1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐỀ CƯƠNG MÔN TRIẾT 3

20 361 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 219 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 1 Tư tưởng triết học nho giáo về vấn đề thế giới quan, con người ( quan niệm, bản tính, mối quan hệ)> đánh giá. Tư tưởng triết học nho giáo về vấn đề con người 1.1.1. Quan niệm về bản tính con người: Nho giáo đặt vấn đề tìm một bản tính có sẵn và bất biến của con người. Đức Khổng Tử và Mạnh Tử đều quan niệm bản tính con người ta sinh va vốn thiện. Bản tính “thiện” ở đây là tập hợp các giá trị chính trị, đạo đức của con người. Xuất phát từ quan niệm bản tính con người ta sinh va vốn thiện, Khổng tử xây dựng phạm trù “nhân” với tư cách là phạm trù trung tâm trong triết học của ông. Ông cho rằng bản tính con ngươi là giống nhau và do trời phú vì con người ai cũng ham thích giàu sang, chán ghét sự nghèo hèn làm cho con người bị chi phối bởi tập tính và tập quán mà con người ngày càng xa nhau. Để trở thành con người hoàn thiện, một điều kiện tất yếu khác là phải “hiểu biết mệnh trời”, để sống “thuận mệnh”. Ông viết: “không biết mệnh trời thì không lấy gì làm quân tử”, nhưng ông kêu gọi mọi người trước hết phải tìm sức mạnh vươn lên ở trong chính bản thân mỗi người, đừng trông chờ vào trời đất quỷ thần. Con người phải chú trọng vào nỗ lực học tập,làm việc tận tâm tận lực, con người thành bại thế nào, lúc đó mới tại ý trời. Mạnh tử phát triển tư tưởng Khổng tử theo hướng duy tâm, hướng thiện; bản tính con người ta là do trời phú đó là tính thiện. Một khi con người tiếp tục phát huy tính thiện trời phú biết kết hợp nó với tứ đoan thì con người sẽ trở nên tốt tính, thành những bậc hiền nhân quân tử; ngược lại nếu không tu tâm dưỡng tính thì tính thiện ngày một mất đi và con người vì thế mà không khác gì loài cầm thú. Tuy nhiện, Tuân Tử cho rằng: “tính người là ác, thiện là do người làm ra”, bản tính con người là ác do sự tranh giành nhau trong cuộc sống để thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Tuân Tử đề cao khả năng và vai trò của con người. Ông khẳng định trời không thể quyết định vận mệnh con người, ộng cho rằng không thể chờ đợi tự nhiên ban phát một cách bị động mà phải vận dụng tài trí, khả năng của mình, dựa vào quy luật của tựu nhiên mà sáng tạo ra những của cải, sản vật để phục vụ cho đời sống của con người. Quan niệm về các mối quan hệ của con người Con người có rất nhiều mối quan hệ trong xã hội, song các nhà nho chỉ chú trọng vấn quan hệ chính trị, đạo đức. Khổng tử muốn xây dựng một xã hội “vua ra vua, bề tôi ra bề tôi, ch ra cha, con ra con”. Xã hội thịnh trị khi xã hội ấy có tôn ti trật tự nhất định, có đường lối chính trị đúng đắn, dân chúng được giáo hóa thuận trời đất, thuận lòng người; một xã hội loạn là không tuân theo một trật tự nhất định. Mạnh Tử kê tục Khổng Tử và khái quát nên 5 mối quan hệ (ngũ luân): quần – thần (vua phải anh minh, tài chí cao và làm gương cho quần thần, dân thì phải trung với vua); Phụ tử (cha hiền từ,con phải hiếu thảo), phu phụ (chồng trọng nghĩa, vợ phải trinh), Huynh – đệ (phải có trên có dưới, em phục tùng anh), bằng – Hữu (giữ được chữ tín, đối xử với nhau chân thành). Cho rằng: “Quân thần hữu nghĩa, phụ tử hữu thân, phu phụ hữu biệt, trưởng ấu hữu tự, bằng hữu hữu tín”. Ở Việt Nam, ảnh hưởng của mối quan hệ cha mẹ và con cái trong từng gia đình rất sâu sắc, góp phần xây dựng truyền thống của con người trong xã hội. Ông cha ta có câu: “Công cha như núi Thái Sơn ;Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ kính cha; Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.” Để biến một xã hội đang loạn thành thịnh trị, thái bình nho giáo chủ trương đưa ra thuyết chính danh: Người nào ở địa vị nào phải thực hiện đúng bổn phận ở địa vị ấy. Trong đó Khổng Tử đã chỉ ra 3 mối quan hệ quan trọng: Quầnthần, Phụ tử, phu phụ. Để thực hiện được ngũ luân phải thực hiện được ngũ thường: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, nghĩa là phải tu thân. + Nhân: là đức tính quan trọng, là gốc của đạo đức con người, là yêu người, thương người, tôn trọng người hiền tài, là nội dung của lễ. + Lễ: là phong tục, tập quán, là những quy tắc, thể chế pháp luật đạo đức. + Trí, dũng: Trí là để phân biệt phải trái, dũng là có đủ dũng cảm làm việc nghĩa và muốn có trí không phải tự nhiên mà phải do giáo dục rèn luyện.

Trang 1

TRIEETS 3 Câu 1 Tư tưởng triết học nho giáo về vấn đề thế giới quan, con người ( quan niệm, bản tính, mối quan hệ)-> đánh giá

Tư tưởng triết học nho giáo về vấn đề con người

1.1.1 Quan niệm về bản tính con người:

Nho giáo đặt vấn đề tìm một bản tính có sẵn và bất biến của con người Đức Khổng Tử

và Mạnh Tử đều quan niệm bản tính con người ta sinh va vốn thiện Bản tính “thiện” ở đây là tập hợp các giá trị chính trị, đạo đức của con người

Xuất phát từ quan niệm bản tính con người ta sinh va vốn thiện, Khổng tử xây dựng phạm trù “nhân” với tư cách là phạm trù trung tâm trong triết học của ông Ông cho rằng bản tính con ngươi là giống nhau và do trời phú vì con người ai cũng ham thích giàu sang, chán ghét sự nghèo hèn làm cho con người bị chi phối bởi tập tính và tập quán mà con người ngày càng xa nhau Để trở thành con người hoàn thiện, một điều kiện tất yếu khác là phải “hiểu biết mệnh trời”, để sống “thuận mệnh” Ông viết: “không biết mệnh trời thì không lấy gì làm quân tử”, nhưng ông kêu gọi mọi người trước hết phải tìm sức mạnh vươn lên ở trong chính bản thân mỗi người, đừng trông chờ vào trời đất quỷ thần Con người phải chú trọng vào nỗ lực học tập,làm việc tận tâm tận lực, con người thành bại thế nào, lúc đó mới tại ý trời

Mạnh tử phát triển tư tưởng Khổng tử theo hướng duy tâm, hướng thiện; bản tính con người ta là do trời phú đó là tính thiện Một khi con người tiếp tục phát huy tính thiện trời phú biết kết hợp nó với tứ đoan thì con người sẽ trở nên tốt tính, thành những bậc hiền nhân quân tử; ngược lại nếu không tu tâm dưỡng tính thì tính thiện ngày một mất đi

và con người vì thế mà không khác gì loài cầm thú

Tuy nhiện, Tuân Tử cho rằng: “tính người là ác, thiện là do người làm ra”, bản tính con người là ác do sự tranh giành nhau trong cuộc sống để thỏa mãn nhu cầu cá nhân Tuân

Tử đề cao khả năng và vai trò của con người Ông khẳng định trời không thể quyết định vận mệnh con người, ộng cho rằng không thể chờ đợi tự nhiên ban phát một cách bị động mà phải vận dụng tài trí, khả năng của mình, dựa vào quy luật của tựu nhiên mà sáng tạo ra những của cải, sản vật để phục vụ cho đời sống của con người

Quan niệm về các mối quan hệ của con người

Con người có rất nhiều mối quan hệ trong xã hội, song các nhà nho chỉ chú trọng vấn quan hệ chính trị, đạo đức Khổng tử muốn xây dựng một xã hội “vua ra vua, bề tôi ra

bề tôi, ch ra cha, con ra con” Xã hội thịnh trị khi xã hội ấy có tôn ti trật tự nhất định,

có đường lối chính trị đúng đắn, dân chúng được giáo hóa thuận trời đất, thuận lòng người; một xã hội loạn là không tuân theo một trật tự nhất định

Mạnh Tử kê tục Khổng Tử và khái quát nên 5 mối quan hệ (ngũ luân): quần – thần (vua phải anh minh, tài chí cao và làm gương cho quần thần, dân thì phải trung với vua); Phụ- tử (cha hiền từ,con phải hiếu thảo), phu- phụ (chồng trọng nghĩa, vợ phải trinh), Huynh – đệ (phải có trên có dưới, em phục tùng anh), bằng – Hữu (giữ được chữ tín, đối xử với nhau chân thành) Cho rằng: “Quân thần hữu nghĩa, phụ tử hữu thân, phu phụ hữu biệt, trưởng ấu hữu tự, bằng hữu hữu tín”

Ở Việt Nam, ảnh hưởng của mối quan hệ cha mẹ và con cái trong từng gia đình rất sâu sắc, góp phần xây dựng truyền thống của con người trong xã hội Ông cha ta có câu:

Trang 2

“Công cha như núi Thái Sơn ;Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Một lòng thờ mẹ kính cha; Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.”

Để biến một xã hội đang loạn thành thịnh trị, thái bình nho giáo chủ trương đưa ra thuyết chính danh: Người nào ở địa vị nào phải thực hiện đúng bổn phận ở địa vị ấy Trong đó Khổng Tử đã chỉ ra 3 mối quan hệ quan trọng: Quần-thần, Phụ - tử, phu- phụ

Để thực hiện được ngũ luân phải thực hiện được ngũ thường: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, nghĩa là phải tu thân

+ Nhân: là đức tính quan trọng, là gốc của đạo đức con người, là yêu người, thương người, tôn trọng người hiền tài, là nội dung của lễ

+ Lễ: là phong tục, tập quán, là những quy tắc, thể chế pháp luật đạo đức

+ Trí, dũng: Trí là để phân biệt phải trái, dũng là có đủ dũng cảm làm việc nghĩa và muốn có trí không phải tự nhiên mà phải do giáo dục rèn luyện

1.1.2 Ảnh hưởng của nho giáo ở Việt Nam

Những quan niệm về con người của nho giáo ảnh hưởng lớn đối với Việt Nam

a Ảnh hưởng tích cực

- Nho giáo góp phần xây dựng các triều đại phong kiến vững mạnh và bảo vệ chủ quyền dân tộc Công lao của nho giáo là đào tạo các nho sĩ Việt nam trong đó có nhiều nhân tài kiệt xuất như: Lê Quý Đôn, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du…

- Khi nho giáo truyền vào Việt Nam, những nội dung giáo dục của Nho giáo cũng được truyền vào nổi bật là việc giáo dục nhân cách: Về nhân, lễ, nghĩa, trí, tín…phù hợp với truyền thống con người Việt Nam và được xã hội chấp nhận Nó thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm truyền thống con người Việt Nam thể hiện tình yêu thương đùm bọc nhau

“Lá lành đùm lá rách”, “thương người như thể thương thân”…

- Việc kết hợp giáo dục đạo đức và pháp luật, việc tu thân và tự sửa mình, gương mẫu làm điều nhân nghĩa… có ý nghiã lớn lao trong việc giáo dục con người hiện nay

- Đảng ta thực hiện đường lối lấy dân làm gốc, với khẩu hiệu :”dân giàu, nước mạnh” và “chúng ta không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng”

Bác Hồ khi kế thừa các tư tưởng triết học nho giáo đã tinh lọc, loại bỏ những tư tưởng không phù hợp với thời đại và hoàn cảnh của Việt Nam lúc bấy giờ, chẳng hạn như Khổng Tử cho rằng: “thứ dân bất nghị” tức là dân thừng không có quyền bàn việc nước, còn bác Hồ đề cao dân chủ Khổng Tử coi thường vị trí, vai trò của người phụ nữ trong xã hội thì Bác chủ trương nam nữ bình quyền

b Ảnh hưởng tiêu cực

- Nho giáo duy trì, củng cố chế độ phong kiến lạc hậu làm kìm hãm sự phát triển của sản xuất của Việt Nam

- Duy trì tư tưởng gia trưởng, chuyên quyền, độc đáo, bất bình đẳng, bảo thủ, lạc hậu

- Nho giáo không thúc đẩy phát triển khoa học tự nhiên

Trang 3

Câu 2 Quan niệm đức trị trong nho giáo, thuyết chính danh -> đánh giá

1.1 Quan điểm

Quan niệm về đức và đường lối đức trị: Đức là gốc của con người, làm người mà có nếp hiếu thì ít ai xúc phạm tới bề trên; người quân tử mà rèn luyện đạo đức được thì

sẽ được bề tôi kính trọng Đức của người cầm quyền được thể hiện qua 3 phạm trù cơ bản: nhân, lễ và chính danh

- Nhân: Khổng Tử coi nhân là phạm trù đạo đức cao nhất, quan trọng nhất, nội dung của nó là yêu thương con người, nhân đạo với con người, nhân cũng là đức hạnh của người quân tử Những gì mình muốn thành đạt thì giúp người khác cùng đạt, những gì mình không muốn thì đừng làm cho người; hiếu là gốc của nhân, đốc thúc bản thân tuân thủ lễ để làm người có nhân Với Khổng Tử diều quan trọng nhất trong tư tưởng về “nhân” là biểu hiện về mặt chính trị của nó, thái độ với dân là tiêu chuẩn quan trọng nhất đánh giá đức nhân của kẻ cầm quyền Người làm chính trị muốn có đức nhân phải có 5 điều: Trọng dân, khoan dung độ lượng với dân, phải giữ lòng tin với dân, mẫn cán, đem lòng nhân ái đối xử với dân

- Lễ: lễ dùng để duy trì trật tự xã hội, có trật tự xã hội thì vua mới được tôn, nước mới được trị Khổng tử xem lễ là hình thức của nhân, là chính đạok mà mọi người nên thực hành Lễ bao gồm lễ nghi tế tự và nghi thức ứng xử; lễ là nguyên tắc ứng xử của con người, điều gì trái lễ thì không nhìn, trái lễ không nghe, trái lễ không nói, trái lễ không làm Nhà vua lấy lễ để sai khiến bề tôi, còn bề tôi lấy trung mà thờ vua Lễ là biện pháp đạt đến đức nhân

- Chính danh: Quy định rõ danh phận của mỗi người trong xa hội Trong việc chính trị theo Khổng Tử chính danh phải đặt lên trước nhất bwoir nếu danh không chính thì lời nói không thuận lý, lời nói không thuận thì sự việc không thành, sự việc không thành thì lễ nhạc chế độ không được kiến lập, lễ nhạc chế độ không được kiến lập thì hình phạt không đúng, hình phạt không đúng thì nhân dân không biết phải làm sao cho phải Chính danh là biện pháp chống lại sự vượt quyền, người nào ở vị trí nào phải thực hiện đúng bổn phận ở vị trí đó Khổng tử yêu cầu người cầm quyền phải có trí và dũng Trí để phân biệt phải trái, dũng là có đủ can đảm để làm việc nghĩa; ngoài

ra còn cần phải cung, khoan, tín, mẫn, huệ

Mạnh tử nêu tư tưởng trị nước nhân chính và thống nhất Nội dung chính của thuyết nhân chính là đạo đức nhân nghĩa trong đường lối trị nước, theo đó nhà cầm quyền phải chú trọng đến đời sống của dân, lo cho dân có của ăn của để; nó đề cao vị thế của dân: coi trọng dân sau đó mới đến xã tắc, còn vua thì xem thường, không những thế ông còn có tư tưởng dân chủ khi cho rằng những kẻ tàn ác mà cầm quyền thì sẽ bị trời và dân lật đổ Mạnh tử còn chủ trương thống nhất, chống chiến tranh

Tuân Tử chú trọng đến vai trò của lễ trong đường lối trị nước Lễ điều hòa các mối quan hệ xã hội, làm cho con người chấp nhận sự phân chia đẳng cấp xã hội và kéo theo sự phân công lao động xã hội cũng như phân phối sản phẩm từ lao động Đồng thời Tuân tử đề xuất trong đường lối trị nước cần có yếu tố pháp luật để kiềm chế sự tranh giành cái lợi trong cuộc sống nhưng chỉ dừng ở mức giáo dục, răn đe chứ không được nặng về hình phạt

1.2 Đánh giá

Trang 4

Khổng Tử đưa ra quan niệm đức trị và học thuyết chính danh đòi hỏi nhà cầm quyền phải có tài đức xứng với vị trí của họ, lời nói và việc làm phải đi đôi với nhau Dùng đạo đức của người cầm quyền để cai trị, cai trị bằng giáo dục, văn hóa bởi vì chính trị

dù có hiện đại như thế nào thì giáo dục, văn hóa cũng rất quan trọng Kết hợp pháp luật và giáo dục sẽ giúp con người đi vào kỷ cương hơn

Học thuyết cũng đặt ra vấn đề coi trọng người hiền tài, sử dụng người hiền đúng với trình độ của họ Như vậy mới phát huy được hết tiềm năng của con người, phục vụ cho dân, cho nước

Học thuyết làm cho con người có trách nhiệm với bản thân hơn, với công việc của mình hơn, từ đó phấn đấu hoàn thành công việc được giao

Tuy nhiên vẫn còn điểm hạn chế Quan điểm của Khổng Tử quá đề cao đạo đức, bao hàm ý bảo thủ, hoài cổ, không cho dân có quyền bản việc nước, coi thường phụ nữ, coi thường lao động chân tay

Trang 5

Câu 3 Phật giáo: Thế giới quan ( tư tưởng vô ngã, vô thường) Nhân sinh quan ( sự hình thành con người theo thuyết ngũ uẩn, tứ diệu đế)

3.1 Thế giới quan

3.1.1 Tư tưởng vô ngã, vô thường

a Thuyết vô ngã: Giáo lý căn bản của Phật giáo nằm gọn trong Tứ diệu đế Nhưng

xét cho cùng, chúng ta thấy khởi điểm của đức Phật bắt đầu từ Khổ đế, một chân lý

mà có thể tóm tắt vào trong một câu nói của Phật giáo thời kỳ đầu: Hết thảy các pháp

là khổ, hết thảy các pháp là vô thường, hết thảy các pháp là vô ngã Tại sao gọi là Khổ? Vì Vô thường Tại sao Vô thường? Vì Vô ngã Như vậy, ta thấy học thuyết Vô ngã rất quan trọng đến nỗi Phật thường dạy: Ai hiểu được chân lý Vô ngã sẽ chứng được Thánh quả và an trú Niết-bàn

b Thuyết vô thường: “Tất cả là vô thường” là một trong ba nguyên lý căn bản của

Phật giáo (vô thường, vô ngã và niết-bàn tịch tịnh) Ba nguyên lý này dựa trên toàn

bộ cấu trúc của đạo Phật: Phật giáo Nguyên thủy, Phật giáo Tiểu thừa và Phật giáo Đại thừa.

Mọi thứ đều vô thường, có nghĩa là không có gì bất biến, mọi thứ đều phải tuân theo quy luật sinh lão bệnh tử Vô thường là cơ sở quan trọng trong phật giáo vì nếu như mọi vật là bất biến thì ở trạng thái nào vẫn cứ ở trạng thái đó, đã sướng thì cứ sướng mãi, đã khổ thì cứ khổ mãi

Nếu sự vật đều không biến đổi thì chưa chắc đã có con người vì loài vật không có tiến hóa Nếu vật sinh ra cứ sống mãi mà không chết thì thế giới này chắc phải tệ lắm Con người ai cũng muốn sống, khoa học cũng đang cố gắng tìm cách kéo dài sự sống; nhưng nếu một ngày nào đó con người tìm ra phương pháp để sống mãi mãi thì

đó cũng là ngày quả bom hẹn giờ cho thế giới này được kích hoạt

Nhận biết vô thường giúp ta biết quý từng giây phút chúng ta có ở hiện tại mà không tiếc nuối quá khứ hay vọng tưởng tới tương lai Giúp ta hiểu rằng khi sinh ra ta không mang gì tới thế giới này và khi chết đi ta cũng không thể mang gì theo Có người cả đời người tích lũy tài sản bằng mọi cách để cuối cùng ra đi trong tiếc nuối rằng mình

đã quá coi trọng vật ngoại thân mà bỏ bê nhiều thứ quý giá khác

Vô thường sinh khổ nhưng nếu không có vô thường thì chưa chắc cuộc sống đã đáng sống Nhận biết vô thường không phải để than khóc hay lo lắng mà hiểu rằng đó là quy luật tất yếu Vô thường bao gồm: 1 Thân vô thường; 2.Tâm vô thường và 3.Hoàn cảnh vô thường

- Thân vô thường

Là sự thay đổi của cơ thể vật lý của ta Lúc sinh ra ta là em bé, lớn lên, bệnh tật, rồi chết đi Ngày hôm nay ta là em bé, ngày mai ta đã là thanh niên; ngày nay ta là cô gái xinh xắn, ngày mai ta đã là bà già

Hôm nay ta có một cơ thể khỏe mạnh thì cố gắng mà luyện tập, giữ gìn; nhưng nếu ngày mai ta mỗi già đi hay thậm chí đổ bệnh nằm liệt giường thì đó cũng chỉ là một quy luật của cuộc sống, không có gì là bất công ở đây vì mọi người đều phải tuân theo quy luật này Chết là một nỗi sợ lớn nhất của con người Ta từ bỏ những cái chúng ta quen thuộc hàng ngày để bước vào một thế giới mà ta không hề có một tí thông tin nào cả Có hai thứ ta không thể tránh hay quyết được đó là ta không thể

Trang 6

tránh được cái chết và ta cũng không thể quyết định được lúc nào sẽ chết Chỉ trong một sát na (một đơn vị thời gian trong phật giáo, có lượng bằng một phần rất nhỏ của một giây) ta có thể từ sống chuyển sang chết Hàng ngày có vài trăm người chết vì tai nạn giao thông, cái chết đến với họ nhanh đến nỗi chỉ trong một hơi thở; có thở ra mà không có thở vào hoặc ngược lại Nếu ta biết rằng mai ta sẽ chết thì hôm nay chắc ta

sẽ chọn những việc ý nghĩa nhất để làm nhưng ít ai suy nghĩ là một lúc nào đó rồi ta

sẽ chết để mà làm những việc ý nghĩa trong hiện tại Việc đó có thể xảy ra trong vài chục năm nữa nhưng cũng có thể xảy ra ngay ngày mai hoặc phút tới Nếu chúng ta biết thời gian chúng ta có là hữu hạn thì tại sao chúng ta vẫn còn lãng phí ở thời gian

ở phút giây hiện tại để chạy theo những thú vui vô bổ, để làm khổ nhau, để mà căm ghét, thù hằn hay làm những điều xấu cho những người khác?

- Tâm vô thường

Tâm của chúng ta liên tục thay đổi bởi thông tin thu thập được từ lục giác Từ vui vẻ chuyển sang đau buồn, từ hạnh phúc chuyển sang chán nản, từ căm ghét chuyển sang yêu thương, từ hừng hực sức sống chuyển sang mệt mỏi Khi ta đang vui ta biết rằng

ta sẽ không vui mãi; khi ta buồn ta biết rằng ta sẽ không buồn mãi Phút giây này ta cảm thấy ta có thể làm tất cả mọi thứ nhưng phút giây tiếp theo ta có thể sẽ cảm thấy

tự ti, chẳng thể làm được cái gì ra hồn Việc chúng ta phải làm là làm sao cho Tâm của ta thật tĩnh Không vui sướng quá mà cũng không đau buồn quá Chúng ta phải nuôi dưỡng những cảm xúc tốt, khi cảm xúc xấu xuất hiện ta cứ cảm nhận nhưng đừng hành động vội vàng theo những cảm xúc xấu, ta biết rằng rồi cảm xúc đó cũng

sẽ trôi qua mà thôi

- Ngoại cảnh vô thường

Mọi sự vật xung quanh ta luôn luôn biến đổi chẳng qua là ta không để ý mà thôi Vợ con ta, hàng xóm ta, đồng nghiệp ta, cái xã hội này; mọi thứ đều thay đổi Cuộc đời của con ta chắc chắn sẽ khác cuộc đời của ta ngày hôm nay, hoàn cảnh thuận lợi ta đang gặp cũng sẽ không ở đó mãi; hoàn cảnh khó khăn cũng không ở đó mãi; mọi thứ rồi sẽ thay đổi

Vì ta biết rằng mọi thứ xung quanh sẽ luôn biến đổi nên ta phải giữ cho mình một cái tâm bình an Đừng tiếc nuối, căm ghét, tức giận khi một cái gì đó không còn ở đó nữa Vợ ta sẽ già đi, con ta sẽ lớn lên, hàng xóm ta cũng không phải ai cũng dễ chịu, cái xe mà ta yêu thích rồi sẽ hỏng, tiền của chúng ta có sẽ mất…

Hiểu vô thường để chúng ta biết cái gì là quý giá trong cuộc đời, biết rằng cái gì đáng

để chúng ta cố gắng nỗ lực, biết chấp nhận những nghịch cảnh, biết không tự cao tự đại khi giàu có quyền thế, biết không tự ti khi ngèo hèn,

3.2 Nhân sinh quan

3.2.1 Sự hình thành con người theo thuyết Ngũ Uẩn

Ngũ uẩn là vấn đề then chốt của đạo Phật, được đề cập phổ biến trong Kinh tạng và Luật tạng cả Nam truyền lẫn Bắc truyền Điểm nổi bật của phân tích ngũ uẩn là chú trọng về con người và nhấn mạnh phần tâm lý hơn vật lý qua cái nhìn của năm yếu tố:

Trang 7

Sắc uẩn: là vật chất của vũ trụ quan, thế giới của nhân sinh quan (vật lý) được tạo nên

bởi bốn yếu tố Địa, Thủy, Hỏa, Phong Một hài nhi mới tượng hình chỉ là một giọt máu Dần theo thời gian, giọt máu đó được nuôi dưỡng từ người mẹ cho đến lúc thành hình Rồi sau khi sinh ra, hài nhi tiếp tục được nuôi dưỡng cho nên thân thể càng ngày càng tăng trưởng Sự nuôi dưỡng bắt đầu từ một giọt máu cho đến khi trưởng thành là

do ngoại duyên của người mẹ và thức ăn thức uống từ bên ngoài cho nên tất cả sự hấp thụ đó để hình thành sắc thân một con người thì gọi chung là sắc uẩn Nói chung sắc uẩn là yếu tố vật chấtbao gồm vật lý - sinh lý Có bốn yếu tố vật chất căn bản hình thành sắc uẩn là:

- Đất: bao gồm tóc, lông, móng răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, ruột, lá

lách, phèo, phổi, bao tử…

- Nước: gồm có mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, nước mỡ, nước miếng,

nước mũi, nước khớp xương, nước tiểu

- Gió: là hơi thở ra vào, đem nguồn sống dưỡng khí O2 vào trong cơ thể để nuôi tế bào

và sau đó tải thán khí CO2 ra ngoài

- Lửa: là thân nhiệt tức là năng lượng để nuôi thân và nguồn năng lượng này lấy từ thức

ăn, thức uống hằng ngày

Thọ uẩn: là những hoạt động của cảm giác vui buồn thuộc về phần tâm lý, thọ uẩn hình

thành bởi bản năng do tiếp xúc giữa giác quan và đối tượng mà sinh ra Trong Phật giáo, thọ được chia làm ba loại: lạc thọ, khổ thọ và vô ký thọ

Tưởng uẩn: gồm những hình ảnh và âm thanh đã qua mà con người có thể hình dung ra

hoặc là nghĩ đến

Hành uẩn: chính là sản phẩm của thọ và tưởng, hành chính là nguyên nhân để nảy sinh

ra nghiệp, có năng lực đưa đến quả báo của nghiệp

Thức uẩn: là năng dụng rõ biết, phân biệt mọi trạng thái của tâm linh với vũ trụ vạn

hữu Thức nhận biết sự hiện diện của đối tượng, giống như tấm gương phản chiếu tất cả những hình ảnh đi ngang qua nó

Trong tính thiết thực của Ngũ uẩn, Thức là phân biệt rõ ràng các cảnh sở duyên Hành tướng của thức là triển chuyển liên tục tạo ra dòng lưu chuyển sanh tử luân hồi Nó cũng

là hợp thể của bốn uẩn kia chúng được kết hợp, hình thành theo lý Vô ngã và Duyên sinh Cũng chính nhờ tính thiết thực ấy mà đạo Phật đã triển khai thành hệ thống Duy thức học đồ sộ, trở thành môn tâm lý học, triết học Phật giáo giúp cho con người hiểu được mọi sự hoạt động của tâm lý, nhận thức được sự vật đúng như thật, giải thoát tâm trí ra khỏi sự vô minh phiền não và khổ đau

Tóm lại, ngũ uẩn là hợp thể của sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn, là một kết hợp giữa tâm lý và vật lý để tạo nên một chúng sanh (con người) mà điểm trọng yếu khi phân tích một con người toàn diện thì ta thấy gồm hai yếu tố chính, đó là thân và tâm hay vật chất và tinh thần

Trong năm uẩn sắc là thể chất, thọ là cảm tính cảm giác, tưởng là tri giác là so sánh, hành là chọn lựa là quyết định, thức là nhận biết phân biệt Như vậy, con người chúng ta hiện hữu không có gì khác ngoài năm yếu tố này mà danh từ chuyên môn của Phật học được gọi là Ngũ uẩn Tu tập theo giáo lý Ngũ uẩn sẽ thành tựu giải thoát nếu quán chiếu thâm sâu thấu triệt được chúng đều là Không, Duyên sinh-Vô ngã

Trang 8

3.2.2 Thuyết Tứ diệu đế

Tứ diệu đế là bốn chân lí cao cả, là gốc cơ bản của Phật giáo Tứ diệu đế là nội dung

của kinh nghiệm giác ngộ của Phật Thích-ca Mâu-ni, và cũng là nội dung chính của bài

kinh đầu tiên, kinh Kinh Chuyển Pháp Luân.

Thực chất Tứ Diệu Đế là một phương pháp đủ cả hai "lý thuyết và thực hành", đưa hành giả tới giác ngộ giải thoát Tứ Diệu Đế đòi hỏi có sự tu tập thực hành trong cuộc sống hàng ngày, Nếu chỉ lý thuyết chỉ là giả thuyết

Hiện nay giáo lý Tứ Diệu Đế là cốt lõi quan trọng nhất đã được tất cả các Tông phái công nhận như là điểm chung đồng và thuần túy nhất của đạo Phật Thông suốt được những điểm giáo lý này có thể được xem như đã thâm nhập toàn bộ con đường giác ngộ giải thoát của Ðức Phật

Tứ Diệu đế là giáo lý cơ bản, lấy con người làm trung tâm và vì con người mà thực hiện Đức Phật đã nhận thấy ở chúng sinh cái nhân thiện lành, đó là Phật tính, nếu biết tu tập đúng chính pháp đều có thể thành Phật (Nhất thiết chúng sinh giai hữu Phật tính) Phật

vì lòng đại từ bi muốn lợi lạc cho chúng sinh mà thuyết giảng giáo pháp của mình

Khổ đế nói về sự khổ ở đời Khổ không chỉ có nghĩa là cảm giác đau đớn, khổ nhọc thân, tâm mà còn chỉ trạng thái cảm thấy không yên ổn, không thỏa mãn những mong muốn trong lòng Tư tưởng Phật giáo cho rằng, con người sinh ra ở đời là khổ: “Đời là

bể khổ” Từ khi sinh ra đến lúc nhắm mắt xuôi tay không có lúc nào hết khổ Vũ trụ tự nhiên thì luôn trong quá trình biến đổi Thành - Trụ - Hoại - Không Về thân xác con người thì trải qua Sinh - Lão – Bệnh - Tử Mà cả bốn quá trình ấy không khi nào xa lìa

nỗi khổ: Sinh khổ (sinh ra là khổ), Lão khổ(quá trình già nua của thân thể là khổ), Bệnh khổ (có bệnh tật đau ốm là khổ), Tử khổ (chấm dứt sự sống là khổ) Rồi sống trong cuộc sống xã hội cũng luôn có nỗi khổ: Sở cầu bất đắc khổ (mong muốn mà không đạt được

là khổ), Ái biệt ly khổ (yêu thương nhau mà phải xa lìa là khổ), Oán tăng hội khổ (ghét thù nhau mà phải sống gần nhau là khổ), Ngũ thụ uẩn khổ (năm giác quan tương tác với

thế giới bên ngoài, thọ nhận tướng sắc của vật chất, bị hình tướng của vật chất che mất bản chất và mãi bị mê muội theo nó là khổ) Đó là tám nỗi khổ của con người mà Phật

giáo gọi là Bát khổ.

Theo quan niệm của Phật giáo thì những thứ khổ con người phải chịu là cái khổ trong

tam giới và đều là nhân để đời sau phải chịu quả trầm luân vào địa ngục, ngạ quỷ, súc

sinh Vì sinh tử thật là khổ, không ai không gặp, không ai chối bỏ được, nó như là cái hiển nhiên đối với con người, nên gọi là Khổ đế

Tập đế nói về nguyên nhân sự khổ Tập có nghĩa là nhóm họp, gộp lại Nếu quá khứ hay

hiện tại con người không biết được đời là khổ, không biết vạn vật hữu hình hay vô hình chỉ là giả tạm, luôn biến đổi; không biết những ý nghĩ, lời nói và hành động của mình sẽ gây ra nghiệp nên lần hồi cứ làm theo mãi, vì suy nghĩ và hành động xấu mà ngày càng huân tập, nhóm góp điều xấu, bị xô đẩy trôi lăn mãi trong sinh tử luân hồi, nên gọi là Tập

Đức Phật dạy rằng, vì vô mình che lấp nên con người không nhận ra thực tướng của vạn vật, rồi cứ tham đắm chạy theo cái hư ảo không vĩnh viễn đó nên tạo ra nghiệp Đó là nguyên nhân của nỗi khổ Trong đó, có ba thứ độc (tam độc): Tham (tham lam), Sân (giận, bực, nóng nảy), Si (ngu mờ, mê muội) là nguyên nhân chính nhất của nỗi khổ Xét

Trang 9

cho kỹ thì mọi việc làm thiện, ác (sẽ tạo ra các nghiệp) gắn liền với sinh tử trong tam giới mà con người không ai không vướng mắc, nên gọi là Tập đế

Diệt đế nói về sự khổ bị tiêu diệt, được giải thoát Diệt tức là tịch diệt hay Niết bàn.

Nghĩa là nghiệp đã hết không còn khổ lụy sinh tử luân hồi nữa Khổ là mầm gốc của phiền não Mà phiền não được diệt nên những nghiệp quả trong tam giới cũng diệt Nếu các nghiệp phiền não trong tam giới đã diệt thì liền chứng đắc được cảnh giới Niết bàn (Hữu dư Niết bàn) Khi xả báo huyễn thân (nghĩa là chết), thân tứ đại không còn (nhà

Phật dùng từ tịch hoặc tịch diệt hay nhập Niết bàn) cái khổ của đời sau không còn tương

tục nữa, khi ấy gọi là Vô dư Niết bàn Cảnh giới Niết bàn thật vắng lặng, tĩnh tịch và an lạc, đoạn diệt hết thảy hoặc nghiệp luân hồi nên gọi là Diệt đế

Đạo đế nói về phương pháp diệt trừ nguyên nhân sự khổ Đạo là luân lý, là con đường

đúng đắn, đạo còn có nghĩa là năng thông năng đạt, nó chính là những phương pháp, là con đường để cho chúng sinh theo đó mà tu tập để mong cầu vượt thoát khỏi trầm luân, khổ ải trong tam giới Trong đó, Đức Phật chỉ ra tám con đường chính, bao gồm: thấy biết chân chính (chính kiến); suy nghĩ chân chính (chính tư duy); lời nói chân chính (chính ngữ); nghề nghiệp chân chính (chính nghiệp); đời sống chân chính (chính mệnh); siêng năng chân chính (chính tinh tiến); tưởng nhớ chân chính (chính niệm); định tâm chân chính (chính định) Tám con đường chân chính ấy, Phật giáo gọi là Bát Chính đạo Đạo đế có Ba mươi bẩy Phẩm trợ đạo và Bát Chính đạo nương trợ, tương hỗ với nhau chắc chắn có thể đưa chúng sinh vượt qua khổ ải, chứng nhập cảnh giới Niết bàn không

hư dối, nên gọi là Đạo đế

Phật giáo chủ trương vừa lấy trí tuệ diệt trừ vô minh, phá vòng luân hồi sinh tử, vừa thực hành tu tập diệt trừ tham dục để chuyển nghiệp đạt đến sự giải thoát Tu hành để mong cầu giải thoát trong nhà Phật cũng có nhiều phương cách Phật nói có tám vạn bốn ngàn pháp môn, bất kỳ ai thấy khế hợp và phát nguyện tu tập theo một pháp môn nào thì đều

có thể trở thành bậc giác ngộ giải thoát, vì Phật tính trong mọi chúng sinh là không khác nhau và mọi pháp môn đều đưa đến giác ngộ Tuy nhiên, cho dù là pháp môn nào đi nữa

thì cũng lấy Tam vô lậu học (Giới - Định - Tuệ) làm căn bản và cương yếu.

Kinh sách Phật giáo thường ghi, vì lòng bi mẫn với chúng sinh, vì lòng thương tưởng với đời mà Đức Phật thị hiện ra ở cõi đời này Ngài có mặt ở đời vì một đại nhân duyên

là cứu khổ độ sinh Như vậy, với Tứ Diệu đế, Phật giáo đã giải quyết vấn đề con người

một cách rốt ráo, và Tứ Diệu đế cũng là giáo lý căn bản mà bất kỳ một người xuất gia học Phật dù thuộc hệ phái nào đều phải biết tới và tu tập theo để mong cầu giải thoát, chứng ngộ Niết bàn

Trang 10

Câu 5 Duy vật biện chứng - nguyên lý

Chủ nghĩa duy vật biện chứng là một bộ phận của học thuyết triết học do Karl

Marx đề xướng Đặc trưng của phương pháp duy vật biện chứng là coi một sự vật hay một hiện tượng trong trạng thái luôn phát triển và xem xét nó trong mối quan hệ với các

sự vật và hiện tượng khác Cốt lõi của chủ nghĩa duy vật biện chứng là chủ nghĩa duy vật kết hợp với phép biện chứng

Marx đã kế thừa tư tưởng về phương pháp biện chứng của Georg Wilhelm Friedrich Hegel và lý luận về chủ nghĩa duy vật của Ludwig Andreas von Feuerbach và phát triển nên phương pháp luận này Các nhà triết học Marx-Lenin cho rằng phương pháp duy vật biện chứng là cơ sở triết học cho hệ tư tưởng của họ

Trước Marx:

- Chủ nghĩa duy vật: phát sinh ngay từ thời kỳ cổ đại Nó phát triển qua nhiều thời kỳ khác nhau:

 Chủ nghĩa duy vật cổ đại : Còn được gọi là chủ nghĩa duy vật ngây thơ-chất phác Nói chung, các tư tưởng duy vật lúc này mang tính trực giác là chủ yếu, chưa mang tính nghiên cứu khoa học cao Những nhà triết học thời kỳ này chủ yếu chống lại những sai lầm có trong hệ tư tưởng của chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo

 Chủ nghĩa duy vật cận đại : Từ thời đại Phục hưng cho đến thế kỷ XVIII, chủ nghĩa duy vật thời kỳ này được gọi là chủ nghĩa duy vật siêu hình Tuy đứng trên suy nghĩ của triết học, nhưng những nhà triết học thời kỳ này lại dựa vào khá nhiều phương pháp thực nghiệm vốn phổ biến thời đó

- Phép biện chứng: cũng xuất hiện rất sớm, từ thời cổ đại Có thể kể đến một số

thời kỳ như sau:

 Phép biện chứng thời cổ đại : Cũng giống như chủ nghĩa duy vật cổ đại, phép biện chứng lúc này vẫn còn mang tính ngây thơ, tự phát và trực quan Tiêu biểu cho phép biện chứng đó là tư tưởng của triết học Ấn Độ cổ đại, triết học Trung Quốc cổ đại và triết học Hy Lạp cổ đại

 Phép biện chứng thời cận đại : Cũng từ thời đại Phục hưng cho đến thế kỷ XVIII, phép biện chứng lúc này không được thể hiện rõ ràng, trừ những người thuộc triết học

cổ điển Đức Tuy nhiên, những người Đức này lại xây dựng phép biện chứng trên quan điểm duy tâm Marx đã có một nhận xét nổi tiếng cho phép biện chứng của Georg Friedrich Wilhelm Hegel, nhà triết học Đức tiêu biểu của thời kỳ triết học này: "Phép biện chứng lộn đầu xuống đất."

Khi Marx và Engels xuất hiện

Tiền đề : Có ba tiền đề then chốt cho sự hình thành:

Kinh tế - xã hội: Đầu thế kỷ XIX, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển, đồng thời cũng bộc lộ những mâu thuẫn, tiêu biểu đó là mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản

Lý luận: Marx đã kết hợp chủ nghĩa duy vật của Ludwig Andreas Feuerbach với phép

biện chứng của Hegel, làm như vậy, theo Marx, sẽ phát hiện ra cái hạt nhân sau vỏ thần bí

 Khoa học tự nhiên : Gồm 3 lý thuyết ảnh hưởng đến chủ nghĩa duy vật biện chứng của Marx: định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, thuyết tế bào và thuyết tiến hóa

Ngày đăng: 14/07/2017, 08:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w