Nhằm góp phần nhận thức đúng đắn về tuần hoàn và chu chuyển tư bản trong kinh tế cũng như nhiệm vụ xây dựng CNXH với nền kinh tế thị trường định hứng XHCN ở nước ta, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “ Lí luận tuần hoàn và chu chuyển tư bản của C.Mác. Ý nghĩa của nó đối với vấn đề huy động và sử dụng vốn ở nước ta hiện nay”. Xây dựng đề tài thảo luận này, chúng tôi tập chung nghiên cứu về thực trạng sử dụng vốn, cách thức vận dụng lí luận tuần hoàn và chu chuyển của tư bản vào nên kinh tế một cách hiệu quả và đưa ra một số biện pháp huy động vốn hiệu quả và nâng cao hiệu quả vốn đầu tư. Với đề tài này, chúng tôi mong muốn người đọc sẽ hiểu được tầm quan trong của lí luận kinh tế chính trị Mác Lênin nói chung và lí luận tuần hoàn và chu chuyển của tư bản của Mác nói riêng, từ đó có cái nhìn khách quan về việc huy động và sử dụng vốn ở nước ta hiện nay. Bài thảo luận dựa trên phương pháp tìm hiểu, so sánh, thống kê, phân tích số liệu trong thực tế, cùng với phân tích những luận điểm trong giáo trình “ Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin” và một số giáo trình, tư liệu khác… Kết cấu của đề tài bao gồm hai phần lớn( ngoài phần mở đầu và kết luận): Phần I: Lí luận tuần hoàn và chu chuyển tư bản của Mác Phần II: Ý nghĩa của lí luận tuần hoàn và chu chuyển tư bản của Mác đối với vấn đề huy động và sử dụng vốn ở Việt Nam hiện nay Trong bài thảo luận của nhóm còn rất nhiều những sai sót, khuyết điểm, mong rằng giảng viên và các bạn sinh viên sẽ đóng góp ý kiến để bài thảo luận được hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn
Trang 1NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ
NGHĨA MÁC-LÊNIN II
ĐỀ TÀI: LÝ LUẬN TUẦN HOÀN VÀ CHU CHUYỂN TƯ BẢN CỦA CÁC
MÁC Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Trong mọi nền kinh tế, sự gia tăng tư bản và giá trị thặng dư luôn là quan tâm hàng đầu của các nhà tư bản Để có thể đạt được những mục tiêu đó, thì tuần hoàn và chu chuyểntư bản chính là những định hương cơ bản mà nền kinh tế phải dựa vào Mà trong đó lí luận tuần hoàn và chu chuyển tư bản của C.Mác chính là kim chỉ nam dẫn đường cho sự nghiệp xây dựng kinh tế vững mạnh của hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Là một nước đang phát triển trong thời kì quá độ lên CNXH, mà sự nghiệp công nghiêp hóa- hiện đại hóa là mục tiêu hàng đầu thì Việt Nam đang có những cơ hội và thách thức rất lớn Và để thực hiện nhiệm vụ công nghiệp hóa- hiện đại hóa đó thì việc huy động và sử dụng vốn một cách hiệu quả là rất quan trọng Bởi lẽ, vốn là một vật chất quan trong trong mọi hoạt động của nền kinh tế, nhu cầu về vốn nổi lên như một vấn đề cấp bách Thực tế trong những năm qua nước ta đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận về việc quản lí và sử dụng vốn, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại những bất cập cần phải giải quyết Vì vậy việc nghiên cứu và vận dụng lí luận tuần hoàn và chu chuyển tư bản của C.Mác để tìm ra phương pháp huy động và sử dụng vốn là vô cùng cần thiết
Có thể thấy rằng,tuần hoàn và chu chuyển là điều kiện để tư bản lớn lên và đồng thời tạo ra giá trị thặng dư nhờ đó mà nền kinh tế mới phát triển được Nó còn giống như một con đường mà bất kỳ một nhà tư bản nào muốn tồn tại và phát triển thì buộc phải đi, vì chỉ khi hiểu được bản chất, những điều kiện và các yếu tố liên quan đến quá trình lưu thông thì người ta mới có thể tham gia vào quá trình sản xuất và tạo ra giá trị thặng dư Không những thế, ngày nay nền kinh tế còn chịu nhiều yếu tố tác động về mọi mặt, vì vậy việc bám sát vào quá trình tuần hoàn và chu chuyển có thể giúp cho các nhà tư bản phát triển dây truyền sản xuất, định hướng và hoạch định chiến lược một cách đúng đắn và phù hợp hơn, nhờ
đó mới có thể đứng vững và tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển Việc tìm hiểu về lí luận tuần hoàn
và chu chuyển là một yếu tố cần thiết cho tiền đề phát triển của nền kinh tế, điều này góp phần làm cho mọi người hiểu rõ hơn về quá trình lưu thông của tư bản và giá trị thặng dư Vì vậy, lí luận tuần hoàn và chu chuyển tư bản đóng một vai trò quan rọng trong nền kinh tế, nó mang ý nghĩa to lớn trong việc huy động và sử dụng vốn trong nền kinh tế nước ta hiện nay
Nhằm góp phần nhận thức đúng đắn về tuần hoàn và chu chuyển tư bản trong kinh tế cũng như nhiệm vụ xây dựng CNXH với nền kinh tế thị trường định hứng XHCN ở nước ta, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “ Lí luận tuần hoàn và chu chuyển tư bản của C.Mác Ý nghĩa của nó đối với vấn đề huy động và sử dụng vốn ở nước ta hiện nay” Xây dựng đề tài thảo luận này, chúng tôi tập chung nghiên cứu về thực trạng sử dụng vốn, cách thức vận dụng lí luận tuần hoàn và chu chuyển của tư bản vào nên kinh tế một cách hiệu quả và đưa ra một số biện pháp huy động vốn hiệu quả và nâng cao hiệu quả vốn đầu tư Với đề tài này, chúng tôi mong muốn người đọc sẽ hiểu được tầm quan trong của lí luận kinh tế-chính trị Mác- Lênin nói chung và lí luận tuần hoàn và chu chuyển của tư bản của Mác nói riêng, từ đó
có cái nhìn khách quan về việc huy động và sử dụng vốn ở nước ta hiện nay
Trang 3Bài thảo luận dựa trên phương pháp tìm hiểu, so sánh, thống kê, phân tích số liệu trong thực tế, cùng với phân tích những luận điểm trong giáo trình “ Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin” và một số giáo trình, tư liệu khác…
Kết cấu của đề tài bao gồm hai phần lớn( ngoài phần mở đầu và kết luận):
Phần I: Lí luận tuần hoàn và chu chuyển tư bản của Mác
Phần II: Ý nghĩa của lí luận tuần hoàn và chu chuyển tư bản của Mác đối với vấn đề huy động
và sử dụng vốn ở Việt Nam hiện nay
Trong bài thảo luận của nhóm còn rất nhiều những sai sót, khuyết điểm, mong rằng giảng viên và các bạn sinh viên sẽ đóng góp ý kiến để bài thảo luận được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 4NỘI DUNG BẢI TIỂU LUẬN
Phần 1: LÝ LUẬN TUẦN HOÀN VÀ CHU CHUYỂN TƯ BẢN CỦA C.MÁC
I - TUẦN HOÀN CỦA TƯ BẢN
1 Khái niệm tư bản
Tư bản là quan hệ sản xuất
Tư bản chính là các công cụ lao động, tư liệu sản xuất Định nghĩa như thế nhằm che giấu thực chất việc nhà tư bản bóc lột công nhân làm thuê
Thực chất tư liệu sản xuất không phải là tư bản mà nó chỉ là một điều kiện cần thiết để sản xuất trong bất cứ một xã hội nào Tư liệu sản xuất chỉ trở thành tư bản khi nó trở thành vật sở hữu của các nhà tư bản và được dùng để bóc lột lao động làm thuê Như vậy, tư bản không phải
là vật mà là mối quan hệ sản xuất nhất định giữa người với người trong quá trình sản xuất
Từ quá trình tạo ra giá trị thặng dư ta có định nghĩa về tư bản:” Tư bản là giá trị đem lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột công nhân làm thuê” Tư bản thể hiện mối quan hệ giữa giai cấp
tư sản và giai cấp vô sản Trong đó giai cấp tư sản là người sở hữu tư liệu sản xuất, còn giai cấp
vô sản là lao động làm thuê bị giai cấp tư sản bóc lột
2 Tuần hoàn của tư bản
2.1 Ba giai đoạn tuần hoàn của tư bản
2.1.1 Giai đoạn thứ nhất - giai đoạn lưu thông.
TLSX
T - H
SLĐ
Tư bản xuất hiện dưới hình thái tiền là tư bản tiền tệ (T) Tiền được sử dụng để mua tư liệu sản xuất (TLSX) và sức lao động (SLĐ) Hàng hóa tư liệu sản xuất và hang hóa sức lao động phải phù hợp với nhau về số lượng và chất lượng Trong đó giai đoạn này, tư bản này tồn tại dưới hình thái tư bản tiền tệ thực hiện chức năng là phương tiện mua hai yếu tố tư liệu sản xuất
và sức lao động, và sau khi mua xong, tư bản tiền tệ biến thành tư bản sản xuất
2.1.2 Giai đoạn thứ hai - giai đoạn sản xuất.
TLSX
SLĐ
Trong giai đoạn này tư bản tồn tại dưới hình thái tư bản sản xuất (TBSX), có chức năng thực hiện sự kết hợp hai yếu tố tư liệu sản xuất và sức lao động để sản xuất ra hàng hóa mà trong giá trị của nó có giá trị thặng dư Trong các giai đoạn tuần hoàn của tư bản thì giai đoạn sản xuất
có ý nghĩa quyết định nhất, vì nó gần trực tiếp với mục đích của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa
Trang 52.1.3 Giai đoạn thứ ba - giai đoạn lưu thông.
H’ - T’
Hàng hoá được tạo ra trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa mang hình thái tư bản hàng hoá (H), trong đó chứa đựng không chỉ có giá trị tư bản ứng trước mà còn có giá trị thặng dư Trong giai đoạn này, tư bản hàng hoá có chức năng thực hiện giá trị hàng hoá trong đó có giá trị thặng dư hay chức năng chuyển hoá tư bản hàng hoá thành tư bản tiền tệ
Sự vận động qua ba giai đoạn nói trên là sự vận động có tính tuần hoàn: từ hình thái tiền
tệ ban đầu của vòng tuần hoàn rồi quay về dưới hình thái tiền tệ cuối của vòng tuần hoàn; quá trình đó tiếp tục và lặp lại không ngừng Như vậy, sự vận động liên tiếp qua ba giai đoạn, trong mỗi giai đoạn, tư bản mang một hình thái nhất định và có một chức năng nhất định được gọi là tuần hoàn tư bản
Nghiên cứu sự biến hoá từ tư bản tiền tệ thành tư bản sản xuất rồi đến tư bản hàng hoá,
mà sự vận động của chúng như một chuỗi những biến hoá hình thái của tư bản cho thấy tư bản không phải là vật ở trạng thái tĩnh, mà nó lấy vật làm hình thái tồn tại trong quá trình vận động
Thực tiễn sản xuất và lưu thông cho thấy không phải lúc nào các giai đoạn và các hình thái tư bản trong quá trình tuần hoàn đều ăn khớp với nhau mà không có sự ách tắc và gián đoạn Mỗi sự ách tắc, gián đoạn ở một giai đoạn nào đó đều gây rối loạn hay đình trệ cho sự tuần hoàn của tư bản Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến thời gian tư bản nằm lại ở mỗi giai đoạn Do vậy, thu hẹp hay kéo dài các thời gian đó đều ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của tư bản
Tuần hoàn của tư bản chỉ tiến hành một cách bình thường khi hai điều kiện sau đây được thoả mãn Đó là: các giai đoạn của chúng diễn ra liên tục; các hình thái tư bản cùng tồn tại và được chuyển hoá một cách đều đặn
Trong các loại tư bản, chỉ có tư bản công nghiệp (với nghĩa các ngành sản xuất vật chất) mới có hình thái tuần hoàn đầy đủ gồm ba giai đoạn và mới lần lượt mang vào và trút bỏ ba hình thái tư bản
2.2 Các hình thái tuần hoàn của tư bản công nghiệp
Trong sự vận động liên tục của tư bản công nghiệp, mỗi hình thái của tư bản đều có thể làm điểm mở đầu và làm điểm kết thúc của tuần hoàn, tạo nên ba hình thái tuần hoàn khác nhau của
tư bản công nghiệp: Tuần hoàn của tư bản tiền tệ, tuần hoàn của tư bản sản xuất và tuần hoàn của tư bản hàng hoá
2.2.1 Tuần hoàn của tư bản tiền tệ:
TLSX
H …SX ….H’’ -T’ (viết gọn lại là T-T’)
Trang 6Mở đầu và kết thúc đều là tiền, ở đây sự vận động của tư bản biểu hiện ra là sự vận động của tiền, còn hàng hoá hay sản xuất chỉ là những yếu tố trung gian để tiền đẻ ra tiền Hình thái tuần hoàn này phản ảnh rõ rệt nhất mục đích, động cơ vận động của tư bản là làm tăng giá trị hay giá trị thặng dư, mà giá trị thặng dư như C.Mác nói hình thức biểu hiện chói lọi nhất của nó là hình thái tiền Bởi vậy T - T' là hình thái biểu hiện phiến diện nhất, che giấu quan hệ bóc lột nhất, nhưng cũng đặc trưng nhất cho sự vận động của tư bản
2.2.2 Tuần hoàn của tư bản sản xuất:
TLSX
SX - H’ - T’ - H …SX
SLĐ
Trong hình thái này, mở đầu và kết thúc là sản xuất, còn hàng hoá và tiền tệ chỉ là những yếu tố trung gian, toàn bộ quá trình lưu thông H' - T' - H chỉ là điều kiện cho sản xuất
Tuần hoàn của tư bản sản xuất không chỉ ra được mục đích và động cơ vận động của tư bản, nhưng lại phản ảnh rõ nét nguồn gốc của tư bản và nguồn gốc của tích luỹ tư bản, vì giá trị thặng
dư được sinh ra và lớn lên trong quá trình tuần hoàn này
2.3 Tuần hoàn của tư bản hàng hóa
H’ - T’ - H ….SX… H’
SLĐ
Trong hình thái tuần hoàn này, điểm mở đầu và kết thúc đều là hàng hoá và sự vận động của nó biểu hiện ra là sự vận động của hàng hoá Còn sản xuất và tiền tệ chỉ là những hình thức trung gian, chỉ là điều kiện cho sự vận động của hàng hoá Hình thái tuần hoàn này phản ánh rõ vai trò của lưu thông hàng hoá và tính liên tục của lưu thông hàng hoá
Mở đầu tuần hoàn là tư bản hàng hoá (H'), sự chuyển hoá H' - T' bao gồm cả tiêu dùng sản xuất
và tiêu dùng cá nhân Do đó, hình thái tuần hoàn này không chỉ là hình thái vận động của tư bản công nghiệp cá biệt, mà còn là hình thái thích hợp để phân tích sự vận động của tư bản xã hội
Tóm lại, tuần hoàn của tư bản công nghiệp là sự thống nhất của ba hình thái tuần hoàn của tư bản tiền tệ, tư bản sản xuất và tư bản hàng hoá Tính thống nhất này phụ thuộc vào những điều kiện bảo đảm cho tính liên tục không gián đoạn của các giai đoạn, các hình thái tư bản và tỷ lệ phân chia tư bản thành ba hình thái tuần hoàn nói trên Tỷ lệ phân chia này phụ thuộc nhiều yếu
tố, nhiều hoàn cảnh khác nhau ở từng ngành khác nhau Trong những thập niên gần đây ở nhiều nước tư bản chủ nghĩa xuất hiện những yếu tố làm cho quy mô tư bản ứng trước ngày càng tăng
Trang 7như: do cạnh tranh, do công nghệ hiện đại, do khó khăn về tiêu thụ và việc vươn tới những thị trường ngày càng xa và với yêu cầu chất lượng cao Nhưng cũng có những yếu tố làm giảm quy
mô tư bản ứng trước như công nghệ mới, tổ chức quản lý khoa học, quan hệ tín dụng, tốc độ chu chuyển tư bản
II - CHU CHUYỂN CỦA TƯ BẢN
Khi nghiên cứu tuần hoàn của tư bản, vấn đề thời gian và tốc độ vận động, những nhân tố ảnh hưởng đến tốc độ chu chuyển và tác dụng của nó chưa được đề cập Nhưng các vấn đề đó lại có tầm quan trọng
để hiểu rõ hơn nền kinh tế tư bản chủ nghĩa trong điều kiện của kinh tế thị trường Những vấn đề này thuộc nội dung của lý luận chu chuyển tư bản
1 Chu chuyển tư bản, thời gian chu chuyển và tốc độ chu chuyển tư bản
Nghiên cứu tuần hoàn tư bản là nghiên cứu mặt chất của sự vận động tư bản, còn nghiên cứu chu chuyển tư bản là nghiên cứu mặt lượng hay nghiên cứu tốc độ vận động của tư bản Mặc dù có
sự khác nhau, nhưng cả hai đều nghiên cứu sự vận động của tư bản Bởi vậy, tuần hoàn tư bản
và chu chuyển tư bản có quan hệ mật thiết với nhau
1.1 Chu chuyển tư bản
Chu chuyển tư bản là sự tuần hoàn tư bản nếu xét nó là một quá trình định kỳ đổi mới, diễn
ra liên tục và lặp đi lặp lại không ngừng Chu chuyển tư bản phản ánh tốc độ vận động nhanh hay chậm của tư bản
1.2 Thời gian chu chuyển tư bản
Thời gian chu chuyển tư bản là thời gian tính từ khi tư bản ứng ra dưới một hình thái nhất định cho đến khi thu về cũng dưới hình thái ban đầu, có kèm theo giá trị thặng dư Thời gian chu chuyển tư bản cũng là thời gian tư bản thực hiện được một vòng tuần hoàn Tuần hoàn
tư bản bao gồm quá trình sản xuất và quá trình lưu thông, nên thời gian chu chuyển của tư bản cũng bao gồm thời gian sản xuất và thời gian lưu thông
Thời gian chu chuyển = Thời gian sản xuất + Thời gian lưu thông
Trong đó, thời gian sản xuất là thời gian tư bản nằm trong lĩnh vực sản xuất Thời gian này lại bao gồm thời gian lao động, thời gian gián đoạn lao động và thời gian dự trữ sản xuất
Thời gian sản xuất = Thời gian lao động + Thời gian gián đoạn lao động + Thời gian dự trữ sản xuất
Thời gian lao động là thời gian người lao động tác động vào đối tượng lao động để tạo ra sản phẩm Đây là thời kỳ hữu ích nhất, vì nó tạo ra giá trị hàng hoá
Thời gian gián đoạn lao động là thời gian đối tượng lao động tồn tại dưới dạng bán thành phẩm nằm trong lĩnh vực sản xuất, nhưng không chịu tác động trực tiếp của lao động mà
Trang 8chịu sự tác động của tự nhiên như thời gian để cây lúa tự lớn lên, rượu ủ men, gạch mộc hoặc gỗ phơi cho khô Thời kỳ này có thể xen kẽ với thời kỳ lao động hoặc tách ra thành một thời kỳ riêng biệt; có thể dài ngắn khác nhau tuỳ thuộc vào các ngành sản xuất, các sản phẩm chế tạo và phụ thuộc vào công nghệ sản xuất
Thời gian dự trữ sản xuất là thời gian các yếu tố sản xuất đã được mua về, sẵn sàng tham gia quá trình sản xuất, nhưng chưa thực sự được sử dụng vào quá trình sản xuất, còn ở dạng dự trữ tạo điều kiện cho sản xuất diễn ra liên tục Quy mô dự trữ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: đặc điểm của các ngành, tình hình thị trường và năng lực tổ chức, quản lý sản xuất
Cả thời gian gián đoạn lao động và thời gian dự trữ sản xuất đều không tạo ra giá trị sản phẩm Sự tồn tại hai thời kỳ này là không tránh khỏi nhưng nói chung thời gian của chúng càng dài, hay sự chênh lệch giữa thời gian sản xuất với thời gian lao động càng lớn thì hiệu quả hoạt động của tư bản càng thấp Rút ngắn thời gian này có tác dụng quan trọng để nâng cao hiệu quả sử dụng tư bản
Thời gian lưu thông là thời kỳ tư bản nằm trong lĩnh vực lưu thông Thời gian này bao gồm thời gian mua và thời gian bán, kể cả thời gian vận chuyển
Thời gian lưu thông = Thời gian mua + Thời gian bán
1.3 Tốc độ chu chuyển của tư bản
Tốc độ chu chuyển tư bản là khái niệm dùng để chỉ sự vận động nhanh hay chậm của tư bản ứng trước Đơn vị tính tốc độ chu chuyển tư bản bằng số vòng hoặc số lần chu chuyển tư bản thực hiện được trong một khoảng thời gian nhất định, chẳng hạn trong một năm Nếu gọi (N)
là tốc độ chu chuyển tư bản, gọi (ch) là thời gian của một vòng chu chuyển tư bản, (tính theo đơn vị ngày hoặc tháng) và gọi (CH) là thời gian tư bản vận động trong một năm (360 ngày hoặc 12 tháng), ta có công thức tính tốc độ chu chuyển tư bản là:
N ¿CH
c h
Từ công thức trên cho thấy tốc độ chu chuyển tư bản vận động tỷ lệ nghịch với thời gian chu chuyển tư bản Thời gian của một vòng chu chuyển tư bản càng ngắn thì tốc độ chu chuyển
tư bản càng nhanh và ngược lại
Thí dụ 1: Một tư bản có thời gian chu chuyển là 90 ngày/vòng, theo công thức trên ta có số vòng chu chuyển trong năm của tư bản đó là:
N ¿360 ng à y
90 ng à y = 4 vòng/năm
Thí dụ 2: Một tư bản có thời gian chu chuyển tư bản là 6 tháng/vòng, theo công thức trên ta có:
Trang 9N ¿12t h á ng
6 t h á ng = 2 vòng/năm
2 Tư bản cố định và tư bản lưu động
Tư bản sản xuất gồm nhiều bộ phận và có thời gian chu chuyển khác nhau về mặt giá trị, do đó ảnh hưởng đến thời gian chu chuyển của toàn bộ tư bản Căn cứ vào sự khác nhau trong phương thức (đặc điểm) chu chuyển về mặt giá trị nhanh hay chậm của các bộ phận tư bản để phân chia
tư bản sản xuất thành tư bản cố định và tư bản lưu động
2.1 Tư bản cố định
Tư bản cố định là bộ phận tư bản biểu hiện dưới hình thái giá trị của những máy móc, thiết
bị, nhà xưởng , tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất, nhưng giá trị của nó không chuyển hết một lần, mà chuyển từng phần vào sản phẩm trong quá trình sản xuất Đặc điểm của tư bản cố định là về hiện vật, nó luôn luôn cố định trong quá trình sản xuất, chỉ có giá trị của nó
là tham gia vào quá trình lưu thông cùng sản phẩm, hơn nữa nó cũng chỉ lưu thông từng phần, còn một phần vẫn bị cố định trong tư liệu lao động, phần này không ngừng giảm xuống cho tới khi nó chuyển hết giá trị vào sản phẩm Chính đặc điểm của loại tư bản này đã làm cho thời gian mà tư bản cố định chuyển hết giá trị của nó vào sản phẩm bao giờ cũng dài hơn thời gian một vòng tuần hoàn
2.2 Tư bản lưu động
Tư bản lưu động là bộ phận tư bản được hoàn lại hoàn toàn cho nhà tư bản sau khi hàng hoá sản xuất ra được bán xong Trong đó, bộ phận tư bản biểu hiện dưới hình thái nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu phụ , giá trị của nó được chuyển toàn bộ vào giá trị hàng hoá trong quá trình sản xuất Còn bộ phận tư bản biểu hiện dưới hình thái tiền công, đã bị người công nhân tiêu dùng và được tái tạo trong quá trình sản xuất hàng hoá Đặc điểm của loại tư bản này là chu chuyển nhanh về mặt giá trị Nếu tư bản cố định muốn chu chuyển hết giá trị của nó phải mất nhiều năm, thì trái lại tư bản lưu động trong một năm giá trị của nó có thể chu chuyển nhiều lần hay nhiều vòng Đối với tư bản cố định, trong quá trình hoạt động tất yếu bị hao mòn Có hai loại hao mòn là hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình:
Hao mòn hữu hình là hao mòn do sử dụng hoặc do bị phá huỷ của tự nhiên gây ra làm cho tư bản cố định mất giá trị và giá trị sử dụng
Hao mòn vô hình là hao mòn do ảnh hưởng của sự tiến bộ khoa học - công nghệ
Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, những máy móc, thiết bị được sản xuất ra có giá cả thấp hơn và có hiệu suất lớn hơn, làm cho những máy móc, thiết
bị cũ giảm giá trị ngay khi giá trị sử dụng của nó vẫn còn nguyên vẹn hoặc mới suy giảm một phần
Bởi vậy, việc thu hồi nhanh giá trị tư bản cố định có ý nghĩa rất quan trọng trong cạnh tranh trên thương trường Trong điều kiện đó, buộc các nhà tư bản phải tìm mọi cách để khấu hao nhanh tư bản cố định Tỷ lệ khấu hao tài sản cố định thường được tính rất cao ngay từ những
Trang 10năm đầu chế tạo sản phẩm, lợi dụng giá sản phẩm cao của đầu chu kỳ sản phẩm, sau đó giảm dần tỷ lệ khấu hao cùng với việc giảm giá sản phẩm ở cuối chu kỳ của nó Quy mô sản lượng ban đầu càng lớn càng có lợi cho việc thu hồi giá trị tư bản cố định Những yêu cầu đó không phải lúc nào cũng được thực hiện dễ dàng Bởi vậy, các nhà tư bản, một mặt, tìm cách phát triển hệ thống tự động hoá linh hoạt, cùng với những máy móc thiết bị tương ứng để có thể tạo ra nhiều dạng sản phẩm hoặc những sản phẩm
chuyên môn hoá theo các đơn đặt hàng khác nhau; mặt khác, phát triển hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ để dễ dàng đổi mới tư bản cố định trong điều kiện cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại và cạnh tranh gay gắt Đồng thời, các nhà tư bản vẫn tiếp tục sử dụng những biện pháp cổ điển như tăng cường độ lao động, tổ chức lao động theo ca kíp, tiết kiệm chi phí bảo quản và chi phí cải thiện điều kiện lao động của người công nhân Bằng cách đó nhằm thu hồi nhanh giá trị tài sản cố định đã sử dụng và góp phần rút ngắn khoảng cách lạc hậu về các thế hệ kỹ thuật và công nghệ
Phần II: Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Như chúng ta đều biết, doanh nghiệp là tế bào cơ bản của nền kinh tế quốc dân, là nơi kết hợp một cách có hiệu quả các nguồn lực để tạo ra của cải cho xã hội, là nguồn gốc tạo nên sức mạnh kinh tế
Sự giàu có của một quốc gia Trong giai đoạn hiện nay của nước ta việc quản lý và sử dụng vốn hiệu quả của các doanh nghiệp là một vấn đề tương đối phức tạp Giữa lý luận và hiện thực còn có nhiều vướng mắc mâu thuẫn chưa thực sự giải quyết được Vì vậy nghiên cứu học thuyết “tuần hoàn và chu chuyển tư bản” với điều kiện hiện có của doanh nghiệp là rất cần thiết cho mỗi doanh nghiệp để xác định được vị trí và chỗ đứng trên thị trường
2.1 Thực trạng nước ta hiện nay
Trước năm 1986, nền kinh tế nước ta phát triển theo mô hình tập trung quan liêu bao cấp nên hầu hết các doanh nghiệp đều là của nhà nước Sự phát triển của các doanh nghiệp rất trì trệ, lạc hậu do thiếu vồn và do thói ỷ lại vào nhà nước của các doanh nghiệp Chủ yếu trong thời kỳ này là các doanh nghiệp hoạt động theo sự chỉ đạo của nhà nước, chưa phát huy được yếu tố nhân lực cũng như nguồn vốn của nhà nước
Từ sau năm 1986 đến nay, nền kinh tế nước ta đã chuyến sang một thời kỳ mới Môi trường hoạt động của các doanh nghiệp có những biến đổi sâu sắc: nền kinh tế nhiều thành phần, nền kinh tế khép kín trước đây đã chuyển dần sang nền kinh tế mở, các doanh nghiệp nhà nước được tiếp cận với thị trường mới, kỹ thuật mới, cách quản lý mới Nhưng đồng thời đứng trước những thử thách khắc nghiệt của sự xâm nhập cạnh tranh quyết liệt của các hàng ngoại trong cơ chế thị trường Vai trò, trách nhiệm, đường lối quản lý của doanh nghiệp có sự đổi mới sâu sắc, tình trạng thiếu đồng bộ của chính sách luật
lệ quản lý đã từng bước được sự khắc phục Trong điều kiện đó, hệ thóng doanh nghiệp nước ta bước đầu được sắp xếp lại, số lượng các doanh nghiệp nhà nước tuy giảm so với trước nhưng những doanh