1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ôn Tập ĐỀ CƯƠNG văn 11, kì 2

81 575 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 365,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lí tưởng tiến bộ ấy đã tạo cho nhân vật trữ tình trong bài thơ một tầm vóc lớn lao, một tư thế hiên ngang, ngạo nghễ thách thức với càn khôn.Hai câu thực thể hiện ý thức về trách nhiệm c

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG NGHỊ LUẬN VĂN HỌC KHỐI 11

Kì 2

NHỮNG BÀI TRỌNG TÂM CẦN ÔN TẬP

1.Lưu biệt khi xuất dương

2.Nghĩa của câu

7.Đặc điểm loại hình của tiếng Việt

8.Thao tác lập luận bình luận

Những bài còn lại, khả năng thi thấp, các em tự ôn Phần văn học nước ngoài ít khi thihọc kì

Lưu ý : Những bài văn phân tích tác phẩm chỉ mang tính tham khảo nhé

LƯU BIỆT KHI XUẤT DƯƠNG

Bài này có 2 dạng đề thi :

Dạng 1 : Cảm nhận ( phân tích) bài thơ

Dạng 2 : Nghị luận ý kiến bàn về bài thơ

Trang 2

Dạng 3 : Dạng đề tích hợp nghị luận xã hội, tức là phân tích bài thơ và liên hệ thực tế.

CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP THAM KHẢO

Câu 1 : Cảm nhận của anh/ chị về bài thơ

Bài viết tham khảo trên internet :

Phan Bội Châu là một trong những chí sĩ yêu nước đầu tiên mở ra con đường cho

sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc theo khuynh hướng dân chủ tư sản Mặc dù

sự nghiệp không thành, nhưng ông mãi mãi là tấm gương sáng chói về lòng yêu nước thiết tha và ý chí đấu tranh kiên cường, bất khuất

Sinh thời, Phan Bội Châu không coi văn chương là mục đích của cuộc đời mình nhưng trong quá trình hoạt động cách mạng, ông đã chủ động nắm lấy thứ vũ khí tinh thần sắc bén ấy để tuyên truyền, cổ động, khích lệ tinh thần yêu nước của đồng bào ta Năng khiếu văn chương, bầu nhiệt huyết sôi sục cùng sự từng trải trong bước đường cách mạng là cơ sở để Phan Bội Châu trở thành một nhà văn, nhà thơ lớn với những tác phẩm xuất sắc như: Việt Nam vong quốc sử (1905), Hải ngoại huyết thư (1906), Ngục trung thư (1914), Trùng Quang tâm sử (1913 -1917), Phan Bội Châu niên biểu (1929)…

Năm 1904, ông cùng các đồng, chí của mình lập ra Duy Tân hội Năm 1905, hội chủ trương phong trào Đông Du, đưa thanh niên ưu tú sang Nhật Bản học tập để chuẩn bị lực lượng nòng cốt cho cách mạng và tranh thủ sự giúp đỡ của các thế lực bên ngoài Trước lúc lên đường, Phan Bội Châu làm bài thơ Xuất dương lưu biệt để

Trang 3

Làm trai phải lạ ở trên đời,

Há để càn khôn tự chuyển dời

Câu thơ chữ Hán: Sinh vi nam tử yếu hi kì Hai từ hi kì có nghĩa là hiếm, lạ, khác thường cần được hiểu như những từ nói về tính chất lớn lao, trọng đại, kì vĩ của công việc mà kẻ làm trai phải gánh vác Đây cũng là lí tưởng nhân sinh của các nhà Nho thời phong kiến Trước Phan Bội Châu, nhiều người đã đề cập đến chí làm trai trong thơ ca Phạm Ngũ Lão đời Trần từng băn khoăn: Công danh nam tử còn vương nợ, Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu (Tỏ lòng) Trong bài Đi thi tự vịnh, Nguyễn Công Trứ khẳng định: Đã mang tiếng ở trong trời đất, Phải có danh gì với núi sông… và nhấn mạnh: Chí làm trai nam, bắc, tây, đông, Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể (Chí khí anh hùng)

Chí làm trai của Phan Bội Châu thuyết phục thế hệ trẻ thời bấy giờ ở sự táo bạo, quyết liệt và cảm hứng lãng mạn nhiệt thành bay bổng Với ông, làm trai là phải làm được những điều lạ, tức những việc hiển hách phi thường Câu thơ thứ nhất khẳng định điều đó Câu thơ thứ hai mang ngữ điệu cảm thán bổ sung cho ý của câuthứ nhất: Kẻ làm trai phải can dự vào việc xoay chuyển càn khôn, biến đổi thời thế chứ không phải chỉ giương mắt ngồi nhìn thời cuộc đổi thay, an phận thủ thường, chấp nhận mình là kẻ đứng ngoài Thực ra, đây là sự tiếp nối khát vọng của nhân vật trữ tình trong bài Chơi xuân: Giang sơn còn tô vẽ mặt nam nhi, Sinh thời thế phải xoay nên thời thế Chân dung nhân vật trữ tình trong bài Lưu biệt khi xuất dương hiện lên khá rõ qua hai câu đề Đó là một con người mang tầm vóc vũ trụ, tự

ý thức rằng mình phải có trách nhiệm gánh vác những trọng trách lớn lao Con người ấy dám đối mặt với cả càn khôn, vũ trụ để tự khẳng định mình Chí làm trai của Phan Bội Châu đã vượt hẳn lên trên cái mộng công danh xưa nay thường gắn liền với tam cương, ngũ thường của Nho giáo để vươn tới lí tưởng xã hội rộng lớn

và cao cả hơn nhiều

Cảm hứng và ý tưởng đó phần nào xuất phát từ lí tưởng trí quân, trạch dân của các nhà Nho thuở trước nhưng tiến bộ hơn vì mang tính chất cách mạng Theo quy luật, con tạo xoay vần vốn là lẽ thường tình, nhưng Phan Bội Châu ôm ấp khát vọng chủ

Trang 4

động xoay chuyển càn khôn, chứ không để cho nó tự chuyển vần Cũng có nghĩa là ông không chịu khuất phục trước số phận, trước hoàn cảnh Lí tưởng tiến bộ ấy đã tạo cho nhân vật trữ tình trong bài thơ một tầm vóc lớn lao, một tư thế hiên ngang, ngạo nghễ thách thức với càn khôn.

Hai câu thực thể hiện ý thức về trách nhiệm cá nhân của nhà thơ, cũng là nhà cách mạng tiên phong trước cuộc đời:

Trong khoảng trăm năm cần có tớ,

Sau này muôn thuở, há không ai ?

Câu thứ ba không chỉ đơn giản xác nhận sự có mặt của nhân vật trữ tình ở trên đời

mà còn hàm chứa một tâm niệm: Sự hiện diện của ta không phải là một sự kiện ngẫu nhiên, vô ích; vì vậy, ta phải làm một việc gì đó lớn lao, hữu ích cho đời Câu thứ tư có nghĩa là ngàn năm sau, lẽ nào, chẳng có người nối tiếp công việc của người đi trước “Cái tôi công dân” của tác giả đã được đặt ra giữa giới hạn trăm năm của đời người và ngàn năm của lịch sử Sự khẳng định cần có tớ không phải với mục đích hưởng lạc mà là để cống hiến cho đáng mặt nam nhi và lưu danh hậu thế Câu hỏi tu từ cũng là một cách khẳng định mãnh liệt hơn khát khao cống hiến

và nhận thức đúng đắn của tác giả: Lịch sử là một dòng chảy liên tục, cần có sự gópmặt và gánh vác của nhiều thế hệ nối tiếp nhau Trong bốn câu thơ đầu, những hình ảnh kì vĩ của thiên nhiên như càn khôn, trăm năm, muôn thuở đã thể hiện cảm hứnglãng mạn bay bổng, chính là cội nguồn sức mạnh niềm tin của nhân vật trữ tình

Ở những năm đầu thế kỉ XX, sau thất bại liên tiếp của các cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp, một nỗi bi quan, thất vọng đè nặng lên tâm hồn những người Việt Nam yêu nước Tâm lí an phận thủ thường lan rộng Trước tình hình đó, bài thơ Lưu biệt khi xuất dương có ý nghĩa như một hồi chuông thức tỉnh lòng yêu nước, động viên mọi người đứng lên chống giặc ngoại xâm

Trong hai câu luận, Phan Bội Châu đặt chí làm trai vào hoàn cảnh thực tế của lịch

sử đương thời:

Non sông đã chết, sống thêm nhục,

Trang 5

Hiền thánh còn đâu học cũng hoài.

Lẽ nhục – vinh mà tác giả đặt ra gắn liền với sự tồn vong của đất nước và dân tộc: Non sông đã chết, sống thêm nhục Ý nghĩa của nó đồng nhất với quan điểm : Chết vinh còn hơn sống nhục trong thơ văn yêu nước Nguyễn Đình Chiểu cuối thế kỉ XIX

Câu thơ thứ 5 bày tỏ một thái độ dứt khoát, được thể hiện bằng ngôn ngữ đậm khẩu khí anh hùng, bằng sự đối lập giữa sống và chết Đó là khí tiết cương cường, bất khuất của những con người không cam chịu cuộc đời nô lệ tủi nhục Ý thơ mới mẻ mang tính chất cách mạng Ở câu thứ 6, Phan Bội Châu đã thẳng thắn bày tỏ ý kiến trước một thực tế chua xót là ảnh hưởng của nền giáo dục Nho giáo đối với tình cảnh nước nhà lúc bấy giờ Sách vở thánh hiền chẳng giúp ích được gì trong buổi nước mất nhà tan Cho nên nếu cứ khư khư theo đuổi thì chỉ hoài công vô ích mà thôi Tất nhiên, Phan Bội Châu chưa hoàn toàn phủ nhận cả nền học vấn Nho giáo, nhưng đưa ra một nhận định như thế thì quả là táo bạo đối với một người từng là đệ

tử của chốn cửa Khổng sân Trình Dũng khí và nhận thức sáng suốt đó trước hết bắtnguồn từ lòng yêu nước thiết tha và khát vọng cháy bỏng muốn tìm ra con đường đimới để đưa nước nhà thoát khỏi cảnh nô lệ lầm than Phan Bội Châu cho rằng nhiệm vụ thiết thực trước mắt là cứu nước cứu dân, là Duy tân, tức là học hỏi những

tư tưởng cách mạng mới mẻ và tiến bộ Bài thơ không đơn thuần là chỉ để bày tỏ ý chí mà thực sự là một cuộc lên đường của nhân vật trữ tình:

Muốn vượt bể Đông theo cánh gió,

Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi

Các hình ảnh kì vĩ trong hai câu kết mang tầm vũ trụ: bể Đông, cánh gió, muôn trùng sóng bạc Tất cả như hòa nhập làm một với con người trong tư thế bay lên.Trong nguyên tác, hai câu 7 và 8 liên kết với nhau để hoàn chỉnh một tứ thơ đẹp: Con người đuổi theo ngọn gió lớn qua biển Đông, cả vũ trụ bao la Muôn lớp sóng bạc cùng bay lên (Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi) Tất cả tạo thành một bức tranhhoành tráng mà con người là trung tâm được chắp cánh bởi khát vọng lớn lao, bay

Trang 6

bổng lên trên thực tại tối tăm khắc nghiệt, lồng lộng giữa trời biển mênh mông Bêndưới đôi cánh đại bàng đó là muôn trùng sóng bạc dâng cao, bọt tung trắng xóa, dường như muốn tiếp sức cho con người bay thẳng tới chân trời mơ ước Hình ảnh đậm chất sử thi này đã thắp sáng niềm tin và hi vọng cho một thế hệ mới trong thời đại mới.

Thực tế thì cuộc ra đi của Phan Bội Châu là một cuộc ra đi bí mật, tiễn đưa chỉ có vài ba đồng chí thân thiết nhất Dù phía trước chì mới le lói vài tia sáng của ước

mơ, nhưng người ra đi tìm đường cứu nước vẫn hăm hở và đầy tin tưởng

Sức thuyết phục, lôi cuốn của bài thơ chính là ở ngọn lửa nhiệt tình đang bừng cháytrong lòng nhân vật trữ tình Bài thơ đã thể hiện hình tượng người anh hùng trong buổi lên đường xuất dương lưu biệt với tư thế kì vĩ, sống ngang tầm vũ trụ Người anh hùng ấy ý thức rất rõ ràng về “cái tôi công dân” và luôn khắc khoải, day dứt trước sự tồn vong của quốc gia, dân tộc

Bài thơ Lưu biệt khi xuất dương được viết theo bút pháp ước lệ và cường điệu, rất phù hợp với mục đích cổ vũ, động viên Giọng thơ vừa sâu lắng, da diết, vừa sôi sục, hào hùng, mang âm hưởng tráng ca Nỗi đau đớn, niềm lạc quan, nhiệt tình hành động cùng tư tưởng cách mạng đã thổi hồn vào từng câu, từng chữ, từng hình ảnh trong bài thơ Âm hưởng hào hùng của bài thơ có sức lay động, thức tỉnh rất lớnđối với mọi người Đây là bài thơ từ biệt mà cũng là lời kêu gọi, thúc giục lên đường Tầm vóc bài thơ hoàn toàn tương xứng với tầm vóc của một con người được

cả dân tộc ngưỡng mộ và tin tưởng

Câu 2 : Qua Bài Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu, Em có suy nghĩ gì về

lí tưởng sống của thanh niên trong thời đại ngày nay?

Định hướng cách làm:

Sau đây là một số ý cơ bản của bài làm:

1.Mở bài: giới thiệu vấn dề nghị luận:

+Lí tưởng sống của tác giả Phan Bội Châu trong bài Lưu biệt khi xuất dương

Trang 7

+lí tưởng sống của thanh niên thời nay

2.Thân bài:

Bước 1: giải thích lí tưởng là gì?

+Lý tưởng sống là mục đích tốt đẹp mà mỗi con người muốn hướng tới, đó là lí do,mục đích mà mỗi con người mong mỏi đạt được

+Người có lý tưởng sống cao đẹp là người luôn suy nghĩ và hành động để hoàn thiện mình hơn Luôn có khát vọng phấn đấu để đạt được hạnh phúc

+Để đạt được khát vọng đó, người ta luôn tìm cho mình một lẽ sống cho cuộc đời, hay nói đúng hơn là một lý tưởng Lý tưởng này sẽ giúp họ vượt qua mọi chông gai

+Hăm hở ra đi theo tiếng gọi non sông…

( phân tích, dẫn chứng trong bài Lưu biệt khi xuất dương)

Bước 3: bình luận về lí tưởng sống của thanh niên hiện nay

+phê phán lối sống sai lệch:

-Trong khi rất nhiều người đang cố gắng đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình mong muốn một xã hội tốt đẹp hơn thì lại không ít người lại tỏ ra rất hờ hững với những gì đang diễn ra cho đất nước mình

Trang 8

-Một bộ phận lớn thanh niên sống hờ hững với những gì diễn ra xung quanh, mục tiêu của phần lớn các bạn trẻ ngày nay là phải thật thành công trong cuộc sống, khẳng định được vị trí của mình trong xã hội; kiếm thật nhiều tiền để có thể thỏa mãn nhu cầu của cuộc sống của riêng mình.

+Khẳng định lối sống đúng đắn:

-Thanh niên chúng ta cần phải biết và tạo cho mình một lý tưởng sống cao đẹp, vì mọi người, vì quê hương đất nước Bản thân mỗi chúng ta hãy tự nhìn lại cách sốngcủa mình để hướng đến tương lai tươi sáng của dân tộc

-Chỉ có niềm tin, tình yêu và nghị lực mới giúp ta vượt qua tất cả giông bão cuộc đời

3.Kết bài: nêu bài học nhận thức và hành động

-Cần phải sống có lí tưởng, có hoài bão, có ước mơ,

-Thấn đấu đạt được ước mơ chân chính bằng những việc làm cụ thể

-Khi tổ quốc cần, chúng ta sẵn sàng hi sinh để bảo vệ tổ quốc…

VỘI VÀNG

Bài này cũng ôn theo 3 dạng như sau:

Dạng 1: Cảm nhận của anh/ chị về đoạn thơ , bài thơ

Bài Vội vàng có 4 khổ, khổ nào cũng quan trọng

Dạng 2 : Nghị luận ý kiến bàn về bài thơ

Dạng 3 ( khó ) : Có thể bình luận về 1 khía cạnh thuộc nội dung của bài thơ, ví dụ : bàn về quan niệm sống Vội vàng, triết lí nhân sinh trong Vội Vàng, hoặc bức thông điệp trong bài thơ,

CÂU HỎI THAM KHẢO

Trang 9

Câu 1 : Cảm nhận của anh/ chị về bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu

Bài viết tham khảo trên Internet

Xuân Diệu, “Ông Hoàng của thơ tình yêu” – thi sĩ đã làm say mê bao bạn đọc trẻ tuổi Sức hấp dẫn của thơ Xuân Diệu đối với tuổi trẻ chính là cái náo nức, cái xôn xao, cái đắm say với cuộc đời, với tình yêu của một tâm hồn trẻ trung khát khao sống trọn vẹn Ngay từ khi xuất hiện trên thi đàn Việt Nam những năm 30 của thế

kỷ XX, Xuân Diệu đã được lớp trẻ hoan nghênh và say mê Nhà nghiên cứu Hoài Thanh đã nhận xét: “Xuân Diệu mới nhất trong các nhà thơ mới – nên những người lòng còn trẻ mới thích đọc Xuân Diệu, mà đã thích thì phải mê…” Đọc thơ Xuân Diệu, ta bắt gặp một nguồn sống dạt dào, chính cái náo nức dạt dào ấy là biểu tượngcho cái chất trẻ – sức xuân của một hồn thơ

Tuổi trẻ – Mùa xuân – Tình yêu – Thời gian – Cuộc đời là những đề tài có sức hấp dẫn lớn trong thơ Xuân Diệu Vội vàng là một trong những bài thơ tiêu biểu của Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám Đó là tiếng nói của một tâm hồn yêu đời, ham sống đến cuồng nhiệt, và chính vì thế mà không thể dửng dưng trước thời gian.Trong Vội vàng có một nỗi lo sợ, hốt hoảng của cái tôi khát khao giao cảm với đời trước sự trôi chảy của thời gian

Bài thơ Vội vàng được mở đầu bằng bốn dòng thơ ngũ ngôn ngắn gọn, mạnh mẽ như lời tuyên bố về khát vọng của mình:

Tôi muốn tắt nắng đi,

Cho màu đừng nhạt mất

Tôi muốn buộc gió lại,

Cho hương đừng bay đi

Tắt nắng, buộc gió là những điều con người không thể làm được, đó là những khát khao phi lí Nhưng cái phi lí ấy lại có lí với trái tim của nhà thơ, bởi đó là trái tim đầy khao khát mãnh liệt, muốn sống đến trọn vẹn chữ “sống”, muốn giữ mãi cho mình những hương, những sắc của của cuộc đời

Chỉ với một tâm hồn yêu đời đến mãnh liệt, muốn giữ lấy tất cả những hương sắc

Trang 10

trần gian mới có một niềm khao khát táo bạo đến thế Nhà thơ muốn giữ lại tất cả những điều kỳ diệu của cuộc sống:

Cho màu dừng nhạt mất…

Cho hương đừng bay đi…

Ở đây, ta nhận ra nét quen thuộc trong thơ Xuân Diệu, một tâm hồn rất nhạy cảm với thanh âm, hương sắc Thế giới của cái đẹp, của sự sống có sức hấp dẫn kỳ lạ đốivới tấm lòng thiết tha yêu đời ấy, là nguồn cảm hứng vô tận cho thơ Xuân Diệu.Tiếp theo những câu thơ ngắn diễn tả cái ý muốn táo bạo và quyết liệt ấy là những dòng thơ như tuôn theo một cảm xúc dạt dào của một tấm lòng say sưa với những thanh sắc của cuộc đời Nhà thơ hăm hở đi tìm những những nơi sự sống dồi dào tụ lại Và nơi đâu hơn Mùa Xuân? Thi sĩ thả hồn mình bơi trong ánh nắng, say sưa vớiong bướm, rung động với thanh sắc của cỏ cây hoa lá, ngất ngây với thanh âm của tiếng chim mùa xuân… Những từ điệp ngữ “này đây” như gọi mời, như cuốn hút chúng ta vào cái thế giới đầy thanh âm, hương sắc mà thi sĩ đã diễn tả bằng tất cả niềm say sưa, sôi nổi Với mùa xuân, thơ Xuân Diệu bao giờ cũng có cái đắm say, nồng nhiệt như thế Với một lòng yêu đời, ham sống đến cuồng nhiệt của một hồn thơ thiết tha, rạo rực, nhà thơ nhìn cuộc sống, cảm nhận mùa xuân rất trần thế:Tháng giêng ngon như một cặp môi gần…

Thế giới thơ Xuân Diệu là một thế giới đầy xuân sắc và xuân tình Ta bắt gặp một một hình ảnh so sánh thật mới mẻ, độc đáo và khỏe khoắn và đầy sức xuân Cách vívon ấy thật hợp với dòng cảm xúc nồng nhiệt đang dâng đầy trong một tâm hồn thậttrẻ trước mùa xuân – cuộc đời! Có điều nồng nhiệt như thế, say đắm là vậy nhưng vẫn có một nỗi hoài nghi, lo sợ ám ảnh:

Tôi sung sướng Nhưng vội vàng một nửa

Cái dấu chấm giữa dòng, lại thêm từ “Nhưng” cắt đôi dòng thơ, tạo một cảm giác hụt hẫng, bâng khuâng cho người đọc Yêu đời, ham sống đến cuống quýt, đến “vộivàng” là đúng với một Xuân Diệu say sưa, bồng bột Nhưng sao lại “vội vàng một nửa”? Nếu ở trên, ta đã cảm nhận được cái “tôi” khát khao giao cảm với đời bằng tất cả niềm dạt dào, náo nức thì đến đây ta lại bắt gặp cái “tôi” nhỏ bé, cô đơn trước cuộc đời, trước thời gian:

Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua

Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già

Âm điệu câu thơ không còn cái xôn xao, rạo rực như ở trên mà bỗng dưng trầm ngâm, nuối tiếc Đấy phải chăng là tâm trạng của con người khi khát khao tận hưởng cuộc sống, muốn vươn lên đỉnh cao nhất của sự sống nhưng bất lực trước

Trang 11

thời gian? Cuộc đời cứ trôi chảy nên có gì tồn tại bền lâu đâu?

Đúng như nhà thơ Thế Lữ nhận xét: “Xuân Diệu là nhà thơ của cuộc đời, một người

ở giữa loài người Lầu thơ thi sĩ xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian luôn quyến luyến cõi đời, khát khao bám lấy cuộc đời đầy hương hoa thanh sắc” Nhà thơ tha thiết yêu đời, ham sống, sợ thời gian qua nhanh, lo sợ tuổi trẻ sẽ qua đi:Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật

Không cho dài thời trẻ của nhân gian

Nói làm chi xuân vẫn tuần hoàn

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!

Bởi thế thi sĩ vội vàng Vội vàng – nhưng lại lo âu:

Cơn gió xinh thì thào trong lá biếc

Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi

Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi

Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?

Qua hình ảnh thiên nhiên được nhân hóa, nhà thơ đã diễn tả những rung động rất tế nhị của một nội tâm khá phức tạp Lo sợ tất cả sẽ qua mau, ngắn ngủi, nhà thơ nuối tiếc, rồi giục giã:

Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa…

Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm

Giọng thơ vừa thảng thốt vừa cuống quýt diễn tả nỗi niềm của nhà thơ cũng như cả một thế hệ bấy giờ – con người thật nhỏ bé, cô đơn và bất lực trước cuộc đời – nên bao giờ cũng vội vàng – giục giã!

Đến cuối bài thơ, ta bắt gặp lại cái mạch cảm xúc dạt dào, cuồng nhiệt ở đầu bài thơ, nhưng dòng cảm xúc ấy dâng đến cao trào:

Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu

Trang 12

Ta muốn thâu tro ng một cái hôn nhiều

Và non nước, và cây Và cỏ rạng…

Vì lo sợ, nuối tiếc cuộc đời ngắn ngủi mà con người khao khát được “ôm” lấy tất cảtrong đối tay quấn riết; nào là mây đưa, gió lượn, cánh bướm với tình yêu, nào là một cái hôn nhiều, non nước, cỏ cây, ánh sáng… khát khao tận hưởng những thanh sắc của chốn vườn trần Tất cả: cả cái sự sống mơn mởn ấy, thi nhân muốn giơ tay với lấy tất cả, bám lấy bầu xuân hồng mà tận hưởng: Cho chuếnh choáng…cho đã đầy…cho no nê… Mạch thơ cứ dâng lên, dâng lên đến độ cao trào để diễn tả tận cùng cái tứ “Vội vàng” trong cả bài thơ Thật bất ngờ nhưng cũng thật nhất quán với cảm xúc trong toàn bài thơ, thi sĩ đã đi đến tận cùng nỗi si mê và cuồng bạo: Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi!

Cũng là sử dụng biện pháp tu từ nhưng chỉ có một tâm hồn thật cuồng si mới có thể viết một câu thơ táo bạo gây ấn tượng mạnh mẽ đến như vậy!

Bài thơ là tiếng nói của một cá nhân có nhu cầu giao cảm với cuộc đời, khao khát sống, khao khát yêu đến mãnh liệt Vội vàng là bài ca tình yêu cuộc sống giàu ý nghĩa nhân bản Thi phẩm thể hiện một quan niệm nhân sinh tích cực Mùa xuân – Tình yêu – Tuổi trẻ – Cuộc đời trong Vội vàng mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc.Thơ Xuân Diệu vì thế mà vẫn trẻ mãi với nhân gian

Câu 2 ( Đề nghị luận xã hội về bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu) :

Đề bài : Đọc đoạn thơ sau và thự hiện các yêu cầu ở dưới

“Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,

Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,

Mau đi thôi ! mùa chưa ngả chiều hôm,”

Câu hỏi : hãy phân tích đoạn thơ trên để làm nổi bật quan niệm về thời gian của Xuân Diệu, anh/ chị có suy nghĩ gì về quan niệm ấy

Mở bài:

+Giới thiệu bài thơ Vội Vàng, trích dẫn khổ thơ trong đề bài

+Giới thiệu vấn đề nghị luận: Quan niệm về thời gian của Xuân Diệu và của “em”.Thân bài :

Trang 13

Bước 1 : Phân tích đoạn thơ để làm nổi bật quan niệm của Xuân Diệu về thời gian

Có các ý cơ bản sau:

+Thời gian trôi đi rất nhanh:

Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,

Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già

+Thời gian tuyến tính, một đi không trở lại

+Thời gian của vũ trụ thì tuần hoàn nhưng thời gian dành cho mỗi con người là hữuhạn:

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lạị

Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,

+Thời gian có ý nghĩa nhất của con người là lúc còn trẻ

->>Xuân Diệu gửi gắm thông điệp : Bạn trẻ hãy biết quý trọng thời gian

Bước 2: Nghị luận về thời gian

+Quan điểm : Quan niệm của Xuân Diệu là quan niệm đúng đắn, tiến bộ, thể hiện cái nhìn biện chứng về thời gian

+Chứng minh :HS có thể chứng minh bằng lí lẽ, lập luận, dẫn chứng thực tế

-Sử dụng thời gian để học tập tốt, lao động tốt thì chúng ta sẽ tạo ra nhiều của cải vật chất và tinh thần, góp phần dựng xây đất nước ngày càng giàu đẹp

-Không biết quý thời gian, phung phí thời gian vào những việc vô bổ, không có mục đích không hướng đến tương lai là chúng ta tự hủy hoại cuộc đời mình

+Bài học cuộc sống:

-Nhận thức đúng về giá trị của thời gian, tận dụng từng giây từng phút để làm những việc có ích, để ta sẽ không bao giờ hối hận, nuối tiếc vì đã lãng phí, đã để thời gian trôi qua vô nghĩa

-Trân trọng thời gian, tuổi trẻ, sử dụng thời gian hợp lí

Trang 14

-Sống có ích, có nghĩa khi thời gian chưa trôi qua mất

Kết bài : Khẳng định quan niệm sống đúng đắn

Thời gian qua đi không lấy lại được Mỗi con người chỉ có một quỹ thời gian nhất định để sống, học tập và lao động Vậy trong suốt thời gian ấy, chúng ta phải làm gì

để đến “khi nhắm mắt xuôi tay, không phải ân hận vì những năm tháng sống hoài sống phí ?” Đó là câu hỏi lớn đặt ra cho cả đời người, do đó chúng ta phải biết quýthời gian mình đang sống

Câu 3 : Đề thi học sinh giỏi :Điều kì diệu của ngôn ngữ thơ trong Câu cá mùa Nguyễn Khuyến và Vội Vàng-Xuân Diệu

thu-Trong Mấy ý nghĩ về thơ, nhà thơ Nguyễn Đình Thi khẳng định: “Điều kì diệu của thơ là mỗi tiếng, mỗi chữ, ngoài cái nghĩa của nó, ngoài công dụng gọi tên sự vật, bỗng tự phá tung mở rộng ra, gọi đến xung quanh nổ những 1 cảm xúc, những hình ảnh không ngờ, toả ra xung quanh nó một vùng ánh sáng động đậy Sức mạnh nhất của câu thơ là ở sức gợi ấy

(Trích Ngữ văn 12, NXB Giáo dục, năm 2010)

Từ ý kiến trên, anh/chị hãy bàn về điều kì diệu của ngôn ngữ thơ được thể hiện trong các thi phẩm: Câu cá mùa thu (Nguyễn Khuyến), Vội vàng (Xuân Diệu).Hướng dẫn cách làm bài :

+ Giới thiệu vấn đề nghị luận :điều kì diệu của ngôn ngữ thơ được thể hiện trong các thi phẩm: Câu cá mùa thu (Nguyễn Khuyến), Vội vàng (Xuân Diệu)

Thân bài :

1.Giải thích ý kiến của nhà thơ Nguyễn Đình Thi

Trang 15

 Nhận định của Nguyễn Đình Thi khẳng định vẻ đẹp của ngôn ngữ trong

thơ Cái kì diệu của ngôn ngữ thơ là ở giá trị thẩm mĩ, ở sức gợi phong phú

 Vẻ đẹp của ngôn ngữ thơ là vẻ đẹp của hình thức nghệ thuật Nhưng hình

thức nghệ thuật ấy chỉ “đẹp ” khi được nhà thơ sáng tạo ra để chuyển tải một

nội dung cảm xúc, tư tưởng sâu sắc

 Ngôn ngữ thơ hiểu theo nghĩa rộng bao gồm các yếu tố như: nhịp điệu, từ

ngữ, hình ảnh, thanh vần, cấu trúc câu, biện pháp tu từ… giàu sức gợi, giàu

nhạc tính, ngân vang, dư ba…

2 Vẻ đẹp của ngôn ngữ thơ được thể hiện qua hai bài thơ Câu cá mùa thu (Nguyễn Khuyến), Vội vàng (Xuân Diệu)

a Điểm gặp gỡ giữa các nhà thơ:

 Đối với các nhà thơ lớn, tài năng thể hiện ở việc sáng tạo và tổ chức ngôn

từ

 Vẻ đẹp của ngôn ngữ thơ trong hai thi phẩm được biểu hiện trong cách

dùng từ ngữ tài hoa, cách xây dựng hình ảnh thơ độc đáo, cách hiệp thanh,

ngắt nhịp sáng tạo, cách sử dụng thủ pháp tu từ hiệu quả, cấu trúc cú pháp mớimẻ

 Hai thi phẩm thuộc các chặng đường thơ ca khác nhau trong nền văn học

dân tộc nên ở một chừng mực nào đó mỗi thi phẩm đều soi bóng thời đại mà

nó ra đời- điều đó thể hiện ở yếu tố ngôn ngữ

b Vẻ đẹp ngôn ngữ thơ ở từng thi phẩm

Câu cá mùa thu – Nguyễn Khuyến

+ Sinh thời Nguyễn Khuyến là người trầm tĩnh, kín đáo, chuộng sự giản dị, nhẹ nhàng, trang nhã nhưng sâu sắc, thâm thuý Điều này phần nào đã được khúc xạ qua đặc điểm ngôn ngữ thơ ông

+ Không bị gò bó trong khuôn mẫu của thơ ca cổ, thơ Nôm Nguyễn Khuyến nói chung và Câu cá mùa thu nói riêng gần gũi trong cách dùng từ, dung dị trong sử dụng hình ảnh (phân tích cách gieo vần “eơ”, cách sử dụng từ láy thuần Việt độc đáo (lạnh lẽo, tèo teo…) các động từ giàu sức biểu hiện (hơi gợn tí, khẽ đưa vèo….)gợi cái hồn của cảnh vật mùa Thu, không gian thu vùng đồng bằng Bắc Bộ xưa, bộc

lộ được tâm hồn nhạy cảm, tinh tế trước thiên nhiên, đất trời Điều đó đánh thức ở người đọc tình quê, hồn quê, gợi tấm lòng yêu nước thiết tha, thầm kín

Trang 16

+ Ngôn ngữ thơ gợi lên một cảnh trí thanh sơ mà gợi cảm, trong và lặng Cảnh chan

chứa tình, gợi nhiều tâm sự ẩn kín trong lòng thi nhân (tấm lòng ưu thời mẫn thế mà

cô đơn, bất lực trước cuộc đời)

—> Đóng góp lớn của nhà thơ trong bài thơ Câu cá mùa thu là ờ chỗ làm giàu đẹp tiếng Việt văn học trong vốn ngôn ngữ dân tộc, Việt hoá thơ Đường luật khiến một thể loại vốn rất gò bó về thi liệu, thi đề, thi luật trở nên gần gũi, bình dị, thể hiện thi pháp đặc trưng, dấu ấn của thơ Trung đại thể hiện ở Tính quy phạm và việc

phá vỡ tính quy phạm

Vội vàng – Xuân Diệu

+ Xuân Diệu, “nhà thơ mới nhất trong làng Thơ mới (Hoài Thanh) không chỉ mới ở điệu tâm hồn mà còn mới trong sự cách tân ngôn ngữ thơ, tạo cho thơ ca giaiđoạn đầu thế kỉ XX một bộ “y phục tân kì ”

+ Ở Vội vàng, thế giới thơ Xuân Diệu tràn đầy xuân sắc, hình ảnh thơ sống động trong những vận động, những trạng thái, khơi gợi khát khao giao cảm, chiếm lĩnh Tất cả không chỉ được phát hiện bằng thị giác mà bằng tất cả các giác quan, bằng sự nhạy cảm của một tâm hồn giàu rung động; cách sử dụng hình ảnh gợi mở,

có tác dụng dẫn dắt biểu hiện thế giới nội cảm của con người,

(dẫn chứng)

Cách kết hợp từ ngữ táo bạo, mới mẻ, phép sử dụng ngôn từ khá đặc biệt Đó là tạo ra những làn sóng ngôn từ đan xen, cộng hưởng với nhau theo chiều tăng tiến, càng lúc càng dâng lên cao trào Đó còn là tạo nên một chuỗi điệp cú, hình thái thì điệp nguyên vẹn, còn động thái và cảm xúc thì điệp lôi tăng tiên, hệ thống tính từ chỉ xuân sắc, động từ chỉ động thái đắm say, danh từ chỉ sự thanh tân, tươi trẻ (dẫn chứng) -> Gợi niềm say mê, nồng nàn của nhân vật trữ tình trước mùa xuân, tình yêu

Giọng điệu: nhịp điệu khẩn trương, gấp gáp, sôi nổi đến vồ vập, cuống quýt, có khi khắc khoải; những câu thơ dài, ngắn khác nhau, hiện tượng vắt dòng, biểu hiện nhịpđiệu bên trong của cảm xúc, tâm trạng Có thể nói, ngôn ngữ, giọng điệu của Vội vàng truyền đến người đọc cảm xúc dạt dào, sôi nổi, trẻ trung, thức dậy ở người đọctình yêu cuộc sống, (dẫn chứng)

Tất cả những phương diện ngôn từ ấy đều được dùng thuần thục, tinh vi, chuyển tải được nhuần nhuyễn những tinh ý mãnh liệt và táo bạo của cái “Tôi thi sĩ’ Với Vội vàng, Xuân Diệu đem đến một cách nhìn mới, một lối nói mới Vẻ đẹp của ngôn ngữ thơ trong bài thơ mang theo không khí sôi sục của “Một thời đại thi ca”

Trang 17

3.Bàn luận mở rộng

•Một nhà thơ lớn bao giờ cũng là bậc thầy trong sử dụng ngôn ngữ – tài năng của người viết thể hiện qua việc sáng tạo ngôn ngữ tác phẩm: dấu ấn nghệ thuật, phong cách riêng cũng được thể hiện ờ hệ thống ngôn ngữ đặc trưng

•Sức hấp dẫn, giá trị của một tác phẩm văn học biểu hiện trong sự hài hoà giữa nội dung và hình thức Đối với thơ, việc lựa chọn, sử dụng ngôn ngữ giữ vai trò đặc biệtquan trọng, bởi nó gắn với đặc trưng thể loại – “Ý tại ngôn ngoại”“Thi trung hữu hoạ”“Thi trung hữu nhạc”

•Với người đọc, việc khám phá tác phẩm, nhận ra cái hay cái đẹp của bài thơ luôn bắt đầu từ yếu tố ngôn ngữ, do đó cần rèn luyện khả năng thâm thâu, thưởng thức văn chương bắt đầu từ khả năng nói đúng, nói hay hiêu yêu quý và trân trọng cái đẹp của ngôn từ

Kết bài : Khẳng định ý nghĩa của câu nói và giá trị nội dung, nghệ thuật của hai bài thơ

Câu 4 : Đề thi học sinh giỏi về bài Vội Vàng- Xuân Diệu và Đây thôn Vĩ Dạ- Hàn Mặc Tử

Nhà thơ vĩ đại của Ấn Độ Rabinđranat Tagor từng bày tỏ: “Ngọn gió nhà thơ băng qua rừng, băng qua biển để tìm ra tiếng nói của riêng mình”

(Những con chim bay lạc)

Anh/chị hiểu như thế nào về ý kiến trên Hãy đi tìm tiếng nói của riêng Xuân Diệu

và Hàn Mặc Tử trong những cảm nhận về sự sống trần gian qua hai đoạn trích sau:Của ong bướm này đây tuần tháng mật

Này đây hoa của đồng nội xanh rì

Này đây lá của cành tơ phơ phất

Của yến anh này đây khúc tình si

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi

Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa

Trang 18

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần

(Vội vàng, Xuân Diệu)

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

+Giới thiệu hai nhà thơ, hai đoạn thơ trong đề bài

+ Giới thiệu ý kiến

+ Vấn đề nghị luận: Tiếng nói của riêng Xuân Diệu và Hàn Mặc Tử trong những cảm nhận về sự sống trần gian qua hai đoạn trích

Thân bài :

1, Giải thích ý kiến

Ngọn gió: tài năng, cảm hứng sáng tạo và tư tưởng nghệ thuật của nhà thơ

Tiếng nói riêng: cái độc đáo, nét riêng trong cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ và cáchthể hiện của nhà thơ tạo nên sự khác biệt, biểu hiện của cá tính sáng tạo, gía trị và sức hấp dẫn trong tác phẩm

Ý kiến đặt ra vấn đề về mối quan hệ giữa tài năng, tư tưởng, những trải nghiệm cá nhân và phong cách của nhà văn Cái tài, cái tâm cùng với những rung cảm thẩm mĩ

Trang 19

là cơ sở để nhà thơ có được “tiếng nói riêng”, giúp tác phẩm vượt qua những giới hạn, những rào cản để đến với người đọc và tạo lập nên những giá trị bất hủ.

Chứng minh ngắn gọn bằng lí luận và thực tiễn văn học

2 Đi tìm tiếng nói riêng của Xuân Diệu và Hàn Mặc Tử qua hai đoạn trích

 Xuân Diệu và Hàn Mặc Từ là hai đỉnh cao, đồng thời cũng là hai hồn thơ

đặc biệt nhất của phong trào Thơ mới 1932 – 1945 Họ có những nét mới, lạ

rất khác nhau, điều đó được thê hiện rõ qua cách cảm nhận và thể hiện

hình ảnh của sự sống trần gian ớ hai đoạn trích của bài Vội vàng và Đây thôn

Những cảm nhận riêng về thiên nhiên và sự sống trần gian:

Hàn Mặc Tử: thiên nhiên và con người trong buổi ban mai trong trẻo, tinh khôi, lung linh ánh sáng và dâng tràn sức sống Cảnh và người vừa gần gũi, cụ thể vừa

mơ hồ nhoà nhạt trong mơ tưởng

1Xuân Diệu: thiên nhiên tạo vật quấn quýt, giao hoà, thấm đẫm màu sắc ái ân, tình

tự Bức tranh mùa xuân với những sự vật đang khoe sắc, toả hương tươi trẻ quyến

rũ và rạo rực xuân tình

Nghệ thuật thể hiện:

Giọng điệu, ngôn ngữ, hình ảnh… ở mỗi đoạn thơ đều có những nét đặc biệt, thể hiện cá tính sáng tạo của từng tác giả

—» Xuân Diệu và Hàn Mặc Tử đã mang đến cho thơ ca dân tộc và người đọc

những góc nhìn mới mẻ về những cảnh sắc tưởng chừng như đã vô cùng quen thuộc Sự mới mẻ đầy hấp dẫn ấy được tạo nên từ tài năng vượt trội, tâm hồn nhạy cảm trước thiên nhiên, cuộc sống và trái tim thấm đẫm tình đời, tình người của hai thi sĩ

Trang 20

Đánh giá

 “Tiếng nội riêng” không chỉ tạo nên sức sống và sự hấp dẫn của tác phâm

mà còn góp phần làm phong phú thêm cho thơ ca nhân loại Vì vậy, sáng tạo

bằng tài năng và tâm huyết của mình vừa là thiên chức, vừa là trách nhiệm củanhà thơ

Tuy nhiên, chỉ khi nào cái riêng ấy chạm được đến những nỗi niêm, những khát vọng và những rung động thẩm mĩ của tất cả mọi người và mọi thời đại, thì mới tạo nên tầm khái quát và chiều sâu nhân đạo cho tác phẩm, đưa tác phâm “băng qua rừng, băng qua biển” để bất tử trong lòng ngưòi đọc

Kết bài : Khẳng định ý nghĩa câu nói

Khẳng định giá trị của hai đoạn thơ

Câu 5 : Dành cho học sinh giỏi.

“Giá trị của tác phẩm nghệ thuật trước hết là giá trị tư tưởng của nó Nhưng là tư tưởng đã được rung lên ở các cung bậc của tình cảm , chứ không phải ở tư tưởng thẳng đơ trên trang giấy Có thể nói , tình cảm của người viết là khâu đầu tiên và

là khâu sau cùng trong quá trình xây dựng một tác phẩm nghệ thuật ”

(Nguyễn Khải , Các nhà văn nói về văn, NXB Tác phẩm mới , Hà Nội, 1985)

Anh/chị hiểu như thế nào về ý kiến trên ? Hãy liên hệ với sáng tác của Xuân Diệu hoặc Tố Hữu để làm sáng tỏ ý kiến trên

Hướng dẫn

1.Giải thích ý kiến của Nguyễn Khải

-Là nhà văn đã từng trải với nghề , Nguyễn Khải ý thức sâu sắc những yêu cầu khắt khe của văn chương Ông hiểu giá trị của một tác phẩm trước hết là giá trị tư tưởngcủa nó Nhưng là người đã trải nghiệm của đời cầm bút , ông cũng thấm thía nghệ thuật không phải chỉ là tư tưởng đơn thuần mà phải là “tư tưởng được rung lên ở các cung bậc tình cảm , chứ không phải ở tư tưởng nằm thẳng đơ trên trang giấy”, nghĩa là tư tưởng ấy phải được tắm đẫm trong tình cảm của người viết , tư tưởng ấy phải được chuyển tải bằng tình cảm , cảm xúc của người nghệ sĩ Nói cách khác , ý kiến của Nguyễn Khải đã khẳng định mối quan hệ gắn bó , không thể tách rời giữa

tư tưởng và tình cảm của nhà văn

Trang 21

a) Giá trị của tác phẩm nghệ thuật trước hết là giá trị tư tưởng của nó”, câu nói

hiển nhiên như một chân lí không thể phủ nhận

-Một tác phẩm nghệ thuật có giá trị , trước hết phải đề xuất được một tư tưởng mới

mẻ Một nhà văn tài năng phải có những phát hiện riêng của mình về nhân sinh thông qua một nỗi lòng, một tình huống, một cảnh ngộ …của một nhân vật Bởi xét đến cùng , thiên chức cao cả của văn chương nghệ thuật là phản ánh con người và hướng tới phục vụ đời sống con người Vì thế , khi viết tác phẩm nhà văn không thể không bộc lộ tư tưởng của riêng mình , chủ kiến của riêng mình trước những vấn đề xã hội

-Mặt khác, bản chất của lao động nghệ thuật là sáng tạo Nghể văn là nghệ sáng tạo Cho nên nhiệm vụ khó khăn mà cũng là vinh quang của nhà văn là phải khám phá,phát minh ra một hệ thống tư tưởng của riêng mình Bởi nói như Nam Cao “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay…sáng tạo những cái gì chưa có” Tư tưởng sẽ là yếu tố cốt lõi hình thành nên phong cách nghệ thuật , dấu ấn riêng của nhà văn

b) Tuy nhiên , theo Nguyễn Khải tư tưởng của một nhà văn “ là tư tưởng đã được

rung lên ở các cung bậc của tình cảm , chứ không phải ở tư tưởng thẳng đơ trên trang giấy”

–Các Mác nói : quy luật của văn học là quy luật chung của cái đẹp , là quy luật của

tình cảm Có nghĩa là Mác nhấn mạnh tình cảm chứ không phải bất cứ yếu tố nào mới là ngọn nguồn sâu xa của cái đẹp Mỗi tác phẩm nghệ thuật đích thực phải hướng con người tới cái đẹp bằng tình cảm của nhà văn

-Không phải ngẫu nhiên nhiên nhiều nhà thơ đã nói về sự thăng hoa của của xúc

Ngay từ xưa , Ngô Thì Nhậm đã kêu gọi các thi nhân “Hãy xúc động hồn thơ cho ngọn bút có thần” Xuân Diệu khi bàn về thơ cũng có ý kiến “Thơ hay, lời thơ chín

đỏ trong cảm xúc”.Tư tưởng của nhà văn dù có mới mẻ, độc đáo đến đâu đi nữa mà

không được thể hiện bằng một trái tim thì tư tưởng đó chỉ thẳng đơ trên trang giấy

không phải vô cớ mà Lê Quí Đôn cho rằng “Thơ khởi phát trong lòng người”

Trang 22

-Tình cảm còn là khâu sau cùng trong quá trình xây dựng tác phẩm tác phẩm nghệ thuật của nhà văn Ở đây là muốn nói đến người đọc Người đọc đến với tác phẩm đâu phải bằng con đường lí trí mà bằng chiếc cầu nối từ trái tim đến với trái

tim.Những tư tưởng tâm đắc nhất , tha thiết nhất nhà văn gửi gắm trong tác phẩm sẽthâm nhập vào tâm hồn người đọc trong hình hài của cảm xúc Nhà văn Bùi Hiển

đã khẳng định ý nghĩa đặc biệt của tiếng nói tri âm trong văn chương như sau : “Ở nước nào cũng thế thôi, sự cảm thông chia sẻ giữa người đọc và người viết là trên hết”

-Một tác phẩm có giá trị hay không xét cho cùng là do tình cảm của nhà văn có chân thực hay không , có khả năng tác động sâu xa đến tâm hồn người đọc hay không

2.Chứng minh (phân tích bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu )

-Trong các sáng tác của Xuân Diệu trước CMT8 đều nhằm khẳng định một niềm khao khát được giao cảm với đời Đó có thể xem là tư tưởng của XD lúc ấy Đó là một tư tưởng nhân văn độc đáo và khoẻ khoắn của XD Bởi vì lúc ấy biết bao nhiêu

là thơ khác đang chán chường tuyệt vọng , trốn chạy vào quá khứ vàng son hay trốn

vào tình yêu , vào mộng ảo thì XD vẫn nhìn đời bằng “cặp mắt xanh non” , vẫn mong muốn “Chân hoá rễ để hút mùa dưới đất”

-Tư tưởng nhân văn khoẻ khoắn ấy được bộc lộ mạnh mẽ , tràn đầy cảm xúc trong bài thơ Vội vàng :

+Giới thiệu chung về bài thơ Vội vàng

+Phân tích những khám phácủa XD về một thiên đường trên mặt đất (chú ý những hình ảnh, điệp ngữ …)

Có thể lấy dẫn chứng trong thơ Tố Hữu để làm sáng tỏ nhận định

Câu 6 : Dành cho học sinh giỏi

Đề bài : Nhà phê bình văn học Hoài Thanh có nhận xét : “Bây giờ khó mà nói được cái ngạc nhiên của làng thơ Việt Nam hồi Xuân Diệu đến Người đã tới giữa chúng

ta với một y phục tối tân và chúng ta đã rụt rè không muốn kết thân với con người

có hình thức phương xa ấy Nhưng rồi ta cũng quen dần , vì ta thấy người cùng ta tình đồng hương vẫn nặng”

Trang 23

Trình bày ý kiến của anh (chị) về nhận xét trên

Gợi ý :

Những ý chính :

1.Ý nghĩa câu nói của Hoài Thanh

Xuân Diệu đến với thơ ca và có những đóng góp mới mẻ về thi pháp với những cách tân nghệ thuật giàu sáng tạo Nhưng sự cách tân của XD vẫn có gốc rễ rất sâu trong thư ca truyền thống

-Xuân Diệu là một trí thức Tây học , đã hấp thụ ảnh hưởng của tư tưởng và văn hoá Pháp Đối với thơ ca Pháp , ông đặc biệt chịu ảnh hưởng của trường thơ tượng trưng

-Thơ Xuân Diệu thể hiện quan hệ tương giao giữa các giác quan cùng tính nhạc của thơ Ông là nhà thơ của niềm khát khao giao cảm với đời Niềm say mê mùa xuân ,tuổi trẻ , tình yêu ở Xuân Diệu đã dẫn đến một cách tân đặc sắc về cảm hứng , thi tứ, bút pháp ; xây dựng hình ảnh , cú pháp , nhịp điệu …

+Trước Cách mạng tháng Tám , đóng góp của Xuân Diệu không phải là ở đề tài mà nét đặc sắc của Xuân Diệu là ở cảm hứng :

 Cô đơn , trước nay là vì thiếu vắng con người , thiếu vắng một cái gì bầu

bạn Tản Đà cô đơn vì “Suông rượu , suông tình , bạn cũng suông” Và

Nguyễn Bính thì “Cô đơn buồn lại thêm buồn / Tạnh mưa bươm bướm có còn sang chơi” Nhưng Xuân Diệu thì lại khác , dù có người , có vật , có cảnh bên mình cũng vẫn là “hòn đảo cô đơn” :

Dù tin tưởng chung một đời một mộng

Em vẫn là em , anh vẫn cứ là anh

Có thể nào qua vạn lí trường thành

Của hai vũ trụ chứa đầy bí mật

(Xa cách )

 Tình yêu trong thơ Xuân Diệu không diễn tả bóng gió , ước lệ tượng trưngnhư trước kia mà nói một cách cụ thể , đầy đủ với ý nghĩa tình yêu bao gồm cả

tâm hồn và thân xác : “Đây gối lả Tay em đây , mời khách ngả đầu say”,

“Mình em không được quấn chân anh / Sát đôi vai, kề đôi ngực / Trộn nhau

đôi mái tóc ngắn dài”

Trang 24

 Thiên nhiên trong thơ xưa thường được tiếp nhận bằng thị giác , ít nhiều

bằng thính giác nhưng Xuân Diệu thưởng thức thiên nhiên không chỉ vậy mà

còn cả bằng xúc giác :

Tôi để da tay ý dịu tràn

Gửi vào cây cỏ chút mơn man

Chân trần sung sướng nghe da đất

Tôi nhận xa xôi của dặm ngàn

(Đi dạo )

Và cả bằng vị giác : “Hương hiu hiu nên gió cũng ngọt ngào”

 Xuân Diệu thường nhân hoá thiên nhiên một cách táo bạo Nhà thơ gắn

cho thiên nhiên những tâm tư , hành động , tâm trạng “rất người” một cách tự

nhiên , hợp lí :

“Bữa nay lạnh , mặt trời đi ngủ sớm”

“Đêm bâng khuâng đôi miếng lẩn trong cành”

“Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang

Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng”

+Xuân Diệu ảnh hưởng của thơ Pháp thế kỉ XIX về cách diễn đạt , nhịp điệu , cú pháp … nên cách diễn đạt của Xuân Diệu quá mới đối với người đọc Việt Nam lúc bấy giờ :

Xưa hẹn nghìn năm yêu mến tôi

( Ý thơ )

Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh

( Đây mùa thu tới )

+ Xuân Diệu cũng lục tìm , sáng chế những từ mới :

“Cơn gió xinh thì thào trong lá biếc”

“Cành biếc run run chân ý nhi”

“Em vui đi răng nở ánh trăng rằm”

-Nhưng sự cách tân của Xuân Diệu vẫn có nguồn gốc của thơ ca truyền thống mà

Hoài Thanh gọi đó là “tình đồng hương vẫn nặng” Bởi lẽ Xuân Diệu là con của

một ông tú kép nên có điều kiện tiếp xúc và sớm hiểu biết văn chương cổ điển Bản

Trang 25

thân Xuân Diệu hấp thụ một cách tự nhiên ảnh hưởng của nền văn hoá truyền thốngtrong quá trình học tập , sinh sống ( ông từng học ở Qui Nhơn , Huế , Hà Nội và có thời gian công tác ở Mĩ Tho ) Ông tìm đến thơ ca hiện đại Pháp vì nó có khả năng diễn tả chân thực những khát khao mãnh liệt của lòng mình nhưng Xuân Diệu vẫn gắn bó với thơ ca dân tộc :

+ Có lúc những từ ngữ Xuân Diệu chọn lựa thật giản dị, mộc mạc :

Anh bước điềm nhiên không vướng chân

Anh đi lững thững chẳng theo gần

Vô tâm nhưng giữa bài thơ lạ

Anh với em như một cặp vần

( Thơ duyên )

+Những biệp pháp tu từ thường thấy trong thơ ca truyền thống :

 Cách dùng điệp ngữ , điệp từ :

“Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua

Xuân còn non nghĩa là xuân sắp già”

“Của ong bướm này đây tuần tháng mật

Này đây hoa của đồng nội xanh rì

Này đây lá của cành tơ phơ phất

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi”

( Vội vàng )

Có lúc phát huy tối đa từ láy trong vốn từ tiếng Việt : “ Những luồng run

rẩy rung rinh lá”

2.Nhận xét

-Nhận định của Hoài Thanh là xác đáng , nhà phê bình đã thấy được ở nhà thơ Xuân Diệu –Một nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới- bên cạnh những nét mới

lạ, có vẻ rất phương Tây là một “ tình đồng hương vẫn nặng” nghĩa là vẫn rất Việt

Nam Đây chính là nét độc đáo của Xuân Diệu nói riêng và của phong trào Thơ mới nói chung

Câu 6 : Dành cho học sinh giỏi

“Ngàn trái tim mang trong một trái tim” (Cảm xúc – Xuân Diệu)

“Em trở về đúng nghĩa trái tim em” (Tự hát – Xuân Quỳnh)

Trang 26

Đặc trưng nào của thơ đã được hai thi sĩ nhắc đến trong những ý thơ trên Sự gặp gỡ

và khác biệt của họ khi thể hiện đặc trưng ấy trong Vội vàng và Sóng?

Gợi ý:

Giải thích

– Trái tim trong thơ là biểu tượng của tâm hồn

+ Câu thơ của Xuân Diệu: muốn nhấn mạnh tâm hồn nhà thơ thật bao dung, nhân hậu không chỉ chứa đựng những tình cảm, những cảm xúc phong phú của riêng mình mà tập trung cho những buồn vui của cuộc đời rộng lớn, của số phận nhân loại

+ Câu thơ của Xuân Quỳnh: muốn nói đến ước muốn sống chân thật với những khátvọng chân thành; tâm hồn nhà thơ xúc động mãnh liệt với những buồn vui, khổ đau hạnh phúc của mình, của đời “đúng nghĩa trái tim”

– Học sinh có thể dựa vào lí luận đặc trưng của thơ để giải thích lí do sao hai câu thơ trên đều nói đến “trái tim”

+ Đặc trưng của văn học là tình cảm Văn học xuất phát từ tình cảm, từ tâm hồn tác giả tìm đến tâm hồn người đọc Văn học cần sự đồng cảm, đồng điệu

+ Nhà thơ, nhà văn phải biết sống chân thành, nhạy cảm với đời, với người thì tác phẩm của họ mới phong phú, giàu giá trị và tìm được sự đồng điệu trong tâm hồn người đọc

– Ca ngợi cuộc sống muôn màu, muôn vẻ, hấp dẫn và quyến rũ

– Ca ngợi tình yêu và tuổi trẻ

– Giục giã vội vàng sống từng phút, từng giây, cố níu giữ thời gian cũng như niềm tiếc nuối mùa xuân, tuổi trẻ đều là biểu hiện của những khát vọng sống sâu xa trongtrái tim của nhà thơ Niềm khát sống ấy thể hiện qua cái nhìn của nhà thơ với hiện thực khách quan

Trang 27

* Ở Sóng, Xuân Quỳnh muốn chứng minh một tình yêu vô bờ vừa truyền thống vừahiện đại từ sâu thẳm trái tim của người phụ nữ.

– Nét đẹp truyền thống của người phụ nữ: đằm thắm, dịu dàng, hồn hậu, chung thuỷ

– Nét đẹp hiện đại của người phụ nữ: táo bạo, mãnh liệt, dù có phấp phỏng lo âu trước cái vô tận của thời gian nhưng vẫn vững tin vào sức mạnh của tình yêu

Đánh giá

– Người sáng tác thơ cần có cảm xúc chân thành

– Nhưng cách thể hiện cảm xúc của mỗi tác giả có thể khác nhau Chính điều đó đã góp phần làm nên sự đa dạng, phong phú cho văn học

– Người đọc khi tìm hiểu tác phẩm phải có sự đồng điệu với tâm hồn thi nhân

Câu 7 : Đề thi học sinh giỏi :Triết lí nhân sinh trong bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu

Yêu cầu về kĩ năng trình bày (0,5 điểm)

Đảm bảo một văn bản nghị luận có bố cục rõ ràng, hợp lí; tổ chức sắp xếp ý một cách lôgic, chặt chẽ; diễn đạt trôi chảy, mạch lạc; chữ viết rõ ràng, cẩn thận; không quá ba lỗi chính tả, không mắc lỗi dùng từ cơ bản…

Yêu cầu về kiến thức (11,5 điểm)

1 Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm, và triết lý nhân sinh trong tác phẩm (1,0 điểm)

2 Triết lý nhân sinh trong Vội vàng: (1,0 điểm)

Triết lý nhân sinh trong bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu là triết lý sống mãnh liệt, sống là tận huởng, tận hiến Triết lý nhân sinh đó được tắm đẫm trong cảm xúc trữ tình thành một dòng tâm trạng sống động Cụ thể:

a Vẻ đẹp của thiên đường nơi trần thế: (2,5 điểm)

– Thiên nhiên là một khu vườn đầy xuân sắc, xuân tình, tuơi trẻ, đầy sức sống:

“tuần tháng mật, hoa đồng nội…khúc tình si”→ nhà thơ đã phát hiện có một thiên đường ngay trên mặt đất này với những hoa thơm, trái ngọt của mùa xuân

– Vẻ đẹp thiên đường trần thế là do chính con người tạo ra

– Chính đối mắt “xanh non”, “biếc rờn” của nhà thơ mới đã khám phá, phát hiện ra

vẻ đẹp kỳ diệu của thiên nhiên Hưởng thụ thiên nhiên như hưởng thụ ái tình

b Trong cuộc sống trần thế, con người là đẹp nhất Đặc biệt là trong độ tuổi trẻ và tình yêu: (2,5 điểm)

– Với Xuân Diệu, con người là chuẩn mực cho vẻ đẹp chứ không phải thiên nhiên

Trang 28

là chuẩn mực cho vẻ đẹp của con người như thơ xưa.

– Nhà thơ đã sáng tạo ra những hình ảnh độc đáo, táo bạo “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”→ hưởng thụ thiên nhiên như hưởng thụ ái tình

c Con người phải biết tận huởng, sống hết mình với tuổi thanh xuân của mình: (2,5 điểm)

– Xuân Diệu là người rất nhạy cảm với bước đi của thời gian bởi chính nhà thơ ý thức được sâu sắc về giá trị của sự sống cá thể trong cuộc đời:

“Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại”

→ Khát khao được sống sôi nổi, mãnh liệt, hết mình, tận hưởng phần ngon nhất củađời người: tuổi trẻ, tình yêu

– Khát vọng sống đến vồ vập, cuống quýt: “ta muốn ôm’, “ta muốn riết”, “ta muốn say”, “ta muốn thâu”, “cho chếnh choáng”, “đã đầy”, “no nê”, “muốn cắn”…

mà hạnh phúc khởi phát từ trong lòng người và tồn tại trên mặt đất

5 Khái quát vấn đề: (1,0 điểm)

Triết lý nhân sinh trong bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu thể hiện rõ “cái tôi” của nhà thơ, một “cái tôi” điển hình cho thời đại thơ mới Đó là một ý thức sâu sắc về giá trị đời sống cá thể (một ý thức nhân bản, nhân văn cao) Một niềm thiết tha với cuộc sống trần thế Một khát khao mãnh liệt và một tâm thế sống cuồng nhiệt, tích cực

Câu 8 : Nêu cảm nhận của anh (chị) về hai đoạn thơ sau :

“ Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn,

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Và non nước, và cây, và cỏ rạng,

Trang 29

Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,

Cho no nê thanh sắc của thời tươi,

– Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”

(Vội vàng – Xuân Diệu)

“Tôi buộc lòng tôi với mọi người

Để tình trang trải với trăm nơi

Để hồn tôi với bao hồn khổ

Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời

Tôi đã là con của vạn nhà

Là em của vạn kiếp phôi pha

Là anh của vạn đầu em nhỏ

Không áo cơm, cù bất cù bơ…”

Cảm nhận đoạn thơ trong bài thơ “Vội vàng” (Xuân Diệu)

– Về nội dung: Quan niệm sống của Xuân Diệu xuất phát từ tình yêu cuộc sống, con người tha thiết và một cảm quan đặc biệt về thời gian Vẻ đẹp cuộc sống trong cái nhìn của nhà thơ hiện ra với những hình ảnh vô cùng đẹp đẽ : mây đưa, gió lượn, cánh bướm, tình yêu, cỏ rạng ngời trong nắng Nhà thơ đã nhân hoá những vẻ đẹp thiên nhiên đó để nó mang hương sắc của tuổi xuân, tuổi trẻ Tuy nhiên, những

vẻ đẹp ấy sẽ phai tàn cùng với sự trôi chảy của thời gian Vì vậy, sống là phải chủ động, hết mình, đắm say, mãnh liệt, thức nhọn mọi giác quan để tận hưởng tất cả những vẻ đẹp của cuộc sống, của niềm vui, tình yêu và hạnh phúc Chú ý phân tích các từ : ôm-riết-say- thâu-hôn-cắn và điệp từ ta muốn để thấy rõ cảm xúc ham hố,

vồ vập cả nhà thơ trước vẻ đẹp cuộc sống trần gian

– Về nghệ thuật: Góp phần thể hiện nội dung cảm xúc của đoạn thơ, nhà thơ đã sử dụng thành công những câu thơ tự do mang điệu nói, nhịp thơ dồn dập, lôi cuốn; cách sử dụng những động từ táo bạo, mới mẻ; phép lặp từ… để khắc hoạ ước muốn giao cảm tận độ vô biên của thi sĩ với cuộc sống

Cảm nhận đoạn thơ trong bài “Từ ấy” (Tố Hữu)

Trang 30

– Về nội dung: Quan niệm sống và cũng là quan niệm nghệ thuật của Tố Hữu thể hiện trong đoạn thơ là kết quả của sự giác ngộ lí tưởng cộng sản Nó đã chỉ rõ con đường đời và con đường nghệ thuật của nhà thơ là phải đứng vào hàng ngũ những người lao động để gắn bó, cùng chiến đấu vì lí tưởng cộng sản Tố Hữu quan niệm :sống là tự nguyện đặt cái “tôi” của mình trong mối quan hệ gắn bó với quần chúng nhân dân Tâm hồn thi sĩ trải rộng với cuộc đời, cùng hoà nhịp, đồng cảm với

những con người đau khổ như những người ruột thịt Sống là chiến đấu, là hi sinh vì

sự nghiệp cách mạng, vì quần chúng, nhân loại cần lao (Chú ý phân tích các từ :

“tôi buộc”, “tôi đã là con”, “là anh”, “là em”, “trăm nơi”, “hồn khổ”, “vạn nhà”,

“kiếp phôi pha”…)

– Về nghệ thuật: Góp phần thể hiện nội dung cảm xúc của đoạn thơ, nhà thơ đã sử dụng thành công phép lặp, những từ ngữ giàu tính tạo hình, biểu cảm ngôn ngữ thơgiàu nhạc điệu, nhịp thơ dồn dập, mạnh mẽ…

Những điểm tương đồng và khác biệt của hai đoạn thơ

* Tương đồng:

– Hai đoạn thơ đều thể hiện quan niệm sống tích cực, đẹp đẽ của một thế hệ tuổi trẻ được thức tỉnh ý thức cá nhân, khát khao được khẳng định mình bằng một cuộc sống có ý nghĩa Đó là lẽ sống cao đẹp của những con người gắn bó với cuộc đời, với nhân dân, đất nước

– Hai nhà thơ đã vận dụng những thành tựu nghệ thuật của công cuộc hiện đại hóa thơ ca đương thời

* Khác biệt:

– Đoạn thơ của Xuân Diệu thể hiện quan niệm sống của một nhà thơ Mới Nó thể hiện sự trân trọng của nhà thơ với vẻ đẹp cuộc sống, tuổi trẻ, niềm vui, hạnh phúc

ở cuộc đời Đó là một quan niệm giàu giá trị nhân văn

– Đoạn thơ của Tố Hữu nêu lên lẽ sống của một nhà thơ cách mạng đã nhận thức sâu sắc mối liên hệ giữa cá nhân mình với quần chúng lao khổ để chiến đấu vì một

lí tưởng chung Đó là lẽ sống cao đẹp của con người ưu tú khi được giác ngộ cách mạng

TRÀNG GIANG

Những dạng đề thi về bài Tràng Giang:

Dạng 1 : Cảm nhận/ phân tích khổ thơ

Trang 31

Bài thơ có 4 khổ, trong đó khổ 1 xác suất thi nhiều hơn.

Dạng 2: Nghị luận ý kiến bàn về bài thơ : Đề bài trích dẫn 1 nhận định và yêu cầu chứng minh, bình luận về nhận định đó

Dạng 3 : Dạng đề so sánh hai bài thơ, đoạn thơ : Bài Tràng giang có thể so sánh với những bài thơ cùng đề tài thiên nhiên, sông nước

Dạng 4 : Dạng đề cảm nhận, phân tích 1 giá trị thuộc nội dung hoặc nghệ thuật của tác phẩm, ví dụ cảm nhận về vẻ đẹp cổ điển và hiện đại trong bài thơ

1 Vài nét về tác giả

Trước Cách mạng, Huy Cận đã là nhà thơ mới lãng mạn nổi tiếng với các tập Lửa thiêng, Vũ trụ ca, Kinh cầu tự Sau Cách mạng, ông là một trong những người lãnh đạo nền văn hoá, văn nghệ Việt Nam, đồng thời sáng tác nhiều tập thơ hoà điệu giữa con người, xã hội và thơ ca: Trời mỗi ngày lại sáng; Đất nở hoa ,Bài thơ cuộc đời, Hạt lại gieo; Ngôi nhà giữa nắng; Chiến trường gần, chiến trường xa; Hai bàn tĩay em,…

– Thơ Huy Cận nhiều bài hàm súc, giàu chất triết lí, bài hay xen lẫn với bài vừa (Hồ Chí Minh) Ông là một trong những gương mặt tiêu biểu cho thơ ca Việt Nam hiện đại

2 Bài thơ Tràng Giang

2.1 Hoàn cảnh sáng tác

Mùa hè – thu năm 1939, chàng thanh niên 20 tuổi Huy Cận đang là sinh viên trườngCao đẳng Nông lâm (Canh Nông) Hà Nội, chiều chiều thứ bảy, chủ nhật, chàng thích một mình đạp xe đạp từ Yên Phụ (Huy – Xuân ở dốc Hàng Than) ngược đê lên mạn Chèm Vẽ (huyện Từ Liêm) Ngắm cảnh sông Hồng bát ngát, dọc hai bờ đê tít tắp, cảnh làng mạc cô liêu, trong tâm hồn thi sĩ lại nổi lên nỗi sầu không gian, sầu vũ trụ miên man, và dậy lên nỗi nhớ quê hương Hà Tĩnh Đêm về, chàng viết bài thơ Chiều trên sông theo thể lục bát, sau đổi thành thất ngôn, 4 khổ và đặt nhan

Trang 32

đề mới: Tràng giang với câu thơ đề từ cũng của chính mình: Bâng khuâng trời rộng

nhớ sông dài

2.2 Bài thơ mới mang vẻ đẹp cổ điển: sự kết hợp hài hoà giữa hai yếu tố cổ điển và

hiện đại là đặc sắc nghệ thụật bao trùm của bài thơ Nỗi sầu, cô đơn của cái “tôi” cá

nhân trước thiên nhiên, vũ trụ thấm đượm: tình đời, tình người, lòng yêu quê

hương, đất nước thầm kín, tha thiết là chủ đề tư tưởng của bài thơ

2.3 Thể thơ: thất ngôn, 4 khổ/bài, mỗi khổ 4 câu

2.4 Bố cục; có thể không chia đoạn, có thể chia mỗi khổ là 1 đoạn, như bộ tứ bình

bằng thơ mỗi bức đều nói cảnh tình sông nước và tập trung thể hiện nổi báng

khuâng trời rộng sông dài

Khổ 1: cảnh sóng gợn, thuyền trôi, củi trôi và nỗi buồn điệp điệp

Khổ 2: cảnh cồn bến hoang vắng trong nắng chiều bát ngát

Khổ 3: cảnh hàng bèo trồi trên dòng sông mênh mònơ cảnh bãi bờ xanh, vàng tít

táp

Khổ 4: cảnh bầu trời mây trắng, cánh chim nghiêng, sóng sỏng dợn dợn gợi nỗi nhớ

nhà

2.5 Vẻ đẹp cổ điển và hiện đại :

– Sử dụng nhiều từ Hẫn Việt, nhiều thi liệu truyền thống

– Mang dáng dấp Đường thi ở sự hàm sức, cô đọng, tao nhã, cao sâu, khái quát

– Hình ảnh ước lộ, tượng trưng

Yếu tố hiện đại

– Nỗi buồn sầu cô đơn nhưng lại bâng khuâng man mác – nỗi buồn thời đại

Trang 33

– Cảnh vật gần gũi, thân thuộc.

– Trực tiếp thể hiện cái “tôi” cô đơn trước vũ trụ, lòng yêu quê hường đất nước thầm kín, tha thiết

– Hình ảnh gần gũi, chân thực

2.6 Phân tích ý nghĩa của nhan đề Tràng giang.Vì sao tác giả đổi nhan đề từ Chiều trên sông thành Tràng giang?- Nhan đề Chiều trên sông quá lành, cụ thể, bình thường, ít gợi ấn tượng!

– Nhan đề Tràng giang hay hơn nhiều : gợi ra ấn tượng khái quát và trang trọng, vừa cổ điển (từ Hán Việt: giang — sông) vừa thân mật (tràng – dài); nhưng không dùng trường (Hán Việt) sợ lầm với Trường Giang (Dương Tử – một dòng sông lớn của Trung Quốc) Mặt khác tạo vần lưng ang, gợi âm hưởng dài rộng, lan toả, ngân vang trong lòng người đọc, ánh lên vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại

– Cảnh không chỉ là cảnh sông Hồng – sông lớn nữa mà là cảnh tràng giang khái quát trong không gian và thời gian

– Câu thơ đề từ của chính tác giả định hướng cảm xúc chủ đạo của bài thơ: bâng khuâng: nỗi buồn – sầu lan toả nhẹ nhàng mà lắng sâu trước cảnh sông dài trời rộng (tràng giang), đồng thời tạo nên vẻ đẹp hài hoà vừa cổ điển tràng giang với hiện đại (nỗi buồn nhớ bâng khuâng) của chàng thanh niên thời Thơ mới

Câu 1 : Tràng Giang của Huy Cận là bài thơ mang vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại.

Anh/chị hãy phân tích bài thơ Tràng Giang để làm sáng tỏ nhận xét trên.

Bài viết tham khảo trên Internet

Nhà thơ Huy Cận tên thật là Cù Huy Cận, với giọng thơ rất riêng đã khẳng định tên tuổi của mình trong phong trào thơ mới 1930-1945 Ông vốn quê quán Hương Sơn,

Hà Tĩnh, sinh năm 1919 và mất năm 2005 Trước Cách mạng tháng Tám, thơ ông mang nỗi sầu về kiếp người và ca ngợi cảnh đẹp của thiên nhiên, tạo vật với các tác phẩm tiêu biểu như: "Lửa thiêng", "Vũ trụ ca", Kinh cầu tự" Nhưng sau Cách mạngtháng Tám, hồn thơ của ông đã trở nên lạc quan, được khơi nguồn từ cuộc sống chiến đấu và xây dựng đất nước của nhân dân lao động: "Trời mỗi ngày lại sáng",

"Đất nở hoa", "Bài thơ cuộc đời" Vẻ đẹp thiên nhiên nỗi ưu sầu nhân thế, một nét thơ tiêu biểu của Huy Cận, được thể hiện khá rõ nét qua bài thơ "Tràng Giang" Đây

Trang 34

là một bài thơ hay, tiêu biểu và nổi tiếng nhất của Huy Cận trước Cách mạng tháng Tám Bài thơ được trích từ tập "Lửa thiêng", được sáng tác khi Huy Cận đứng ở bờ

Nam bến Chèm sông Hồng, nhìn cảnh mênh mông sóng nước, lòng vời vợi buồn,

cám cảnh cho kiếp người nhỏ bé, nổi trôi giữa dòng đời vô định Mang nỗi u buồn hoài như thế nên bài thơ vừa có nét đẹp cổ điển lại vừa đượm nét hiện đại, đem đến

sự thích thú, yêu mến cho người đọc

Bâng khuâng trời rộng nhớ sống dài

Sóng gợi tràng giang buồn điệp điệp

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Ngay từ thi đề, nhà thơ đã khéo gợi lên vẻ đẹp cổ điển lại hiện đại cho bài thơ

"Tràng giang" là một cách nói chệch đầy sáng tạo của Huy Cận Hai âm "ang" đi liền nhau đã gợi lên trong người đọc cảm giác về con sông, không chỉ dài vô cùng

mà còn rộng mênh mông, bát ngát Hai chữ "tràng giang" mang sắc thái cổ điển trang nhã, gợi liên tưởng về dòng Trường giang trong thơ Đường thi, một dòng sông của muôn thuở vĩnh hằng, dòng sông của tâm tưởng

Tứ thơ "Tràng giang" mang nét cổ điển như thơ xưa: Nhà thơ thường ẩn đằng sau cái mênh mông sóng nước, không như các nhà thơ mới thường thể hiện cái tôi của mình Nhưng nếu các thi nhân xưa tìm đến thiên nhiên để mong hoà nhập, giao cảm, Huy cận lại tìm về thiên nhiên để thể hiện nổi ưu tư, buồn bã về kiếp người cô đơn, nhỏ bé trước vũ trụ bao la Đó cũng là vẻ đẹp đầy sức quyến rũ của tác phẩm,

ẩn chứa một tinh thần hiện đại

Câu đề từ giản dị, ngắn gọn với chỉ bảy chữ nhưng đã thâu tóm được cảm xúc chủ đạo của cả bài: "Bâng khuâng trời rộng nhớ sống dài" Trước cảnh "trời rộng",

"sông dài" sao mà bát ngát, mênh mông của thiên nhiên, lòng con người dấy lên tình cảm "bâng khuâng" và nhớ Từ láy "bâng khuâng" được sử dụng rất đắc địa, nónói lên được tâm trạng của chủ thể trữ tình, buồn bã, u sầu, cô đơn, lạc lõng Và con

"sông dài", nghe miên man tít tắp ấy cứ vỗ sóng đều đặn khắp các khổ thơ, cứ cuộn sóng lên mãi trong lòng nhà thơ làm rung động trái tim người đọc

Và ngay từ khổ thơ đầu, người đọc đã bắt gặp những con sóng lòng đầy ưu tư, sầu não như thế:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,

Con thuyền xuôi mái nước song song.

Trang 35

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng.

Vẻ đẹp cổ điển của bài thơ được thể hiện khá rõ ngay từ bốn câu đầu tiên này Hai

từ láy nguyên "điệp điệp", "song song" ở cuối hai câu thơ mang đậm sắc thái cổ kính của Đường thi Và không chỉ mang nét đẹp ấy, nó còn đầy sức gợi hình, gợi liên tưởng về những con sóng cứ loang ra, lan xa, gối lên nhau, dòng nước thì cứ cuốn đi xa tận nơi nào, miên man miên man Trên dòng sông gợi sóng "điệp điệp", nước "song song" ấy là một "con thuyền xuôi mái", lững lờ trôi đi Trong cảnh có

sự chuyển động là thế, nhưng sao chỉ thấy vẻ lặng tờ, mênh mông của thiên nhiên, một dòng "tràng giang" dài và rộng bao la không biết đến nhường nào

Dòng sông thì bát ngát vô cùng, vô tận, nỗi buồn của con người cũng đầy ăm ắp trong lòng

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng.

Thuyền và nước vốn đi liền nhau, thuyền trôi đi nhờ nước xô, nước vỗ vào thuyền Thế mà Huy Cận lại thấy thuyền và nước đang chia lìa, xa cách "thuyền về nước lại", nghe sao đầy xót xa Chính lẽ vì thế mà gợi nên trong lòng người nỗi "sầu trămngả" Từ chỉ số nhiều "trăm" hô ứng cùng từ chỉ số "mấy" đã thổi vào câu thơ nỗi buồn vô hạn

Tâm hồn của chủ thể trữ tình được bộc lộ đầy đủ nhất qua câu thơ đặc sắc: "Củi mộtcàng khô lạc mấy dòng" Huy Cận đã khéo dùng phép đảo ngữ kết hợp với các từ ngữ chọn lọc, thể hiện nổi cô đơn, lạc lõng trước vũ trụ bao la "Một" gợi lên sự ít

ỏi, nhỏ bé, "cành khô" gợi sự khô héo, cạn kiệt nhựa sống, "lạc" mang nỗi sầu vô định, trôi nổi, bập bềnh trên "mấy dòng" nước thiên nhiên rộng lớn mênh mông Cành củi khô đó trôi dạc đi nơi nào, hình ảnh giản dị, không tô vẽ mà sao đầy rợn ngợp, khiến lòng người đọc cảm thấy trống vắng, đơn côi

Nét đẹp cổ điển "tả cảnh ngụ tình" thật khéo léo, tài hoa của tác giả, đã gợi mở về một nỗi buồn, u sầu như con sóng sẽ còn vỗ mãi ở các khổ thơ còn lại để người đọc

có thể cảm thông, thấu hiểu về một nét tâm trạng thường gặp ở các nhà thơ mới Nhưng bên cạnh đó ta cũng nhìn ra một vẻ đẹp hiện đại rất thi vị của khổ thơ Đó là

ở cách nói "Củi một cành khô" thật đặc biệt, không chỉ thâu tóm cảm xúc của toàn khổ, mà còn hé mở tâm trạng của nhân vật trữ tình, một nỗi niềm đơn côi, lạc lõng

Trang 36

Nỗi lòng ấy được gợi mở nhiều hơn qua hình ảnh quạnh vắng của không gian lạnh lẽo:

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.

Hai từ láy "lơ thơ" và "đìu hiu" được tác giả khéo sắp xếp trên cùng một dòng thơ

đã vẽ nên một quang cảnh vắng lặng "Lơ thơ" gợi sự ít ỏi, bé nhỏ "đìu hiu" lại gợi

sự quạnh quẽ Giữa khung cảnh "cồn nhỏ", gió thì "đìu hiu", một khung cảnh lạnh lẽo, tiêu điều ấy, con người trở nên đơn côi, rợn ngộp đến độ thốt lên "Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều" Chỉ một câu thơ mà mang nhiều sắc thái, vừa gợi "đâu đó",

âm thanh xa xôi, không rõ rệt, có thể là câu hỏi "đâu" như một nỗi niềm khao khát, mong mỏi của nhà thơ về một chút sự hoạt động, âm thanh sự sống của con người

Đó cũng có thể là "đâu có", một sự phủ định hoàn toàn, chung quanh đây chẳng hề

có chút gì sống động để xua bớt cái tịch liêu của thiên nhiên

Đôi mắt nhân vật trữ tình nhìn theo nắng, theo dòng trôi của sông:

"Nắng xuống, trời lên sâu chót vót,

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu."

"Nắng xuống, trời lên" gợi sự chuyển động, mở rộng về không gian, và gợi cả sự chia lìa: bởi nắng và trời mà lại tách bạch khỏi nhau "sâu chót vót" là cảnh diễn đạtmới mẻ, đầy sáng tạo của Huy Cận, mang một nét đẹp hiện đại Đôi mắt nhà thơ không chỉ dừng ở bên ngoài của trời, của nắng, mà như xuyên thấu và cả vũ trụ, cả không gian bao la, vô tận Cõi thiên nhiên ấy quả là mênh mông với "sông dài, trời rộng", còn những gì thuộc về con người thì lại bé nhỏ, cô đơn biết bao: "bến cô liêu"

Vẻ đẹp cổ điển của khổ thơ hiện ra qua các thi liệu quen thuộc trong Đường thi như:sông, trời, nắng, cuộc sông cón người thì buồn tẻ, chán chường với "vãn chợ chiều",mọi thứ đã tan rã, chia lìa

Nhà thơ lại nhìn về dòng sông, nhìn cảnh xung quanh mong mỏi có chút gì quen thuộc mang lại hơi ấm cho tâm hồn đang chìm vào giá lạnh, về cô đơn Nhưng thiênnhiên đã đáp trả sự khao khát ấy bằng những hình ảnh càng quạnh quẽ, đìu hiu:

Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng,

Mênh mông không một chuyến đò ngang.

Trang 37

Không cần gợi chút niềm thân mật,

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

Hình ảnh cánh bèo trôi bồng bềnh trên sông là hình ảnh thường dùng trong thơ cổ điển, nó gợi lên một cái gì bấp bênh, nổi trôi của kiếp người vô định giữa dòng đời Nhưng trong thơ Huy Cận không chỉ có một hay hai cánh bèo, mà là "hàng nối hàng" Bèo trôi hàng hàng càng khiến lòng người rợn ngộp trước thiên nhiên, để từ

đó cõi lòng càng đau đớn, cô đơn Bên cạnh hàng nối hàng cánh bèo là "bờ xanh tiếp bãi vàng" như mở ra một không gian bao la vô cùng, vô tận, thiên nhiên nối tiếp thiên nhiên, dường không có con người, không có chút sinh hoạt của con

người, không có sự giao hoà, nối kết:

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không cầu gợi chút niềm thân mật.

Tác giả đưa ra cấu trúc phủ định " không không" để phủ định hoàn toàn những kết nối của con người Trước mắt nhà thơ giờ đây không có chút gì gợi niềm thân mật để kéo mình ra khỏi nỗi cô đơn đang bao trùm, vây kín, chỉ có một thiên nhiên mênh mông, mênh mông Cầu hay chuyến đò ngang, phương tiện giao kết của con người, dường như đã bị cõi thiên nhiên nhấn chìm, trôi đi nơi nào

Huy Cận lại khéo vẽ nét đẹp cổ điển và hiện đại cho bầu trời trên cao:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa.

Bút pháp chấm phá với "mây cao đùn núi bạc" thành "lớp lớp" đã khiến người đọc tưởng tượng ra những núi mây trắng được ánh nắng chiếu vào như dát bạc Hình ảnh mang nét đẹp cổ điển thật trữ tình và lại càng thi vị hơn khi nó được khơi

nguồn cảm hứng từ một tứ thơ Đường cổ của Đỗ Phủ:

Mặt đất mây đùn cửa ải xa.

Huy Cận đã vận dụng rất tài tình động từ "đùn", khiến mây như chuyển động, có nội lực từ bên trong, từng lớp từng lớp mây cứ đùn ra mãi Đây cũng là một nét thơ đầy chất hiện đại, bởi nó đã vận dụng sáng tạo từ thơ cổ điển quen thuộc

Và nét hiện đại càng bộc lộ rõ hơn qua dấu hai chấm thần tình trong câu thơ sau Dấu hai chấm này gợi mối quan hệ giữa chim và bóng chiều: Chim nghiêng cánh nhỏ kéo bóng chiều, cùng sa xuống mặt tràng giang, hay chính bóng chiều sa, đè nặng lên cánh chim nhỏ làm nghiêng lệch cả đi Câu thơ tả không gian nhưng gợi

Trang 38

được thời gian bởi nó sử dụng "cánh chim" và "bóng chiều", vốn là những hình tượng thẩm mỹ để tả hoàng hôn trong thơ ca cổ điển.

Nhưng giữa khung cảnh cổ điển đó, người đọc lại bắt gặp nét tâm trạng hiện đại:

Lòng quê dợn dợn vời con nước,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

"Dợn dợn" là một từ láy nguyên sáng tạo của Huy Cận, chưa từng thấy trước đó Từláy này hô ứng cùng cụm từ "vời con nước" cho thấy một nổi niềm bâng khuâng, côđơn của "lòng quê" Nỗi niềm đó là nỗi niềm nhớ quê hương khi đang đứng giữa quê hương, nhưng quê hương đã không còn Đây là nét tâm trạng chung của nhà thơmới lúc bây giờ, một nỗi lòng đau xót trước cảnh mất nước

Bên cạnh tâm trạng hiện đại ấy là từ thơ cổ điện được gợi từ câu thơ: "Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai" của Thôi Hiệu Xưa Thôi Hiệu cần vịn vào sóng để mà buồn, mà nhớ, còn Huy Cận thì buồn mà không cần ngoại cảnh, bởi từ nỗi buồn nó

đã sâu sắc lắm rồi Thế mới biết tấm lòng yêu quê hương thắm thiết đến nhường nào của nhà thơ hôm nay

Cả bài thơ vừa mang nét đẹp cổ điển, vừa mang nét hiện đại Vẻ đẹp cổ điển được thể hiện qua lối thơ bảy chữ mang đậm phong vị Đường thi, qua cách dùng từ láy nguyên, qua việc sử dụng các thi liệu cổ điển quen thuộc như: mây, sông, cánh chim Và trên hết là cách vận dụng các tứthơ cổ điển, gợi cho bài thơ không khí cổkính, trầm mặc của thơ Đường

Vẻ đẹp hiện đại lan toả qua các câu chữ sáng tạo, độc đáo của nhà thơ như "sâu chótvót", dấu hai chấm thần tình Nhưng vẻ đẹp ấy đọng lại cuối cùng là tâm trạng nhớ quê hương ngay khi đứng giữa quê hương, nét tâm trạng hiện đại của các nhà tri thức muốn đóng góp sức mình cho đất nước mà đành bất lực, không làm gì được.Bài thơ sẽ còn mãi đi vào lòng người với phong cách tiêu biểu rất "Huy Cận", với

vẻ đẹp cổ điển trang nhã sâu lắng và vẻ đẹp hiện đại mang nặng một tấm lòng yêu nước, yêu quê hương

Đề 2 : Dành cho học sinh giỏi

Phân tích trong thế đối sánh để thấy được sự tương đồng và khác biệt của hai bài thơ Tràng giang (Huy Cận) và Chiều tối (Hồ Chí Minh) về vẻ đẹp cổ điển và hiện đại

Trang 39

+ Có cảm hứng đặc biệt đối với thiên nhiên

+ Miêu tả thiên nhiên theo kiểu chấm phá, không miêu tả nhiều chi tiết, cốt ghi lấy linh hồn của cảnh vật

+ Hình ảnh nhân vật trữ tình trong thơ bình tĩnh, ung dung như giao hoà với trời đất

* Nói một bài thơ hiện đại có vẻ đẹp cổ điển là muốn nói bài thơ đó gợi cho ta nhớ tới vẻ đẹp của những bài thơ cổ ở cách dùng từ, cách sử dụng các thi liệu, cách tả cảnh (theo lối chấm phá), cách tả tình (tả cảnh ngụ tình)…

Trang 40

2.2 Vẻ đẹp hiện đại : Nói vẻ đẹp hiện đại là nói tới sự sáng tạo, sự cách tân của cá nhân nhà thơ hiện đại thể hiện ở cách cảm, cách tả, cách sử dụng ngôn từ… không còn tính qui phạm như trong thơ cổ, tuy họ vẫn kế thừa vẻ đẹp của thơ cổ.

Sự tương đồng và khác biệt của hai bài thơ về vẻ đẹp cổ điển và hiện đại

3.1 Sự tương đồng

Vẻ đẹp cổ điển

– Cảm hứng thiên nhiên vào thời điểm buổi chiều

– Thi liệu hầu hết đều có trong thơ cổ

Vẻ đẹp hiện đại : Hình ảnh, chi tiết đều là thực chứ không phải ước lệ như trong thơcổ

3.2 Sự khác biệt

Vẻ đẹp cổ điển

* Tràng giang

+ Tên bài thơ là một từ Hán Việt

+ Cảm hứng đặc biệt với thiên nhiên : Bài thơ tràn ngập cảnh vật thiên nhiên : sông nước, mây, bầu trời, núi, nắng

+ Hình ảnh quen thuộc của thơ xưa : Dòng sông, con thuyền, đám mây, cánh chim, núi

+ Từ ngữ, hình ảnh mượn của Đường thi (từ đùn mượn của Đỗ Phủ ; hình ảnh khói hoàng hôn mượn của Thôi Hiệu)

+ Hình ảnh nhân vật trữ tình đối diện với thiên nhiên, gợi hình ảnh lữ thứ trong thơ

cổ Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi, Dặm liễu sương sa khách bước dồn (Chiều hôm nhớ nhà – Bà Huyện Thanh Quan)

Ngày đăng: 09/08/2017, 10:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w