Bài thơ đã gợi lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu, đồng thời thể hiện lòng kính yêu, trân trọng và biết ơn của người cháu với bà, với gia đình, quê hương, đất nướ
Trang 1Kỳ thi tuyển sinh lớp 10 THPT năm học 2007-2008
Đề thi môn Ngữ văn của Sở GD-ĐT TP.HCM
Câu 1 (1 điểm): Chép lại nguyên văn khổ thơ đầu bài Đoàn thuyền đánh cá (Huy Cận) Câu 2 (1 điểm): Tìm các thành phần tình thái, cảm thán trong những câu sau:
a Nhưng còn cái này nữa mà ông sợ, có lẽ còn ghê rợn hơn cả những tiếng kia nhiều (Kim Lân, Làng)
b Chao ôi, bắt gặp một con người như anh ta là một cơ hội hãn hữu cho sáng tác, nhưng hoàn thành sáng tác còn là một chặng đường dài (Nguyễn Thành Long, Lặng lẽ Sa Pa)
Câu 3 (3 điểm): Viết một đoạn văn nghị luận (từ 10 đến 12 câu) nêu suy nghĩ của em về đạo lý Uống nước nhớ nguồn.
Câu 4 (5 điểm): Cảm nhận của em về đoạn thơ:
…Từ hồi về thành phố
quen ánh điện, cửa gương
vầng trăng đi qua ngõ
như người dưng qua đường
Trang 2Câu 1 (1 điểm):
Học sinh cần đảm bảo được yêu cầu:
- Chép đúng, đủ bốn câu thơ trong khổ thơ đầu bài Đoàn thuyền đánh cá (Huy Cận)
Đề bài yêu cầu học sinh viết đoạn văn từ 10 đến 12 câu, nêu suy nghĩ của bản thân về đạo
lý “Uống nước nhớ nguồn” Đây là đề bài có tính chất tích hợp trong việc kiểm tra kỹ năng viết đoạn văn và hiểu biết về một vấn đề xã hội ở học sinh Do vậy, học sinh cần bảo đảm được những yêu cầu cơ bản sau:
- Kỹ năng viết đoạn văn: bảo đảm được bố cục của một đoạn văn (tức là có phần mở, thân
và kết đoạn); bảo đảm mối liên kết nội dung và hình thức; viết đúng chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
- Nêu suy nghĩ về đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”: học sinh không nhất thiết phải đi vào giải thích từ ngữ cụ thể nhưng cần khái quát được nội dung câu tục ngữ, trình bày được suy nghĩ, đánh giá của bản thân về đạo lý tốt đẹp của dân tộc thể hiện qua câu tục ngữ, chẳng hạn:
+ Câu tục ngữ là lời nhắc nhở, lời khuyên về lòng biết ơn.
+ Biểu hiện của lòng biết ơn: biết ơn ông bà, cha mẹ; biết ơn thầy cô; không quên ơn những người đã chiến đấu hy sinh để bảo vệ đất nước
+ Đây là đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc, cần được gìn giữ và phát huy.
Trang 3+
Câu 4 (5 điểm):
Trên cơ sở những hiểu biết khái quát về tác giả Nguyễn Duy, về bài thơ Ánh trăng (đặc biệt chú ý hình tượng vầng trăng - biểu tượng của quá khứ nghĩa tình, hoàn cảnh sáng tác), học sinh trình bày cảm nhận của mình về nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ Các
em có thể trình bày bài làm của mình theo nhiều cách, song cần đảm bảo được một số yêu cầu cơ bản sau đây:
1 Cảm nhận về nội dung đoạn thơ: đoạn thơ thể hiện sự trăn trở, suy tư của nhân vật trữ tình về thái độ sống đối với quá khứ Điều này được thể hiện qua các khổ thơ cụ thể:
- Hoàn cảnh sống thay đổi, thành phố với những tiện nghi hiện đại (ánh điện, cửa gương)
dễ làm cho người ta lãng quên quá khứ, dửng dưng với cả vầng trăng tình nghĩa năm nào (Vầng trăng đi qua ngõ / như người dưng qua đường).
- Vầng trăng đột ngột xuất hiện trong một tình huống bất ngờ; nhân vật trữ tình đối diện với vầng trăng mà trong lòng ngập tràn bao cảm xúc Những gian lao, vất vả và cả nghĩa tình trong quá khứ như ùa về làm nhân vật trữ tình vừa xúc động, vừa day dứt, vừa thành kính, lặng im (Ngửa mặt lên nhìn mặt / có cái gì rưng rưng/ như là đồng là bể / như
là sông là rừng).
- Nhưng vầng trăng - quá khứ nghĩa tình luôn tròn đầy, bất diệt (Trăng cứ tròn vành vạnh/ kể chi người vô tình) càng làm cho con người thêm ân hận, day dứt Sự im lặng của vầng trăng như một lời nhắc nhở nghiêm khắc về thái độ sống với quá khứ (Ánh trăng im phăng phắc/ đủ cho ta giật mình)
2 Cảm nhận về nghệ thuật: biện pháp nhân hóa được sử dụng tài tình; hình ảnh thơ gợi cảm, có tính chất biểu tượng; giọng thơ vừa tâm tình vừa suy tư, trầm lắng, góp phần tạo nên chiều sâu triết lý cho bài thơ.
3 Đánh giá, nêu suy nghĩ:
- Đoạn thơ kết tinh giá trị tư tưởng, chủ đề của cả bài thơ Cất lên như một lời cảnh tỉnh, đoạn thơ chính là cái “giật mình” đầy ý nghĩa của chính nhà thơ, tự nhắc nhở mình phải sống sao cho trọn vẹn, thủy chung.
- Đoạn thơ cũng như bài thơ không chỉ có ý nghĩa với nhà thơ, với cả một thế hệ vừa mới
đi qua chiến tranh mà còn có ý nghĩa với người đọc ngày nay vì nó đặt ra vấn đề về thái
độ sống với quá khứ Đó chính là truyền thống đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” đẹp đẽ của dân tộc.
Trang 4Bếp lửa (Bằng Việt)
Trong cuộc đời, ai cũng có riêng cho mình những kỉ niệm của một thời ấu thơ hồn nhiên, trong sáng Những kỉ niệm ấy là những điều thiêng liêng, thân thiết nhất, nó có sức mạnh phi thường nâng đỡ con người suốt hành trình dài và rộng của cuộc đời Bằng Việt cũng có riêng ông một kỉ niệm, đó chính là những tháng năm sống bên bà, cùng bà nhóm lên cái bếp lửa thân thương Khôngchỉ thế, điều in đậm trong tâm trí của Bằng Việt còn là tình cảm sâu đậm của hai bà cháu Chúng ta
có thể cảm nhận điều đó qua bài thơ “Bếp lửa” của ông
Bằng Việt thuộc thế hệ nhà thơ trương thành trong kháng chiến chống Mĩ Bài thơ “ Bếp lưả” được ông sáng tác năm 1963 lúc 19 tuổi và đang đi du học ở Liên Xô Bài thơ đã gợi lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu, đồng thời thể hiện lòng kính yêu, trân trọng và biết ơn của người cháu với bà, với gia đình, quê hương, đất nước
Tình cảm và những kỉ niệm về bà được khơi gợi từ hình ảnh bếp lửa Ở nơi đất khách quê người, bắt gặp hình ảnh bếp lửa, tác giả chợt nhớ về người bà:
“ Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.”
Hình ảnh “chờn vờn” gợi lên những mảnh kí ức hiện về trong tác giả một cách chập chờn như khói bếp Bếp lửa được thắp lên, nó hắt ánh sáng lên mọi vật và toả sáng tâm hồn đứa cháu thơ ngây Bếp lửa được thắp lên đó cũng là bếp lửa của cuộc đời bà đã trải qua “ biết mấy nắng mưa”
Từ đó, hình ảnh người bà hiện lên Dù đã cách xa nữa vòng trái đất nhưng dường như Bằng Việt vẫn cảm nhận được sự vỗ về, yêu thương, chăm chút từ đôi tay kiên nhẫn và khéo léo của bà Trongcái khoảnh khắc ấy, trong lòng nhà thơ lại trào dâng một tình yêu thương bà vô hạn Tình cảm bà cháu thiêng liêng ấy cứ như một dòng sông với con thuyền nhỏ chở đầy ắp những kỉ niệm mà suốt cuộc đời này chắc người cháu không bao giờ quên được vàcung chính t? đó, sức ấm và ánh sáng của tình bà cháu cũng như của bếp lửa lan toả toàn bài thơ
Khổ thơ tiếp theo là dòng hồi tưởng cùa tác giả về những kỉ niệm của những năm tháng sống bên cạnh bà Lời thơ giản dị như lời kể, như những câu văn xuôi, như thủ thỉ, tâm tình, tác giả như đang
kể lại cho người đọc nghe về câu chuyện cổ tích tuổi thơ mình Nếu như trong câu chuyện cồ tích của những bạn cùng lứa khác có bá tiên, có phép màu thí trong câu chuyện của băng Việt có bà và bếp lửa Trong những năm đói khổ, người bà đã gắn bó bên tác giả, chính bà là người xua tan bớt đicái không khí ghê rợn của nạn đói 1945 trong tâm trí đứa cháu Cháu lúc nào cũng được bà chở che, bà dẫu có đói cũng để cháu thiếu bữa ăn nào, bà đi mót từng củ khoai, đào từng củ sắn đểâ cháu ăn cho khỏi đói:
“Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!”
Chính “mùi khói” đã xua đi cái mùi tử khí trên khắp các ngõ ngách Cũng chính cái mùi khói ấy
đã quện lại và bám lấy tâm hồn đứa trẻ Dù cho tháng năm có trôi qua, những kí ức ấy cũng sẽ để lại ít nhiều ấn tượng trong lòng đứa cháu để rồi khi nghĩ lại lại thấy “sống mũi còn cay” Là mùi khói làm cay mắt người người cháu hay chính là tấm lòng của người bà làm đứa cháu không cầm được nước mắt?
Trang 5“ Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm bếp
Tu hú kêu trên những cách đồng xa
Khi tu hú kêu bà còn nhớ không bà
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!”
“Cháu cùng bà nhóm lửa”, nhóm lên ngọn lửa củasự sống và của tìng yêu bà cháy bỏng của một cậu bé hồn nhiên, trong trắng như một trang giấy.Chính hình ảnh bếp lửa quê hương, bếp lửa của tình bà cháu đó đã gợi nên một liên tưởng khác, một hồi ức khác trong tâm trí thi sĩ thuở nhỏ Đó làtiếng chim tu hú kêu Tiếng tu hú kêu như giục giã lúa mau chín, người nông dân mau thoát khỏi cái đói, và dường như đó cũng là một chiếc đồng hồ của đứa cháu để nhắc bà rằng: “Bà ơi, đến giờ
bà kể chuyện cho cháu nghe rồi đấy!” Từ “tu hú” được điệp lại ba lấn làm cho âm điệu cấu thơ thêm bồi hồi tha thiết, làm cho người đọc cảm thấy như tiếng tu hú đang từ xa vọng về trong tiềm thức của tác giả.Tiếng “tu hú” lúc mơ hà, lúc văng vẳng từ nững cánh đồng xa lâng lâng lòng ngườicháu xa xứ Tiiếng chim tu hú khắc khoải làm cho dòng kỉ niệm của đứa cháu trải dài hơ, rộng hơn trong cái không gian xa thẳng của nỗi nhớ thương
Nếu như trong những năm đói kém của nạn đói 1945, bà là người gắn bó với tác giả nhất, yêu thương tác giả nhất thì trong tám năm ròng của cuộc kháng chiến chống Mĩ, tình cảm bà cháu ấy lạicàng sâu đậm:
“Mẹ cùng cha bận công tác không về
Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc
Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà
Kêu chi hoài trên những cách đồng xa”
Trong tám năm ấy, đất nước có chiến tranh, hai bà cháu phải rời làng đi tản cư, bố mẹ phải đi công tác, cháu vì thế phải ở cùng bà trong quãng thời gian ấy, nhưng dường như đối với đứa cháu như thế lại là một niềm hạnh phúc vô bờ.? cùng bà, ngày nào cháu cũng cùng bà nhóm bếp Và trong cái khói bếp chập chờn, mờ mờ ảo ảo ấy, người bà như một bà tiên hiện ra trong câu truyện
cổ huyền ảo của cháu Nếu như đối với mỗi chúng ta, cha sẽ là cánh chim để nâng ước mơ của con vào một khung trời mới, mẹ sẽ là cành hoa tươi thắm nhất để con cài lên ngực áo thì đoiá với Bằng Việt, người bà vừa là cha, vừalà mẹ, vừa là cách chim, là một cành hoa của riêng ông Cho nên, tình bà cháu là vô cùng thiêng liêng và quý giá đối với ông Trong những tháng năm sống bên cạnh
bà, bà không chỉ chăm lo cho cháu từng miếng ăn, giấc ngủ mà còn là người thầy đầu tiên của cháu Bà dạy cho cháu những chữ cái, những phép tính đầu tiên Không chỉ thế, bà còn dạy cháu những bài học quý giá về cách sống, đạo làm người Nững bài học đó sẽ là hành trang mang theo suốt quãng đời còn lại của cháu Người bà và tình cảm mà bà dành cho cháu đã thất sự một chỗ dựavững chắc về cả vật chất lẫn tinh thần cho đứa cháu be ùbỏng Cho nên khi bây giờ nghĩ về bà, nhà thơ càng thương bà hơn vì cháu đã đi rồi, bà sẽ ở với ai, ai sẽ người cùng bà nhóm lửa, ai sẽ cùng
bà chia sẻ những câu chuyện những ngày ở Huế, Thi sĩ bổng tự hỏi lòng mình: “Tu hú ơi, chẳng đến ở cùng bà?” Một lời than thở thể hiện nỗi nhớ mong bà sâu sắc của đứa cháu nơi xứ ngươi Chỉ trong một khổ thơ mà hai từ “bà”, “cháu” đã được nhắc đi nhắc lại nhiều lấn gợi lên hình ảnh hai bà cháu sóng đôi, gắn bó, quấn qúit không rời
Chiến tranh, một danh từ bình thườnh nhưng sức lột tả của nó thì khốc liệt vô cùng, nó đã gây ra đau khổ cho bao người, bao nhà Và hai bà cháu trong bài thơ cũng trở thành một nạn nhân của chiến tranh: gia đình bị chia cắt, nhà bị giặc đốt cháy rụi
Trang 6“Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
Hàng xóm bốn bên trở vế lầm lụi
Đỡ đần bà dựng lại túp lếu tranh
Vẫng vững lòng bà dặn cháu đinh ninh:
“ Bố ở chiến khu bố còn việc bố
Mày viết thư chớ kể này kể nọ
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!’
Cuộc sống càng khó khăn, cảnh ngộ càng ngặt ngèo, nghị lứccủa bà càng bền vững, tấm lòng ủa
bà càng mênh mông Qua đó, ta thấy hiện lên một người bà cần cù, nhẫn nại và giàu đức hi sinh
Dù cho ngôi nhà, túp lều tranh của hai bà cháu đã bị đốt nhẵn, nơi nương thân của hai bà cháu nay
đã khong còn, bà dù có đau khổ thế nào cũng không dám nói ra vì sợ làm đứa cháu bé bong của mình lo buồn Bà cứng rắn, dắt cháu vượt qua mọi khó khăn, bà không đứa con đang bận việc nướcphải lo lắng chuyện nhà Điều đó ta có thể thấy rõ qua lới dặn của bà: “Mày có viết thư chớ kể này
kể nọ / Cứ bảo nhà vẫn đươc bình yên!” Lới dăn của bà nôm na giản dị nhưng chất chứa biết bao tình Gian khổ, thiếu thốn, bao nỗi nhớ thương con bà đều phải nén vào trong lòng để yên lòng người nơi tiền tuyến Hình ảnh người bà không chỉ còn là người bà của riêng cháu mà còn là một biểu tượng rõ nét cho nhữnh người phụ nữa Việt Nam giàu đức hi sinh, thương con qúy cháu Kết thúc khổ thơ, Bằng Việt đã nâng hình ảnh bếp lửa trở thành hình ảnh ngọn, một ngọn lửa:
“Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn,
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng”
Hình ảnh ngọn lửa toả sáng trong câu thơ, nó có sức truyền cảm mạnh mẽ Ngọn lửa của tình yên thương, ngọn lửa của niềm tin, ngọn lửa ấm nồng như tình bà cháu, ngọn lửa đỏ hồng si sáng cho con đường đứa cháu Bà luôn nhắc cháu rằng: nơi nào có ngọn lửa, nơi đó có bà, bà sẽ luôn ở cạnh cháu
Những dòng thơ cuối bài cũng chính là những suy ngẫm về bà và bếp lửa mà nhà thớ muốn gởi tới bạn đọc, qua đó cũng là nh74ngbài học sâu sắc từ công việc nhó, lửa tưởng chừng đơn giản:
“ Nhóm bếp lửa ấp iu, nồng đượm”
Một lấn nữa, hình ảnh bếp lửa “ ấp iu”, “nồng đượm” đã được nhắc lại ở cuối bài thơ như một lầnnữa khẳng định lại cái tình cảm sâu sắc của hai bà cháu
“Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi”
Nhóm lên bếp lửa ấy, người bà đã truyền cho đứa cháu một tình yêu thương những người ruột thịt
và nhắc cháu rằng không bao giờ được quên đi những năm tháng nghĩ tình, những năm tháng khó khăn mà hai bà cháu đã sống vơi nhau, những năm tháng mà hai bà cháu mình cùng chia nhau từng
củ sắn, củ mì
“Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui”
“Nồi xôi gạo mới sẻ chung vui” của bà hay là lời răng dạy cháu luôn phải mở lòng ra với mọi người xung quanh, phải gắn bó với xóm làng, đừng bao giờ có một lối sống ích kỉ
“Nhóm dậy cả những tâm tinh tuổi nhỏ”
Bà không chỉ là người chăm lo cho cháu đấy đủ về vật chất mà c2n là người làm cho tuổi thơ của cháu thêm đẹp th6m huyền ảo như trong truyện Người bà có trái tim nhân hậu, người bà kì diệu
đã nhóm dậy, khơi dậy, giáo dục và thức tỉnh tâm hồn đứa cháu để mai này cháu khôn lớn thành người Người bà kì diệu như vậy ấy, rất giản dị nhưng có một sức mạnh kì diệu tứ trái tim, ta có thểbắt gặp người bà như vậy trong “Tiếng gà trưa” của Xuân Quỳnh:
“Tiếng gà trưa
Mang bao nhiêu hạnh phúc
Trang 7Đêm cháu về nằm mơ
Giờ đây, khi đang ở xa bà nửa vòng trái đất, Bằng Việt vẫn luôn hướng lòng mình về bà:
“Giờ cháu đã đi xa Có ngọn khói trăm tàu
Có lưả trăm nhà, niềm vui trăm ngả
Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở
Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?”
Xa vòng tay chăm chút cuả bà để đến vơí chân trơì mới, chính tình cảm cuả hai bà chaú đã sươỉ
ấm lòng tác giả trong cái muà đông lạnh giá cuả nước Nga Đứa cháu nhỏ cuả bà ngàu xưa giờ đã trưởng thành nhưng trong lòng vần luôn đinh ninh nhớ về góc bếp, nới nắng mưa hai bà cháu có nhau Đưá cháu sẽ không bao giờ quên và chẳng thể nào quên được vì đó chính là nguồn cội, là nơi
mà tuổi thơ cuả đưá chaú đã được nuôi dưỡng để lớn lên từ đó
“ Đọc xong bài thơ, nhắm mắt laị tưởng tưởng, bạn sẽ hình dung thấy ngay hình ảnh bếp lưả hồng
và dáng ngươì bà lặng lẽ ngồi bê Hình ảnh có tính sóng đôi này hiện lên thật sống động, rõ ràng như thể nét khắc, nét chạm vậy ” (Văn Giá) Bài thơ Bếp lưả sẽ sống maĩ trong lòng bạn đọc nhờ sưc truyền cảm sâu sắc cuả nó Bài thơ đã khơi dạy trong lòng chúng ta một tình cảm cao đẹp đối với gia đình, với những ngươì đã tô màu lên tuổi thơ trong sáng cuả ta /./
Cảm nhận về Ánh trăng (Nguyễn Duy)
Trăng- hình ảnh giản dị mà quen thuộc, trong sáng và trữ tình Trăng đã trở thành đề tài thường xuyên xuất hiện trên những trang thơ của các thi sĩ qua bao thời đại Nếu như “ Tĩnh dạ tứ” cũa Lí Bạch tả cảnh đêm trăng sáng tuyệt đẹp gợi lên nỗi niềm nhớ quê hương, “ Vọng nguyệt” của Hồ Chí Minh thể hiện tâm hồn lạc quan, phong thái ung dung và lòng yêu thiên nhiên tha thiết của Bácthì đến với bài thớ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy, chúng ta bắt gặp hình ảnh vầng trăng mang ý nghĩa triết lí sâu sắc.Đó chính là đạo lí “uống nước nhớ nguồn”
Trăng- hình ảnh giản dị mà quen thuộc, trong sáng và trữ tình Trăng đã trở thành đề tài thường xuyên xuất hiện trên những trang thơ của các thi sĩ qua bao thời đại Nếu như “ Tĩnh dạ tứ” cũa Lí Bạch tả cảnh đêm trăng sáng tuyệt đẹp gợi lên nỗi niềm nhớ quê hương, “ Vọng nguyệt” của Hồ Chí Minh thể hiện tâm hồn lạc quan, phong thái ung dung và lòng yêu thiên nhiên tha thiết của Bácthì đến với bài thớ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy, chúng ta bắt gặp hình ảnh vầng trăng mang ý nghĩa triết lí sâu sắc.Đó chính là đạo lí “uống nước nhớ nguồn”
Những sáng tác thơ của Nguyễn Duy sâu lắng và thấn đẫm cái hồn của ca dao, dân ca Việt Nam Thơ ông không cố tìm ra cái mới mà lại khai thác, đi sâu vào cái nghĩa tình muôn đời của người Việt “Ánh trăng” là một bài thơ như vậy.Trăng đối với nhà thơ có ý nghĩa đặïc biệt: đó là vầng trăng tri kỉ, vầng trăng tình nghĩa và vầng trăng thức tỉnh Nó như một hồi chuông cảng tỉnh cho mỗi con người có lối sống quên đi quá khứ
Tác giả đã mở đầu bài thơ với hình ảnh trăng trong kí ức thuổi thơ của nhà thơ và trong chiến tranh:
Trang 8“Hồi nhỏ sống với đồng
với sông rồi với bể
hồi chiến tranh ở rừng
vầng trăng thành tri kỉ”
Hình ảnh vầng trăng đang được trải rộng ra trong cái không gian êm đềm và trong sáng của thuổi thơ Hai câu thơ với vỏn vẹn mười chữ nhưng dường như đã diễn tả một cách khái quát về sự vận động cả cuộc sống con người Mỗi con người sinh ra và lớn lên có nhiều thứ để gắn bó và liên kết Cánh đồng, sông và bể là nhưng nơi chốn cất giữ bao kỉ niệm của một thời ấâu thơ mà khó có thể quên được Cũng chính nới đó, ta bắt gặp hình ảnh vầng trăng Với cách gieo vần lưng “đồng”,
“sông” và điệp từ “ với” đã diễn tả tuổi thơ được đi nhiều, tiếp xúc nhiều và được hưởng hạnh phúcngắm những cảnh đẹp của bãi bồi thiên nhiên cũa tác giả.Tuổi thơ như thế không phải ai cũng có được ! Khi lớn lên, vầng trăng đã tho tác giả vào chiến trường để “chờ giặc tới’.Trăng luôn sát cáchbên người lính, cùng họ trải nghiệm sương gió, vượt qua những đau thương và khốc liệt của bom đạn kẻ thù Người lính hành quân dưới ánh trăng dát vàng con đường, ngủ dưới ánh trăng, và cũng dưới ánh trăng sáng đù, tâm sự của những người lính lại mở ra để vơi đi bớt nỗi cô đơn, nỗi nhớ nhà Trăng đã thật sự trởø thành “tri kỉ” của người lính trong nhưng năm tháng máu lửa
Khổ thơ thứ hai như một lời nhắc nhở về những năm tháng đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước hiền hậu, bình dị Vầng trăng đù, người bạn tri kỉ đó, ngỡ như sẽ không bao giờ quên được:
“Trần trụi với thiên nhiên
hồn nhiên như cây cỏ
ngỡ không bao giờ quên
cái vầng trăng tình nghĩa”
Vần lưng một lần nữa lại xuất hiện: “trần trụi”, “hồn nhiên”, “thiên nhiên” làm cho âm điệu câu thơthêm liền mạch, dường như nguồn cảm xúc cũa tác giả vẫng đang tràn đầy Chính cái hình ảnh so sánh ẩn dụ đã tô đâm lên cái chất trần trụi, cái chất hồn nhiên của người lính trong nhữnh năm tháng ở rừng Cái vầng trăng mộc mạc và giản dị đó là tâm hồn của những người nhà quê, của đồng, của sông của bể và của những người lính hồn nhiên, chân chất ấy Thế rồi cái tâm hồn - vầngtrăng ấy sẽ phài làm quen với môt hoàn cảnh sống hoàn toàn mới mẻ:
“Từ hồi về thành phá
quen ánh điện, cửa gương
vầng trăng đi qua ngõ
như người dưng qua đường”
Thời gian trôi qua cuốn theo mọi thứ như một cơn lốc, chỉ có tình cảm là còn ở lại trong tâm hồn mỗi con người như một ánh dương chói loà Thế nhưng con người không thể kháng cự lại sự thay đổi đó.Người lính năm xưa nay cũng làm quen dần với những thứ xa hoa nơi “ánh điện, cửa
gương” VàØ rồi trong chính sự xa hoa đó, người lính đã quên đi người bạn tri kỉ của mình, người bạn mà tưởng chừng chẳng thể quên được, “người tri kỉ ấy” đi qua ngõ nhà mình nhưng mình lại xem như không quen không biết Phép nhân hoá vầng trăng trong câu thơ thật sự có cái gì đó làm rung động lòng người đoc bởi vì vầng trăng ấy chính là một con người Cũng chính phép nhân hoá
đó làm cho người đọc cảm thương cho một “người bạn” bị chính người bạn thân một thời của mìnhlãng quên Sự ồn ã của phố phường, những công việc mưu sinh và những nhu cầu vật chất thường nhật khác đã lôi kéo con gười ra khỏi những giá trị tinh thần ấy, một phần vô tâm của con người đã lấn át lí trí của người lính, khiến họ trở thành kẻ quay lưng với quá khứ Con người khi được sống đầy đủ về mặt vật chất thì thường hay quên đi những giá trị tinh thần, quên đi cái nền tảng cơ bản
Trang 9củacuộc sống, đó chình là tình cảm con người Nhưng rồi một tình huống bất ngờ xảy ra buộc ngươiø lính phải đối mặt:
“Thình lình đèn điện tắt
phòng buyn -đinh tối om
vội bật tung cửa sổ
đột ngột vầng trăng tròn”
Khi đèn điện tắt, cũng là khi không còn được sống trong cái xa hoa, đầy đủ về vật chất, người lính bỗng phải đối diện với cái thực tại tối tăm Trong cái “thình lình”, “đột ngột” ấy, người lính vôi bật tung cửa sổ và bất ngờ nhận ra một cái gì đó Đó chẳng phải ai xa lạ mà chính là người bạn tri kỉ năm xưa của mình đây hay sao? Con người ấy không hề biết được rằng cái người bạn tri kỉ, tình nghĩa, người bạn đã bị anh ta lãng quên luôn ở ngoài kia để chờ đợi anh ta “Người bạn ấy” không bao giờ bỏ rơi con người, không bao giờ oán giận hay trách móc con người vì họ đã quên đi mình Vầng trăng ấy vẫn rất vị tha và khoan dung, nó cũng sẵn sàng đón nhận tấm lòng của một con người biết sám hối, biết vươn lên hoàn thiện mình Cuộc đời mỗi con người không ai có thể đóan biết trước được Không ai mãi sống trong một cuộc sống yên bình mà không có khó khăn, thử thách Cũng như một dòng sông, đời người là một chuỗi dài với những qunh co, uốn khúc Và chính trong những khúc quanh ấy, những biến cố ấy, con người mới thật sự hiểu được cái gì là quantrọng, cái gì sẽ gắn bó với họ trong suốt hành trình dài và rộng của cuộc đới Dường như người línhtrong bài thơ đã hiểu được điều đó!
Vầng trăng trong khổ thớ thứ ba đã thực sự thức tỉnh con người:
Trang 10mình qua đó, để con người nhận ra mình để thức tỉnh lương tri Con người có thể chối bỏ, có thể lãng quên bất cứ điều gì trong tâm hồn anh ta Nhưng dù gì đi nũa thì những giá trị văn hoá tinh thần của dân tộc cũng luôn vậy bọc và che chởù cho con người.
“Ánh trăng” đã đi vào lòng người đọc bao thế hệ như một lời nhắc nhở đối với mỗi người: Nếu ai
đã lỡ quên đi, đã lỡ đánh mất những giá trị tinh thần qúy giá thì hãy thức tỉnh và tìmlại những giá trị đó còn ai chưa biết coi trọng những giá trị ấy thì hãy nâng niu những kí ức quý giá của mình ngay từ bây giờ, đừng để quá muộn Bài thơ không chỉ hay về mắt nội dung mà cón có những nét đột phá trong nghệ thuật Thể thơ năm chữ được vận dụng sáng tạo, các chữ đầu dòng thơ không viết hoa thể hiện những cảm xúc liền mạch của nhà thơ Nhịp thơ biến ảo rất nhanh, giọng điệu tâmtình dã gấy ấn tượng mạnh trong lòng người đọc/./
Lục Vân Tiên cứu Nguyệt Nga
GIÚP CÁC EM ÔN THI THPT MÔN NGỮ VĂN
Đoạn trích thuộc phần đầu tác phẩm Trên đường đi thi, Lục Vân Tiên thấy dân khóc than bỏ chạy hỏi thăm mới biết bọn cướp đã hoành hành, bắt đi hai người con gái Thấy cảnh bất bình, Vân Tiênnổi giận liền ra tay dẹp bọn cướp cứu người bị nạn
III/Vị trí đoạn trích :
Đoạn trích thuộc phần đầu tác phẩm Trên đường đi thi, Lục Vân Tiên thấy dân khóc than bỏ chạy hỏi thăm mới biết bọn cướp đã hoành hành, bắt đi hai người con gái Thấy cảnh bất bình, Vân Tiênnổi giận liền ra tay dẹp bọn cướp cứu người bị nạn Hai người con gái ấy là Kiều Nguyệt Nga và tì tất Kim Liên
IV/Đọc và hiểu văn bản:
1/Về tính chất tự truyện của tác phẩm:
Đọc tiểu sử tác giả Nguyễn đình Chiểu và Truyện Lục Vân Tiên ta thấy có những yếu tố giống và khác nhau giữa cuộc đời tác giả và nhân vật Lục Vân Tiên
Trước hết là những chi tiết trùng hợp:
-NĐC cũng chẳng khác chi LVT lúc vào đời thật hăm hở và đầy khát vọng, cũng đều lên kinh ứng thí :
“Chí lăm bắn nhạn ven mây,
Danh tôi đặng rạng, tiếng thầy bay xa”
“Làm trai trong cõi người ta,
Trước lo báo bổ sau là hiển vang”
Nhưng cả hai đếu bất hạnh đến khắc nghiệt : Mẹ mất phải bỏ thi về chịu tang, bị đau mắt và sau đó
bị mù Vì thế đã bị bội hôn Nhưng sau đó, họ đều được một cuộc hôn nhân tốt đẹp Nếu Lục Vân Tiên cưới được Kiều Nguyệt Nga thì Nguyễn Đình Chiểu cũng cưới được cô Năm Điền Chính vì thế mà nhiều ý kiến cho rằng LVT là một tự truyện
Tuy nhiên cuộc đời của tác giả và nhân vật cũng có những điểm khác nhau Đó là Vân Tiên được
Trang 11tiên ông cứu cho sáng mắt để sau đó lại tiếp tục đi thi đỗ Trạng nguyện, được vua cử đi dẹp giặc Ô Qua thắng lợi còn cụ Đồ Chiểu thì không như thế Với cụ vĩnh viễn là bóng tối Sự khác biệt đó thể hiện ước mơ và khát vọng của tác giả
2/Về nhân vật Lục Vân Tiên :
Đây là nhân vật lý tưởng của tác phẩm được khắc họa qua một kiểu thức khuôn mẫu thường gặp trong truyện Nôm truyền thống Hình ảnh này cũng giống như hình ảnh Thạch Sanh đánh đại bàng cứu công chúa trong truyện cổ
Hành động đánh giặc cướp cứu người của Lục Vân Tiên cho ta thấy tính cách của chàng Một chàng trai anh hùng, tài năng và giàu nghĩa khí Chỉ một mình, lại không có vũ khí chàng đã dám
bẻ gậy xông vào bọn cướp đông người giáo gươm đầy đủ Hình ảnh Lục Vân Tiên xông xáo tung hoành được nhả thơ miêu tả thật đẹp sánh ngang với hình ảnh Triệu Tử Long – một dũng tướng thời Tam Quốc
“Vân Tiên tả đột hữu xung,
Khác nào Triệu Tử giữa vòng Đương Vương”
Với võ nghệ cao cường, LVT đã đánh tan bọn cướp và diệt tên đầu đảng Phong Lai Hành động củachàng còn tỏ rõ đức độ của người nghĩa hiệp : “Giữa đường thấy sự bất bình chẳng tha” Không sợ nguy hiểm Vân Tiên sẵn sàng vì nghĩa trừ hại cho dân
Đánh xong bọn cướp thấy hai cô gái còn chưa hết hãi hùng Vân Tiên đã ân cần hỏi han, an ủi họ Hành động của chàng thật đàng hoàng, chững chạc Tuy có phần câu nệ nhưng vẫn là phong độ giữ
lễ của một con người có văn hoá trong khi ứng xử với hai người con gái : “ Khoan khoan ngồi đó chớ ra Nàng là phận gái ta là phận trai” Vân Tiên đã từ chối cái lạy trả ơn, từ chối lời mời đền đáp, không nhận trâm vàng trao tặng mà chỉ nhận lời cùng Nguyệt Nga làm thơ xướng hoạ Câu trả lời “Làm ơn há dễ trông người trả ơn” và đặc biệt là câu nói của Vân Tiên “Nhớ câu kiến ngãi bất
vi Làm người thế ấy cũng phi anh hùng” cho thấy chàng là một người trọng nghĩa khinh tài đáng quý
3/Nhân vật Nguyệt Nga:
Đoạn truyện ngoài việc giới thiệu Lục Vân Tiên còn cho ta biết về Kiều Nguyệt Nga biểu hiện qua những lời giải bày của nàng với ân nhân Đó là lời lẽ của một cô gái có giáo dục, có học thức Cáchnói năng của nàng dịu dàng, mực thước và chân thành:
“Trước xe quân tử tạm ngồi,
Xin cho tiện thiếp lậy rồi sẽ thưa
Chút tôi liễu yếu đào thơ,
Giữa đường gặp phải bụi dơ đã phần
Hà Khê qua đó cũng gần,
Xin theo cùng thiếp đền ân cho chàng”
Là một cô gái rất mực đằm thắm ân tình, Nguyệt Nga nhớ ơn và mong muốn đền ơn người đã cứu giúp mình giữ được tiết hạnh: “Lâm nguy chẳng kịp giải nguy Tiết trăm năm cũng bỏ đi một hồi” Nhất là cuối cùng, nàng đã tự nguyện gắn bó cuộc đời mình với cuộc đời chàng trai nghĩa khí ấy vàsẵn sàng liều chết để giữ trọn ân tình chung thủy với người yêu
Suy cho cùng nhân vật Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga chính là hai mặt của một cách sống Một
là làm ơn không cần người khác đền ơn Hai là chịu ơn thì phải nhớ ơn Đó cũng là tính cách sống
có tính truyền thồng tốt đẹp của người Việt Nam chúng ta Một cách sống cần được giữ gìn và phát huy
Trang 124/ Phương thức miêu tả nhân vật trong đoạn truyện :
Trong đoạn truyện này nhân vật được miêu tả chủ yếu qua hành động, cử chỉ, lời nói Do bị mù nênTruyện LVT sáng tác là để đọc truyền miệng Dù các học trò và mọi người có ghi chép lại nhưng nói chung đã lưu truếyn trong nhân gian chủ yếu qua các hình thức nói thơ, kể thơ Cũng vì thế nênkhi mô tả nhân vật tác giả ít chú ý khắc hoạ ngoại hình, cũng ít đi sâu phân tích nội tâm nhân vật Nhân vật trong LVT thường đặt trong những mối quan hệ xã hội, những xung đột của đời sống rồi bằng hành động, cử chỉ, lời nói của mình mà tự bộc lộ tính cách ra
Ngoài ra tác giả cũng tỏ thái độ của mình trong việc ca ngợi hay phê phán nhân vật đó
5/ Ngôn ngữ của tác phẩm qua đoạn trích :
Lời thơ mộc mạc giản dị gần gũi với lời ăn tiếng nói thường ngày và mang đậm sắc thái địa phươngNam bộ Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ kể chuyện tự nhiên ít trau chuốt uyển chuyển nhưng lại dễ đi sâu vào tâm hồn quần chúng nhân dân
Trong đoạn trích này, sắc thái ngôn ngữ đa dạng Lời thơ bình dị chất pghác nhất là trong đoạn đầu,đoạn kế tiếp lời Vân Tiên bất bình, phẩn nộ cùng với lời tên cướp tự phụ hống hách và đoạn đối thoại giữa Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga thì lời thơ mềm mỏng, xúc động chân thành
Ghi nhớ : LVT là một trong những truyện xuất sắc nhất của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu, được lưu truyền trong dân gian Đoạn thơ trích thể hiện khát vọng hành động hành đạo giúp đời của tác giả
và khắc hoạ những phẩm chất tốt đẹp của hai nhân vật chính : Lục Vân Tiên tài ba, dũng cảm, trongnghĩa khinh tài; Kiều Nguyệt Nga hiền hậu, nết na, ân tình chung thủy
Lục Vân Tiên gặp nạn
GIÚP CÁC EM ÔN THI THPT MÔN NGỮ VĂN
Đoạn trích ở phần giữa truyện Nghe tin mẹ mất, Vân Tiên bỏ thi trở về quê chịu tang cùng với tiểu đồng Quá đau đớn chàg đã nhuốm bệnh, bị mù Thi xong, trên đường về, Trịnh Hâm đã gặp thầy trò Vân Tiên Tên phản bạn này đã dụ trói tiểu đồng vào một gốc cây trong rừng, sau đó hắn xô Vân Tiên xuống sông hòng hại chết chàng
I/VỊ TRÍ ĐOẠN TRÍCH:
Đoạn trích ở phần giữa truyện Nghe tin mẹ mất, Vân Tiên bỏ thi trở về quê chịu tang cùng với tiểu đồng Quá đau đớn chàg đã nhuốm bệnh, bị mù Thi xong, trên đường về, Trịnh Hâm đã gặp thầy trò Vân Tiên Tên phản bạn này đã dụ trói tiểu đồng vào một gốc cây trong rừng, sau đó hắn xô Vân Tiên xuống sông hòng hại chết chàng
II/ĐỌC VÀ HIỂU VĂN BẢN
1/Ý chính của đoạn thơ này là sự đối nghịch giữa cái thiện và cái ác Tám câu đầu là hành động tội
ác tàn bạo thể hiện tâm địa độc ác của Trịnh Hâm đối với bạn mình là Lục Vân Tiên Đoạn sau miêu tả việc làm nhân đức của Ngư ông cùng gia đình đã vớt Lục Vân Tiên và chạy chữa cho chàng đồng thời miêu tả cuộc sống lao động trong sạch và nhân cách cao cả đáng kính của ông Ngư
Trang 132/Hành động tội ác của Trịnh Hâm:
Tám câu đấu :
Chỉ trong tám câu thơ tác giả đã nêu ra tâm địa độc ác của Trịnh Hâm Trước cảnh mù loà của Lục Vân Tiên, hắn đã không hề có một chút thương cảm Từng là bạn bè với nhau khi cùng đến trướng thi Giờ gặp lại bạn trong lúc khó khăn, bệnh hoạn lại hết lòng tin cậy : “Tình trước ngãi sau Có thương xin khá giúp nhau phen này” và chính miệng hắn cũng đã khăng khăng : “ Đương cơn hoạn nạn gặp nhau Người lành nỡ bỏ người đau sao đành” Vậy nhưng hắn lại làm ngược lại Một kẻ bất nhân bất nghĩa Hắn đã lừa tiểu đồng vào rừng sâu và trói vào gốc cây bỏ cho thú dữ ăn thịt Hơn thế nữa,, Trịnh Hâm là một kẻ xảo trá Hành động tội ác của hắn không phải là vô tình mà là một âm mưu khá tinh vi đã được hắn hoạch định trước: Đưa Vân Tiên xuống thuyền với lời hứa sẽ đưa về tận nhà, đợi khi tối trời đẩy Vân Tiên xuống sông cho nước cuốn trôi rồi lại giả tiếng kêu trời nhắm lừa mọi người hòng che giấu tội ác của mình Trịnh Hâm là mẫu người tiêu biểu cho cái xấu, cái ác của xã hội lúc đó
Động cơ thủ ác của hắn là gì ? Chẳng quen biết, thù hằn gì, chỉ gắp nhau trên đường đi thi, trong lần uống rượu làm thơ trong quán nhưng chỉ vì thấy Vân tiên đức cao tài giỏi đã sinh lòng đố kỵ, ganh ghét :
“Kiệm, Hâm là đứa so đo,
Thấy Tiên dường ấy âu lo trong lòng
Khoa này Tiên ắt đấu công,
Hâm dầu có đậu cũng không xong rồi”
Chỉ vì dục vọng thấp hèn mà hắn trở nên tàn bạo như thế Nhưng cái ác hiện hình đó không hề làm mất lòng tin nơi con người của nhà thơ Bằng chứng là phần chủ yếu của đoạn trích tác giả đã miêu
tả và ca ngợi tấm lòng nhân hậu và cao thượng đầy chân tình của ông Ngư khi cứu vớt và tận tình chăm sóc Vân Tiên
3/Hình ảnh ông Ngư :
Hình ảnh miêu tả cho thấy gia đình ông Ngư thật đẹp, đẹp từ quan niệm sống đến việc làm nhân đức Thấy người bị nạn ông đã lập tức cứu giúp và cả nhà ông cùng tận tình cứu sống người bị nạn
dù không hề biết họ là ai:
“Ông chài xem thấy vớt ngay lên bờ
Hối con vầy lửa một giờ,
Ông hơ bụng dạ, mụ hơ mặt mày”
Các câu thơ bình dị, tự nhiên trên không những đã kể lại một hành động nhân nghĩa mà còn gợi tả hết mối chân tình của cả gia đình ông Ngư đối với người bị nạn
Cứu sống Vân Tiên, ông còn lưu giữ chàng ở lại gia đình mình Dù gia cảnh ông rất nghèo nhưng ông sẵn lòng đùm bọc kẻ tật nguyền không chốn dựa nương Ông Ngư đã không hề tính toán đến cái ơn cứu mạng mà Vân Tiên không lấy gì báo đáp:
“Ngư rằng : Lòng lão chẳng mơ,
Dốc lòng nhân nghĩa, há chờ trả ơn”
Lời nói ý nghĩa này của ông làm ta nhớ lại lời của Vân Tiên khi cứu Nguyệt Nga “làm ơn há dễ trông người trả ơn”
Không chỉ việc làm, quan niệm sống và cả phong cách sống của ông Ngư cũng rất đẹp : Nghèo mà trong sạch, không màng danh lợi Ông sống ung dung tự do tự tại, kiếm sống bằng chính sức lao động của mình : “Khoẻ quơ chài kéo, mệt quăng câu dầm” Quả là một cuộc sống rất mực thanh
Trang 14cao, vui cùng bầu trời, vui cùng gió trăng sông nước: “ Một bầu trời đất vui thầm ai hay”, “Ngày kia hứng gió, đêm này chơi trăng”
Rất đẹp cả từ hành động đến quan niệm sống Ông Ngư là hình ảnh tiêu biểu của người dân lao động, cho đạo đức cao đẹp và trong sáng của nhân dân
Tóm lại, qua trích đoạn này, ta thấy rõ sự đối lập giữa thiện và ác Thái độ tác giả ở đây cũng rất rõ ràng: Ông hết lòng thương yêu những con người có nhân cách cao thượng như Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga, Ông Ngư … và ông cũng ghét cay ghét đắng những kẻ xấu, kẻ ác như bọn cướp, Trịnh Hâm, Bùi Kiệm… Nhà thơ đã hết lòng tin tưởng nơi nhân dân lao động, những người tuy nghèo khổ nhưng đầy lòng nhân hậu, vị tha, trọng nghĩa khinh tài
Ghi nhớ : đoạn thơ trích nêu lên sự đối lập giữa thiện và ác; giữa nhân cách cao cả và những toan tính thấp hèn, đồng thời thể hiện lòng tin của tác giả đối với người dân lao động Một đoạn thơ giàucảm xúc, khoáng đạt, ngôn ngữ bình dị, dân giả
Hình tượng người lính
trong thơ kháng chiến chống Pháp
Không biết bao mùa thu đã trôi qua kể từ mùa thu Tháng Tám của dân tộc Chiến tranh đã đi qua trên mảnh đất Việt thân yêu, để lại với đời mùa thu nay tươi đẹp của hòa bình, hạnh phúc và để lại với lòng người bao chiến công của những chiến sĩ mùa thu xưa – những mùa thu của cuộc kháng chiến chống Pháp với những con người “chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” Họ đã dựng nên tượng đài bất hủ trong thơ ca về người chiến sĩ Cách mạng
Không biết bao mùa thu đã trôi qua kể từ mùa thu Tháng Tám của dân tộc Chiến tranh đã đi qua trên mảnh đất Việt thân yêu, để lại với đời mùa thu nay tươi đẹp của hòa bình, hạnh phúc và để lại với lòng người bao chiến công của những chiến sĩ mùa thu xưa – những mùa thu của cuộc kháng chiến chống Pháp với những con người “chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” Họ đã dựng nên tượng đài bất hủ trong thơ ca về người chiến sĩ Cách mạng
Kháng chiến bùng nổ, người trai lên đường ra chiến trận theo Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ chủ tịch kính yêu – lời kêu gọi của non sông Lòng người không khỏi luyến tiếc cảnh thanh bình cũ khi bước chân lên đường vào mặt trận Đó là mùa thu Hà Nội đầy lưu luyến :
Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi mùa thu hương cốm mới
Tôi nhớ những ngày thu đã xa
Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Những phố dài xao xác heo may
Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy ( Đất Nước – Nguyễn Đình Thi )
Hay một làng quê Kinh Bắc trù phú, tươi đẹp, nay đã chìm trong máu lửa của quân thù :
Quê hương ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp ( Bên kia sông Đuống – Hoàng Cầm )
Quê hương càng tươi đẹp thì lòng người càng xót xa nhớ tiếc và quyết ra đi để dẹp tan kẻ thù giày xéo quê hương Cảm hứng lãng mạn với khí khái “tráng sĩ” là cảm hứng chủ đạo về hình tượng
Trang 15người lính những ngày đầu cách mạng Người chiến sĩ mang dáng dấp của chàng Kinh Kha năm xưa khi bước chân vào mặt trận :
Thơi hãy lên đường tráng sĩ ơi ?
Quê hương mong đợi đã bao đời
Biên thùy nghe dậy niềm ai ốn
Gươm hận mài chưa ? Khát máu rồi ( Biết gửi đưa ai – báo Vệ Quốc )
Đĩ là tâm trạng của những ngày đầu xung trận cịn vương lại chút mơ mộng của thời thanh bình đã mất
Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng
Hồn mười phương phất phơ cờ đỏ thắm
Rách tả tơi rồi đơi giày vạn dặm
Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa
Mái đầu xanh thề mãi đến khi già
Phơi nắng giĩ hoa ngàn cỏ dại ( Ngày về – Chính Hữu )
Họ đi vào chiến trường với những hình ảnh đẹp nhất, anh dũng nhất và cũng đầy chất lãng mạn nhất :
Tây Tiến đồn binh khơng mọc tĩc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm ( Tây Tiến – Quang Dũng )
Đĩ là hình ảnh người lính Tây Tiến trong cuộc hành quân đầy gian khổ : ăn đĩi, mặc rét, sốt rét đếnxanh da trụi tĩc Người chiến sĩ vơ danh ấy vẫn tiếp bước trên đường với lịng yêu nước khơn nguơi, cho dù cĩ phải nằm lại nơi chiến trường :
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Aùo bào thay chiếu anh về đất
Sơng Mã gầm lên khúc độc hành ( Tây Tiến – Quang Dũng )
Nhưng rồi bom đạn, chết chĩc, chiến tranh ngày càng ác liệt hơn Hiện thực cuộc sống đã khiến cho họ khơng cịn những mơ mộng của ngày đầu nhập ngũ Hình tượng thơ cĩ sự vận động đi từ lãng mạn đến hiện thực Điều đĩ cũng là điều phù hợp với những vận động biến đổi trong tâm hồn người chiến sĩ Như chính Chính Hữu tâm sự : “ Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, là chính trị viên, hằng ngày tơi phải chăm nom chơn cất những đồng đội của tơi đã hy sinh và tơi cĩ nhận xét : bạn tơi, khơng cĩ người nào chết trong động tác nằm ngủ, trong tư thế nghỉ ngơi Họ đều hy sinh trong khi đang bắn, hoặc ơm bộc phá xơng lên Nhận xét này đã trở thành sự day dứt, âm ỉ, nĩ trở thành một vấn đề trách nhiệm Và một lúc nào đĩ, từ trong kỷ niệm, một cách bất ngờ nhất, nĩ đã hiện lên thành những câu trọn vẹn :
Bạn ta đĩ
Chết trên dây thép ba từng
Một bàn tay chưa rời báng súng
Chân lưng chừng nửa bước xung phong
Oâi những con người mỗi khi nằm xuống
Vẫn nằm trong tư thế tiến cơng
Đĩ là hình ảnh đeo đuổi suốt đời tơi về những cái chết, chỉ cĩ tác dụng thơi thúc chúng ta đứng lên” Cĩ lẽ vì vậy mà hình ảnh người chiến sĩ khơng cịn gắn với “bụi trường chinh” và “áo hào hoa” nữa, mà đã trở thành người Vệ quốc quân trong tình đồng chí, đồng đội, cùng chiến đấu vì
Trang 16lịng yêu tổ quốc :
Anh với tơi, đơi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau,
Súng bên súng, đầu gác bên đầu,
Đêm rét chung chăn, thành đơi tri kỷ
Đồng chí ! ( Đồng chí – Chính Hữu )
Từ khắp mọi miền đất nước, những con người yêu nước tụ hội với nhau trong cuộc kháng chiến gian khổ Họ là những thanh niên trí thức Hà thành, lên đường theo tiếng gọi nhập ngũ :
Kháng chiến bùng lên biệt thủ đơ
Lên đường dẻo bước khốc ba lơ ( Tự thuật – Tú Mỡ )
Hay những người nơng dân chân chất, “chưa biết chữ”, “súng bắn chưa quen”, “quân sự mươi bài”.Tất cả người con đất Việt đã đến và chiến đấu vì đất mẹ yêu thương :
Lũ chúng tơi
Bọn người tứ xứ
Gặp nhau hồi chưa biết chữ
Quen nhau từ buổi “một hai”
Súng bắn chưa quen,
Quân sự mươi bài,
Lịng vẫn cười vui kháng chiến ( Nhớ – Hồng Nguyên )
Phần lớn họ ra đi từ những làng quê nghèo khĩ :
Quê hương anh đất mặn đồng chua
Làng tơi nghèo đất cày lên sỏi đá ( Đồng chí – Chính Hữu )
Họ bỏ lại đĩ là cả quãng đời chìm trong đĩi khổ, là cuộc sống nơng thơn đầu tắt mặt tối mà khơng
đủ no :
Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà khơng mặc kệ giĩ lung lay ( Đồng chí – Chính Hữu )
Hay :
Mái lều gianh,
Tiếng mõ đêm trường,
Luống cày đất đỏ
Ít nhiều người vợ trẻ
Mịn chân bên cối gạo canh khuya ( Nhớ – Hồng Nguyên )
Bản thân họ thì thiếu thốn, cực khổ trăm bề, bệnh tật khổ sở :
Anh với tơi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vừng trán đẫm mồ hơi
Aùo anh rách vai
Quần tơi cĩ vài mảnh vá
Miệng cười buốt già
Chân khơng giày ( Đồng chí – Chính Hữu )
Ngay cả đến trang bị họ cũng phải “ Lột sắt đường tàu, Rèn thêm đao kiếm” Từ chỗ nghèo khĩ họ trở thành những người tri kỷ, cùng chung chí hướng “cùng nhau chung sống căm thù giết Tây” Họ chia nhau từng hơi ấm đơi bàn tay ( Thương nhau tay nắm lấy bàn tay ) rồi lại :
Kỳ hộ lưng nhau ngang bờ cát trắng
Quờ chân tìm hơi ấm đêm mưa ( Nhớ – Hồng Nguyên )
Những mất mát của họ thật là to lớn Khơng biết bao nhiêu đồng đội của họ đã lần lượt hy sinh,
Trang 17vĩnh viễn nằm lại chiến trường :
Hôm qua còn theo anh
Đi ra đường quốc lộ
Hôm nay đã chặt cành
Đắp cho người dưới mộ ( Viếng bạn – Hoàng Lộc )
Kể sao cho hết nỗi đau của người chiến sĩ khi hay tin những người thân yêu của mình đã mất dưới bom đạn của kẻ thù Tuy có bi thảm, đau thương, nhưng chính điều đó lại càng tố cáo mạnh mẽ hơntội ác của kẻ thù, càng nung nấu mãnh liệt hơn ý chí “căm thù giặc” nơi người Vệ quốc quân Hình ảnh của những người em gái, những người yêu mãi mãi nằm xuống đi vào thơ ca như những hình ảnh xúc động nhất Đó là người vợ trẻ nơi hậu phương ngã xuống :
Nhưng không chết người trai khói lửa
Mà chết người em nhỏ hậu phương
Tôi về không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới thành bình hương…tàn lạnh vây quanh ( Màu tím hoa sim – Hữu Loan )Hay người em gái chết anh dũng nơi quê nhà :
Mới đến đầu ao, tin sét đánh
Giặt giết em rồi, dưới gốc thông
Giữa đêm bộ đội vây đồn Thứa
Em sống trung thành, chết thủy chung ( Núi đôi – Vũ Cao )
Đó là nỗi căm hận họ đành chôn kín vào lòng :
Ai biến tên em thành liệt sĩ
Bên những hàng bia trắng giữa đồng
Nhớ nhau anh gọi : em, đồng chí
Một tấm lòng trong vạn tấm lòng ( Núi đôi – Vũ Cao )
Những đau thương mất mát đó như tiếp thêm sức mạnh cho họ nơi chiến tuyến để tìm câu trả lời cho những đau thương của họ và cả dân tộc Họ lao vào chiến dịch với thế tiến công như nước vỡ
bờ như Nguyễn Đình Thi kể lại : “Hình ảnh những đoàn dân công tới tấp đến chiến trường, bộ đội
ào ào đi vào chiến dịch gợi lên một cái gì rất mạnh mẽ của không khí tức nước tràn bờ
Súng nổ rung trời giận dữ
Người lên như nước vỡ bờ ( Đất Nước – Nguyễn Đình Thi )
Tôi viết : “Người lên như nước vỡ bờ!” chính là nói đến sức mạnh ấy của quân đội ta, của quần chúng cách mạng” Đó là khí thế hừng hực đấu tranh của những ngày khói lửa :
Những đồng chí, thân chôn làm giá súng
Đầu bịt lỗ châu mai
Băng mình qua núi thép gai
Ào ào vũ bão,
Những đồng chí chè lưng cứu pháo
Nát chân nhắm mắt còn ôm
Những bàn tay xẻ núi, lăn bom
Nhất định, mở đường, cho xe ta lên chiến trường tiếp viện ( Hoan hô chiến sĩ Điện Biên – Tố Hữu )
Những ngày chiến đấu anh dũng đã bộc lộ một cách rực rỡ hình ảnh cao đẹp của người chiến sĩ cụ Hồ: kiên trì vượt qua mọi nguy hiểm, anh dũng quên mình vì nhiệm vụ Càng gian khổ, đau thươngcàng thắp sáng trong họ ngọn lửa nhiệt tình cách mạng, họ vẫn tiếp tục chiến đấu với tâm thế lạc
Trang 18quan, tin tưởng vào thắng lợi trước mắt của dân tộc Hình tượng người lính càng về giai đoạn sau càng tỏa sáng vẻ đẹp của một quân đội trưởng thành về việc quân cũng như càng thể hiện tinh thần
“vì nước quên thân” của anh bộ đội Đó là cuộc sống người lính chịu cực khổ nơi chốn rừng sâu vẫn bám trụ với làng bản, với dân, giữ vững tinh thần của người dân sau khi sự tàn phá của giặc đã
đi qua :
Có đêm gió bấc lạnh lùng
Áo quần rách nát lá dùng che thân
Khó khăn đau ốm muôn phần
Lấy đâu đủ thuốc mặc dần bệnh nguôi
Có phen giặc chạy tơi bời
Rừng sâu đói rét không người hỏi han
Đến nay họ về đây
Giữ vừng miền núi Cấm
Thổ phỉ quét xong rồi
Đồn Tây xa chục dặm
Kiến thiết lại bản xóm
Bị giặc đốt tan tành ( Lên Cấm Sơn – Thôi Hữu )
Sống kham khổ, bệnh tật nhưng họ vẫn vui, vẫn đem lại nhịp sống mới cho làng bản Và họ vẫn lạcquan trên đường hành quân :
Một tiếng chim kêu sáng cả rừng
Lên đường chân lại nối theo chân
Đêm qua đầu chụm, run bên đá
Nay lại cùng mây sưởi nắng hừng ( Từ đêm 19 – Khương Hữu Dụng )
Họ vẫn cùng nhau vui cười rộn rã khi kể chuyện riêng tư Sự lạc quan trở thành bản lĩnh Cách mạng giúp người chiến sĩ vượt lên trên tất cả để chiến thắng :
Đằng nớ vợ chưa !
Đằng nớ ?
Tớ còn chờ độc lập
Cả lũ cười vang bên ruộng bắp
Nhìn o thôn nữ cuối nương dâu ( Nhớ – Hồng Nguyên )
Bên cạnh tình đồng chí, đồng đội thì tình quân dân chính là nguồn nghị lực khiến họ thêm vững bước chiến đấu với quân thù Hình ảnh người lính trở nên gần gũi với đời sống qua tình quân dân, hoàn thành chiến lược của quân đội ta trong công tác dân vận “đi dân nhớ, ở dân thương” Người dân đón tiếp Vệ quốc quân như những người thân đi xa trở về
Bóng tre che mát đường làng
Một hàng quân bước hai hàng người vui ( Quân về – Nguyễn Ngọc Tấn )
Dân làng đón tiếp họ với tấm lòng của người dân nghèo, với “bát nước chè xanh”, đạm bạc, đơn sơ
Trang 19Từ tấm lòng bà mẹ chở che cho bộ đội :
Bầm yêu con, bầm yêu đồng chí
Bầm quý con, bầm quý anh em ( Bầm ơi – Tố Hữu )
Đến sự yêu quý của cô gái :
Nếu không nhận hết bánh này
Các anh cũng nhận một hai cái dùm ( Xếp bánh phồng – Nguyễn Hiêm )
Tất cả tình cảm máu thịt gắn bó đó đã theo các anh trong suốt đường ra mặt trận Hình tượng ngườilính trong thơ kháng chiến thể hiện được vẻ đẹp của cuộc sống Cách mạng đang chuyển biến đi lên.Hình tượng người lính trong thơ kháng chiến chống Pháp là một hình tượng đẹp trong văn học Việt Nam, đó là bước tiếp nối với hình tượng sĩ phu yêu nước trong quá khứ, và là hình tượng mở đầu cho hình tượng chiến sĩ giải phóng quân kiên cường trong cuộc kháng chiến chống Mỹ sau này Đó
là những tượng đài bất hủ của lòng yêu nước và tự hào dân tộc của nhân dân ta Cũng xin mượn hình tượng người lính mà Nguyễn Đình Thi miêu tả làm lời kết cho hình tượng người lính trong cuộc kháng chiến chống Pháp đầy hào hùng của dân tộc : “Những người lính trẻ với gương mặt rất tươi sáng nhiều khi cũng lấm lem bùn đất Họ đi lại với tinh thần xông pha hăng hái, thỉnh thoảng trên gương mặt lại nhoẻn ra một nụ cười Tôi liên tưởng hình ảnh đẹp đó với hình ảnh đất nước Đất nước đang trải qua những cơn thử thách và hình ảnh của đất nước vượt lên từ than bụi lấy bùn
và rạng rỡ ánh sáng mới :
Nước Việt Nam từ trong máu lửa
Rũ bùn đứng dậy sáng lòa “ ( Đất Nước – Nguyễn Đình Thi )
Sang thu (Hữu Thỉnh)
GIÚP CÁC EM ÔN THI THPT MÔN NGỮ VĂN
Có lẽ vì nàng thu “thơ mộng muôn thủa” luôn có xu hướng “rủ rê” ngòi bút theo những lối mòn quen thuộc của truyền thống thơ thu Mà hút theo những con đường dằng đặc đã định hình trước đó
là đến tử lộ của văn chương…
Có lẽ vì nàng thu “thơ mộng muôn thủa” luôn có xu hướng “rủ rê” ngòi bút theo những lối mòn quen thuộc của truyền thống thơ thu Mà hút theo những con đường dằng đặc đã định hình trước đó
là đến tử lộ của văn chương…
Nói về đề tài mùa thu, một tác giả đã nhận định: “Đề tài "Mùa Thu" bao giờ cũng có vẻ là dễ viết.Mùa thu dường như luôn luôn nấp sẵn trong ngòi bút của chúng ta, nhất là những ngòi bút thơ: hễ động bút là mùa thu cứ chực đổ ùa ra trên mặt giấy Tưởng như với đề tài thơ mộng muôn thuở này
có thể dễ dàng chắp bút Chỉ đến khi bắt đầu cầm bút ngồi trước mặt giấy, tôi mới thấy đề tài này thật là khó” Tại sao lại có nghịch lí trong kinh nghiệm của người sáng tác như vậy? Có lẽ vì nàng thu “thơ mộng muôn thủa” luôn có xu hướng “rủ rê” ngòi bút theo những lối mòn quen thuộc của truyền thống thơ thu Mà hút theo những con đường dằng đặc đã định hình trước đó là đến tử lộ củavăn chương…
Sang thu của Hữu Thỉnh xuất hiện khi trước nó đã có rất nhiều bài thơ nổi tiếng đông tây kim cổ: Thu hứng (Đỗ Phủ), Chùm thơ thu (Nguyễn Khuyến), Đây mùa thu tới (Xuân Diệu)… Nhưng nó vẫn có cái hay, cái độc đáo riêng của một hồn thơ sâu lắng, nhạy cảm khi mùa thu tới
Ngay từ tiêu đề, tác giả đã tự xác định một thời điểm miêu tả: thời điểm giao mùa Đó không phải
là chính thu, khi bầu trời xanh ngắt lơ lửng những tầng cao, không phải cuối thu, khi nắng trời đã
Trang 20nhuộm đỏ lá bàng, hay khi cái rét mùa đông đã lẩn vào trong gió…Sang thu nghĩa là mới chớm thu thôi, cái tứ kết buộc hệ thống hình ảnh trong bài cũng chỉ gói gọn trong chút “chớm” mỏng manh
đó
Đặc biệt ở góc độ miêu tả tạo vật Không hề có một từ định tính để miêu tả thế giới thu Có
hương ổi, mùi hương vừa đặc trưng cho mùa vừa đặc trưng cho làng thôn ngõ xóm Nhưng hương
ổi “thơm” như thế nào thì thi sĩ hoàn toàn không miêu tả Có gió, nhưng gió se chứ không phải là gió lạnh Se gợi một động thái, hơn là gợi một cảm giác Làn sương giăng phủ ngõ thôn chẳng được đặc tả ở mức độ (mù mịt) hay màu sắc (trắng mờ) Dòng sông, cánh chim, hay đám mây cũng không tô điểm cho phong cảnh thu bằng những gam màu đặc trưng của nó Truyền thống thơ thường kiến trúc ngôi nhà thu bằng những chất liệu quen thuộc như cúc, liễu, ngô đồng hay màu trời, sắc nước…Hữu Thỉnh hầu như khơi gợi cảm giác về mùa trong trạng thái mơ hồ của tạo vật Thành công nổi bật nhất của bài cũng là ở một hệ thống những động từ miêu tả rất giàu cảm giác:
“phả”, “se”, “chùng chình” “dềnh dàng” “bắt đầu vội vã” “vắt nửa mình”… “Chùng chình” trước hết gợi tả chính xác những làn sương như ngưng lại và nhẹ nhàng tỏa lan ngõ xóm Dòng nước thu vốn trong trẻo và sâu hút làm người ta khó mà thấy rõ được sự chuyển động nó nên cảm giác sông lững lờ trôi cũng rất hiện thực Đám mây như tấm khoăn voan của người thiếu nữ, duyên dáng nối hai mùa là một liên tưởng thực sự độc đáo Song trên hết, hệ thống động từ toàn bài còn đặc sắc ở chỗ, nó không chỉ miêu tả chính xác trạng thái của tạo vật mà còn thổi vào tạo vật những cảm giác rất người Tinh tế và sống động sao một buổi sáng chớm thu, sương như người khách ngập ngừng nơi đầu ngõ, gió se lại bởi chút lạnh xa xăm, những cánh chim vội vã tìm về phương ấm áp…
Song thời điểm chớm thu không phải chỉ hiển hiện ở những dấu hiệu mơ hồ trong trạng thái biến chuyển của cảnh vật, mà ở cả chút ngỡ ngàng bâng khuâng của lòng người: “Bỗng nhận ra hương ổi”; “Hình như thu đã về”…
Tiếp tục thể hiện những dấu hiệu mùa thu rõ rệt hơn nhưng ý nghĩa của khổ cuối không chỉ dừng lại ở đó:
Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi
Con người cảm thấy biết bao biểu hiện khác biệt của thời tiết khi mùa thu tới: mưa và sấm thưa dần, không còn dữ dội nữa Sang thu, tất cả các dấu hiệu của mùa hạ vẫn còn nhưng đã giảm dần mức độ, cường độ… Hàng cây như đã quá quen với nắng lửa mưa giông, được gọi một cách hình ảnh là “hàng cây đứng tuổi” Chính các từ “bất ngờ”, “đứng tuổi” khiến ý nghĩa của câu thơ không dừng lại ở nét nghĩa tả thực mà có chiều sâu hơn Nắng, mưa, sấm chớp… hay là những vang động của cuộc đời? Trong tương quan ấy, hàng cây tượng trưng cho con người từng trải mà bao dâu bể biến đổi không còn đáng ngạc nhiên Cảnh như sâu lắng hơn bởi liên tưởng suy tư về mùa thu đời người
Không hiểu sao, khi đọc bài thơ này, tôi chợt thấy nhớ rất nhiều những năm tháng đã qua của mình.Miền kí ức tuổi thơ được đánh thức bởi mùi hương ổi, bởi ngõ xóm thân quen ấy Và có lẽ cũng nhờ giọng điệu êm nhẹ dễ cuốn người đọc vào dòng cảm xúc, suy nghĩ tự nhiên của tác giả Nét
Trang 21độc đáo nhất của bài là những hình ảnh chính xác và giàu sức gợi tạo nên một bức tranh thu giản dị
mà sống động Đây xứng đáng là một bài thơ thu hay trong thế giới thi ca!
Mùa xuân nho nhỏ (Thanh Hải)
GIÚP CÁC EM ÔN THI THPT MÔN NGỮ VĂN
Phân tích tác phẩm Mùa xuân nho nhỏ (Thanh Hải)
* Yêu cầu về kỹ năng, phương pháp
- Học sinh cần nắm vững phương pháp, kỹ năng phân tích tác phẩm trữ tình
- Bài viết có bố cục cân đối, hợp lý Diễn đạt trôi chảy, có hình ảnh, bộc lộ cảm xúc Biết sử dụng hiệu quả các thao tác bình, so sánh đối chiếu trong quá trình phân tích
- Phải có phần phát biểu cảm nghĩ: Bài thơ gợi cho em những suy nghĩ gì về một lối sống đẹp, sống
có ích ?
Tuy nhiên thí sinh có hai cách giải quyết: Các em có thể lồng suy nghĩ của mình khi phân tích ý thơ: Mùa xuân và tâm niệm của nhà thơ; hay các em có thể chuyển thành một phần riêng sau khi đãphân tích toàn bộ bài thơ
* Yêu cầu về nội dung:
Nội dung chính: Bài thơ được viết tháng 11.1980, khoảng 1 tháng sau thì nhà thơ qua đời Bài thơ
là khúc ca xuân, là tấm lòng tha thiết, gắn bó của Thanh Hải đối với đất nước, cách mạng
Các em có thể dựa vào 3 ý sau để phân tích:
1/ Mùa xuân của thiên nhiên, đất trời:
- Miêu tả theo lối phác hoạ nhưng nhà thơ vẽ ra được cả không gian gợi cảm vô cùng, màu sắc tươi thắm, âm thanh vang vọng rộn ràng, tươi vui
- Cảm xúc say sưa ngây ngất của nhà thơ được diễn tả đa dạng và tập trung nhiều ở chi tiết tạo hình
“Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng”
2/ Mùa xuân của đất nước và cách mạng: Từ mùa xuân của thiên nhiên chuyển sang cảm nhận về mùa xuân đất nước, cách mạng với hình ảnh “lộc non” gắn liền với hình ảnh người chiến sĩ và người nông dân đều trào dâng sức sống mãnh liệt, tự tin với tương lai xán lạn rộng mở (Đất nước như vì sao )
3/ Tâm niệm của nhà thơ:
- Nhà thơ khéo chọn vẻ đẹp của thiên nhiên để thể hiện vẻ đẹp tâm hồn, ước nguyện nung nấu của chính mình Đấy cũng là những hình ảnh đơn sơ, nhỏ bé (con chim hót, một nhành hoa, nốt trầm ) nhưng giàu sức gợi, thể hiện vẻ đẹp cao quý của tâm hồn, lối sống của con người cách mạng Và nghệ thuật điệp ngữ, sự chuyển đổi đại từ “tôi” sang “ta” cũng góp phần làm sáng tỏ nội dung, ý nghĩa bài thơ
-“Mùa xuân nho nhỏ” là một ý thơ hay, vừa thể hiện sự khiêm tốn đồng thời cũng là ý nguyện đượcsống có ích được cống hiến một phần công sức nhiệt huyết của mình trong việc làm nên mùa xuân rộng lớn của đất nước xã hội
- Đoạn kết bài thơ nghe nhẹ nhàng lan tỏa mà sâu lắng bởi làn điệu dân ca xứ Huế, tỏ rõ niềm tin
Trang 22yêu lạc quan của Thanh Hải - người con xứ Huế.
4 Phát biểu nhận thức, suy nghĩ của bản thân:
* Gợi ý:
- Lối sống đẹp là biết phục vụ, cống hiến, hy sinh vì người khác, vì đồng bào, vì quê hương đất nước thân yêu
- Sống có mục đích, ước mơ, lý tưởng cao đẹp
- Luôn trau dồi tri thức, rèn luyện nhân cách, đạo đức để trở thành công dân tốt, có ích cho quê hương đất nước
- Tuổi trẻ cần tránh xa những tệ nạn xã hội, đến với những hoạt động vui chơi lành mạnh, bổ ích
vv và vv
Anh thanh niên (Lặng lẽ Sa Pa)
Giúp các em ôn thi THPT môn Ngữ văn
Phân tích những phẩm chất cao đẹp, đáng quý ở anh thanh niên
Phân tích những phẩm chất cao đẹp, đáng quý ở anh thanh niên
Anh thanh niên có những suy nghĩ và quan niệm đúng đắn về công việc và cuộc sống
+ Công việc là niềm vui, niềm đam mê cháy bỏng
+ Cuộc sống chỉ có ý nghĩa khi mang lại niềm vui, hạnh phúc cho mọi người
Anh thanh niên có những hành động cao đẹp
+ Vượt qua mọi khó khăn thử thách để làm quen với cuộc sống chỉ có một mình trên đỉnh núi Yên Sơn cao 2.600 m
+ Dồn tất cả thời gian công sức, tự nguyện tự giác hoàn thành xuất sắc công việc vốn hết sức vất vả
và đơn điệu
Anh thanh niên có phong cách sống rất đáng quý, đáng trân trọng
+ Tổ chức cuộc sống ngăn nắp, khoa học, phong phú cả về vật chất và tinh thần
+ Khiêm tốn, cởi mở, chân thành với mọi người
Đánh giá nhân vật, phát biểu cảm nghĩ
Nhân vật anh thanh niên tiêu biểu cho những con người lao động mới, sống có lý tưởng, vô tư, lặngthầm, cống hiến hết mình cho đất nước
Nhân vật anh thanh niên giúp ta hiểu thêm về thế hệ cha anh đi trước trong một giai đoạn lịch sử của dân tộc
Trân trọng, khâm phục những nhân vật đáng quý, đáng mến trong “Lặng lẽ Sa Pa”, ta nghĩ tới tráchnhiệm, hành động của thanh niên chúng ta trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước thời kỳ đổi mới
Ẩn dụ và hoán dụ
Giúp các em ôn thi THPT môn Ngữ văn
Có hai phương thức chuyển nghĩa phổ biến
Trang 23Có hai phương thức chuyển nghĩa phổ biến:
3.1 Phương thức ẩn dụ:
Là phương thức lấy tên gọi A của sự vật a để gọi tên các sự vật b,c,d vì giữa a,b,c,d có điểm giống nhau Hay nói cách khác, ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa dựa vào quy luật liên tưởng tương đồng
* Có 2 hình thức chuyển nghĩa:
- Dùng cái cụ thể để nói cái cụ thể (ẩn dụ cụ thể - cụ thể)
- Dùng cái cụ thể để gọi tên những cái trừu tượng (ẩn dụ cụ thể - trừu tượng)
* Một số cơ chế chuyển nghĩa của phương thức ẩn dụ thường thấy:
- Dựa vào sự giống nhau về hình thức giữa các sự vật, hiện tượng
- Dựa vào sự giống nhau về vị trí giữa các sự vật, hiện tượng
- Dựa vào sự giống nhau về cách thức thực hiện giữa hai hoạt động
- Dựa vào sự giống nhau về chức năng giữa các sự vật, hiện tượng
- Dựa vào sự giống nhau về tính chất, trạng thái hoặc kết quả giữa các đối tượng
là phương thức chuyển nghĩa dựa vào quy luật liên tưởng tiếp cận
* Các dạng chuyển nghĩa theo phương thức hoán dụ:
a Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa bộ phận và toàn thể Dạng chuyển nghĩa này có các cơ chế
chuyển nghĩa cụ thể sau:
- Lấy tên gọi của một bộ phận cơ thể gọi tên cho người hay cho cả toàn thể
Trang 24- Lấy tên gọi của tiếng kêu, đặc điểm hình dáng của đối tượng gọi tên cho đối tượng
- Lấy tên gọi của đơn vị thời gian nhỏ gọi tên cho đơn vị thời gian lớn
- Lấy tên gọi của toàn bộ gọi tên cho bộ phận
b Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa vật chứa và vật bị chứa hay lượng vật chất được chứa
c Lấy tên nguyên liệu gọi tên cho hoạt động hoặc sản phẩm được chế ra từ nguyên liệu đó
d Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa đồ dùng hoặc dụng cụ và người sử dụng hoặc ngành hoạt động sửdụng dụng cụ đó
e Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa cơ quan chức năng và chức năng
f Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa tư thế cụ thể và hành vi hoặc trạng thái tâm - sinh lí đi kèm
g Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa tác giả hoặc địa phương và tác phẩm hoặc sản phẩm của họ hoặc ngược lại
Tóm lại, mỗi sự vật, hiện tượng có quan hệ với nhiều sự vật, hiện tượng khác chung quanh, do đó
có thể có rất nhiều dạng hoán dụ Vấn đề quan trọng cần chú ý là cần phải biết lựa chọn quan hệ nào là cơ bản để chuyển đổi tên gọi
* Mối quan hệ giữa ẩn dụ và hoán dụ:
- Giống:
+ Bản chất cùng là sự chuyển đổi tên gọi
+ Cùng dựa trên quy luật liên tưởng
- Khác:
+ Cơ sở liên tưởng khác nhau:
ẩn dụ dựa vào sự liên tưởng tương đồng Do đó, trong trường hợp này sự vật chuyển đổi tên gọi và
sự vật được chuyển đổi tên gọi thường khác phạm trù hoàn toàn Do đó, ta có thể nói ẩn dụ mang nhiều sắc thái chủ quan hơn
Hoán dụ dựa vào sự liên tưởng tiếp cận Mối quan hệ giữa sự vật chuyển đổi tên gọi và sự vật đượcchuyển đổi tên gọi là có thật, chứ không hoàn toàn tùy thuộc vào sự suy luận chủ quan của con người Do đó hoán dụ mang nhiều tính khách quan hơn
Trang 25* Nhận xét:
- Một từ có thể được chuyển nghĩa theo nhiều phương thức
- Các từ có ý nghĩa biểu vật cùng một phạm vi hoặc có ý nghĩa biểu niệm cùng một cấu trúc thì sự chuyển nghĩa thường theo cùng một hướng
- ẩn dụ và hoán dụ tồn tại ở bình diện ngôn ngữ lẫn lời nói, tuy nhiên sự chuyển nghĩa của hai bình diện này khác nhau Cần phân biệt ẩn dụ và hoán dụ tu từ với ẩn dụ và hoán dụ từ vựng
+ ẩn dụ và hoán dụ tu từ được sử dụng nhằm giúp cho sự diễn đạt tăng tính hình ảnh, biểu cảm, chứkhông có tác dụng tạo nghĩa mới nhằm làm giàu cho hệ thống ngữ nghĩa của ngôn ngữ dân tộc ẩn
dụ và hoán dụ tu từ là sự sáng tạo của cá nhân do đó nghĩa tu từ mang tính tạm thời, lệ thuộc hoàn toàn vào văn cảnh, tách khỏi văn cảnh, nghĩa tu từ biến mất
+ ẩn dụ và hoán dụ từ vựng có tác dụng tạo nghĩa mới cho hệ thống từ vựng - ngữ nghĩa của dân tộc, do đó sự chuyển nghĩa đó là sản phẩm của toàn dân, được cố định hóa trong kho từ vựng tiếng Việt, được ghi vào từ diển như một nghĩa sẵn có, được tái dụng một cách tự do trong lời nói
Đề thi môn Ngữ văn 2
ĐỀ THI TUYỂN SINH THPT NĂM HỌC 2007 - 2008
Đề thi môn Ngữ văn thành phố Hà Nội
Phần I (7 điểm)
Cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh là nguồn cảm hứng vô tận cho sáng tạo nghệ thuật Mở đầu tác phẩm của mình, một nhà thơ viết:
Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác
Và sau đó, tác giả thấy:
Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim!
Câu 1: Những câu thơ trên trích trong tác phẩm nào? Nêu tên tác giả và hoàn cảnh ra đời của bài
Trang 26thơ ấy.
Câu 2: Từ những câu đã dẫn kết hợp với những hiểu biết của em về bài thơ, hãy cho biết cảm xúc trong bài được biểu hiện theo trình tự nào? Sự thật là Người đã ra đi nhưng vì sao nhà thơ vẫn dùng
từ thăm và cụm từ giấc ngủ bình yên?
Câu 3: Dựa vào khổ thơ trên, hãy viết một đoạn văn khoảng 10 câu theo phép lập luận quy nạp (có
sử dụng phép lặp và có một câu chứa thành phần phụ chú) để làm rõ lòng kính yêu và niềm xót thương vô hạn của tác giả đối với Bác khi vào trong lăng
Câu 4: Trăng là hình ảnh xuất hiện nhiều trong thi ca Hãy chép chính xác một câu thơ khác đã học
có hình ảnh trăng và ghi rõ tên tác giả, tác phẩm
Phần II (3 điểm)
Từ một truyện dân gian, bằng tài năng và sự cảm thương sâu sắc, Nguyễn Dữ đã viết thành Chuyệnngười con gái Nam Xương Đây là một trong những truyện hay nhất được rút từ tập Truyền kì mạn lục
Câu 1: Giải thích ý nghĩa nhan đề Truyền kì mạn lục
Câu 2: Trong Chuyện người con gái Nam Xương, lúc vắng chồng, Vũ Nương hay đùa con, chỉ vào bóng mình mà bảo là cha Đản Chi tiết đó đã nói lên điều gì ở nhân vật này? Việc tác giả đưa vào cuối truyện yếu tố kỳ ảo nói về sự trở về chốc lát của Vũ Nương có làm cho tính bi kịch của tác phẩm mất đi không? Vì sao?
Đề văn tự luận
GIÚP CÁC EM ÔN THI THPT MÔN NGỮ VĂN
Như chúng ta biết phần tự luận trong một bài kiểm tra chiếm tỷ lệ điểm rất cao (từ 5 đến 8 điểm /10)
Như chúng ta biết phần tự luận trong một bài kiểm tra chiếm tỷ lệ điểm rất cao (từ 5 đến 8 điểm /10) Phần này nhằm kiểm tra những kiến thức và kỹ năng Ngữ văn mà phần trắc nghiệm khó thực hiện được Đó là năng lực cảm thụ, phân tích tác phẩm văn học; là kỹ năng viết, diễn đạt và huy động kiến thức ; là kỹ năng tóm tắt văn bản Để kiểm tra được toàn diện hơn kiến thức và kỹ năng trên, đề văn trong phần tự luận thường có hai, ba câu với số điểm khác nhau Sau đây xin giới thiệuvới các em một số dạng cụ thể
Dạng 1 : Yêu cầu HS tóm tắt một văn bản đã học nào đó, ví dụ : Hãy tóm tắt truyện ngắn Làng của Kim Lân (hoặc Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long)
Dạng 2 : Nêu hệ thống nhân vật, đề tài, chủ đề của một tác phẩm nào đó Chẳng hạn: Tác phẩm LãoHạc của Nam Cao có những nhân vật nào? Nhân vật chính là ai? Hoặc: tác phẩm Những ngôi sao
xa xôi của Lê Minh Khuê viết về vấn đề gì ? Chủ đề của tác phẩm này là gì ?
Dạng 3 : Thuyết minh về một tác phẩm, tác giả, một thể loại văn học Chẳng hạn: Hãy giới thiệu