1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐỀ CƯƠNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

23 287 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 40,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 217 Câu 1. Khái niệm biến đổi khí hậu và biểu hiện của biến đổi khí hậu KN: Biến đổi khí hậu Trái Đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định từ tính bằng thập kỷ hay hàng triệu năm. Sự biển đổi có thế là thay đổi thời tiết bình quân hay thay đổi sự phân bố các sự kiện thời tiết quanh một mức trung bình. Sự biến đổi khí hậu có thế giới hạn trong một vùng nhất định hay có thế xuất hiện trên toàn Địa Cầu. Trong những năm gần đây, đặc biệt trong ngữ cảnh chính sách môi trường, biến đổi khí hậu thường đề cập tới sự thay đổi khí hậu hiện nay, được gọi chung bằng hiện tượng nóng lên toàn cầu. Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu Trái Đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ và bể chứa khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác. Các biểu hiện của biến đổi khí hậu bao gồm (IPCC, 2007): • Nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng lên do sự nóng lên của bầu khí quyển toàn cầu, • Sự dâng cao mực nước biển do giãn nở vì nhiệt và băng tan, • Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển, • Sự di chuyển của các đới khí hậu trên các vùng khác nhau của trái đất, • Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác, và • Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, địa quyển. Tuy nhiên, sự gia tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu và mực nước biển dâng thường được coi là hai biểu hiện chính của biến đổi khí hậu.

Trang 1

BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 217Câu 1 Khái niệm biến đổi khí hậu và biểu hiện của biến đổi khí hậu

K/N: Biến đổi khí hậu Trái Đất là sự thay đổi của hệ thống khí

hậu gồm khí quyển, thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại

và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định từ tính bằng thập kỷ hay hàng triệunăm Sự biển đổi có thế là thay đổi thời tiết bình quân hay thay đổi sự phân bố các sự kiện thời tiết quanh một mức trung bình

Sự biến đổi khí hậu có thế giới hạn trong một vùng nhất định hay

có thế xuất hiện trên toàn Địa Cầu Trong những năm gần đây, đặc biệt trong ngữ cảnh chính sách môi trường, biến đổi khí hậu thường đề cập tới sự thay đổi khí hậu hiện nay, được gọi chung bằng hiện tượng nóng lên toàn cầu Nguyên nhân chính làm biếnđổi khí hậu Trái Đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ và bể chứa khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác

Các biểu hiện của biến đổi khí hậu bao gồm (IPCC, 2007):

• Nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng lên do sự nóng lên của bầu khí quyển toàn cầu,

• Sự dâng cao mực nước biển do giãn nở vì nhiệt và băng tan,

• Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển,

• Sự di chuyển của các đới khí hậu trên các vùng khác nhau của trái đất,

• Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác, và

• Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng

và thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, địa quyển

Tuy nhiên, sự gia tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu và mực nước biển dâng thường được coi là hai biểu hiện chính của biến đổi khí hậu

Trang 2

Câu 2: nguyên nhân BDKH

Khí hậu bị biến đổi do 2 nhóm nguyên nhân:

Nhóm nguyên nhân khách quan (do sự biến đổi của tự nhiên) bao gồm: sự biến đổi các hoạt động của mặt trời, sự thay đổi quỹ

đạo trái đất, sự thay đổi vị trí và quy mô của các châu lục, sự biến đổi của các dạng hải lưu, và sự lưu chuyển trong nội bộ hệ thống khí quyển

Nhóm nguyên nhân chủ quan (do sự tác động của con

người) xuất phát từ sự thay đổi mục đích sử dụng đất và nguồn

nước và sự gia tăng lượng phát thải khí CO2 và các khí nhà kính khác từ các hoạt động của con người

Cụ thể hơn

Hiệu ứng nhà kính tự nhiên duy trì sự sống trên trái đất, tuy nhiên, với sự can thiệp quá mức của loài người đã làm tăng nồng độ của các loại khí nhà kính trong bầu khí quyển, gia tăng hiệu ứng nhà kính, làm cho trái đất nóng lên và gây ra hiện tượng biến đổi khí hậu.

1 Khí nhà kính và hiệu ứng nhà kính.

Khí quyển là lớp không khí bao quanh trái đất, với 80% lượngkhí tập trung chủ yếu từ mặt đất đến độ cao khoảng 10km, cànglên cao càng loãng và không có mép ngoài cố định Thành phầncủa khí quyển gồm: 78% Nito (N2), 21% oxy(O2), 1% hơi nước

và các khí như: CO, CO2, N2O, CH4, O3…

Sự phân bố của các khí tạo tính đa năng của khí quyển: (1) Chophép một phần năng lượng ánh sáng mặt trời đến được bề mặttrái đất; (2) Ngăn không cho bức xạ nhiệt từ trái đất thoát rangoài không trung giữ ấm trái đất Hiện tượng này gọi là hiệuứng nhà kính giúp duy trì nhiệt độ thích hợp cho sự sống và (3)

Trang 3

Các khí có tác tác dụng giữ nhiệt trong khí quyển được gọi là khínhà kính, gồm: CO2, N20, CH4, O3

Khí carbonic (CO 2 ): là khí nhà kính phát thải nhiều nhất - đây

là nguyên nhân chính làm gia tăng hiệu ứng nhà kính gây ấm lêntoàn cầu Khí carbonic còn được gọi là thán khí – là khí do conngười và động vật thở ra khi hô hấp hoặc khi có sự cháy

Trong tự nhiên, cây xanh hấp thụ khí carbonic trong quá trìnhquang hợp và giải phóng oxy trở lại khí quyển Chặt phá rừnglàm tăng lượng carbonic trong không khí, các bề mặt đại dươngcũng hấp thu Khí carbonic

Các nguồn phát thải carbonic gồm: đốt nhiên liệu hóa thạch (khígas, xăng dầu, than đá) dùng cho sản xuất năng lượng, phươngtiện giao thông, cháy rừng, đốt than, củi, rơm…và chăn nuôi

Metan (CH4): Có tiềm năng làm nóng trái đất cao hơn CO2 (gấp

72 lần trong khoảng thời gian 20 năm), CH4 thúc đẩy sự oxy hóahơi nước trong khí quyển, sự gia tăng hơi nước gây hiệu ứng nhàkính mạnh hơn nhiều so với hiệu ứng trực tiếp của CH4

CH4 được dùng làm khí đốt (biogas), nó là thành phần chính củakhí tự nhiên, khí dầu mỏ, khí đầm ao, đầm lầy CH4 được sinh

ra từ quá trình khai thác, vận chuyển sử dụng dầu mỏ, than đá,các quá trình sinh học như men hóa đường ruột của các gia súc,phân giải kị khí ở đất ngập nước, ruộng lúa, cháy rừng

Trang 4

Khí oxit nito (NO 2 ): chiếm một lượng nhỏ trong thành phần các

khí nhà kính, nhưng khả năng làm nóng trái đất cao (gấp 289 lầntrong khoảng thời gian 20 năm) và làm tổn hai tầng ozon Do nó

có thời gian tồn tại trongkhis quyển lâu dài, nên lượng oxit nitothải ra tiếp tục gây ấm lên toàn cầu và kéo dài đến thế kỷ sau

Các nguồn phát thải khí oxit nito gồm: sản xuất phân bón, hóachất, đốt nhiên liệu hóa thạch, cháy rừng, đốt rơm rạ, xử lí nướcthải, quá trình nitrat hóa các loại phân bón hữu cơ, vô cơ trongnông nghiệp

Ôzôn (O 3 ) được tạo ra tự nhiên do các phản ứng trong khí quyển

và do hoạt động của con người, như từ xe cộ và các nhà máynăng lượng Ở tầng cao của khí quyển, tầng ôzôn hấp thu bức xạtia cực tím bảo vệ trái đất, trong khi sự gia tăng ôzôn ở tầng thấpcủa khí quyển góp phần làm trái đất nóng lên Do có thời giantồn tại trong khí quyển ngắn, nên ôzôn chủ yếu gâp nóng lên ởquy mô khu vực nhiều hơn là gây ấm lên toàn cầu

2 Gia tăng khí nhà kính trong khí quyển do hoạt động của con người, làm cho trái đất nóng lên gây biến đổi khí hậu

Trong hơn 100 năm công nghiệp hóa và phát triển, các hoạt độngcủa con người như đốt nhiên liệu hóa thạch ( xăng, dầu, than đá,khí đốt tự nhiên), phá rừng và thay đổi sử dụng đất như pháttriển đô thị, sản xuất, làm đường…đã thải một lượng lớn khí nhàkính vào trong khí quyển, như CO2, CH4, CFC, và N2O Sự giatăng khí nhà kính đẩy mạnh hiệu ứng nhà kính làm cho trái đấtnóng hơn – hay còn gọi là ấm lên toàn cầu

Nhiệt độ trên trái đất tăng kéo theo những thay đổi khác trong hệthống khí hậu: (1) Băng tan; (2) Mưc nước biển dâng – do giãn

nở nhiệt trong đại dương và băng tan; (3) Thay đổi lượng mưa –

Trang 5

do nhiệt độ tăng, lượng nước bốc hơi nhiều hơn; (4) Thay đổimùa - ảnh hưởng đến đời sống con người, sinh vật, mùa màng;(5) Thiên tai bão lũ, hạn hán xuất hiện thường xuyên, mạnh hơn

bệnh, thiệt hại kinh tế, giảm đa dạng sinh học, hủy diệt hệ sinh thái

Nắng nóng: Theo các chuyên gia khí tượng thủy văn, trong 50

năm trở lại đây, tần suất xảy ra các đợt nắng nóng đã tăng từ 2-4 lần Nhiều khả năng trong 40 năm tới, số lượng các đợt nắng nóng sẽ tăng 100 lần Theo đó, nắng nóng sẽ làm tăng số vụ cháyrừng, các loại bệnh dịch, và mức nhiệt độ trung bình trên hành tinh trong tương lai cũng sẽ tăng theo

Băng tan: Nhiệt độ trái đất tăng cũng khiến chúng ta dễ dàng nhận thấy, diện tích của các dòng sông băng trên toàn thế giới đang dần bị thu hẹp lại Vùng lãnh nguyên (vùng đất cao nơi cây cối không thể sinh trưởng và phát triển) từng bị lớp băng vĩnh cửu bao phủ, hay dưới tác động của nhiệt độ cao, lớp băng đã tanchảy và sự sống của các loài thực vật trên vùng đất này cũng đã xuất hiện Nước biển dâng cao do nhiệt độ trái đất ngày càng tăng Nó khiến cho các tảng băng tăng nhanh hơn, làm mực nướcbiển và đại dương trên toàn thế giới tăng theo

Bão lụt: Đi kèm với hiện tương băng tan và nước biển dâng cao thì hiện tượng bão lụt cũng tăng Theo số liệu thống kê cho thấy, chỉ trong vòng 30 năm gần đây, những cơn bão mạnh cấp 4 và

Trang 6

cấp 5 đã tăng lên gấp đôi Những vùng nước ấm đã làm tăng sức mạnh cho các cơn bão

Hạn hán: Chính mức nhiệt cao trên đại dương và trong khí quyển

đã đẩy tốc độ cơn bão đạt mức kinh hoàng Khi một số nơi trên thế giới đang phải hứng chịu cảnh ngập lụt do mực nước biển dâng và bão lũ, thì ở nhiều nơi khác hạn hán lại đang hoành

hành Các chuyên gia ước tính tình trạng hạn hán sẽ tăng ít nhất 66% do khí hậu ngày càng ấm hơn Hạn hán xảy ra thường

xuyên sẽ thu hẹp nguồn cung cấp nước, làm giảm chất lượng cácsản phẩm nông nghiệp, khiến nguồn cung ứng lương thực trên toàn cầu trở nên bấp bênh

Hiện nay Ấn Độ, Pakistan và vùng cận Sahara thuộc châu Phi đang phải hứng chịu các đợt hạn hán nghiêm trọng Giới khoa học dự báo lượng mưa tại các khu vực trên sẽ tiếp tục giảm trongnhững thập kỷ tới Hội đồng liên chính phủ về biến đổi khí hậu tại châu Phi cho rằng, tới năm 2020, sẽ có 75 – 250 triệu dân châu Phi không có nước sử dụng, và sản lượng nông nghiệp của châu lục này cũng sẽ giảm 50%

Dịch bệnh: Khi bão lụt và hạn hán tăng đang trở thành mối đe

dọa lớn với sức khỏe dân số toàn cầu Bởi bão lụt tạo môi trườngsống lý tưởng cho các loài muỗi và ký sinh trùng, chuột và nhiềusinh vật mang bệnh khác phát triển mạnh

Thiệt hại kinh tế: Không chỉ ảnh hưởng đến dịch bệnh, tác động của biến đổi khí hậu gây thiệt hại đến lĩnh vực kinh tế Bão lụt sẽgây tổn thất trong ngành nông nghiệp đã gây thiệt hại hàng tỷ USD Bên cạnh đó, các chính phủ cũng cần một lượng tiền lớn

để xử lý và kiểm soát sự lây lan dịch bệnh Năm 2005, cơn bão lịch sử đã đổ bộ vào Louisiana, khiến mức thu nhập của người dân nơi đây giảm 15% trong những tháng sau cơn bão, và thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 135 tỷ USD

Trong khi người dân phải đối phó với giá lương thực và nhiên liệu tăng cao, thì các chính phủ cũng đang phải chịu sụt giảm

Trang 7

doanh thu từ ngành du lịch, giảm lợi nhuận công nghiệp Ngược lại, nhu cầu năng lượng, lương thực, nước sạch, chi phí cho hoạt động dọn dẹp sau thảm họa lại luôn tăng cao, kèm theo những bất ổn vùng biên giới Theo dự đoán của Viện nghiên cứu Môi trường và phát triển toàn cầu tại Đại học Tufts, Mỹ, chi phí cho cuộc chiến chống biến đổi khí hậu tới năm 2100 sẽ đạt 20 ngàn

tỷ USD

Giảm đa dạng sinh học: Nhiệt độ trái đất tăng cao cũng đẩy

nhiều loài sinh vật tới bờ vực suy giảm số lượng hoặc tuyệt

chủng Nếu mức nhiệt độ trung bình tăng từ 1,10C-6,40C, 30% loài động thực vật hiện nay sẽ có nguy cơ tuyệt chủng vào năm

2050 Nguyên nhân dẫn đến sự tuyệt chủng là do môi trường sống của các loài động thực vật ngày càng bị thu hẹp, hiện tượng

sa mạc hóa, phá rừng và nước trên các đại dương ngày càng ấm lên khiến cho nhiều loài sinh vật không thể thích ứng kịp thời với những biến đổi trên

Con người cũng không thể thoát khỏi những tác động của biến đổi khí hậu Sa mạc hóa và mực nước biển tăng đe dọa trực tiếp đến môi trường sống của con người Khi thực vật và động vật giảm dần số lượng, nguồn cung cấp thực phẩm, nhiên liệu và cả thu nhập của con người cũng sẽ chịu ảnh hưởng giảm theo

Hủy diệt hệ sinh thái: Những thay đổi về khí hậu cũng tác động trực tiếp đến hệ sinh thái, sẽ hủy diện hệ sinh thái Theo nghiên cứu của các chuyên gia, những thay đổi trong điều kiện khí hậu

và lượng khí carbonn dioxide tăng nhanh chóng đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới hệ sinh thái, nguồn cung cấp nước ngọt, không khí, nhiên liệu, năng lượng sạch, thực phẩm và sức khỏe Dưới tác động của nhiệt độ, không khí và băng tan, số lượng các rạn san hô ngày càng có xu hướng giảm Điều đó cho thấy, cả hệ sinh thái trên cạn và dưới nước đều đang phải hứng chịu những tác động từ lũ lụt, hạn hán, cháy rừng cũng như hiện tượng axít

Trang 8

hóa đại dương.

Biến đổi khí hậu mà biểu hiện chính là sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dân đã tạo nên các hiện tượng thời tiết cực đoan như hiện nay Đây là một thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ 21 vì biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng trực tiếp đến

hệ sinh thái, tài nguyên môi trường và cuộc sống của con người

Câu 4: Thực trạng BDKH ở Việt Nam

Biến đổi nhiệt độ không khí trung bình

Nghiên cứu dữ liệu khí tượng chi tiết của Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia cho thấy trong vòng 30 năm qua, ở Việt nam nhiệt độ có xu huớng gia tăng đáng kể, các tỉnh Miền Bắc gia tăng nhiều hơn Miền Nam, đặc biệt trong những tháng mùa hè với biên độ lớn hơn Ở Miền Bắc, trong vòng 30 năm (1961-1990), nhiệt độ tối thấp trung bình trong mùa đông tăng 3°C ở Điện Biên, Mộc Châu; 2°C ở Lai Châu, 1.8°C ở Lạng Sơn, 1°C

ở Hà Nội và Bắc Giang Ở Miền Nam, nhiệt độ tối thấp trung bình gia tăng ít hơn, tăng 1.2°C ở Rạch Giá và Ban Mê Thuột, tăng 0.8°C tại trạm Sài Gòn, tăng 0.5°C tại Nha Trang Nhiệt độ trung bình trong mùa hè không tăng mấy Riêng tại thành phố

Hồ Chí Minh, nhiệt độ trung bình từ năm 1984 đến 2004 cho thấy càng ngày càng tăng lên Chẳng hạn, vào năm 1984, nhiệt

độ trung bình ở Sài Gòn là 27.1°C, và riêng trong 5 năm

2001-2005, nhiệt độ trung bình đã lên đến 28°C, trong 10 năm

1991-2000 tăng 0.4°C, bằng mức tăng của 40 năm trước đó Nhiệt độ cao nhất trong khu vực miền Nam luôn luôn xuất hiện tại Phước Long, Ðồng Xoài và Xuân Lộc Mực nước biển quan trắc 50 năm qua ở các trạm Cửa Ông, Hòn Dấu đã tăng lên khoảng 20

cm (phù hợp với xu thế chung toàn cầu)

Biến đổi của nhiệt độ tối thấp tuyệt đối năm

Trang 9

Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối năm có một ý nghĩa rất lớn đối với sự phân bố ranh giới các cây lưu niên đặc biệt là các cây công

nghiệp dài ngày như cao su, hồ tiêu, cà phê, các cây ăn quả như cam, quýt, nhãn, vải thiều Kết quả tính toán độ lệch nhiệt độ tối thấp tuyệt đối trung bình năm so với trung bình nhiều năm (1960 - 2000) cho thấy xu thế nhiệt độ ngày một cao hơn

- Đối với miền Tây Bắc: Nhiệt độ tối thấp tăng so với

TBNN tăng từ 1,5 - 20C

- Đối với vùng Đông Bắc: nhiệt độ tối thấp tuyệt đối có xu thế tăng dần vào những năm gần đây từ 2 - 30C

- Trung du: nhiệt độ tối thấp tuyệt đối trung bình năm tăng 10C

- Đồng bằng Bắc Bộ: nhiệt độ tối thấp tuyệt đối tăng 0,4 - 10C

- Bắc Trung Bộ: nhiệt độ tối thấp tuyệt đối tăng 0,4 - 10C

- Nam Trung Bộ: nhiệt độ tối thấp tuyệt đối tăng 0 - 0,50C

- Đông Nam Bộ: nhiệt độ tối thấp tuyệt đối tăng 10C

- Tây Nguyên: nhiệt độ tối thấp tuyệt đối tăng 0,2 - 1,20C

- Đồng bằng Nam Bộ: nhiệt độ tối thấp tuyệt đối tăng 0,5 -

1,20C

Nếu nhiệt độ tăng như hiện nay thì các cây lâu năm có nguồn gốc nhiệt đới sẽ tiến dần lên phương Bắc và các vùng cao từ 200

- 500 m so với hiện nay

Đây là một vấn đề cần được nghiên cứu chi tiết để phân bố lại cơcấu sản xuất nông, lâm nghiệp cho từng vùng sinh thái

Biến đổi của số giờ nắng

Trang 10

Số giờ nắng là một yếu tố quan trọng đối với quá trình quang hợp của thực vật Do vậy để xem xét biến đổi của số giờ nắng đãnghiên cứu sự biến đổi của số giờ nắng tháng I, tháng VII, số giờnắng năm và theo mùa vụ (đông xuân và mùa).

- Đối với miền núi và Trung du Bắc Bộ: tháng I số giờ nắng có

xu thế giảm so với TBNN 20 giờ, tháng VII giảm khoảng 10 giờ,

cả năm giảm 45 giờ Tổng số giờ nắng vụ đông xuân giảm 40 giờ, vụ mùa giảm khoảng 1 giờ

- Đồng bằng Bắc Bộ: trạm Hà Nội, trạm Hải Dương, trạm Nam Định: đều có xu thế giảm vào tháng I từ 10 - 20 giờ, tháng VII giảm 20 - 30 giờ Vụ đông xuân và vụ mùa giảm 50 - 70 giờ

- Bắc Trung Bộ: trạm Vinh số giờ nắng giảm 5 - 10 giờ đối với tháng I, tháng VII, cả năm và mùa vụ

- Nam Trung Bộ: trạm Nha Trang số giờ nắng tăng vào tháng I, tháng VII, cả năm và mùa vụ

- Tây Nguyên: cả 2 trạm Pleiku và Buôn Ma Thuột số giờ nắng tăng dần so với TBNN

- Đối với Nam bộ số giờ nắng giảm giống như ở Bắc Bộ

Trang 11

1.2.5 Biến đổi của tổng nhiệt độ theo mùa vụ

- Miền núi và Trung du Bắc Bộ: nhìn chung tổng nhiệt độ theo 2

vụ ít thay đổi so với TBNN

- Đối với các vùng đồng bằng Bắc Bộ: tổng nhiệt độ có xu thế tăng cả vụ đông xuân lẫn vụ mùa

- Vùng Bắc Trung Bộ: tổng nhiệt độ đối với cả 2 vụ có xu thế tăng

- Nam Trung Bộ: Đà Nẵng có xu thế tăng còn trạm Nha Trang hầu như không thay đổi

- Tây Nguyên: tăng cả 2 vụ

- Đông Nam Bộ: có xu thế tăng

- Nam Bộ: có xu thế tăng

1.2.6 Biến đổi của lượng mưa

Để xem xét đánh giá xu thế biến đổi của lượng mưa các tác giả cũng nghiên cứu biến đổi của lượng mưa tháng I, tháng VII, năm

và theo mùa vụ Kết quả tính toán cho thấy:

- Trung du miền núi Bắc Bộ: lượng mưa tháng I hầu như không thay đổi so với TBNN, lượng mưa tháng VII có xu thế tăng, l-ượng mưa năm, vụ có xu thế tăng

- Đồng bằng Bắc Bộ: Tại Hà Nội lượng mưa tháng I, tháng VII

có xu thế tăng, lượng mưa năm tăng không đáng kể, lượng mưa vụ đông xuân tăng nhưng lượng mưa vụ mùa có xu thế

Ngày đăng: 10/07/2017, 16:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w