Nâng cao nhận thức của người dân, các doanh nhiệp và các tổ chức, bằng việc tuyên truyền, phổ biến giúp họ hiểu về thế nào là chính phủ điện tử và những tiện ích mà chính phủ điện tử man
Trang 1Câu 1: NHững khó khăn trong quá trình xây dựng Chính phủ điện tử ở nước ta:
1 Nhận thức và hiểu biết
Tất cả các lãnh đạo và công chức trong các cơ quan CP phải nhận thức đúng và hiểu được tầm quan trọng của CPĐT CP nên tổ chức các khóa bồi dưỡng để nâng cao nhận thức về những giá trị mà CPĐT mang lại và sự cần thiết phải thay đổi ngay từ bên trong nội bộ CP Bên ngoài tổ chức, các chương trình này cũng rất cần thiết để giúp công dân và doanh nghiệp (DN) hiểu về CPĐT Các phương tiện truyền thông đóng vai trò quan trọng trong việc khuyến khích công dân và DN ở các tỉnh, thành phố hỗ trợ CP đưa ra các sáng kiến về CPĐT, đặc biệt là các sáng kiến trong cung cấp dịch vụ công, cũng như đưa ra các phản hồi
2 Cải cách hành chính
CPĐT không đơn thuần chỉ là CNTT-TT như nhiều quốc gia đã rơi vào vết xe đổ này Cần cân nhắc việc xây dựng CPĐT trong bối cảnh CCHC Những cải cách như mô hình "một cửa" khi thực hiện cùng với sáng kiến về CPĐT sẽ mang lại ích lợi cho người dân và DN Trước khi triển khai hệ thống CNTT cho CPĐT, điều quan trọng là phải đảm bảo thủ tục hành chính hiện thời và quy trình quản lý hiện tại được xem xét lại và đơn giản hóa Các cơ quan quản lý cần nghĩ đến các quy trình công việc hơn là các chức năng công việc của họ và chú trọng hơn tới người dân và DN
3 Hợp tác giữa các cơ quan
Thông thường các cơ quan CP làm việc một cách độc lập theo các chức năng của
họ Với CPĐT, cần phải tăng cường hợp tác giữa các cơ quan CP, đặc biệt trong việc cải tiến các dịch vụ công và tăng khả năng cạnh tranh của quốc gia Các kênh giao tiếp và cơ quan phối hợp chính thống cần được thiết lập không chỉ ở cấp chính quyền trung ương mà cả ở cấp địa phương
4 Thay đổi nhận thức
Đây là một trong những thách thức lớn nhất đối với các nước đang phát triển Nhân viên CP thường quen với trạng thái thoải mái trong công việc và không cho rằng cần phải thay đổi Cần phải nỗ lực giải thích cho họ vì sao cần thay đổi, đặc biệt là trong chương trình triển khai CPĐT Nhất thiết phải có sự cam kết về việc thay đổi
và các lãnh đạo phải làm gương để nhân viên noi theo Việc đối thoại với nhân viên
CP và đáp ứng các mong muốn của họ cũng là cần thiết
5 Đào tạo và thay đổi các kỹ năng cho nhân viên CP
Đào tạo là công việc quan trọng để giúp nhân viên làm quen với các kỹ năng mới cần thiết cho CPĐT Các khóa học như hành chính công hiện đại, thay đổi quy trình nghiệp vụ, thay đổi cách quản lý , CNTT-TT và CPĐT rất quan trọng trong việc tiến tới CPĐT Tuy nhiên, việc đào tạo thường tiêu tốn một lượng lớn ngân sách và nhiều nguồn lực của CP, vì vậy cần có kế hoạch triển khai tốt
Giải pháp để khắc phục những khó khăn:
1. Nâng cao nhận thức và thay đổ cách nghĩ về chính phủ điện tử.
Trước tiên là nâng cao nhận thức của các cấp lãnh đạo từ trung ương đến địa phương Đây là công việc có tầm quan trọng vì đây là cấp có vai trò quyết định Một khi các cấp lãnh đạo trung ương nhận thức đầy đủ về vai trò và tác dụng của chính phủ điện tử và có ý kiến chỉ đạo cụ thể về vấn đề này thì việc xây dựng chương trình kế hoạch phát triển chính phủ điện tử sẽ thuận lợi hơn
Trang 2Nâng cao nhận thức của cán bộ công chức Đây là bộ phận trực tiếp thực hiện các chương trình ứng dụng phục vụ cho hoạt động quản lý hành chính do vậy nhận thức của các bộ, công chức tốt sẽ tạo điều kiện để cán bộ, công chức nâng cao trình độ chuyên môn nói chung cũng như trình độ tin học nói riêng, tránh lãng phí tài sản quốc gia khi thực hiện các dự án ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động quản lý hành chính
Nâng cao nhận thức của người dân, các doanh nhiệp và các tổ chức, bằng việc tuyên truyền, phổ biến giúp họ hiểu về thế nào là chính phủ điện tử và những tiện ích mà chính phủ điện tử mang lại, khi đó mức độ nhận thực của người dân, các doanh nghiệp, tổ chức sẽ được nâng cao họ sẽ tự giác hơn trong việc học tập cũng như nâng cao trình độ tin học của bản thân khi đó việc xây dựng chính phủ điện tử sẽ thuận lợi hơn
2. Hình thành khung pháp lý chung về việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quảng lý hành chính nhà nước.
Đây là việc cần thiết vì xây dựng chính phủ điện tử là một chương trình quốc gia, sử dụng nguồn lực quốc gia và để thành công thì bắt buộc phải có sự tham gia của các cơ quan của chính phủ do vậy phải có môt khung pháp lý chung nhằm định hướng cho các cơ quan của chính phủ xây dựng và thực hiện đồng bộ
Cơ sở pháp lý để xây dựng và triển khai các ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông không đầy đủ dẫn đến tình trạng lúng túng, không rõ phương hướng phát triển, nhiều hệ thống thông tin sau khi được tin học hoá xong lại không được
sử dụng vì không đồng bộ với các quy chế, quy trình làm việc hiện hành
Ở nước ta với nghị định 64/2007/ND-CP và chỉ thị 43/2008/QĐ-TTg cùng với chủ trương chính sách của đảng và nhà nước và sự hưỡng dẫn đôn đốc của các
cơ quan quản lý chuyên ngành việc ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước đã bắt đầu đạt được một số thành công
Tuy nhiên thực tế hiện nay ta có thể thấy việc triển khai chính phủ điện tử chưa xác định rõ ràng cơ quan cụ thể nào chịu trách nhiệm trong việc chỉ đạo theo một chương trình thống nhất Hiện nay, Văn phòng chính phủ, bộ bưu chính viễn thông và một số cơ quan khác cùng tham gia triển khai Việc có nhiều cơ quan tham gia triển khai và quản lý sẽ làm mọi việc trở nên phức tạp đôi khi không thồng nhất khó thực hiện
Do vậy việc tạo lập khung pháp lý xác định rõ một hoặc hai cơ quan cùng tham gia thực hiện, điều hành và chịu trách nhiệm về sự thành công và thất bại của chính phủ điện tử là việc có ý nghĩa quan trọng, một khi đã xác định rõ chức năng nhiệm vụ của cơ quan tiến hành, mọi công việc sẽ được tập trung về đầu mối khi
đó sẽ dễ phát hiện được những vướng mắc khi thực hiện và kịp thời điều chỉnh, đồng thời có thể biết chính sác được tiến độ dự án
Xây dựng một đề án tổng thể thật cụ thể về chính phủ điện tử để trình các cơ quan có thẩm quyền xem xét, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động xây dựng chính phủ điện tử Bản đề án phải thật chi tiết về các bước đi cũng như tiến trình thực hiện đề
án, thời gian cũng như nguồn nhân vật lực tham gia vận hành dự án.Các bước xây dựng mô hình chính phủ điện tử phải theo một quy trình Đầu tiên phải định nghĩa
rõ tầm nhìn về chiến lược, sau đó phải đưa ra thiết kế Kế tiếp là phải xây dựng hình mẫu triển khai và sau đó phải tiếp tục củng cố, cập nhật Bởi tất cả các công nghệ đều thay đổi theo thời gian nên sau khi chúng ta kiểm tra phải tiếp tục duy trì
Trang 3nó nhưng bên cạnh đó cũng phải củng cố và có những thay đổi cần thiết trong quá trình áp dụng
Xác định nhiệm vụ rõ ràng, phân công phân cấp và phối hợp thực hiện giữa trung ương và địa phương một cách đồng bộ, trung ương làm gì và địa phương phải làm những gì khi xây dựng chính phủ điện tử Khi trung ương và địa phương xây dựng xong thì kết hợp lại sẽ thành một chính phủ điện tử thống nhất từ trung ương đến địa phương Người dân và doanh nghiệp sẽ dễ dàng tiếp cận các dịch vụ hành chính công mà không gặp các trở ngại như khi thực hiện các giao dịch với các cơ quan hành chính
3. Gắn việc xây dựng chính phủ điện tử với cải cách thủ tục hành chính.
Hướng tới nâng cao hiệu quả hoạt động của chính phủ và chính quyền các cấp, giúp người dân và doanh nghiệp làm việc với các cơ quan chính phủ được nhanh chóng, thuận tiện, tiếc kiệm và hiệu quả hơn
Chính phủ điện tử phải tính đến yêu cầu của người dân và các doanh nghiệp cũng như các tổ chức xem họ cần gì, họ trông đợi gì ở chính phủ điện tử, một khi
đã xác định được các yêu cầu cụ thể, một nền hành chính phục vụ xem người dân như là khách hành và các cơ quan hành chính là những người cung cấp dịch vụ, yêu cầu đối với người cung cấp dịch vụ là phải nhanh, thủ tục đơn giải và dễ thực hiện
Xây dựng chính phủ điện tử gắn với việc cải cách thủ tục hành chính là một công việc khó khăn phức tạp, hiện tại còn khoảng 6500 thủ tục hành chính có hiệu lực Một khi trung tâm cơ sở dữ liệu quốc gia được xây dựng thì trung tâm này xẽ
rà soát và kiến nghị loại bỏ bớt những thủ tục không phù hợp Trung tâm này sẽ tiến hành xây dựng các chương trình phần mềm ứng dụng để người dân, các doanh nghiệp và các tổ chức có thể dễ dàng khi tiếp cân và thực hiện các thủ tục, đảm bảo được các yếu tố nhanh, hiệu quả Khi đó mục tiêu xây dựng chính phủ điện tử gắn với các cách thủ tục hành chính sẽ được thực hiện một cách hiệu quả
4. Hạ tầng kỹ thuật và công nghệ cho chính phủ điện tử và tài chính đầu tư cho chính phủ điện tử.
Đây là hai vấn đề quan trọng đối với việc xây dựng chính phủ điện tử Muốn xây dựng được hạ tầng kỹ thuật và công nghệ thì phải có tài chính đầu tư vấn đề này có thể giải quyết bằng nguồn vốn ODA hoặc lấy từ ngân sách nhà nước Tuy nhiên, để đảm bảo nguồn vốn mày được sử dụng hiệu quả thì phải có kế hoạch về việc phân bổ kinh phí và giải ngân, tránh thất thoát, lãng phí trong quá trình triển khai dự án
Còn đối với hạ tầng kỹ thuật và công nghệ thì chúng ta có thể xây dựng, nhập khẩu hoặc kêu gọi đầu tư Xây dựng mạng truyền số liệu chuyên dung và hạ tầng viễn thông – Internet phục vụ cho chính phủ điện tử, trước đây khi thực hiện
đề án 112 hạ tầng kỹ thuật tin học của các bộ và các tỉnh đã được đầu tư khá đáng
kể như mạng LAN hay máy tính, chúng ta có thể tận dụng những thiết bị còn có thể sử dụng được đồng thời xây dựng kết cấu hạ tầng mới phù hợp với trình độ công nghệ trên thế giới.chính phủ phải hỗ trợ người dân đến mức tối đa như: triển khai hạ tầng, nối mạng đến tận người dân, thiết bị giá rẻ, dự án phổ cập tin học Như vậy mới có thể tạo ra được nền tảng để phát triển chính phủ điện tử và hướng tới một xã hội thông tin
Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia Bản chất của quá trình quản lý là quá trình thông tin, do vậy nhiệm vụ của trung tâm này là xây dựng quản lý và
Trang 4cung cấp thông tin hành chính công trực tuyến, rà soát lại hệ thống văn bản quy phạm và hệ thống các thủ tục hành chính có hiêụ lực xem xét và kiến nghị với các
cơ quan có thẩm quyền loại bỏ những thủ tục không hợp lý khó áp dụng trong quảng lý
5. Phát triển và đầu tư cho giáo dục và đào tạo.
Trước hết là năng lực của cán bộ xây dựng và quản lý chính phủ điện tử Đây là yếu tố quan trọng, sống còn Chính phủ cần phải tập hợp đủ những con người có đủ khả năng xây dựng hệ thống và duy trì hệ thống đó hoạt động ổn định
Vấn đề này ta có thể tham khảo kinh nghiệp của Singapore như sau:
Singapore đã có những học bổng để cán bộ có thể ra nước ngoài học tập, xem xét và học hỏi kinh nghiệm chính phủ điện tử của các nước, và sau đó trở về nước xây dựng Chính phủ điện tử của Singapore Trong tiến trình ở giai đoạn đầu này, Singapore đáp ứng đủ khả năng, đào tạo đủ số người có kiến thức để xây dựng chương trình, hệ thống cho Chính phủ
Giai đoạn tiếp theo, khi đã có đủ nhân lực, Chính phủ bắt đầu điều chuyển nhân sự đã qua đào tạo sang các cơ quan khác nhau, kể cả các liên doanh với công
ty tư nhân, giúp họ chạy các chương trình như hệ thống điều khiển điện tử tại cảng biển, sân bay Những người có kinh nghiệm về chính phủ điện tử cũng bắt đầu hoạt động trong các công ty tư nhân, chuyển tải những kiến thức về chính phủ điện tử từ Chính phủ sang khu vực tư nhân
Sau đó, giai đoạn tiếp theo, bắt đầu từ năm 2000, họ tập trung vào thu thập các tài liệu, văn bản để đưa lên mạng Internet
Ở việt nam, đề án 112 thất bại một phần cũng do yếu tố trình độ của cán bộ xây dựng và quản lý dự án, các trang thiết bị được bỏ tiền mua về trang bị nhưng cán bộ công chức rất ít người biết sử dụng, các trương trình phần mềm cài trên máy nghèo nàn và khó áp dụng trong hoạt động quả lý hành chính Do vậy yêu cầu khi bắt tay vào xây dựng chính phủ điện tử là phải đào tạo nguồn nhân lực có đủ trình độ để xây dựng và vận hành
Vấn đề tiếp theo trong giáo dục đào tạo là khả năng sử dụng của người dân Thực tế hiện nay cho thấy khả năng sử dụng máy tính và các chương trình ứng dụng của người dân còn rất hạn chế, do vậy yêu cầu đặt ra khi xây dựng chính phủ điện tử là phải phổ cập tin học rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân, tiến hành các khóa học, các chương trình đào tạo tại các trung tâm máy tính giúp người dân
có cơ hội thực nghiệm dùng Internet Khi người dân đã cảm thấy thoải mái, thuận tiện để tiếp cận và sử dụng Internet, chúng ta có thể phát triển hệ thống, và để họ
sử dụng hệ thống ấy, để cho mọi người dân có thể sử dụng thành thạo máy tính và các chương trình ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lí hành chính nhà nước, theo nguyên tắc trình độ phát triển của lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất Khi đó chính phủ điện tử được xây dựng xong thì người dân có thể tận dụng được các tiện ích mà chính phủ điện tử đem lại
Kinh nghiệm của Singapore về vấn đề này: Năm 1998, Singapore bắt đầu triển khai hệ thống tìm dữ liệu trực tuyến Trước đây, để tìm dữ liệu, bạn sẽ phải tìm kiếm trên một lượng văn bản khổng lồ, và nhờ các dữ liệu đã có sẵn trên mạng, người dân dễ dàng tiếp cận với chúng Tuy nhiên, vào thời điểm năm 1998, chỉ khoảng vài trăm nghìn người tiếp cận được với thông tin này
Trang 5Trong vài năm tiếp theo, Singapore bắt đầu đào tạo để người dân có thể sử dụng hệ thống dữ liệu trực tuyến Số người sử dụng sau đó tăng rất nhanh Đây là
ví dụ cho thấy giá trị của việc chuẩn bị tốt cho người dân thông qua giáo dục - đào tạo, giúp họ tiếp cận hệ thống và các dịch vụ Nếu không, hệ thống sẽ bị lãng phí, cũng tương tự như lãng phí các PC
6. Hợp tác quốc tế trong xây dựng chính phủ điện tử.
Việt nam là nước đi sau, khoa học kỹ thuật và công nghệ về lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông chưa phát triển Điều đó không có nghĩa là việt nam không thể xây dựng thành công chính phủ điện tử của mình
Trong thời đại ngày nay, thời đại mở của hội nhập và trao đổi thông tin Việt nam có thể tận dụng ưu thế này để giao lưu, hợp tác với các nước có trình độ khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông phát triển, và các nước đã thành công trong việc xây dựng chính phủ điện tử để học hỏi kinh nghiệm vận dụng vào hoàn cảnh nước mình để xây dựng một chính phủ điện tử phù hợp với điều kiện kinh tế chính trị, xã hội của đất nước
Để làm được này đòi hỏi chính phủ phải tăng cường hoạt động ngoại giao, kêu gọi và hợp tác đầu tư với tổ chức, chính phủ các nước trong lĩnh vực công nghệ thông tin phục vụ cho việc xây dựng chính phủ điện tử Mới đây việt nam đã
ký kết hiệp định khung Asian cam kết về việc xây dựng chính phủ điện tử Điều đó khẳng định việt nam đã sẵn sàng trong lĩnh vực này, việt nam sẵn sàng hợp tác và chuyển giao công nghệ kỹ thuật, kinh nghiệp xây dựng chính phủ điện tử với các nước trên thế giới
Câu 2: Phân tích nội dung quản lý Nhà nước đối với dịch vụ công?
Giao trình
Liên hệ thực tế nội dung xã hội hóa dịch vụ công ở Việt Nam hiện nay:
Câu I DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG Tính đến nay, việc xã hội hóa dịch vụ hành chính công đã được thực hiện trong lĩnh vực công chứng, chứng thực; đăng kiểm xe cơ giới; dịch vụ bổ trợ tư pháp Tuy nhiên, dưới góc độ một bài tiểu luận, xin chỉ nêu thực trạng về việc xã hội hóa trong lĩnh vực công chứng Sự ra đời của Luật công chứng (1/7/2007) đã đánh dấu một cột mốc quan trọng trong việc thực hiện xã hội hóa dịch vụ hành chính công trong lĩnh vực công chứng, chứng thực Ngay sau khi Luật Công chứng đi vào thực tiễn cuộc sống, 36/63 tỉnh, thành đã cho phép thành lập các Văn phòng công chứng xã hội hoá (hay còn gọi là công chứng tư hoặc văn phòng công chứng ngoài ngân sách) Tính đến tháng 4/2009, theo số liệu của Bộ Tư pháp, cả nước có 450 công chứng viên nhà nước hoạt động trong 130 Phòng Công chứng của Nhà nước và hơn 100 Công chứng viên không phải là công chức nhà nước hoạt động ở gần 60 Văn phòng công chứng xã hội hoá được thành lập ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Bà Rịa - Vũng Tàu, Thanh Hoá, Ninh Bình Nhìn chung, sự ra đời của các Văn phòng công chứng xã hội hoá bước đầu hoạt động có hiệu quả, góp phần giảm tải cho các Phòng Công chứng nhà nước và nâng cao chất lượng phục vụ, đáp ứng nhu cầu công chứng của
xã hội công dân hiện đại Đặc biệt, điều mà người dân ở các đô thị hài lòng nhất về văn phòng ngoài ngân sách là thái độ phục vụ, tiếp đón niềm nở và phong cách làm việc chuyên nghiệp của đội ngũ công chứng viên ở đây, cái mà họ không nhận được từ văn phòng công chứng nhà nước Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của văn phòng công chức nhà nước Từ 1/7/2007, xã, phường được giao thêm nhiệm vụ chứng thực những giấy tờ, chứng chỉ, văn bản có bản gốc đi kèm
Trang 6Thời điểm đầu, trung bình mỗi ngày tại đây sao y bản chính khoảng 100 văn bản Sau khi việc xã hội hóa công chứng ra đời, số lượng này chỉ còn khoảng một nửa Hay như thực tế tại Phòng Công chứng Nhà nước số 1 trên phố Bà Triệu, Hà Nội vào ngày thứ ba đầu tuần nhưng cũng chỉ có hơn 10 khách hàng, khác với tình trạng chen lấn, xô đẩy, quá tải trước đây Qua đó có thể thấy sự ra đời của văn phòng công chứng xã hội hóa phần nào đã giảm bớt sự quá tải ở các văn phòng công chứng nhà nước, giúp người dân có nhiều lựa chọn hơn trong việc thực hiện quyền lợi hợp pháp của mình, gia tăng tính cạnh tranh trong lĩnh vực công chứng,
từ đó nâng cao chất lượng phục vụ người dân; đồng thời khẳng định đây là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta Tuy nhiên, trước những mặt tích cực
mà công chứng xã hội hóa mang lại thì vẫn còn tồn tại những nhược điểm, bất cập
mà trong thời gian tới nếu không có sự điều chỉnh kịp thời của các cơ quan chức năng thì những văn phòng công chứng tư sẽ trở thành nỗi lo của xã hội và sẽ đi ngược với chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta Cụ thể: - Một số văn phòng công chứng chưa thực hiện đúng hoặc chưa thực hiện đầy đủ các quy định của Luật Công chứng (như niêm yết, đăng bố cáo thành lập, mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp…) và pháp luật về lao động, thuế, tài chính, thống kê Vẫn còn tình trạng một số văn bản công chứng chưa bảo đảm chặt chẽ; hồ sơ công chứng vẫn còn thiếu một số giấy tờ có liên quan - Văn phòng công chứng tư vì lý do lợi nhuận đã bất chấp các quy định của pháp luật, ví dụ việc công chứng các giấy tờ làm giả theo yêu cầu của người công chứng hay việc công chứng ngoài trụ sở Theo quy định của pháp luật, việc thực hiện công chứng ngoài trụ sở chỉ được thực hiện trong những trường hợp đặc biệt nhưng vì lợi nhuận các văn phòng công chứng tư đã thực hiện việc phục vụ khách hàng mọi lúc, mọi nơi dẫn đến việc mất
an toàn pháp lý vì các văn phòng công chứng thường cử các nhân viên (chứ không phải công chứng viên) đi lấy chữ ký người yêu cầu công chứng Do đó, sẽ khó bảo đảm toàn vẹn các yêu cầu như xác định chính xác nhân thân của người yêu cầu công chứng; năng lực hành vi dân sự của người yêu cầu công chứng, cũng như tính chính xác của giấy tờ gốc chứng minh quyền sử dụng, quyền sở hữu tài sản mang
ra giao dịch - Chưa có mạng thông tin liên kết giữa văn phòng công chứng công
và văn phòng công chứng tư, vì thế các văn phòng công chứng không thể xác định tài sản đã giao dịch chưa Nếu kẻ xấu dùng giấy tờ giả đã công chứng bán tài sản gì
đó thì người mua bị thiệt - Các công chứng viên không phải công chức nhà nước còn thiếu kinh nghiệm, thiếu kiến thức về pháp luật nên dẫn đến nhiều trường hợp công chứng sai quy định Đặc biệt trong điều kiện hệ thống văn bản pháp luật còn nhiều chồng chéo, bất cập như hiện nay, nếu không có kinh nghiệm sẽ rất khó thực hiện theo yêu cầu, quy định pháp luật
II DỊCH VỤ SỰ NGHIỆP CÔNG Có thể nói, trong ba loại hình dịch vụ công, thì các loại hình dịch vụ sự nghiệp công được thực hiện xã hội hóa mạnh nhất trong lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hóa thể thao, việc làm và an sinh xã hội, nghệ thuật, khoa học công nghệ…Thực hiện Nghị quyết số 90-NQ/CP của Chính phủ ngày 21/8/1997 về thực hiện chủ trương xã hội hội hóa về hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và Nghị định 73- NĐ/CP ngày 19/8/1999 về quy định chính sách khuyến khích
xã hội hóa đối với hoạt động các lĩnh vực y tế, văn hóa, giáo dục Tính đến nay, số lượng đơn vị, tổ chức cung ứng các dịch vụ trong ba lĩnh vực trên đã không ngừng tăng lên Trong lĩnh vực giáo dục, ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục tăng liên tục từ 15,5% năm 2001 lên 20% năm 2007 Trong năm 2007, khoảng 25%
Trang 7tổng chi phí của xã hội cho học tập là đóng góp của người dân Bên cạnh đó, cũng
đã huy động được sự đóng góp của các doanh nghiệp, các tổ chức chính trị-xã hội
và đầu tư nước ngoài Các cơ sở giáo dục ngoài công lập ngày càng phát triển Vào năm học 2007-2008, cả nước có gần 6.000 cơ sở giáo dục mầm non, 95 trường tiểu học, 33 trường trung học cơ sở, 651 trường trung học phổ thông, 308 cơ sở dạy nghề, 72 trường trung cấp chuyên nghiệp và 64 trường cao đẳng, đại học là các cơ
sở giáo dục ngoài công lập Số học sinh, sinh viên học tại các cơ sở giáo dục ngoài công lập ngày càng tăng Năm học 2007-2008, tỷ lệ học sinh, sinh viên ngoài công lập là 15,6%, trong đó tỷ lệ học sinh phổ thông
Cầu 3: Mục tiêu và các nguyê tắc quản lý tài chính công: Giáo trình
Quản lý chi tiêu công ở Việt Nam hiện nay:
1.Quản lí chi tiêu công ở việt nam kém năng động:
Chi tiêu công ởViệt Nam được quản trị theo phong cách truyền thống, rất chính tắc nhưng ít năng động và khá hình thức Cách làm này đang trở nên lỗi thời, trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới với cả quyền lợi lẫn nghĩa vụ đầy đủ của một thành viên;do đó cần phải được đổi mới
Quản trị chi tiêu công ở Việt Nam trong thời gian qua đã bộc lộ những tồn tại yếu kém rất cơ bản, xét theo những tiêu chí quản trị khu vực công hiện đại, phổ biến trên thế giới như tính công khai minh bạch chưa cao, trách nhiệm giải trình còn hạn chế, hiệu quả kinh tế - xã hội chưa đạt như mong muốn và đặc biệt chưa có sự tham gia đáng kể của người chủ đích thực của đồng tiền ngân sách là nhân dân Cách phân bổ vốn đầu tư ngân sách thời gian qua còn theo kiểu bao cấp - chia đều, vẫn mang khá nặng dấu ấn của cơ chế xin cho, việc chi tiêu ngân sách chưa thực sự gắn chặt với trách nhiệm đến cùng; chỉ chịu sự ràng buộc của những hình thức chế tài có hiệu lực không cao, kèm theo đó là năng lực bộ máy còn yếu
Đó chính là căn nguyên của tình trạng “có vấn đề” của hoạt động ngân sách Nhà nước: như tình trạng tăng trưởng nóng, đầu tư cao nhưng kém hiệu quả, dẫn tới lạm phát cao và bất ổn kinh tế vĩ mô vài năm gần đây đi liền với xu hướng gia tăng đầu tư dàn trải, trầm trọng hơn tình trạng lãnh phí, thất thoát, tham nhũng… chứng
tỏ hiệu quả thấp của hoạt động thu chi ngân sách và nhiều vấn đề gay gắt đang tồn tại trong lĩnh vực này
Thực tế cũng chứng tỏ căn bệnh nói trên đang khá nghiêm trọng và có nguồn gốc
cơ chế kinh tế, nằm trong chính sự không phù hợp của Luật Ngân sách Nhà nước với các điều kiện, yêu cầu của nền kinh tế sau hơn 20 năm đổi mới và hội nhập quốc tế thành công
2.Kém hiệu quả trong phân bổ
Mặc dù, đã có nhiều cải thiện, quản lý chi tiêu của Việt nam đã bộc lộ nhiều yếu điểm:
Trang 8- Lập ngân sách ngắn hạn, chủ yếu ngân sách hàng năm, do đó không được đánh giá, xem xét sự phân bổ nguồn lực gắn kết với những chương trình phát triển kinh
tế xã hội hàng năm
- Thiếu vắng hệ thống các tiêu chí thích hợp để xác định thứ tự ưu tiên chi tiêu Phân bổ ngân sách theo yếu tố đầu vào đã tạo ra điểm yếu cơ bản là không khuyến khích đơn vị chi tiết kiệm ngân sách, vì nó không đặt ra yêu cầu ràng buộc hợp lý, chặt chẽ giữa số kinh phí được phân bổ với kết quả đạt được ở đầu ra do sử dụng ngân sách đó Lập ngân sách theo yếu tố đầu vào đã tạo ra những ưu tiên trong phân bổ bị lệch lạc, méo mó Nguồn lực của xã hội được đầu tư vào những dự án, mang lại lợi ích xã hội rất thấp, trong khi ngân sách thiếu nguồn lực cho những nhu cầu thiết thực như: y tế, văn hóa, giáo dục
- Tạo ra những quy định đặc biệt, hình thành những quỹ tiền tệ riêng biệt tách ra khỏi ngân sách để thực hiện những chương trình có tính ưu tiên Từ đó giảm đi rất nhiều vai trò của ngân sách và vi phạm những nguyên tắc thống nhất trong quản lý ngân sách
3 Tính kém hiệu quả hoạt động
-Cho đến nay, ở Việt Nam chưa đạt được nhiều tiến bộ trong việc cải cách hành chính công, tinh giảm biên chế trong khu vực công Biên chế tiếp tục tăng lên (đơn
vị ngàn): 1995: 3,053; 1996: 3,138; 1997: 3,267; 1998: 3,339; 1999: 3,363; và năm
2000 3,421 Hiệu suất trong khu vực công giảm, công chức không thực sự cố gắng, trình độ và năng suất không cải thiện, thêm vào đó điều kiện làm việc nghèo nàn làm suy yếu hiệu quả hoạt động
- Nguồn lực hiện hữu của ngân sách chưa đáp ứng đủ cho hoạt động công, thậm chí ngay sau khi ngân sách đã được phê chuẩn Người quản lý luôn bị động, không nắm chắc nguồn lực để chủ động cân đối cho nhu cầu trong ngắn hạn lẫn dài hạn
Về mặt luật pháp, kiểm soát ngân sách được thiết lập theo hướng tập trung cao độ với nhiều quy định rất chi tiết về mua sắm tài sản, định mức chi tiêu… Thế như trên thực tế sự kiểm soát chính thức không được thực hiện có hiệu quả, do thiếu thông tin về tổ chức quản lý
Cách thức quản lý không chính thức tồn tại song song cùng với những quy định chính thức Chẳng hạn, sự tuyển chọn cán bộ công chức, chi tiêu mua sắm…mặc
dù luật pháp quy định rất chặt chẽ nhưng trên thực tế dường như lại được thực hiện theo những quy định không chính thức Một khi những quy định chính thức không được thực hiện thì tham nhũng có xu hướng gia tăng, gây phương hại đến nguồn lực tài chính quốc gia
Trang 94 Thiếu mối liên kết chặt chẽ
Quy trình phân bổ nguồn lực tài chính nhà nước thiếu mối liên kết chặt chẽ giữa kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trung hạn (3- 5 năm) với nguồn lực trong một khuôn khổ kinh tế vĩ mô được dự báo
Nói cách khác, nguồn tài trợ cho những kế hoạch nói trên không được quan tâm đúng mức dẫn đến sự hụt hẫng về tài chính nên nhiều công trình phải chờ kinh phí hoặc bỏ dở Thêm vào đó, kinh phí đầu tư dàn trải cho nhiều dự án khiến những ưu tiên của Chính phủ không được tài trợ tương xứng với tầm quan trọng của chúng
Trong quá trình soạn lập ngân sách, kiểm soát các yếu tố đầu vào được coi trọng hơn là sự cải thiện kết quả hoạt động của ngành thông qua thực thi các mục tiêu và nhiệm vụ của ngành Các thông số về đầu ra cũng như về kết quả thường ít được quan tâm, nên ngân sách thiếu thực tế dễ bị điều chỉnh và có thể tạo ra một kết quả ngoại ý Ngân sách được lập hàng năm vừa tốn thời gian, nhân lực và tiền bạc vừa không dự liệu hết mọi biến cố trung hạn có thể ảnh hưởng đến dự toán Ngân sách chi thường xuyên và ngân sách chi đầu tư phát triển được soạn lập một cách riêng
rẽ làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực công
5 Về phương thức cấp phát các khoản chi tiêu công
Hiện nay, nhà nước thực hiện cấp phát kinh phí và vốn từ ngân sách nhà nước theo
2 phương thức chủ yếu đó là hạn mức kinh phí và lệnh chi tiền
- Phương thức cấp phát theo hạn mức kinh phí đã bám sát dự toán chi NSNN được duyệt cả về tổng số cũng như cơ cấu các mục chi; tạo điều kiện thuận lợi cho Kho bạc nhà nước, cơ quan tài chính trong việc kiểm soát chi
- Phương thức cấp phát theo lệnh chi tiền chỉ áp dụng đối với các khoản chi đột xuất, không kế hoạch hóa được hoặc áp dụng đối với những đơn vị ít có quan hệ với NSNN, song trong cả một thời gian khá dài, hình thức cấp phát này được áp dụng cho hầu hết các dự án đầu tư xây dựng cơ bản và các chương trình mục tiêu
Cả hai phương thức cấp phát nói trên, được cơ quan tài chính sử dụng để kiểm soát
và chủ động điều hòa NSNN Tuy nhiên, hiện nay với xu hướng phân công nhiệm
vụ rõ ràng, chuẩn hóa quy trình ngân sách, điều hành ngân sách theo luật; đặc biệt trong điều kiện hội nhập tài chính quốc tế và khu vực ở lĩnh vực tài chính công, để thích ứng với những chuẩn mực quản lý NSNN của các nước thì việc áp dụng các hình thức cấp phát trên cần nghiên cứu và sửa đổi lại cho phù hợp
6 Có nhiều khiếm khuyết trong hệ thống thông tin quản lý chi tiêu công
Trang 10Những chuẩn mực kế toán công chưa được quan tâm đúng mức và do vậy, dẫn đến tình trạng không thể thống nhất và so sánh đánh giá sự phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính nhà nước Hiện tại, ít nhất có 3 hệ thống kế toán đang tồn tại bên trong Chính phủ, đó là: kế toán ngân sách nhà nước, kế toán kho bạc nhà nước, kế toán của các đơn vị sử dụng ngân sách Cơ quan tài chính hạch toán chi NSNN theo chế độ hạch toán riêng dựa trên nguyên tắc ghi sổ đơn và mang đậm tính chất thống kê với tiêu thức lũy kế theo mục lục NSNN Kho bạc nhà nước hạch toán kế toán chi NSNN theo nguyên tắc ghi sổ kép, có theo dõi chi tiết theo mục lục NSNN do Bộ tài chính ban hành Các đơn vị hành chính sự nghiệp thực hiện kế toán theo chế độ kế toán đơn vị hành chính sự nghiệp và cũng theo dõi các khoản chi tiêu của mình theo mục lục NSNN Ba chế độ hạch toán kế toán do ba đầu mối thực hiện, đương nhiên khó mà có sự tương đồng, đặc biệt trong điều kiện các chuẩn mực về kế toán chi tiêu công chưa được nghiên cứu thấu đáo và áp dụng Đây là một trong những tồn tại gây cản trở cho công tác quản lý và điều hành chi NSNN và áp dụng công nghệ thông tin
Những công trình nghìn tỷ lãng phí và không hiệu quả
08/08/2015 40,517 lượt xemBản In T+
T-•
- PMU 18
VINASHIN
I Vụ PMU18:
1.Khái quát chung về vụ việc
PMU-18 nguyên là một đơn vị đặt ra từ năm 1993 để điều hành một số dự án xây cất cầu cống cho
Bộ Giao thông Vận tải Trong thời gian 13 năm từ 1993 đến 2006, đơn vị này quản lý khoảng 2 tỷ Mỹ kim do Ngân hàng Quốc tế (World Bank), Nhật Bản và một số quốc gia Âu châu tài trợ và nhà nước Việt Nam góp vốn, tuy nhiên PMU18 đã lạm dụng nguồn vốn này phục vụ cho mục đích cá nhân, gây thất thoát lượng lớn NSNN.
Vụ PMU 18 (PMU viết tắt theo tiếng Anh cho Project Management Unit, có nghĩa là Đơn vị quản lý
dự án),liên quan đến tham nhũng trong Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) đầu năm 2006, gây xôn xao dư luận tại Việt Nam cũng như các nước và tổ chức cung cấp viện trợ phát triển chính thức (ODA) cho Việt Nam, đã khiến Bộ trưởng Bộ GTVT Đào Đình Bình phải từ chức và Thứ trưởng Thường trực Nguyễn Việt Tiến bị bắt giam.
Liên quan đến vụ việc này,nhiều quan chức cấp cao bị tố cáo tham gia chạy án cho các bị can Trong
đó phải kể đến Thiếu tướng công an Cao Ngọc Oánh (Tổng cục phó Tổng cục Cảnh sát Nhân dân, Thủ trưởng cơ quan điều tra Bộ Công an) và ông Nguyễn Văn Lâm (Phó chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ) Chính vì việc này mà ông Cao Ngọc Oánh mất cơ hội vào Trung ương cũng như thăng chức lên Thứ trưởng Bộ Công an
2 Nguyên nhân