Làm luật vì thời đại dân doanh Phạm Duy Nghĩa Để theo kịp với thời thế, Quốc hội nước ta hàng năm phải ban hành khoảng 30 đạo luật.. Pháp luật từ lâu chỉ là công cụ triển khai quyền lực
Trang 1Làm luật vì thời đại dân doanh
Phạm Duy Nghĩa
Để theo kịp với thời thế, Quốc hội nước ta hàng năm phải ban hành khoảng 30 đạo luật Trong khi đó, mỗi năm Quốc hội chỉ thông qua được trên dưới 10 đạo luật Cũng như thế, chỉ riêng năm 2003 Chính phủ còn nợ trên dưới 100 nghị định đáng lẽ cần phải được ban hành để hướng dẫn thi hành các đạo luật [1] Cứ đà này, chúng ta dường như thiếu luật triền miên, và có phải sự thiếu thốn đó làm cho nước ta nghèo và lạc hậu? Muốn pháp luật thực sự có thể góp phần chấn hưng quốc gia, cần phải xem xét lại vai trò của nó và cách thức làm cho pháp luật phục vụ cho một nền kinh tế phát triển Bài viết dưới đây bàn về pháp luật và cách làm luật cho hợp với thời đại ngày nay
Pháp luật phục vụ Nhà nước hay phục vụ nhân dân?
Đường sắt Việt Nam cõng trên lưng nó những đoàn tàu cũ kỹ, hoan
hỉ loan báo đã rút dần thời gian cho tuyến Bắc Nam từ 46 tiếng, xuống còn
40 tiếng, rồi 36 tiếng Thế có lẽ cũng là “kịch đường tàu”, bởi làm sao có thể
có đường sắt hiện đại trên tuyến đường ray vừa quá hẹp, lại cũ mòn và chắp vá
Cũng như vậy, muốn thực sự cải cách pháp luật, trước hết phải nỗ lực thay đổi cách nghĩ, cách nhìn về pháp luật Không phải là công cụ để nền quan chế cai trị nhân dân, mà ngược lại, pháp luật sinh ra để bảo vệ nhân dân và khống chế quyền lực nhà nước Đó là một cuộc lột xác đau đớn với những ai đang giữ quyền, bởi cai trị và ban phát mệnh lệnh cho người khác bao giờ cũng dễ chịu và thoải mái hơn là chịu để người khác cương toả, giám sát mình
1
Xem Tạp chí NCLP, 2004, số 7, tr 11
Trang 2Nhà nước, thị trường đều là những dạng thức thể hiện quyền lực Có
lẽ đã đến lúc không thể né tránh nghiên cứu về các loại quyền lực và các quy luật của chúng trong xã hội Việt Nam xưa cũng như nay Giới trí thức Việt Nam có lẽ phải đối mặt với một thứ khoa học cắt nghĩa về quyền lực, nhất là quyền lực nhà nước trong xã hội Việt Nam đương đại Pháp luật từ lâu chỉ là công cụ triển khai quyền lực nhà nước; trong hai chữ Hán Việt
đó đã không còn vang lên mạnh mẽ khát vọng về lẽ trung chính, sự thật và công lý ở đời Luật của nước ta là luật của giai cấp thống trị, từ lâu nay người Việt Nam xem tuân thủ pháp luật như là nghĩa vụ mà nhà nước áp
đặt, chứ không tự nguyện cung kính tôn thờ nó như là quy luật của cuộc
đời, của lẽ phải, của những gì được xem là cao quý và đáng tôn thờ nhất
Tương tự như vậy, tự do kinh doanh dường như là sự ban phát của công quyền Nhà nước kiểm tra được đến đâu, mới cho dân tự do đến đó Giấy chứng sinh của viên tư pháp cấp xã và sổ hộ khẩu không đẻ ra con người, sinh linh đó là nhân duyên của tạo hoá Thì cũng thế, quyền tự do phát triển nhân cách và đóng góp phần của mình vào cứu nước, giúp đời- quyền tự do làm kinh tế là quyền tự nhiên của mỗi con người Luật pháp chỉ có thể ghi nhận và ra sức bảo vệ quyền tự nhiên đó, tránh cho chúng bị tước đoạt đoặc lạm dụng, kể cả bởi cơ quan công lực
Tóm lại, từ vị trí cai trị, nhà nước thời nay buộc phải chuyển nhanh sang một nhà nước dịch vụ, cung cấp mọi tiện ích cho người dân tự do kinh doanh Thần dân thời xưa nay đang trở thành đối tác, người hợp tác và thậm chí giám sát, đòi hỏi cơ quan nhà nước phục vụ mình
Triết lý của quá trình làm luật
Làm luật, theo lời ông Nguyễn Đăng Dung, tựa như vá xăm xe đạp, thủng đâu vá đó Điều ấy có phần đúng, bởi lập pháp không có nghĩa là sáng tạo ra pháp luật, mà thường là lựa chọn những chính sách phù hợp
để phản ứng với đổi thay của thời thế rồi từ đó thể thức hoá chúng dưới những điều mà người ta quen gọi là quy phạm pháp luật
Từ một thời nhà nước là nhạc trưởng và hết thảy nhạc công, ca sĩ
đều là xí nghiệp quốc doanh, ngày nay thị trường là cuộc giành giật, đóng
Trang 3góp của muôn vàn người dân Cái động lực mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế tăng trưởng, không thể nói khác, chính là sức ép của cuộc cạnh tranh với sự ganh tài của khu vực tư nhân ngày càng lớn mạnh Một chính sách kinh tế
đúng đắn thời nay không nên cản trở kinh tế tư hữu, vì sớm hay muộn, thứ kinh tế phi quốc doanh đó cũng sẽ tràn vào khống chế thị trường nội địa và
đe doạ thôn tính các nguồn tài nguyên hạn hẹp nước ta Gần 80 hiệp định
tự do hoá thương mại đã lặp lại vô số những cam kết mở cửa đó Bởi vậy, buộc phải hạn chế kinh tế quốc doanh, nhà nước cần tổ chức kinh doanh ít nhất như cần thiết Thay vào đó tìm mọi cách tạo điều kiện nâng đỡ dân doanh
Đó là một nhận thức đã phổ biến ở nhiều nơi, song không dễ chấp nhận đối với nước ta Chính sách cổ phần hoá như một “điệu nhạc ngập ngừng”, sau 12 năm mới cổ phần hoá khoảng 7% vốn và tài sản của doanh nghiệp quốc doanh Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003 lại rộng cửa
ôm lấy đủ loại công ty do nhà nước đầu tư một phần vốn Nếu mẹ quốc doanh đầu tư vào các công ty con, thì cung cách cấp vốn và quản trị vẫn do
mẹ lãnh xướng Chỉ có điều “mẹ nghèo, mất con”; khi các nguồn vốn đã cạn kiệt, liệu sự ôm đồm đó có còn ý nghĩa?
Giã từ thời đại quốc doanh, người Tàu đã chuyển nhanh sang thời
đại dân doanh, trong đó kinh tế nhà nước chỉ chiếm khoảng 30% tổng thu nhập quốc nội Thà “nắm lớn, thả nhỏ” hơn là nắm lấy tất cả mà tiếp tục lãng phí các nguồn tài nguyên Nếu chỉ riêng Bộ NN&PTNT đã phải quản
lý tới hơn 200 doanh nghiệp trực thuộc, thì các quan chức của bộ này không còn nhiều thời gian cho công việc chính, đáng ra phải làm, cũng là
điều dễ hiểu
Tóm lại, ở một xứ văn hiến ngàn năm như nước ta, thiếu luật không nguy hiểm bằng thừa luật Luật có thể ít và thiếu thốn, song tinh thần pháp luật cần rõ ràng Thêm nữa, cần phải nhấn mạnh rằng, thiếu pháp luật không nguy hiểm bằng thiếu một hệ thống tư pháp công tâm, độc lập, biết tự phán xử và sáng tạo ra án lệ để bảo vệ lẽ công bằng
Vì những lẽ đó, có thể tóm tắt triết lý lập pháp cho thời đại dân doanh bằng mấy chữ: điều gì có lợi cho dân doanh thì làm, điều gì cản trở dân doanh thì bỏ
Trang 4Nhận biết chính sách và dịch chính sách thành quy phạm luật
Chính sách là hồn của văn bản luật, không hiếm khi pháp luật nước
ta phô ngay chính sách đó ra một cách trần trụi, mở đường cho vô số vụ kiện bởi nghiệp đoàn nước ngoài Chính sách khi ẩn, khi hiện, khi được che
đậy khéo léo kỹ càng, song đạo luật nào cũng ẩn chứa một thứ chính sách Thường cơ quan hành pháp góp phần nhận biết và đề ra chính sách Sau
đó người ta dịch thứ chính sách đó thành các quy phạm, dưới dạng một dự thảo văn bản pháp luật Quốc hội hoặc các cơ quan dân cử làm phần việc thẩm tra chính sách đó, nếu thấy phù hợp và cân đối lợi ích giữa các giai tầng trong xã hội thì luật đó được ban hành
Căn bệnh nghiêm trọng trong lập pháp thời nay theo tôi là sự bất cân xứng về thông tin Đôi khi nhìn vào một dự luật, người ta không thể hoặc rất khó đoán dự luật đó bảo vệ lợi ích của ai Toàn bộ quy trình lập pháp, suy cho cùng là tạo mọi kênh thông tin, làm cho người dân phản ánh lợi ích đa dạng của mình Nhà lập pháp dựa trên những lợi ích đó mà tìm cách cân bằng quyền lợi của cử tri
Thực tế làm luật ở nước ta còn đôi điều bất cập Thứ nhất, chính sách trong một đạo luật đôi khi không rõ ràng, nhất quán; thứ hai các giai
đoạn của lập pháp đôi khi trùng lặp, nhiều người cùng làm một phần việc, lặp đi lặp lại Sự vướng víu này làm cho nhiều đạo luật như những mệnh lệnh ngập ngừng, khi triển khai thực hiện tránh sao khỏi trống đánh xuôi, kèn thổi ngược Luật DNNN 2003, Luật Đất đai sửa đổi 2004 và Luật phá sản 2004 đều cung cấp vô số dẫn chứng cho nhận định trên Bởi vậy cần nhận diện rõ vai trò của các tác nhân chính trong quá trình xây dựng chính sách và chuyển hoá chúng thành luật Trong số các tác nhân đó, các nhóm lợi ích, đặc biệt là các hiệp hội kinh tế, ngày càng có một ảnh hưởng
đáng kể trong hoạt động lập pháp Kênh ảnh hưởng đáng kể nhất của các hiệp hội này là “vận động hành lang”
Chấp nhận và công khai hoá vận động hành lang trong làm luật
Trang 5“Đứng mà bẩm không bằng ngồi mà bẩm, ngồi mà bẩm không bằng nằm mà bẩm”; quan có quyền ban hành chính sách, người buôn có quyền
sử dụng đồng tiền của mình; sự liên thông giữa những quyền lực đó đã rất
cổ xưa Ngày nay, giới thương nhân thông qua hiệp hội kinh tế cũng không ngừng ảnh hưởng tới việc hoạch định, ban hành và thực thi các chính sách công Khi doanh nhân là lực lượng chính tạo ra việc làm và của cải trong xã hội, thì việc chuyển hoá ý chí của họ thành chính sách cũng cần được khảo cứu
Phương cách tác động chính của hiệp hội là vận động hành lang, thường được thực hiện bởi những người hành nghề chuyên nghiệp Vì tổ chức có sáng kiến lập pháp chủ yếu là các cơ quan hành chính, bởi vậy đối tượng cần được vận động chủ yếu nhất không phải là Quốc hội, mà là Chính phủ và các cơ quan thuộc Chính phủ Gây dựng những mối quan hệ thân thiện, dành quà tặng và lợi ích cho giới hoạch định chính sách, các hiệp hội gây ảnh hưởng chủ yếu bằng cách cung cấp thông tin và định hướng dư luận Họ tìm cách thuyết phục quan chức hành chính và những nhà lập pháp về tầm quan trọng và tính hợp lý của những chính sách có lợi cho hiệp hội của họ; họ gia nhập các diễn đàn để góp phần từng bước chuyển hoá chính sách dưới dạng những văn bản pháp luật có hiệu lực thi hành Đó chính là bản chất của vận động hành lang
Sự tái xuất hiện và gia tăng ảnh hưởng của các hiệp hội, nhất là của hơn 300 hiệp hội, làm cho việc nghiên cứu quy luật hoạt động của những mô hình này trở nên cần thiết Vừa cung cấp thông tin, vừa dùng các lợi ích vật chất và tinh thần để có được sự quan tâm ủng hộ của quan chức hành chính và các nhà lập pháp, các hiệp hội có khả năng điều tiết dư luận
có lợi cho những chính sách vì lợi ích của họ Minh bạch hoá các giao dịch vận động hành lang này là một cách hợp lý để giám sát ảnh hưởng của hiệp hội, đảm bảo cho các chính sách và pháp luật được ban hành vì lợi ích của số đông dân chúng./