy thừa” hay “ lao động giản đơn được nhân lên” Trong nền sản xuấthàng hóa, việc quy lao động phức tạp thành lao động giản đơn diễn ra một cáchthường xuyên để thuận tiện trong việc trao đổi giữa các hàng hóa với nhau, coi

đó như một đơn vị dàng để đo các loại lao động khác nhau

III HÌNH THÁI CỦA GIÁ TRỊ HAY GIÁ TRỊ TRAO ĐỔI

Trong phần này là sự kế tục trực tiếp phần thứ nhất, tức phần “Hai nhân tốhàng hóa…” Phần thứ nhất đã giải thích cả thực thể (nội dung) của giá trị lẫnlượng giá trị, bây giờ cần chuyển sang nghiên cứu xem giá trị mà Mác lần mò ra

“vết tích của nó” biểu hiện như thế nào, tức là cần phải trở lại giá trị trao đổi.C.Mác khẳng định, sở dĩ hàng hóa có hai thuộc tính bởi do tính chất hai mặt củalao động sản xuất hàng hóa Nếu như giá trị sử dụng của hàng hóa có thể nhậnbiết được bằng các giác quan thì giá trị chỉ có thể nhận biết được thông qua giátrị trao đổi Vì vậy, theo C.Mác để hiểu rõ hình thái giá trị phải đi từ giá trị traođổi hay quan hệ trao đổi của các hàng hóa, ông viết “ Thậy vậy, chúng ta xuất

12 C.Mác và Ăngghen: Sđd, tr.74

Trang 8

phát từ giá trị trao đổi, hay từ quan hệ trao đổi của các hàng hóa, để lần mò ravết tích cúa giá trị ẩn nấp trong những hàng hóa đó”13

Việc nghiên cứu sự biểu hiện của giá trị trong giá trị trao đổi được tiếnhành theo phương pháp truy nguyên, tưc là nghiên cứu sự ra đời của giá trịtrong sự tồn tại của giá trị trao đổi, và giá trị troa đổi này là sự mở đầu cho việcchuyển từ nền kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hóa Nói đúng hơn, sự biểuhiện của giá trị trong giá trị trao đổi là do bản thân sự ra đời của giá trị tạo nên

Và Mác bắt đầu công trình nghiên cứu của mình từ hình thái giản đơn của giátrị, hình thái giá trị này phù hợp với việc bắt đầu chuyển từ kinh tế tự nhiênsang kinh tế hàng hóa Nhưng trong hình thái giản đơn đó đã bộc lộ ra mọi đặcđiểm của các hình thái giá trị VÌ vậy, việc phân tích hình thái giản đơn của giátrị sẽ khám phá ra bí mật của mọi hình thái giá trị kể cả hình thái phát triển caonhất là hình thái tiền tệ

A HÌNH THÁI GIẢN ĐƠN, ĐƠN NHẤT HAY NGẪU NHIÊN CỦAGIÁ TRỊ

Khi mới ra đời, hình thái giá trị không phải là cái gì khác ngoài hình tháigiản đơn hay ngẫu nhiên của giá trị Để nghiên cứu, Mác đã phân chia sự trìnhbày hình thái này thành những đề mục riêng và với các đề mục đặc biệt nêu rõnội dung của các phần C.Mác đưa ra ví dụ:

x hàng hóa A = y hàng hóa B

20 m vải = 1 cái áo

1.Hai cực biểu hiện của giá trị: hình thái tương đối của giá trị và hình thái ngang giá

Bí mật của mọi hình thái giá trị đều nằm trong hình thái đơn giản của giátrị Ở ví dụ trên, hai hàng hóa đóng vai trò khác nhau, vải biểu hiện giá trị của

nó bằng cái áo, còn cái áo được dùng làm vật liệu cho biểu hiện giá trị của nó

13 C.Mác và Ăngghen: Sđd, tr.74

Trang 9

Như vậy, giá trị của hàng hóa thứ nhất được biểu hiện như một giá trị tương đốihay hàng hóa đó đang ở trong hình thái tương đối của giá trị, còn hàng hóa thứhai đóng vai trò là vật ngang giá hay đang trong hình thái ngang giá

Hình thái tương đối của giá trị và hình thái ngang gía là hai yếu tố liênquan, không thể tách rời nhau nhưng lại là hai cực đối lập nhau, hai cực đó baogiờ cũng được phân chia cho những hàng hóa khác nhau mà biều hiện giá trịlàm chúng quan hệ với nhau

2 Hình thái tương đối của giá trị

a Nội dung của hình thái: thông thường, người ta chỉ xem xét về mặt số

lượng (tỷ lệ) để đem so sánh các hàng hóa khác nhau, nhưng người ta quên rằngmuốn so sánh về số lượng thì phải quy về “một thể thống nhất” Vì vậy, theoC.Mác cần phải tạm thời gạt bỏ mặt số lượng đi

Ở phương trình trên: vải = áo, hình thái giá trị của vải và áo được thể hiện

ra, giá trị của vải được biểu hiện bằng cách so sánh với áo coi đó là vật nganggiá có thể đổi trực tiếp với vải, còn áo là hình thái tồn tại của giá trị Mặt khác,bản thân vải cũng có giá trị, nếu vải không có giá trị thì áo không thể làm vậtngang giá cho nó Hình thái giá trị của chúng được thể hiện qua lao động xã hộikết tinh trong đó Như vậy, lao động tạo ra giá trị song bản thân nó không phải

là giá trị, nó chỉ là giá trị được kết tinh trong một vật phẩm, nhưng khi nó nằmtrong một mình vật phẩm thì nó không biểu hiện ra được mà phải có một vậtkhác về hình thái tự nhiên nhưng giống về mặt kết tinh lao của động để làm vậtngang giá giúp cho giá trị của chúng được biểu hiện ra

Do đó trong quan hệ giá trị, hình thái tự nhiên của vật phẩm thứ hai trởthành hình thái giá trị, còn giá trị của vật phẩm thứ nhất thì được thể hiện trongvật thứ hai

b Tính xác định về lượng của hình thái tương đối của giá trị:

Nếu như tiết thứ nhất đã giải thích rõ cái gì quyết định lượng giá trị, thì

Trang 10

phần này sẽ giải thích những nhân tố nào quyết định sự biểu hiện của lượng giátrị Và C.Mác đã đưa ra 4 giả định để nghiên cứu sự ảnh hưởng của những thayđỏi về thời gian lao động, sức lao động tới sự thay đổi của đại lượng giá trị

3 Hình thái ngang giá:

Theo C.Mác, hình thái ngang giá của một hàng hóa là hình thái làm chomột hàng hóa có thể trao đổi trực tiếp với một hàng hóa khác Khi một hàng hóa

A biểu hiện giá trị của nó bằng giá trị sử dụng của một hàng hóa B khác với nóthì nó đồng thời cũng đem lại cho hàng hóa B đó một hình thái giá trị đặc biệt-hình thái vật ngang giá Vật ngang giá bao giờ cũng chỉ biểu hiện thành mộtlượng nhất định của một vật nào đó- một lượng giá trị sử dụng, còn lượng giá trịcủa nó thì không cần thiết phải biểu hiện.Nghiên cứu về hình thái ngang giá,C.Mác đã chỉ ra có ba đặc điểm cơ bản

- Thứ nhất: giá trị sử dụng trở thành hình thái biểu hiện của giá trị Điều nàychỉ có được khi đặt quan hệ với hàng hóa khác với tư cách là vật ngang giá hay lấycái hình thái tự nhiên bên ngoài của một hàng hóa khác làm hình thái giá trị củabản thân nó Nhìn bề ngoài người ta tưởng rằng vật ngang giá có giá trị như là mộtthuộc tính tự nhiên khiến chúng có thể trao đổi trực tiếp được

- Thứ hai: lao động cụ thể đã trở thành hình thái biểu hiện của lao độngtrừu tượng bởi vật phẩm được dùng làm vật ngang giá bao giờ cũng là sản phẩmcủa một lao động cụ thể nhất định đồng thời nó là hiện thân của lao động trừutượng của con người

- Thứ ba: lao động tư nhân trở thành lao động dưới hình thái xã hội trựctiếp bởi lao động cụ thể của người sản xuất hàng hóa thể hiện ra như một laođộng không có sự phân biệt của con người, do đó nó mang hình thái bình đẳngvới các lao động khác trong xã hội của nền sản xuất hàng hóa

4 Toàn bộ hình thái giản đơn của giá trị

Theo C.Mác, hình thái giản đơn của giá trị nằm trong quan hệ quan hệ trao

Trang 11

đổi giữa hàng hóa thứ nhất với hàng hóa thứ hai Về mặt chất, giá trị của hànghóa thứ nhất được biểu hiện bằng thuộc tính của hàng hóa thú hai có thể traođổi trực tiếp với nó Về mặt lượng, giá trị đó được biểu hiện bằng việc trao đổimột lượng hàng hóa thứ hai với một lượng hàng hóa thứ nhất Như vậy, giá trịđược biểu hiện trong giá trị trao đổi

Từ những lập luận trên, C.Mác đã phê phán quan niệm sai lầm của pháitrọng thương và phái trao đổi tự do khi cho rằng trao đổi sinh ra giá trị và lượnggiá trị, ông viết “ sự phân tích của chúng ta cho thấy rằng, hình thái giá trị haybiểu hiện giá trị của hàng hóa, chính là do bản chất của giá trị hàng hóa đẻ rachứ không phải là ngược lại, không phải là phương thức biểu hiện giá trị đó với

tư cách là giá trị trao đổi đã đẻ ra giá trị và đại lượng của giá trị”14 Nhờ có hìnhthái giá trị, mâu thuẫn bên trong hàng hóa mới bộc lộ ra bên ngoài thông quamối quan hệ giữa hai hàng hóa Do đó, hình thái giản đơn của giá trị một hànghóa là hình thái biểu hiện đơn giản của sự đối lập chứa đựng trong hàng hóagiữa giá trị sử dụng và giá trị Trong nền sản xuất hàng hóa thì hình thái giảnđơn của hàng hóa đồng thời cũng là hình thái hàng hóa giản đơn của sản phẩmlao động

B HÌNH THÁI ĐẦY ĐỦ HAY MỞ RỘNG CÚA GIÁ TRỊ

Hình thái giá trị giản đơn rõ ràng là chưa đầy đủ, nó chỉ nói lên hai vật cóthể trực tiếp trao đổi được với nhau còn các vật khác thì chưa biết Do đó, theoC.Mác phải chuyển sang một hình thái khác đầy đủ hơn, tức là hình thái đầy đủhay mở rộng:

1 áo20m vải = 10 kg chè

2 ôn-xơ vàng …

Ở đây, giá trị của hàng hóa này được biểu hiện bằng nhiều giá trị sử dụng

14 C.Mác và Ăngghen: Sđd, tr.99

Trang 12

của các hàng hóa khác Một hàng hóa có quan hệ xã hội với tất cả các hàng hóakhác, lao động kết tinh trong hàng hóa được thể hiện rõ ràng hơn thành một laođộng ngang với bất cứ lao động nào khác của con người Các loại hàng hóa- với

tư cách là vật ngang giá đều là hình thái ngang giá đặc thù bên cạnh nhiều hìnhthức ngang giá khác

Tuy nhiên, C.Mác cũng đã chỉ ra những thiếu xót của hình thái đầy đủ hay

mở rộng của giá trị đó là: biều hiện tương đối của giá trị hàng hóa chưa đượchoàn tất và kết quả chỉ có những vật ngang giá riêng biệt, thiếu sự thống nhất vềhình thái ngang giá mà hình thái ngang giá lại phản ánh tính chất lao động củacon người nói chung

C HÌNH THÁI CHUNG CỦA GIÁ TRỊ

Trong hình thái này, quan hệ giữa sự phát triển của hình thái tương đối củagiá trị và hình thái vật ngang giá luôn tương ứng với nhau Song sự phát triểncủa hình thái vật ngang giá chỉ là biểu hiện và là kết quả của sự phát triển của

Trang 13

hình thái tương đối của giá trị Khi các loại hàng hóa đóng vai trò là vật nganggiá được thống nhất cố định ở một một loại hàng hóa đặc biệt thì sẽ trở thànhhàng hóa – tiền hay làm chức năng tiền, đó chính là bước chuyển từ hình tháiphổ biến của giá trị sang hình thái tiền

Trong hình thái này, vàng đóng vai trò là vật ngang giá phổ biến và khi nó

đã độc chiếm vị trí là vật ngang giá thì nó trở thành hàng hóa- tiền tệ Lúc nàyhình thái phổ biến của giá trị mới biến thành hình thái tiền

Sự phát triển của các hình thái giá trị, bước chuyển từ hình thái giản đơnqua hình thái mở rộng sang hình thái chung không phải là một quá trình thuầntúy hình thức chỉ liên quan tới sự biểu hiện bề ngoài của giá trị Sự phát triểncủa các hình thái đồng thời cũng là sự phát triển bản thân giá trị, là việc biếnsản phẩm của lao động thành hoàng hóa và biến lao động đã hao phí để sản xuấtnhững sản phẩm ấy thành lao động tạo ra giá trị Do đó, sự chuyển sangphương thức sản xuất mới là cơ sở của sự chuyển sang hình thái chung của giátrị Chỉ khi nào hình thái chung của giá trị xuất hiện thì sự “ chuyển biến” nóitrên mới kết thúc Trong hình thái giản đơn của giá trị, việc trao đổi con mangtính chất ngẫy nhiên; trong hình thái mở rộng của giá trị tính chất này về cănbản vẫn còn và do đó lúc này lao động chỉ sản xuất giá trị sử dụng Chỉ khi việctrao đổi trở thành hiện tượng phổ biến, nghĩa là hình thái giá trị trở thành hìnhthái chung của giá trị thì lao động của loài người mới tạo ra giá trị

IV.Tính chất bái vật giáo của hàng hóa và bí mật của nó

Nhìn bề ngoài, hàng hóa là một vật giản đơn, tuy nhiên theo C.Mác nếu

Ngày đăng: 19/08/2017, 15:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w