HỆ THỐNG TỰ ĐỘNG NHẬN DẠNG AIS (AUTOMATIC IDENTIFICATION SYSTEM) Tiếu Văn Kinh Theo Quy định 19 đoạn 2.4 Chương V của SOLAS 1974 (IMO), đã sửa đổi, yêu cầu tất cả các tàu có tổng dung tích 300 trở lên chạy tuyến quốc tế, tất cả tàu hàng có tổng dung tích 500 trở lên chạy tuyến quốc tế và tất cả các tàu khách không kể kích thước phải lắp đặt hệ thống nhận dạng tự động (AIS). IMO cũng đã đưa ra khuyến cáo về một lộ trình lắp đặt AIS trên các tàu chỉ định từ nay đến 2008. Đến nay đã có nhiều tàu lắp đặt thiết bị AIS.
Trang 1HỆ THỐNG NHẬN DẠNG TỰ ĐỘNG
TOÀN CẦU
(Universal Automatic Identification System – AIS)
By Lê
Văn Ty
Khi nhìn nhận về công dụng của một hệ thống thiết bị, tài liệu nước ngoài viết rằng: không còn nghi ngờ gì nữa AIS sẽ nâng cao tính an toàn trên biển cả về mặt hành hải và bảo vệ môi trường
Chính vì lẽ đó, tại chương V của Công ước SOLAS (phần Hành hải
an toàn), bổ sung năm 2002 đã quy định như sau:
Các tàu có tổng dung tích từ 300 GT trở lên thực hiện các tuyến
đi quốc tế, các tàu có tổng dung tích từ 500 GT trở lên không chạy tuyến quốc tế, các tàu khách không kể kích thước, phải lắp đặt thiết bị AIS, với các mốc thời gian áp dụng như sau :
- Các tàu đóng vào hoặc sau ngày 1-7-2002: phải lắp đặt ngay
- Tàu khách chạy tuyến quốc tế (đóng trước 1-7-2002): từ
1-7-2003
- Tàu chở hàng lỏng: không được muộn hơn ngày kiểm tra
an toàn trang thiết bị đầu
tiên kể từ ngày 1-7-2003
- Các tàu (không phải tàu khách và tàu hàng lỏng), có tổng dung tích từ 50.000 GT
trở lên : từ ngày 1-7-2004 Nếu tổng dung tích từ 10.000 đến 50.000: từ ngày 1-7-2005 Tàu từ 3000 đến 10.000: từ ngày 1-7-2006 Tàu từ 300 đến 3.000 GT: từ 1-7-2007 Các tàu chạy tuyến nội địa, đóng trước 1-7-2002: việc lắp đặt không muộn hơn 1-7-2008
Như vậy, theo quy định của công ước thì thời gian dành cho một số tàu đã qúa gần Các công ty có tàu nằm trong khung quy định đã phải gấp rút trang bị Các sỹ quan hàng hải phải nhanh chóng cập nhật kiến thức để khai thác hệ thống Trong phạm vi bài viết này chỉ có thể nêu một số điểm khái lược để người đọc hình dung đến một hệ thống đảm bảo an toàn đã được đánh gía là rất ưu việt, đồng thời cũng chỉ ra những hạn chế không thể xem thường khi vận hành, có thể gây ra nguy cơ mất an toàn
AIS được thiết kế với mục đích nâng cao tính an toàn cho hàng hải
Nó có các công dụng sau:
Trang 2- Tự động cung cấp cho trạm theo dõi trên bờ, cho các tàu khác những thông tin cần thiết như số nhận dạng của tàu (ID), loại tàu, các thông số kỹ thuật cơ bản, mớn nước, vị trí, hướng hành trình, tốc độ tàu mình và một số thông tin an toàn khác Thông tin mà tàu cung cấp được phân thành 3 loại khác nhau:
+ Những thông tin cố định hoặc không thay đổi, được đưa vào AIS ngay khi lắp đặt, nếu có sự thay đổi thì cài đặt lại (ví dụ như loại tàu, vị trí anten của hệ thống định vị…) + Thông tin động về trạng thái hành hải (vị trí tàu, hướng thực tế, tốc độ thực tế, tàu đang neo, đang bị mắc cạn, đang cập cầu…) được cập nhật tự động thông qua các thiết bị nối kết như tốc độ kế, la bàn, GPS, radar… + Thông tin liên quan đến kế hoạch chuyến đi (mớn nước, loại hàng hóa, thời gian dự kiến tàu đến cảng, sơ đồ tuyến đi), được đưa vào và cập nhật trong chuyến
Thông tin cập nhật trên tàu được truyền đi ở các khoảng thời gian khác nhau: Các thông tin động thì phụ thuộc vào tốc độ chuyển động và tốc độ quay trở của tàu (ví dụ: tàu neo thì cách nhau 3 phút phát 1 lần, tàu có vận tốc dưới 14 hải lý / giờ thì cách nhau 12 giây ), Thông tin tĩnh và số liệu liên quan đến hành trình thì cách nhau 6 phút phát 1 lần hoặc theo yêu cầu đặt ra
Với những chức năng truyền dữ liệu như trên nó đồng nghĩa với việc giảm bớt sự liên lạc bắt buộc bằng lời khi tàu tiến và khu vực có hệ thống kiểm soát lưu thông đường thủy (VTS) AIS còn có nhiều chức năng khác như:
- Tự động nhận lại các thông tin như vậy từ các tàu có trang bị AIS
- Kiểm soát đường đi của tàu
- Người ta còn nói đến khả năng tiềm ẩn làm giảm chi phí khai thác tàu
- Đối với những người điều khiển tàu, chúng ta còn hiểu rằng khi hành hải trong đêm tối, khi radar không phát hiện được các thuyền nhỏ do nhiễu biển, mưa, trong khu vực có tầm nhìn xa bị hạn chế mà nhận được đầy đủ thông tin của một tàu khác gần đó để có hành động tránh va kịp thời thì còn gì bằng Như vậy, một khi hệ thống này được trang bị đầy đủ, bắt buộc trên tất cả các tàu, thuyền thì nội dung của điều 19 trong COLREGS 72 chắc cũng phải thay đổi, tránh việc hiểu nhầm để các sỹ quan hàng hải đưa ra các hành động tránh va không phù hợp
- Khi hành trình trong khu vực có nhiều mục tiêu vừa cố định, vừa di động như khu vực nội hải, trong cảng, giữa khu
Trang 3vực có nhiều đảo nhỏ… các sỹ quan hàng hải cũng không thể nhầm lẫn, nếu có AIS
AIS là một hệ thống phát và thu nhận, hoạt động trên 2 kênh đã có sẵn của dải băng tần VHF hàng hải (AIS1 – 161,975 MHz và AIS2 – 162,025MHz) Ở những nơi không có những kênh này thì AIS tự động chuyển kênh đến tần số đã đăng ký của thiết bị liên lạc trên bờ Còn những nơi vừa không có hệ thống AIS hoặc trạm GMDSS trong vùng A1 thì phải dò tìm bằng phương pháp thủ công Trong thực tế, khả năng của hệ thống là không hạn chế, cho phép một số lượng lớn các tàu trong khu vực có thể thu nhận đồng thời Hệ thống AIS có thể phát hiện được các tàu trong tầm xa của sóng VHF/HF, kể cả những tàu khuất sau các đảo, nếu độ cao không lớn lắm Phụ thuộc vào chiều cao anten, khả năng phát hiện khoảng 20-30 hải lý Người ta còn bố trí các trạm chuyển tiếp để có thể liên lạc được xa hơn với hệ thống kiểm soát giao thông (VTS) Bộ phận thu nhận của AIS còn có thể thu những bức điện ngắn liên quan đến nguy hiểm hàng hải, quản lý giao thông, quản lý của cảng biển và phát đi cho một tàu cụ thể nào đó hoặc cho các tàu trong khu vực AIS còn có thể tự động trao đổi thông tin giữa tàu và bờ khi sử dụng AIS và thiết bị liên lạc vô tuyến tầm
xa Nó còn có khả năng truyền dữ liệu radar của hệ thống VTS AIS trên tàu truyền đi các thông tin một cách liên tục và tự động, không cần biết các sỹ quan trực ca của tàu khác có nhận hay không Một trạm bờ có thể yêu cầu một tàu cụ thể nào đó phát đi thông tin mới nhất bằng cách chỉ định cho tàu đó, hoặc một số tàu trong khu vực nào đó
Nếu người ta lắp đặt thêm một số thiết bị theo dõi (chi phí cơ sở hạ tầng) thì nó có khả năng cung cấp cho tàu một số thông tin về môi trường như thủy triều, dòng chảy, tầm nhìn xa…
Tất nhiên AIS cũng có tác dụng rất lớn trong việc tìm và cứu nạn trên biển
Hệ thống thu nhận trên tàu có khả năng chỉ thị tối thiểu Tuy nhiên nó cũng có thể chỉ thị một cách sinh động hơn bằng đồ họa khi nối kết với các thiết bị khác như radar, ARPA, hải đồ điện tử Nó làm tăng đáng kể hiệu qủa của hệ thống
AIS là hệ thống toàn cầu, vì vậy nó phải triển khai theo những tiêu chuẩn quốc tế để chúng có khả năng tương thích khi 2 tàu gặp nhau cũng như giữa một tàu bất kỳ và một cảng hay một hệ thống VTS nào đó
Giới hạn của hệ thống AIS và những lưu ý khi khai thác:
Chúng ta biết rằng AIS với rất nhiều ưu điểm như đã nêu ở trên, vì vậy IMO đã đưa ra nghị quyết để bắt buộc trang bị trên các tàu, nhằm nâng cao tính an toàn trong hàng hải Tuy nhiên cũng như nhiều thiết bị khác mà chúng ta đã biết, bao giờ cũng chứa đựng những hạn chế về kỹ thuật và khai thác, chúng sẽ là tiềm ẩn của những tai nạn
- Các sỹ quan trực ca trên tàu có trang bị AIS nên nhớ rằng, các tàu khác, thuyền nhỏ, tàu đánh cá, tàu quân sự, khu vực bờ
Trang 4mà tàu đang đi qua có thể không có hệ thống AIS Vì chúng chưa hoặc không bắt buộc phải trang bị
- Các tàu có trang bị nhưng họ không cho hoạt động
- Thông tin thu được từ AIS không phải là bức tranh toàn cảnh xung quanh tàu
- Người sử dụng có trách nhiệm đưa vào máy tất cả các thông tin cùng với những thông tin từ các thiết bị kết nối Nếu thông tin truyền đi có sai lệch sẽ dẫn đến việc đánh giá nguy cơ va chạm bị sai Độ chính xác của thông tin thu được hoàn toàn phụ thuộc vào độ chính xác của thông tin truyền đi
- Khi sử dụng hệ thống AIS giữa tàu và tàu với mục đích tránh
va chạm, sỹ quan trực ca (SQTC) cần nhớ rằng các thông tin về hành trình không thay thế cho những thông tin được radar hoặc hệ thống VTS cung cấp, mà nó chỉ để trợ giúp cho sỹ quan xem xét Sĩ quan trực ca phải luôn tuân thủ Quy tắc phòng ngừa và tránh va (COLREGS), AIS không làm giảm trách nhiệm cho sĩ quan khi xẩy ra va chạm
- AIS không có một ý định tác động đặc biệt nào vào ca trực, mà sĩ quan trực luôn phải tuân thủ công tác trực ca quy định trong bộ luật STCW
Trong tương lai, các trung tâm VTS sẽ phát đi những thông tin có sẵn của các tàu không trang bị AIS cho các tàu có máy thu AIS SQTC phải hết sức cẩn thận với những thông tin được đưa ra từ thành phần gián tiếp này
Trang 5Kết luận
Bên cạnh việc khai thác các chức năng ưu việt của AIS, các sỹ quan hàng hải luôn luôn nhớ rằng yếu tố con người mới quyết định tính an toàn tuyệt đối với con tàu mà chúng ta đang điều khiển
Thiết bị AIS đã được thừa nhận về tiêu chuẩn kỹ thuật vào cuối năm 2001
AIS phải được khai thác theo những hướng dẫn đã được IMO thông qua
Tài liệu tham khảo
IMO news
SOLAS 2002 Amendments
AIS – IMO Resolution A 917 (22) Automatic Identification Systems
What is AIS? Transport Canada