1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Dap an cau hoi QLNN CVC

19 389 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 213,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

3 Những thách thức từ bộ máy; nạn tham nhũng, quan liêu4 Những thách thức từ lý luận, tư duy, phương pháp điều hành 5 Những thách thức từ những kiến thức, kinh nghiệm cần cho CCHC c/ Giả

Trang 1

Câu 1: Tại sao cải cách hành chính ở nước ta được Đảng và Nhà nước ta xác định là trọng tâm của cải cách nhà nước theo hướng pháp quyền XHCN? Theo anh (chị) công cuộc cải cách hành chính ở nước ta hiện nay đang gặp phải những thách thức nào?

Trả lời:

a/ Cải cách hành chính ở nước ta được Đảng và Nhà nước ta xác định là trọng tâm của cải cách nhà nước theo hướng pháp quyền XHCN

* Nêu khái niệm CCHC

- Cải cách hành chính nhà nước là một quá trình liên tục theo định hướng nhất định nhằm làm cho hoạt động thực thi quyền hành pháp thích ứng với đòi hỏi của sự vận động phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia một cách hiệu lực, hiệu quả

* Nêu sự cần thiết phải CCHC:

(1) Hành chính là 1 dạng quản lý đặc biệt mà chủ thể quản lý là các cơ quan Nhà nước Vì vậy, hành chính bao gồm các yếu tố của quá trình quản lý Đó là chủ thể quản lý, đối tượng quản

lý, phương thức quản lý, môi trường quản lý

Khi mà các yếu tố của quá trình quản lý thay đổi thì phương thức quản lý cũng phải thay đổi cho phù hợp để đạt được mục tiêu quản lý

(2) Muốn thúc đẩy kinh tế phát triển, tất yếu phải tiến hành cải cách hành chính.

(3) Những bất cập còn tồn tại của nền hành chính

(4) Sự phát triển của khoa học-công nghệ

(5) Đòi hỏi của công dân và xã hội đối với Nhà nước ngày càng cao

* Cải cách hành chính ở nước ta được Đảng và Nhà nước ta xác định là trọng tâm của cải cách nhà nước theo hướng pháp quyền XHCN vì:

HCNN là hoạt động thực thi quyền lực NN nhằm thực hiện hóa đường lối, chính sách và pháp luật của Đảng và NN Nâng cao hiệu lực, hiệu quả HCNN chính là nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng đối với toàn xã hội, là hoàn thiện NN pháp quyền XHCN

VN đang xây dựng nền KTTT định hướng XHCN, đây là nhiệm vụ vừa mới mẻ, vừa khó khăn, nặng nề Bản thân bộ máy NN (mà trong đó trực tiếp là bộ máy HCNN) không đổi mới tổ chức hoạt động theo hướng nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý thì không thể hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng mà NN giao phó

b/ Công cuộc cải cách hành chính ở nước ta hiện nay đang gặp phải thách thức

(1) Nhận thức về CCHC chưa sâu sắc và đồng bộ

(2) Năng lực và trách nhiệm thực thi công vụ của CBCC chưa cao

Phương thức quản lý

Đối tượng quản

lý (tổ chức, công dân)

Chủ thể quản lý (các cơ quan HCNN)

Môi trường quản lý

Mục tiêu quản lý

Trang 2

(3) Những thách thức từ bộ máy; nạn tham nhũng, quan liêu

(4) Những thách thức từ lý luận, tư duy, phương pháp điều hành

(5) Những thách thức từ những kiến thức, kinh nghiệm cần cho CCHC

c/ Giải pháp khắc phục

(1) Tăng cường công tác chỉ đạo CCHC

(2) Nâng cao năng lực đội ngũ CBCC

(3) Cần xây dựng cơ chế điều hành năng động trong công tác quản lý NN

(4) Nâng cao trách nhiệm giải trình, tính minh bạch

(5) Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá CCHC, tăng cường sự giám sát của nhân dân

Câu 2: Phân tích tính hợp pháp và tính hợp lý của quyết định hành chính nhà nước? Tính hợp pháp, hợp lý có ảnh hưởng như thế nào đến tính khả thi của một quyết định hành chính nhà nước? Liên hệ thực tế việc đảm bảo tính hợp lý và tính hợp pháp trong ban hành các quyết định hành chính nhà nước ở nước ta hiện nay?

a/

* Nêu khái niệm quyết định hành chính nhà nước: Quyết định hành chỉnh nhà nước là

văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm qưyền trong các

cơ quan, tổ chức đó ban hành, chứa đựng các quy phạm pháp luật là các quy tắc xử sự chung cho các

cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc quyết định về một vẩn đề cụ thể được áp dụng một lần đối với một hoặc một sổ đổi tượng cụ thể trong hoạt động quản lý hành chỉnh nhà nước

* Phân tích tính hợp pháp và tính hợp lý

(1) Yêu cầu về tính hợp pháp

Thứ nhất, quyết định hành chính nhà nước được ban hành phải phù hợp với nội dung và mục đích của pháp luật; không trái với Hiến pháp, luật, pháp lệnh và các quy đinh của cơ quan nhà nước cấp trên

Thứ hai, quyết định hành chính nhà nước được ban hành trong phạm vi thẩm quyền được pháp luật quy định của chủ thể ban hành quyết định hành chính nhà nước

Thứ ba, quyết định hành chính nhà nước phải bảo đảm ban hành theo đúng trình tự, thủ tục, hình thức được pháp luật quy định

(2) Yêu cầu về tính hợp lý

Thứ nhất, quyết định hành chính nhà nước phải phù hợp với thực tiễn khách quan của các mối quan hệ cụ thể trong xã hội

Thứ hai, quyết định hành chính nhà nước được ban hành phải xuất phát từ chính lợi ích thiết thực của người dân; đồng thời cần phải bảo đảm hài hoà lợi ích của Nhà nước, tập thể và người dân

Thứ ba, quyết định hành chính nhà nước cần phải được xem xét hiệu quả không chỉ về kinh tế

mà cả về chính trị - xã hội, cả mục tiêu trước mắt và lâu dài, giữa hiệu quả trực tiếp và gián tiếp, kết quả ngắn hạn và kết quả dài hạn hoặc kết quả cuối cùng

Thứ tư, quyết định hành chính nhà nước phải bảo đảm kỹ thuật xây dựng và ban hành quyết định, tức là trình tự, thủ tục xây dựng và ban hành; ngôn ngữ, văn phong, cách trình bày phải rõ ràng, ngắn ngọn, dễ hiểu, chính xác, không đa nghĩa

b/

Trang 3

Nêu khái niệm Tính khả thi của QĐHCNN: là nội dung quy định trong văn bản phải có khả

năng thực hiện được trong điều kiện KT - XH hiện tại, có khả năng đi vào cuộc sống

Một QĐHCNN có hiệu lực và có khả năng thực thi khi nó hợp pháp và hợp lý Tuy nhiên, trong mọi trường hợp tính hợp pháp luôn có ưu thế hơn so với tính hợp lý nên không thể vì lý do hợp

lý mà coi thường tính hợp pháp

Tính hợp pháp của QĐHCNN xuất phát từ tính dưới luật và tính hợp lý của QĐHCNN Tính hợp lý của QĐHCNN xuất phát từ hoạt động tổ chức và điều hành của HCNN

c/ Liên hệ thực tế

Câu 3: Phân tích ưu điểm, nhược điểm của mô hình chức nghiệp và mô hình việc làm trong quản lý nguồn nhân lực? Anh (chị) hãy đánh giá khả năng vận dụng mô hình vị trí việc làm trong quản lý nguồn nhân lực của tổ chức hành chính ở Việt Nam hiện nay?

a/ Phân tích ưu điểm, nhược điểm của mô hình chức nghiệp và mô hình việc làm trong quản lý nguồn nhân lực

MÔ HÌNH CHỨC NGHIỆP

NÊU KHÁI QUÁT VỀ MÔ HÌNH CHỨC NGHIỆP

- Trong mô hình công vụ chức nghiệp, công chức được phân loại theo trình độ đào tạo để làm

cơ sở cho việc xếp ngạch

- Trong mô hình công vụ chức nghiệp, công chức tuyển dụng vào làm việc theo ngành hay lĩnh vực chuyên môn và đây cũng chính là căn cứ để bổ nhiệm công chức vào ngạch và phân công công việc đối với công chức Nhưng trong quá trình hoạt động công vụ họ có thể được thuyên chuyển từ vị trí công việc này sang vị trí công việc khác hoặc từ cơ quan này sang cơ quan khác

- Ở mô hình này, công chức bắt đầu “nghề nghiệp” của mình khi được tuyển dụng vào cơ quan nhà nước và được bổ nhiệm vào ngạch tuyển dụng (thường dựa trên trình độ đào tạo) và từ đó phát triển “nghề nghiệp” của mình qua những vị trí công việc khác nhau theo quy định rất chặt chẽ của pháp luật (tuyển chọn nội bộ)

ƯU ĐIỂM

- Với những đặc điểm của mô hình chức nghiệp, nhân sự trong cơ quan nhà nước được sử dụng rất linh hoạt, có thể được thuyên chuyển từ vị trí này sang vị trí khác, bộ phận này sang bộ phận khác hay cơ quan này sang cơ quan khác bởi vì việc thuyên chuyển đó không ảnh hưởng đến ngạch, bậc cũng như tiền lương của họ

- Tạo ra sự ổn định trong hệ thống

KHUYẾT ĐIỂM

- Khó có thể đảm bảo được tính khách quan, công bằng trong việc trả lương và các chế độ đãi ngộ (Bởi trong mô hình chức nghiệp, có trường hợp người có trình độ chuyên môn cao thì làm việc thấp và ngược lại hoặc những người làm những công việc phức tạp, trách nhiệm đòi hỏi cao hơn nhưng lương lại được trả thấp hơn những người làm công việc đơn giản hơn, trách nhiệm thấp hơn)

- Việc đánh giá công chức cũng chỉ mang tính hình thức vì thực chất các tiêu chí đánh giá chủ yếu “gắn với người” chứ không “gắn với công việc”

- Những hạn chế trên cùng với chủ nghĩa bình quân trong chính sách đãi ngộ với công chức

dễ dẫn đến triệt tiêu dần động lực làm việc của công chức (Khi đã được xếp vào ngạch, bậc của nền công vụ, người công chức dễ an phận, ít phấn đấu vươn lên vì được nâng lương chủ yếu do thâm niên làm việc)

MÔ HÌNH VIỆC LÀM

NÊU KHÁI QUÁT VỀ MÔ HÌNH VIỆC LÀM

Trang 4

- Mô hình này thực chất là một hệ thống tiền lương được thiết lập dựa trên cơ sở đánh giá công việc, do đó coi trọng công việc hơn là đặc điểm cá nhân của người nắm giữ công việc

- Công việc được sắp xếp theo một trật tự thứ bậc chứ không phải bản thân công chức và trình độ học vấn của họ như trong mô hình chức nghiệp

- Việc đánh giá công việc và phân loại công việc thường được thực hiện bởi đội ngũ chuyên gia mang tính chuyên môn cao

- Các vị trí công việc khác nhau được xếp vào các mức khác nhau căn cứ vào mức độ phức tạp của công việc Vấn đề được quan tâm nhất trong mô hình này là đảm bảo việc trả lương công bằng theo các vị trí công việc

ƯU ĐIỂM

- Năng lực thực thi công vụ của công chức được đề cao trong nền công vụ việc làm

- Việc trả lương trong mô hình công vụ việc làm hoàn toàn theo vị trí công việc chứ không căn cứ vào kết quả thực thi công việc hay bằng cấp

- Tính năng động, hiệu suất cao do tận dụng được hết khả năng của người công chức thông qua môi trường "cạnh tranh" trong và ngoài

- Nền công vụ theo vị trí việc làm có ưu điểm nổi trội là cho phép cá thể hóa và lượng hóa các tiêu chí của quy trình công vụ như tuyển dụng, đào tạo, đánh giá, trả lương của công chức vì dựa trên bản mô tả vị trí việc làm

KHUYẾT ĐIỂM

- Tính phức tạp của hệ thống, không tạo ra tính ổn định trong công tác nhân sự (vì thiết kế hệ thống mô tả việc làm cho tất cả vị trí là rất khó)

b/ Đánh giá khả năng vận dụng mô hình vị trí việc làm để quản lý nguồn nhân lực của

tổ chức hành chính ở Việt Nam hiện nay

- Ở Việt Nam, quản lý nguồn nhân lực của tổ chức hành chính nhà nước mang rõ những đặc trưng cơ bản của mô hình chức nghiệp Trong suốt một thời gian dài do ảnh hưởng của tư duy gắn liền với nền kinh tế nhỏ, kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp, hệ thống quản lý công chức, viên chức nước ta còn nhiều hạn chế, không theo kịp được nhu cầu phát triển, hiệu lực, hiệu quả không cao

- Ðể bắt nhịp với xu thế phát triển chung của các nền công vụ ở các quốc gia có nền kinh tế thị trường năng động và phát triển trên thế giới, phù hợp với dòng chảy của văn minh nhân loại thì chúng ta cần nghiên cứu, xem xét một cách thấu đáo khi tiến hành hoàn thiện thể chế nền công vụ: xây dựng mô hình việc làm để quản lý nguồn nhân lực trong các tổ chức hành chính nhà nước

- Trên cơ sở đó, cần phải:

Thứ nhất, phân tích, thiết kế công việc một cách hệ thống để có thể so sánh được mức độ khó hay dễ, phức tạp hay đơn giản của từng loại công việc ở trong cùng một cơ quan, tổ chức hay ở các

cơ quan, tổ chức khác nhau

Thứ hai, trong nền công vụ việc làm, năng lực thực thi công vụ của công chức được đề cao trong nền công vụ việc làm Vì vậy, việc tuyển chọn nhằm mục đích chọn được người phù hợp nhất cho công việc chứ không phải chọn được người có bằng cấp phù hợp với yêu cầu của ngạch, bậc

Thứ ba, việc trả lương trong mô hình công vụ việc làm hoàn toàn theo vị trí công việc chứ không căn cứ vào kết quả thực thi công việc hay bằng cấp Vì vậy cần có cơ chế giám sát quá trình thực hiện công việc của công chức để đảm bảo họ thực hiện tốt nhất, hiệu quả nhất các yêu cầu công việc đã đặt ra

Trang 5

Thứ tư, cần thực hiện phân cấp trong quản lý công chức bởi mô hình việc làm đòi hỏi các nhà quản lý phải được trao quyền nhiều hơn trong các hoạt động quản lý nhân sự, từ tuyển dụng, đánh giá đến trả lương

Thứ năm, ngay chính tư duy, nhận thức và cách làm việc của công chức nói chung và của những người làm công tác quản lý nhân sự cũng cần thay đổi cho phù hợp với các “giá trị” của mô hình việc làm

Câu 2: VỀ TÍNH HỢP PHÁP, HỢP LÝ TRONG QUYẾT ĐỊNH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

HIỆN NAY

Posted on 23/06/2009 by Civillawinfor

THS TRẦN VĂN DUY – Học viện tư pháp

Quyết định quản lý nhà nước (QLNN) chiếm vị trí trung tâm trong hoạt động QLNN, là phương tiện không thể thiếu để các chủ thể QLNN sử dụng nhằm thực hiện chức năng QLNN Quyết định QLNN

có vai trò quan trọng trong việc hoạch định chủ trương, đường lối, nhiệm vụ lớn cho hoạt động quản lý; đặt ra, sửa đổi, bãi bỏ các quy phạm pháp luật hành chính hoặc làm thay đổi phạm vi hiệu lực của chúng; làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt các quan hệ pháp luật hành chính cụ thể

Vì vậy, các chủ thể QLNN khi ban hành quyết định QLNN trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN hiện nay có trách nhiệm phải bảo đảm để quyết định đó phải hội đủ được những yêu cầu về tính hợp pháp và tính hợp lý Nói cách khác, đó phải là một quyết định QLNN có tính khả thi cao, được xây dựng phù hợp với đường lối chính trị, nhu cầu, nguyện vọng của người dân

1 Yêu cầu về tính hợp pháp và hợp lý của quyết định quản lý nhà nước hiện nay

Theo yêu cầu đặt ra trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay, một quyết định QLNN chỉ có hiệu lực thi hành khi nó hợp pháp, tức là thoả mãn tất cả các yêu cầu sau: Thứ nhất, quyết định QLNN được ban hành phải phù hợp với nội dung và mục đích của luật, không trái với hiến pháp, luật, pháp lệnh và các quy định của cơ quan nhà nước cấp trên

Thứ hai, quyết định QLNN được ban hành trong phạm vi thẩm quyền của chủ thể ra quyết định quản

lý Các cơ quan (người có chức vụ) tuyệt đối không được ban hành những quyết định mà pháp luật không cho phép, vượt quá phạm vi quyền hạn được trao, thậm chí không được lẩn tránh và lạm quyền

Thứ ba, quyết định QLNN được ban hành phải xuất phát từ chính lợi ích thiết thực của người dân, đặc biệt là người dân lao động Các chủ thể hành chính nhà nước chỉ được ban hành quyết định QLNN để giải quyết những vấn đề xã hội một cách khách quan, khoa học, tránh tuỳ tiện, chủ quan duy ý chí

Thứ tư, quyết định QLNN phải bảo đảm trình tự, thủ tục, hình thức theo luật định

Để bảo đảm tính hiệu quả, quyết định QLNN phải đáp ứng các yêu cầu về tính hợp lý vì có hợp lý thì mới có khả năng thực thi cao Một quyết định QLNN được coi là có tính hợp lý khi nó đáp ứng được yêu cầu sau đây:

Thứ nhất, quyết định QLNN phải tính đến yêu cầu tổng thể bảo đảm hài hoà lợi ích của Nhà nước, tập thể và cá nhân Yêu cầu này đòi hỏi sự cân đối hợp lý giữa lợi ích Nhà nước và xã hội, coi lợi ích Nhà nước và lợi ích chung của công dân là tiêu chí để đánh giá sự hợp lý của quyết định hành chính Thứ hai, quyết định QLNN phải có tính cụ thể và phù hợp với từng vấn đề và với các đối tượng thực hiện Quyết định cần xác định cụ thể các nhiệm vụ, thời hạn, chủ thể, phương tiện để thực hiện Thứ ba, quyết định QLNN phải xem xét hiệu quả không chỉ về kinh tế mà cả về chính trị – xã hội, cả mục tiêu trước mắt và lâu dài, giữa hậu quả trực tiếp và gián tiếp, kết quả trước mắt và kết quả cuối cùng Các biện pháp được đề ra trong quyết định phải phù hợp đồng bộ với biện pháp trong quyết định có liên quan

Thứ tư, quyết định QLNN phải bảo đảm kỹ thuật lập quy, tức là ngôn ngữ, văn phong, cách trình bày phải rõ ràng, dể hiểu, ngắn ngọn, chính xác, không đa nghĩa

Tính hợp pháp và hợp lý của quyết định QLNN có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Khi ban hành các quyết định QLNN, các chủ thể QLNN phải bảo đảm tính hợp pháp và hợp lý, nhờ đó quyết định đưa

ra mới có khả năng thực thi, được xã hội chấp nhận

Tuy nhiên, chúng ta không nên đồng nhất tính hợp pháp và tính hợp lý của quyết định QLNN với nhau Lý do chính là cơ quan ban hành chưa kịp sửa chữa những quyết định đã lỗi thời, không còn phù hợp nữa, hoặc cơ quan ban hành không tính hết được những đặc điểm của từng địa phương, cơ

Trang 6

sở nên có thể quyết định phù hợp với nơi này nhưng không phù hợp với nơi khác Trong trường hợp này, các địa phương, cơ sở khi áp dụng vẫn phải thi hành nghiêm chỉnh quyết định của cấp trên, đồng thời kiến nghị với cơ quan cấp trên bãi bỏ hoặc sửa đổi cho phù hợp với tình hình cụ thể của địa phương, cơ sở Trong mọi trường hợp, tính hợp pháp luôn có ưu thế hơn so với tính hợp lý nên không thể vì lý do hợp lý mà coi thường quyết định của cấp trên, tự ban hành những quy định riêng trái với quy định của pháp luật

2 Những hạn chế trong ban hành và thực hiện các quyết định QLNN hiện nay

Hiện nay, hoạt động xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các quyết định QLNN của chủ thể QLNN đã đạt được những kết quả đáng khích lệ Tất cả những hoạt động này đều hướng tới vì mục tiêu thực hiện quyền lực của nhân dân, phục vụ nhân dân, thi hành pháp luật, đưa pháp luật vào đời sống để bảo đảm kỷ cương xã hội Tuy nhiên, việc bảo đảm tính hợp pháp và tính hợp lý khi xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các quyết định QLNN trong giai đoạn hiện nay còn nhiều bất cập

– Nhiều quyết định QLNN không đúng thẩm quyền, đúng chủ thể, phù hợp với pháp luật, chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống Thậm chí, một số quyết định QLNN được ban hành trái với thẩm quyền của chủ thể ban hành, có dấu hiệu vi phạm pháp luật, nội dung chưa phù hợp với lợi ích của Nhà nước và xã hội Theo thống kê của Bộ Tư pháp, qua kiểm tra 1.506 văn bản pháp luật đã ban hành của cấp bộ và địa phương trong năm 2007, phát hiện 320 văn bản có dấu hiệu trái pháp luật Năm 2008, kiểm tra 1.968 văn bản thì phát hiện 490 văn bản có dấu hiệu trái pháp luật (trong đó

có 93 văn bản cấp bộ và 397 văn bản của địa phương) Như vậy, khoảng từ 20-25% số văn bản được kiểm tra có dấu hiệu vi phạm (1)

Ví dụ 1

Ngày 6/2/2009, Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp đã có công văn gửi UBND

TP Hà Nội nêu rõ việc UBND TP Hà Nội ban hành “Quy định về quản lý hoạt động giết mổ, vận chuyển, buôn bán gia súc, gia cầm trên địa bàn TP Hà Nội” (Quyết định 51) vào ngày 22/1/2009 là chưa bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp cũng như bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân có hoạt động liên quan

Cục này khẳng định Quyết định 51 có một số quy định mang tính cấm đoán không có căn cứ, có biểu hiện “ngăn sông cấm chợ” đối với các cá nhân, công dân tham gia hoạt động giết mổ, vận chuyển, chế biến, buôn bán gia súc, gia cầm Cụ thể như “cấm vận chuyển gia súc, gia cầm vào khu vực nội thành, nội thị; cấm vận chuyển gia súc, gia cầm và sản phẩm gia súc, gia cầm trên xe máy, xích lô, xe đạp hoặc các phương tiện khác”

Về nội dung quy định “gia súc, gia cầm chỉ được vận chuyển đến cơ sở giết mổ được phép của thành phố…” còn hạn chế quyền của nhiều cá nhân khác Ngoài ra, Quyết định 51 còn có một số quy định mang tính cấm đoán không có cơ sở, không rõ ràng về nội dung quy phạm pháp luật, gây hiểu nhầm, đồng thời có thể dẫn đến việc áp dụng xử lý tùy tiện…

Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật đề nghị UBND TP Hà Nội xem xét, xử lý kịp thời, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, khả thi của văn bản và trong 30 ngày phải kiểm tra, xử lý, thông báo đến Cục về các nội dung trên

(Nguồn: http://antg.cand.com.vn/News/ PrintView.aspx?ID=69085)

Ví dụ 2

Ngày 23/4/2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GĐ&ĐT) đã ban hành Thông tư số 22/2008/TT-BGDĐT hướng dẫn về tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục và hồ sơ xét tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo

ưu tú (gọi tắt là Thông tư 22) Tuy nhiên, Thông tư 22 đã có dấu hiệu vượt quá Điều 62 Luật Thi đua khen thưởng năm 2003 Vì vậy, lãnh đạo Bộ Tư pháp và lãnh đạo một số đơn vị thuộc Bộ đã có buổi làm việc với đại diện của Bộ GD &ĐT bàn về cách xử lý Thông tư 22

http://www.moj.gov.vn/p/tag.idempotent.render.userLayoutRootNode.target.n406.uP

– Nhiều quyết định QLNN được xây dựng không có tính khả thi cao, hay là việc ra quyết định quá chậm chạp, gây khó khăn cho hoạt động quản lý

Ví dụ 3

Bộ Công an đã có thông tư số 03 đề nghị công an các tỉnh, thành phố khôi phục hoạt động cấp đăng

ký mới đối với xe gắn máy theo đúng nhu cầu sở hữu và sử dụng của người dân, và xem chiếc xe máy là một tài sản được pháp luật bảo hộ Tuy nhiên, ở Hà Nội, việc này không dễ dàng gì vì UBND thành phố Hà Nội vẫn đang duy trì hiệu lực của quyết định tạm dừng cấp đăng ký xe gắn máy trên 7 quận nội thành

Bên cạnh những chi tiết bất ổn về tính hợp pháp và hợp lý của quyết định này, dư luận đang rất băn khoăn về tính hiệu quả của quyết định này trong việc giảm lượng xe gắn máy lưu thông trong nội đô

Trang 7

thành phố Việc duy trì một quyết định không có hiệu quả, hoặc nếu có thì rất ít, liệu đã ngang tầm với chính quyền của thành phố thủ đô hay chưa?

Anh Hoàng Văn Nghĩa hành nghề lái xe ôm đã 3 năm nay Chiếc xe gắn máy đối với anh không chỉ

là phương tiện đi lạiA, nó còn là tài sản, và là công cụ kiếm sống duy nhất Giá như anh Nghĩa là công dân của thành phố Thái Nguyên thì tài sản này sẽ được pháp luật bảo vệ, trên cơ sở đăng ký sở hữu Việc các nhà chức trách của Hà Nội từ chối cấp đăng ký cho chiếc xe gắn máy này, không có nghĩa là người lái xe ôm này chịu để chiếc xe của mình trở thành tài sản vô thừa nhận Chẳng biết là

có mất thêm nhiều tiền không, nhưng cuối cùng cũng có người ở Thái Nguyên đã đứng tên đăng ký

sở hữu chiếc xe Anh Nghĩa cho biết thêm: “Tôi mua xe khác, tôi đi đăng ký thì lại không đăng ký được, buộc lòng tôi phải nhờ vả, chạy vạy lên tận Thái Nguyên đăng ký Tôi thấy không có vấn đề gì

cả vì biển là của ngoại tỉnh nhưng mà của cảnh sát giao thông tỉnh ấy cấp, chứ không phải biển lậu biển gian gì cả”

Không ai thống kê được công dân của thành phố Hà Nội đã phải nhờ công dân của tỉnh Thái Nguyên, hay một địa phương nào đó đứng tên đăng ký tài sản Chỉ thấy lượng xe máy gắn biển ngoại tỉnh xuất hiện trên đường phố Hà Nội mỗi lúc một nhiều Nhiều luật gia gọi đây là hiện tượng “hồn Trương Ba

da Hàng Thịt” Ông Nguyễn Sĩ Dũng, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội nói: “Xe máy của một người mà lại đứng tên sở hữu một người khác, rõ ràng nội dung và hình thức xung đột với nhau và cái hiện tượng “hồn Trương Ba da Hàng Thịt” trong chuyện dân gian của mình phản ánh rất đúng cái

đó Nếu không xảy ra tranh chấp thì thôi, xảy ra tranh chấp thì cơ bản Ngọc Hoàng cũng không xử được”

Những băn khoăn về tính hợp lý và hợp pháp của quyết định tạm dừng đăng ký xe gắn máy đã được nói đến nhiều Vấn đề mà dư luận quan tâm hiện nay là nó đã đạt được mục tiêu giảm ách tắc giao thông nội thị hay chưa?

http://www.hanoimoi.com.vn/vn/41/68036

– Quyết định QLNN được các chủ thể ban hành không tính đến đối tượng chịu sự tác động của quyết định, ví dụ:

Ví dụ 4

Quyết đinh số 26/UB- TP Hà Nội 3/2003 quy định về thời gian hoạt động của các phương tiện vận tải Kết quả thực hiện đã làm cho nhiều phương tiện giao thông không thể hoạt động theo các quy định Chỉ sau 2 ngày thực hiện đã phải tạm đình chỉ và sửa đổi

– Công tác chuẩn bị nhằm triển khai thực hiện các quyết định QLNN của chủ thể ban hành vẫn còn chưa được tính đến trong phương án xây dựng và ban hành quyết định, còn coi các điều kiện để thi hành các quyết định quản lý chỉ là thứ yếu như cơ sở vật chất, phương tiện thi hành, cán bộ thực hiện, ngân sách, tài chính… chưa bảo đảm được yêu cầu đặt ra Chưa có kế hoạch tổng thể, dài hơi

về việc xây dựng kế hoạch ban hành quyết định QLNN, dẫn đến những lúng túng, bị động trong hoạt động triển khai thực hiện

– Tính hiệu quả trong quá trình thực thi các quyết định QLNN chưa được một số chủ thể ban hành quyết định tính đến, cho nên, một số quyết định QLNN khi thực hiện đã vấp phải tình trạng “phản ứng” dữ dội, thậm chí là chống đối từ chính các chủ thể phải thi hành quyết định, cho nên, ngay từ khâu đầu tiên của quá trình thi hành quyết định đã không đem lại hiệu quả, không phù hợp với thực tế

Ví dụ 5

Quyết định về việc hạn chế đăng ký xe máy của một số tỉnh, thành phố, cấm học sinh, sinh viên các trường nghệ thuật biểu diễn ở quán bar, vũ trường thời gian qua

Những hạn chế này xuất phát từ một số nguyên nhân:

– Quyết định QLNN chưa được xây dựng và ban hành theo trình tự luật định, đặc biệt là khâu thực hiện “tiền kiểm”, tức là thẩm định dự thảo quyết định chưa được chú trọng, mà mới chỉ mang tính hình thức Công chức thực hiện công vụ một cách hời hợt thì hậu quả là quyết định sai sẽ lọt qua cửa thẩm định và được ban hành

– Chưa có cơ chế đủ mạnh để yêu cầu các chủ thể ban hành quyết định QLNN là trước khi ban hành thì phải tập hợp và lấy ý kiến người dân, huy động trí tuệ tập thể, phản biện của các cơ quan, của xã hội để tránh những quyết định khi ban hành phải “chết sớm” không thực hiện được

– Việc phân định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm giữa các cơ quan QLNN giữa các cấp như trung ương và địa phương, trong từng ngành vẫn chưa rõ, thậm chí, mâu thuẫn, chồng chéo – Các chủ thể khi ban hành quyết định QLNN chưa tính đến việc cân bằng, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các chủ thể (lợi ích giữa cơ quan quản lý, lợi ích của đối tượng thi hành quyết định và của toàn

xã hội)

Trang 8

– Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền nói riêng còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra Do vậy, tình trạng ban hành các quyết định QLNN không hợp pháp và hiệu quả là điều khó tránh khỏi

Thời gian qua, khi xã hội phát sinh nhiều quan hệ mới, phức tạp, không quản lý được thì cơ quan nhà nước thường ban hành quyết định cấm, ngừng Hoặc ở các địa phương, có quyết định quy hoạch rồi nhưng sau đó thấy không khả thi, không thực hiện được thì xóa bỏ Những quyết định này đã gây thiệt hại không nhỏ đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân nhưng chưa có chế tài cụ thể để xử lý Hiện nay, việc xử lý đối với chủ thể khi ban hành quyết định QLNN sai vẫn đang theo quy định về

xử lý công chức và phổ biến vẫn chỉ dừng ở mức độ “kiểm điểm, rút kinh nghiệm”, chưa có cơ chế đưa ra tòa án để xét xử các quyết định QLNN sai mà chỉ là kiểm điểm, rút kinh nghiệm trong nội bộ

3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quyết định QLNN

Thứ nhất, tiến hành rà soát lại hệ thống quyết định QLNN, từ đó đình chỉ, sửa đổi và bãi bỏ quyết định không hợp pháp, không còn phù hợp với thực tiễn, đồng thời bổ sung những quy định mới đáp ứng yêu cầu thực tiễn Khi ban hành quyết định QLNN thì các chủ thể ban hành cần tiếp thu ý kiến của nhân dân, nhất là ý kiến đóng góp của đối tượng bị tác động trực tiếp của quyết định đó

Thứ hai, cần truy cứu trách nhiệm người có lỗi Theo chúng tôi, cần truy cứu hai loại người có lỗi, là người có trách nhiệm trong việc ban hành quyết định và người có trách nhiệm trong việc thi hành quyết định Việc truy cứu trách nhiệm cần căn cứ vào mức độ lỗi Tuy nhiên, trước tiên, phải truy cứu người có trách nhiệm ban hành quyết định không hợp pháp, không hợp lý Xử lý các quyết định QLNN được thực hiện theo cơ chế tài phán, tức là đưa ra tòa án để xét xử chứ không phải là kiểm điểm, rút kinh nghiệm nội bộ

Thứ ba, thực hiện các biện pháp khôi phục lại tình trạng cũ do việc thực hiện quyết định trái pháp luật gây ra Nếu quyết định quản lý không hợp pháp đã được thi hành, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân xâm phạm thì công dân được bồi thường thiệt hại

Thứ tư, tăng cường công tác giám sát kiểm tra hoạt động xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các quyết định QLNN Tăng cường giám sát và phản biện xã hội trong hoạt động này

Câu 1: Tại sao phải cải cách HCNN? Theo anh (chị) những cản trở lớn nhất trong cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay là gì? (Có thể liên hệ với lĩnh vực hoặc địa phương anh (chị) đang công tác.

Trả lơì:

1 Tại sao phải Cải cách HCNN ?

 Bởi Vì

- Cải cách hành chính xuất phát từ yêu cầu của sự nghiệp đổi mới

- Cải cách hành chính xuất phát từ yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và

vì dân

- Cải cách hành chính xuất phát từ yêu cầu khắc phục những yếu kém, khuyết điểm trong tổ chức và hoạt động của nền hành chính

- Cải cách hành chính nhà nước xuất phát từ yêu cầu hội nhập, mở rộng mối quan hệ hợp tác quốc tế

 Sự cần thiết phải cải cách hành chính nhà nước

Hoạt động cải cách hành chính nhà nước được đặt trong môi trường các yếu tố tác động từ bên ngoài hệ thống cơ quan hành chính nhà nước Trong điều kiện cụ thể, các yếu tố đó luôn thay đổi Hoạt động hành chính nhà nước là là sự tác động của các cơ quan quản lý nhà nước đến các đối tượng quản lý Lý thuyết quản lý đã chỉ ra rằng: Tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể mà các cơ quan quản

lý các nhà quản lý cần tìm kiếm một cách thức tác động quản lý phù hợp mới đem lại kết quả, hiệu quả Khi môi trường bên ngoài thay đổi, các nhà quả lý phải thay đổi cách quản lý phù hợp Điều này thể hiện rõ nhất khi Việt Nam chuyển đổi cơ chế kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường Đòi hỏi cách thức quản lý nhà nước về kinh tế đã bắt buộc phải cải cách hành chính nhà nước

Trang 9

Cải cách hành chính nhà nước củng xuất phát từ những sự thay đổi bên trong của hệ thống các cơ quan quản lý hành chính nhà nước Sự thay đổi đó xẩy ra trên bốn nhóm yếu tố: Thể chế hành chính nhà nước, tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, đội ngũ cán bộ công chức, tài chính công cùng với sự tác động của phát triển khoa học công nghệ

2 Những cản trở lớn nhất trong cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay là:

Cản trở lớn nhất là các yếu tố môi trường: Đó chính là các yếu tố bên trong và bên ngoài của hành chính, các yếu tố tác động, ảnh hưởng đến cải cách hành hành chính nhà nước bao gồm bốn nhóm cơ bản sau đây:

• Chính trị: Trong điều kiện cụ thể cảu Việt Nam, môi trường chính trị được khái quát: Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ và nhà nước quản lý Các yếu tố đó xuyên suốt mọi hoạt động quản lý nhà nước, trong đó có quản lý hành chính nhà nước

• Kinh tế: Nền kinh tế nước ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Hoạt động quản lý nhà nước về kinh tế củng phù hợp với sự chuyển đổi đó

• Xã hội: Bao gồm các cơ quan nhà nước và các đối tượng bị quản lý Trong môi trường đó các thể chế xã hội củng ảnh hưởng đến hoạt động quản lý nhà nước

• Văn hoá: Các quan hệ ứng sử, tiếp xúc củng ảnh hưởng đến cách lựa chọn phương thức quản

lý và do đó, trong cải cách hành chính khi sử dụng cách ứng xử mới có thể nhận được sự ủng hộ Cơ chế “một cửa” là một ví dụ Khi tiếp xúc giữ nhà nước với công dân đòi hỏi công chức phải thay đổi hành vi mà trước đó chưa có Và không ít công chức thực sự muốn từ bỏ “những hành vi cũ”

3 Liên hệ địa phương đơn vị công tác:

Cơ quan chúng tôi vưa qua đã áp dụng đề án 30 trong việc cải cách hành chính một cửa một cửa liên thông, xem đây là bước đột phá mà Đảng và Nhà Nước ta quan tâm, Việc cải cách hành chính gặp nhiều khó khăn trong công tác thực hiện vì cuộc sống của người dân đang gặp nhiều khó khăn, trình độ nhận thức còn hạn chế, trong địa phương có nhiều người theo nhiều tín ngưởng tôn giáo khác nhau nên việc tuyên truyền, cải cách, giải quyết vấn đề cho người dân là hết sức phức tạp…

Câu 3.Phân tích ưu nhược điểm của mô hình chức nghiệp và mô hình việc làm trong hoạt động quản lý nguồn nhân của các cơ quan hành chính nhà nước.

 Mô hình chức nghiệp:

Là cách thức để lựa chọn người và một nghề cụ thể nào đó và tham gia công việc cụ thể trong tổ chức có thể theo người đó suốt đời

Việc áp dụng mô hình này là áp dụng hình thức nâng ngạch , bậc trong quản lý nhà nước được nhiều nước áp dụng, hay còn gọi là hình thức quản lý thâm niên

->ưu điểm:

+)áp dụng mô hình này nhà quản lý gắn người lao động vào một công việc cụ thể và lâu dài, giúp người lao động có điều kiện hoàn thiện thành thạo các kỹ năng để hoàn thành tốt công việc được giao

+)Người công chức gắn bó lâu dài với một công việc gần như cả cuộc đời giúp cho người đó có thể

đi chuyên sâu vào công việc đó và biến công việc đó có thể trở thành “nghệ thuật”và đạt được hiệu quả cao

->nhược điểm:

Trang 10

+)mô hình này chủ yếu dựa vào học vấn , tạo ra kẽ hở trong việc đào tạo cán bộ công chức không đúng mực gây ra những hậu quả nghiêm trọng trong quá trình quản lý, làm việc Tình trạng chạy bằng được bằng cấp để xin việc, mà không chú ý tới năng lực thực sự , nhiều sự bất cập trong công tác đào tạo

+)Việc phân ngạch , bậc theo năm thâm niên tạo ra sức ỳ lớn trong cbcc Chế độ lương thưởng còn nhiều yếu kém và thấp, sự năng động và hiệu quả của việc sử dụng cbcc không cao, chất lượng công việc không được bảo đảm

+)Làm một công việc gần như suốt đời làm cho người lao động không năng động, sáng tạo và dẫn đến không có sự vươn lên trong công việc, hiệu quả công việc thấp

 Mô hình việc làm:

Là cách thức bố trí nhân sự theo từng vịêc cụ thể trong tổ chức Mỗi một người làm một công việc cụ thể trong suốt cuộc đời của họ với một mức lương nhất định Tổ chức chia hệ thống hoạt động của tổ chức thành rất nhiều công việc cụ thể và mỗi một nhân sự trong tổ chứcđược giao một công việc Đây là công cụ có thể gọi là mô hình công việc bàn cờ hay ma trận và tương ứng với mỗi ô vuông của ma trận do một hoặc một vài người đảm nhận tuỳ theo cường độ , khối lượng công việc Mỗi một công việc được bố trí cho một người và người đó chiếm vị trí đó đến lúc không tiếp tục đảm nhận được công việc nữa

->ưu điểm:

+)đây là mô hình được nhiều quốc gia hiện đại áp dụng , nó giúp cho người quản lý bố trí một cách hợp lý và chính xác một người vào một công việc cụ thể và phù hợp với năng lực , trình độ của họ

mà họ sẽ hoàn thành tốt công việc của mình

+)Giúp cho người lao động năng động , sáng tạo và dễ trao đổi kinh nghiệm công tác với người khác

để hoàn thành công việc một cách tốt nhất

Theo mô hình này thì công việc luôn được hoàn thành một cách nhanh chóng

->nhược điểm:Mô hình này không ổn định , có nhiều vấn đề mà nếu người quản lý có biện pháp thích hợp dễ dẫn đến các công việc được hoàn thành và chồng chéo gây nên ảnh hưởng ách tắc trong công việc, gây khó khăn cho tổ chức Coi công việc là quan trọng nên ít chú ý tới các điều kiện khác của người lao động dẫn đến người có nhiều sơ hở trong việc xét duyệt văn bằng chứng chỉ, tiền lương, tiền thưởng, có nhiều người lao động thường gắn bó với công việc mình được giao và không tận tuỵ với công việc , hiệu quả công việc thường không được cao

Về vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức

Nền hành chính nhà nước được cấu thành bởi các yếu tố cơ bản như: Thể chế hành chính, tổ chức bộ máy hành chính, nguồn nhân lực và nguồn lực vật chất Trong quản lý, điều hành hoạt động của tổ chức công có thể nói quản lý, điều hành nguồn nhân lực là công việc khó khăn và phức tạp nhất

“Quản lý nguồn nhân lực là việc thiết kế các chính sách và thực hiện các lĩnh vực hoạt động nhằm làm cho con người đóng góp giá trị hữu hiệu nhất cho tổ chức, bao gồm các lĩnh vực như hoạch định nguồn nhân lực, phân tích và thiết kế công việc, chiêu mộ và lựa chọn, đánh giá thành tích, đào tạo

và phát triển, thù lao, sức khỏe và an toàn lao động, tương quan lao động…”

Để điều hành tốt nguồn nhân lực, nhằm làm cho con người đóng góp giá trị hữu hiệu nhất cho tổ chức thì xác định vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức cũng là công việc rất khó khăn và phức

Ngày đăng: 15/08/2017, 10:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w