1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích nội dung và kết quả chủ yếu của cải cách và mở cửa của nền kinh tế Trung Quốc trong thời kỳ 1978-2000 và liên hệ công cuộc đổi mới kinh tế Việt Nam 1986 đến nay

16 3K 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích nội dung và kết quả chủ yếu của cải cách và mở cửa của nền kinh tế Trung Quốc trong thời kỳ 1978-2000 và liên hệ công cuộc đổi mới kinh tế Việt Nam 1986 đến nay
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Đề tài
Năm xuất bản 2025
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích nội dung và kết quả chủ yếu của cải cách và mở cửa của nền kinh tế Trung Quốc trong thời kỳ 1978-2000 và liên hệ công cuộc đổi mới kinh tế Việt Nam 1986 đến nay

Trang 1

Đề tài:

Phân tích nội dung và kết quả chủ yếu của cải cách và mở cửa của nền kinh tế Trung Quốc trong thời kỳ 1978 - 2000 và liên hệ công cuộc đổi mới kinh tế Việt Nam 1986 đến nay - Giống nhau và khác nhau.

Lời mở đầu

Việt Nam và Trung Quốc là hai nớc láng giềng cùng một khu vực nên

có rất nhiều điểm tơng đồng, cả về lãnh thổ, điều kiện tự nhiên cũng nh yếu

tố bản sắc văn hoá, đờng lối chính trị Chính vì vậy, việc Việt Nam học tập Trung Quốc là điều nên làm và đáng làm

Đảng và Nhà nớc ta đã có nhiều cố gắng noi gơng Trung Quốc trong việc cải cách kinh tế, từng bớc đa nền kinh tế trở thành nền kinh tế thị trờng phát triển mạnh Do đó, em phân tích đề bài nhằm đa ra những bài học kinh nghiệm chung nhất mà Việt Nam đã thấy và đang từng bớc học tập theo

Em xin chân thành cảm ơn cô đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ em trong môn học này

Trang 2

Nội dung Kinh tế Trung Quốc

I- Trớc khi cải cách kinh tế.

Trung Quốc là một quốc gia có dân số đông nhất thế giới, địa hình rất

đa dạng và phức tạp, tài nguyên thiên nhiên phong phú Trớc khi giành độc lập, Trung Quốc phải trải qua hàng ngàn năm dới chế độ phong kiến Đặc

điểm kinh tế Trung Quốc thời kỳ này là kinh tế dựa vào nông nghiệp là chủ yếu, thủ công nghiệp phát triển nhng phụ thuộc hoàn toàn vào lĩnh vực nông nghiệp, nền kinh tế kéo dài trong tình trạng tự cấp tự túc

Sau khi giành đợc độc lập, nớc Cộng hoà dân chủ nhân dân Trung Hoa

ra đời (01/10/1949) nền kinh tế Trung Quốc đứng trớc những vấn đề hết sức khó khăn, tình trạng sản xuất trên mọi lĩnh vực đều bị giảm sút Trên cơ sở

đó Đảng và Nhà nớc Trung Quốc đã đa ra các biện pháp nhằm khôi phục kinh tế: thực hiện cải cách trong nông nghiệp, tiến hành quốc tế hữu hoá các cơ sở kinh tế t bản trong và ngoài nớc, hoạt động tài chính - thị trờng giai đoạn này đã dần đi vào ổn định và có hiệu quả Tất cả các chính sách kinh tế thời kỳ này nhằm mục đích xúc tiến nhanh chóng công cuộc cải cách XHCN Việc thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1953 - 1957), Trung quốc đã thu đợc một số thắng lợi cơ bản Quan hệ sản xuất XHCN đã

đợc xác lập, đóng vai trò chủ đạo cho sự phát triển của nền kinh tế Sản xuất nông nghiệp có nhiều tiến bộ Nhng với điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật còn yếu kém, lao động thủ công nên trong quá trình phát triển kinh tế còn bộc lộ nhiều yếu kém Quan điểm về xây dựng XHCN đã phản ánh khuynh hớng t tởng chủ quan, nóng vội muốn hoàn thành nhanh chóng cải tạo XHCN Những hạn chế này do cha nhận thức đúng về đặc điểm kinh tế XHCN thời kỳ quá độ, cha thấy đợc quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất Tình trạng này nếu không đợc khắc phục kịp thời sẽ để lại những hậu quả kinh tế to lớn trong thời kỳ sau Nhng ngay sau đó (từ 1958 - 1978) Trung Quốc càng lún sâu vào những chính sách kinh tế tả khuynh, nóng vội, duy ý chí đợc phản ánh qua các mốc lịch

sử nh "Đại nhảy vọt" (1958 - 1965) "Đại cách mạng văn hoá vô sản" (1996

- 1976), "Hiện đại hoá" (1976 - 1978) Những chính sách kinh tế này không những không vực nền kinh tế Trung Quốc lên mà đã đẩy nền kinh tế Trung Quốc rơi vào tình trạng khủng hoảng, mất cân đối nghiệm trọng Với những mục tiêu và biện pháp đề ra, trong 20 năm, Trung Quốc đã thực hiện đợc kế

Trang 3

hoạch mà họ đã đề ra và trong thời kỳ này, Trung Quốc phải nhập một lực lợng lơng thực khá lớn: chiếm 1/32 giá trị hàng hoá nhập khẩu

II- Kinh tế Trung Quốc từ 1978 tới 1987.

Năm 1978 ghi nhận sự kiện lịch sử quan trọng của Trung Quốc Vào tháng 11/1978, tại Hội nghị lần thứ 3 của Đại hội 11, Đảng cộng sản Trung Quốc đã vạch rõ những quan điểm tả khuynh về kinh tế, chính trị của thời gian trớc, đó là nguyên nhân gây nên sự trì trệ về kinh tế xã hội

Về phơng diện kinh tế, tại hội nghị lần thứ 3 của Đảng cộng sản Trung Quốc đã xem xét đánh giá toàn diện thực trạng cuả nền kinh tế Trung Quốc Với nông nghiệp thì 700 triệu nông dân dùng lao động thủ công là phổ biến Với công nghiệp thì nhiều ngành sản xuất còn lạc hậu mấy chục năm, thậm chí có ngành sản xuất lạc hậu hàng trăm năm so với công nghiệp hiện đại ở phơng Tây Tình hình sản xuất công nông nghiệp nh vậy, nên trình độ xã hội hoá sức sản xuất rất thấp kém, kinh tế hàng hoá và thị trờng trong nớc không phát triển Do vậy, kinh tế tự nhiên và nửa tự nhiên còn chiếm tỉ trọng tơng đối lớn trong nền kinh tế

Với thực trạng kinh tế nói trên, nếu tiếp tục kéo dài, sẽ đa đất nớc vào con đờng bế tắc, khủng hoảng Từ xem xét và đánh giá thực trạng kinh tế xã hội, nhiều quan điểm ở Trung Quốc đều thống nhất rằng, cần làm sáng tỏ Trung Quốc đang ở giai đoạn nào của sự phát triển lịch sử Đây là vấn đề rất quan trọng, vì có nh vậy mới xác lập đợc hệ thống quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất trong hoàn cảnh cụ thể Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, trớc đây Trung Quốc có xu hớng đốt cháy giai đoạn, đặt đất nớc vào tình trạng mà nó cha đạt tới Do vậy, đã áp đặt quan hệ sản xuất "xã hội chủ nghĩa tiên tiến" vào điều kiện sản xuất thủ công lạc hậu Bức tranh quá khứ về các công xã nhân dân qui mô tới 5.000

hộ, khi nông nghiệp mới ở trình độ "nền văn minh đòn gánh" Bên cạnh đó các công xã này còn áp dụng chế độ phân phối theo nhu cầu với t tởng "cả nớc ăn chung một nồi cơm to", "cả nớc cùng quá độ nghèo đi lên chủ nghĩa xã hội" Từ thực trạng kinh tế xã hội, Trung quốc cho rằng: đất nớc đang ở giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội, giai đoạn này kéo dài ít nhất là 100 năm Đó là thời gian cần thiết để Trung Quốc thực hiện những việc mà nhiều nớc đã thực hiện trong điều kiện t bản chủ nghĩa, trớc khi các nớc này tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa Đây cũng là thời gian để Trung Quốc thực hiện công nghiệp hoá, thơng phẩm hoá, xã hội hoá và hiện đại hoá sản xuất

Từ xem xét thực trạng kinh tế xã hội, chuyển sang phơng diện lý luận, Trung Quốc cho rằng trong quá trình nghiên cứu, C.Mác không đặt ra cho mình nhiệm vụ đa ra mô hình cụ thể về xã hội tơng lai C.Mác đã đa ra những dự đoán thiên tài về xã hội tơng lai, đó là sự trừu tợng hoá cao độ với

Trang 4

nền kinh tế có lực lợng sản xuất đạt tới trình độ cao Nhng trên thực tế, công cuộc xây dựng "chủ nghĩa xã hội hiện thực" ở mỗi nớc lại tiến hành trong điều kiện lịch sử khác nhau và có khoảng cách rất lớn so với sự trừu t-ợng hoá của C.Mác, đặc biệt với Trung Quốc, nền kinh tế còn ở trình độ rất thấp

Với cách xem xét, đánh giá về phơng diện lý luận và thực tiễn nói trên,

là cơ sở cho việc khởi thảo đờng lối cải cách kinh tế ở Trung Quốc Về nội dung cải cách kinh tế ở Trung Quốc bao hàm nhiều vấn đề

Trớc hết Trung Quốc chủ trơng điều chỉnh lại cơ cấu của nền kinh tế vốn mất cân đối từ trớc, đặc biệt trong giai đoạn thực hiện "Bốn hiện đại hoá" Trung Quốc từ chính sách u tiên phát triển công nghiệp nặng, chuyển sang u tiên phát triển sản xuất nông nghiệp, hàng tiêu dùng và những ngành công nghiệp đáp ứng nhu cầu cấp bách của đất nớc

Trung Quốc chủ trơng xây dựng nền kinh tế hàng hoá xã hội chủ nghĩa Về vấn đề này, quan điểm của Trung Quốc cho rằng, trong nền kinh

tế xã hội chủ nghĩa không phải do kế hoạch điều tiết đơn nhất, mà có thể thực hiện sự kết hợp giữa kế hoạch với thị trờng Trung Quốc coi đây là một kết luận cơ bản rút ra từ thực tiễn xây dựng kinh tế trong những năm qua

Đờng lối kinh tế của Đảng cộng sản Trung Quốc đã khẳng định: kinh tế xã hội chủ nghĩa là "kinh tế hàng hoá có kế hoạch trên cơ sở chế độ công hữu"

và "thực hiện kinh tế kế hoạch cùng với việc vận dụng qui luật giá trị và phát triển kinh tế hàng hoá không phải là bài xích nhau, mà là thống nhất với nhau Đối lập chúng với nhau là sai lầm"

Nh vậy theo Trung Quốc, việc xác định tính chất của nền kinh tế hiện

đại sẽ có ba ý nghĩa Nó phân biệt kinh tế xã hội chủ nghĩa với kinh tế tự nhiên mang tính phân tán, tự cấp tự túc Nó cũng phân biệt kinh tế xã hội chủ nghĩa với kinh tế có sản phẩm dồi dào của xã hội tơng lai Với Trung Quốc trong giai đoạn hiện tại, sức sản xuất cha phát triển, kỹ thuật sản xuất còn lạc hậu, thì Trung Quốc cha thể vợt qua giai đoạn kinh tế hàng hoá để làm kinh tế sản phẩm Cuối cùng nó cũng phân biệt kinh tế xã hội chủ nghĩa với kinh tế hàng hoá không có kế hoạch của xã hội t bản chủ nghĩa Trung Quốc còn chủ trơng khôi phục và duy trì một nền kinh tế có nhiều thành phần Về vấn đề này, quan điểm của Trung Quốc cho rằng trong điều kiện cụ thể, với các tổ chức kinh tế xã hội chủ nghĩa, không phải càng qui mô lớn càng tốt Đồng thời với nền kinh tế hiện tại không hoàn toàn càng công hữu, càng thuần khiết xã hội chủ nghĩa càng tốt, mà cần đa dạng hoá các loại hình sở hữu trong điều kiện lấy chế độ công hữu làm chủ thể Nh vậy, sự đổi mới về nhận thức đã phá bỏ đi những quan niệm truyền thống và xác lập quan niệm mới là kết cấu của chế độ sở hữu phải do tính chất của sức sản xuất quyết định Qua thực tế cho thấy việc lựa chọn và xác

Trang 5

lập các hình thức sở hữu không thể xuất phát từ sự lý tởng hoá chủ quan,

mà phải do tính chất khách quan của lực lợng sản xuất quyết định Chính trên cơ sở ấy mới nâng cao hiệu quả của sản xuất, khai thác tốt mọi tiềm năng cho sự phát triển kinh tế ở Trung Quốc thời gian qua đã hình thành nhiều loại hình sở hữu cùng tồn tại và giao tiếp với nhau, trong đó sở hữu xã hội chủ nghĩa với t cách là chủ thể Đồng thời, chính sự đổi mới nhận thức

về chế độ sở hữu dới chủ nghĩa xã hội càng phá bỏ quan niệm truyền thống

là "càng thống nhất càng tốt" để xác lập quan niệm mới là trong điều kiện nhất định, quyền sở hữu và quyền kinh doanh có thể tách rời nhau

Từ chủ trơng khôi phục và duy trì nền kinh tế có nhiều thành phần, nền kinh tế chính sách thể đợc khuyến khích phát triển, các hình thức t bản Nhà nớc cũng đợc chú trọng Trung Quốc đã áp dụng chính sách khoán không chỉ trong nông nghiệp, mà cả trong lĩnh vực công thơng nghiệp Với nông nghiệp, những hình thức khoán nh "tập thể công hữu, tập đoàn nhỏ kinh doanh", "tập thể công hữu, cá thể nhỏ kinh doanh" đã trở thành khá phổ biến ở nông thôn Trung Quốc Với công thơng nghiệp, chính sách khoán đợc áp dụng ở một số xí nghiệp quốc doanh loại nhỏ và những xí nghiệp hợp tác xã

Trong hoạt động kinh tế, Trung Quốc cho thực hiện chế độ hợp đồng lao động, cho phép cạnh tranh và giải thể những xí nghiệp thua lỗ Trung Quốc coi đây là một tác động quan trọng cho sản xuất phát triển

Cùng với việc khởi xớng đờng lối cải cách kinh tế, Trung Quốc còn tiến hành cải cách thể chế chính trị Trung Quốc cho rằng trong thời gian qua, ở Trung Quốc đã hình thành bộ máy Nhà nớc mang tính chất tập trung quan liệu, tổ chức thì cồng kềnh, nhng hiệu quả trong hoạt động lại rất thấp Bên cạnh đó có tình trạng công tác của Đảng và chính quyền chống chéo lên nhau

Do vậy, từ đầu những năm 80 đặc biệt từ năm 1983, Trung Quốc đã có nhiều hoạt động để chấn chỉnh tổ chức Với báo cáo tại Đại hội 13 của

Đảng cộng sản Trung Quốc đợc coi là tuyên ngôn về cải cách thể chế chính tri Nội dung chủ yếu của nó là sự tách biệt chức năng lãnh đạo của của

Đảng và chức năng thực hiện của Nhà nớc Đảng sẽ không can thiệp và làm thay công việc của Nhà nớc Bên cạnh đó báo cáo còn đề cập tới việc xây dựng đội ngũ cán bộ, mà tiêu chuẩn về phẩm chất và năng lực của họ đợc

đánh giá bằng lòng nhiệt thành, quyết tâm và những hành động có hiệu quả trong cải cách kinh tế, trong sản xuất và kinh doanh hàng hoá

Tiến hành đồng thời với cải cách kinh tế, Trung Quốc chủ trơng thực hiện chính sách mở cửa quan hệ với thế giới bên ngoài Tại hội nghị 12 của

Đảng cộng sản Trung Quốc (tháng 9-1982) đã khẳng định "chính sách mở cửa là đờng lối chiến lợc không thay đổi, là một điều kiện cơ bản để hiện

Trang 6

đại hoá" Thực chất hoạt động mở cửa của Trung Quốc nhằm thu hút vốn và tranh thủ khoa học kỹ thuật, khi sản xuất và tiêu dùng ngày càng mang tính chất quốc tế hoá, thì hoạt động mở cửa là phản ánh xu thế khách quan của thời đại với tất cả các quốc gia có nhu cầu phát triển kinh tế Nh vậy chính sách mở cửa của Trung Quốc là phù hợp với qui luật chung của thế giới

đ-ơng đại Để tiến hành hoạt động mở cửa, Trung Quốc đã cho xây dựng các

đặc khu kinh tế là Thẩm Quyến, Chu Hải, Sán Dầu (Quảng Đông) và Hạ Môn (Phúc Kiến) Bớc sang những năm 1983, 1984, 1985, công cuộc mở cửa vẫn đợc tiếp diễn ở các địa phơng Nhà nớc đã cho phép một số địa

ph-ơng nhiều quyền tự chủ trong việc hợp tác kinh doanh với nớc ngoài Để tạo

điều kiện thuận lợi cho nớc ngoài đầu t, từ năm 1979, Trung Quốc đã ban hành 160 đạo luật và sắc lệnh liên quan tới các đặc khu cùng các thành phố

mở cửa Một trong các đạo luật nói trên tỏ ra u đãi đặc biệt với các nhà t bản bỏ vốn đầu t kinh doanh Họ đợc phép sử dụng đất đai với thuế suất u

đãi Bên cạnh đó có đạo luật chỉ ra các đặc khu kinh tế và thành phố mở cửa phải có trật tự xã hội cao, phải coi trọng văn minh lịch sự, những sản phẩm của các đặc khu phải đáp ứng với yêu cầu lu thông hàng hoá trên thị trờng thế giới

Nhìn vào việc mở cửa quan hệ với nớc ngoài, Trung Quốc đã đa ra nhiều hình thức khác nhau để t bản nớc ngoài đầu t vào các đặc khu kinh tế

và thành phố mở cửa Ví dụ nh xí nghiệp hợp danh là hình thức Trung Quốc

và nớc ngoài cùng góp vốn và cùng chịu trách nhiệm trong kinh doanh Việc chia lãi cho các bên căn cứ vào cổ phần đóng góp Thời gian ký kết lập ra các xí nghiệp hợp doanh là 11 năm tới 30 năm

Một loại xí nghiệp khác có thể vốn hoàn toàn do nớc ngoài đầu t,

nh-ng nhữnh-ng xí nh-nghiệp này phải có lợi cho việc phát triển kinh tế quốc dân ở Trung Quốc Về kỹ thuật và thiết bị của xí nghiệp phải tiên tiến, những sản phẩm của nó phải đợc xuất khẩu toàn bộ Với các xí nghiệp loại này, hàng năm phải nộp cho Trung Quốc thuế thu nhập từ 20% đến 40%

Ngoài các loại hình xí nghiệp nói trên, còn một loại xí nghiệp nữa là

do nớc ngoài cho vay vốn Việc thanh toán hoàn trả cho nớc ngoài sẽ bằng sản phẩm mà xí nghiệp sản xuất ra

Nhìn chung cới chính sách mở cửa, Trung Quốc không chỉ bảo đảm những điều kiện thuận lợi cho t bản nớc ngoài đầu t, đồng thời vẫn cố gắng duy trì và giữ vững chủ quyền của mình

Trên đây là toàn bộ nội dung về cải cách kinh tế và mở cửa ở Trung Quốc Qua thực tế, nó đã tạo ra những chuyền biến mạnh mẽ, làm sống

động nền kinh tế Trung Quốc trên nhiều lĩnh vực

Với nông nghiệp, từ hội nghị Trung ơng lần thứ 3 khoá 11 (1987) đã coi "nông nghiệp là cơ sở của nền kinh tế quốc dân" và "Nhiệm vụ hàng

Trang 7

đầu đặt ra trớc mắt là tập trung tinh lực làm cho nền nông nghiệp lạc hậu mau chóng phát triển

Với tinh thần ấy, hội nghị trung ơng lần thứ 3 của Đảng cộng sản Trung Quốc đã nhấn mạnh phải quan tâm đầy đủ tới lợi ích vật chất của

ng-ời lao động, phải trả thù lao cho xã viên theo số lợng và chất lợng lao động, kiên quyết chống chủ nghĩa bình quân trong phân phối

Ngay trong hội nghị trung ơng lần 3, nông thôn Trung Quốc đã thực hiện chế độ khoán trong sản xuất nông nghiệp Chế độ khoán thực chất là hình thức lao động hợp đồng, đợc ký kết giữa ba bên: Nhà nớc, tập thể, hộ hay nhóm hộ nông dân Sau khi ký kết, các đội sản xuất căn cứ vào kế hoạch cả Nhà nớc và điều kiện cụ thể của mình để giao ruộng đất và các hạng mục sản xuất cho các hộ hoặc nhóm hộ nhận khoán kinh doanh

Trong quá trình thực hiện, hộ nông dân phải nộp thuế nông nghiệp, phải bán một số lợng sản phẩm theo yêu cầu của Nhà nớc Bên cạnh đó, nông dân còn phải nộp một phần sản phẩm thu nhập cho tập thể để gây công quỹ, phần còn lại hoàn toàn thuộc quyền và sử dụng của nông dân Tất nhiên, phần hoa lợi mà nông dân đợc hởng phải thoả đáng, có tác dụng khuyến khích vật chất với ngời lao động

Nh vậy, chế độ khoán ở nông thôn Trung Quốc là hình thái cụ thể của việc tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng kinh doanh ruộng đất Với việc tách rời nh vậy, ngời nông dân đã phát huy đợc quyền tự chủ trong kinh doanh sản xuất Qua thực tế, chế độ khoán đã làm cho kinh tế tập thể

và hoạt động kinh doanh của gia đình có mối liên hệ chặt chẽ với nhau trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi, thể hiện qua các hợp đồng kinh tế

Chế độ khoán trong nông nghiệp ở Trung Quốc bắt đầu từ năm 1979, tới nay đã qua hai giai đoạn: từ 1979 đến 1983 là giai đoạn hình thành các hình thức khoán, từ năm 1984 tới nay là giai đoạn tiến tới hoàn thiện chế độ khoán tới hộ Nhìn chung tới năm 1984, 100% các đội sản xuất đã thực hiện chế độ khoán

Với chế độ khoán, hình thức của nó khá đa dạng nh khoán theo chuyên môn, tính thù lao theo sản lợng; khoán sản lợng tới tổ, tới ngời lao

động và tới hộ Sự đa dạng về hình thức khoán có u điểm là nó phù hợp với tình hình phát triển kinh tế không đồng đều giữa các vùng, những hình thức khoán nói trên song song cùng tồn tại và bổ sung cho nhau Nhìn chung, tâm lý của ngời nông dân thích khoán tới hộ hơn Hình thức này dần dần trở thành phổ biến Qua thực tế diễn biến về nông nghiệp ở Trung Quốc trong những năm gần đây cho thấy chế độ khoán mang tính phổ biến, vì nó phù hợp với điều kiện khách quan của Trung Quốc, phù hợp với yêu cầu của qui luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất Sự phù hợp này đợc xem xét trên ba mặt: mức độ công hữu, hình thức

Trang 8

tổ chức quản lý và phân phối Do vậy, về quan điểm, Trung Quốc coi chế

độ khoán không phải là kế sách tạm thời, mà mang tính chất lâu dài, căn bản, đã đề cập tới vấn đề trọng yếu là cải cách thể chế quản lý trong nông nghiệp trên khắp các vùng nông thôn Trung Quốc bao la, với hàng triệu nông dân Vì vậy, báo cáo chính trị tại đại hội Đảng cộng sản Trung Quốc

lầ thứ 13 đã khẳng định "phải củng cố và hoàn thiện chế độ khoán tới hộ với nhiều hình thức, lấy kinh doanh gia đình làm chủ yếu"

Chế độ khoán đã đem lại những thắng lợi cơ bản cho nông nghiệp Trung Quốc Sản lợng lơng thực tăng nhanh, nếu năm 1978 là 304,7 triệu tấn, thì năm 1987 là 402 triệu tấn Những sản phẩm khác trong nông nghiệp

nh bông, dầu, mía, thịt v.v đều tăng Điều đáng chú ý là ở nông thôn Trung Quốc cả nông, lâm, ng nghiệp và chăn nuôi đều phát triển nhanh chóng Theo đà phát triển của nông nghiệp, thì các ngành phi nông nghiệp ở nông thôn cũng chuyền biến mạnh Tỷ trọng giá trị sản lợng của công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải và thơng nghiệp ở nông thôn trong tổng giá trị sản phẩm của kinh tế nông thôn tăng từ 31,4% năm 1978 lên 46,9% năm 1986

Với sự phát triển của kinh tế nông thôn Trung Quốc, hàng trăm triệu nông dân đã chuyển mình từ trạng thái kinh tế tự cấp tự túc sang nền kinh tế hàng hoá Nhìn chung nông nghiệp Trung Quốc phát triển tơng đối ổn định

đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển chung của nền kinh tế Nguồn nguyên liệu nông nghiệp cung cấp cho công nghiệp tăng 1,4 lần, góp phần tăng thêm nguồn hàng xuất khẩu Năm 1986, nguồn ngoại tệ do sản phẩm nông nghiệp và nghề phụ xuất khẩu đạt 13,7 tỷ đô la, tăng 7,5 tỷ đô la so với năm 1978 Chính trên cơ sở ấy, đời sống ngời lao động ở nông thôn có

sự thay đổi, đáng chú ý: năm 1986, thu nhập bình quân đầu ngời ở nông thôn tăn 3 lần so với năm 1978

Trong lĩnh vực công nghiệp, sự phát triển gắn với việc điều chỉnh

ph-ơng hớng đầu t giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ Tính từ năm 1979, Trung Quốc đã giảm bớt qui mô và tốc

độ phát triển của công nghiệp nặng Đồng thời Trung Quốc chú trọng tăng qui mô và tốc độ phát triển của công nghiệp nhẹ Do vậy trong những năm qua, cơ cấu của nền kinh tế đã bớc đầu giảm đợc tỷ lệ mất cân đối giữa công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ và nông nghiệp Năm 1979, quan hệ tỷ

lệ giữa ba lĩnh vực là 1,12: 1 : 1; nhng tới năm 1982 đã thay đổi theo tỷ lệ 0,99 : 1 : 0,98 Nhìn vào quan hệ tỷ lệ trên, thì công nghiệp nặng đã giảm tỷ trọng, công nghiệp nhẹ có tỷ trọng lớn nhất và tỷ trọng nông nghiệp xấp xỉ bằng công nghiệp nặng

Trong thời gian này, khả năng sản xuất của công nghiệp tăng nhanh Vào năm 1980 sản lợng dầu mỏ đạt 106 triệu tấn, than 620 triệu tấn; nhng

Trang 9

tới năm 1987 sản lợng dầu mỏ là 134 triệu tấn, than là 899 triệu tấn Nhìn chung từ năm 1979 - 1985, về giá trị sản lợng công nghiệp, tốc độ tăng bình quân hàng năm là 10,1%

Hoà nhịp với hoạt động kinh tế trong nớc, những hoạt động kinh tế đối ngoại với chính sách mở cửa đã tạo ra những chuyển biến quan trọng, góp phần to lớn làm sống động nền kinh tế

Trong những năm qua, kim ngạch ngoại thơng của Trung Quốc tăng nhanh Năm 1978 là 20,6 tỷ đô la, năm 1987 là 83,7 tỷ đô la, nghĩa là tăng lên gấp 4 lần Điều đáng chú ý là sự tăng nhanh trong lĩnh vực ngoại thơng của Trung Quốc không phải chi so với những giai đoạn trớc đây, mà còn nhanh hơn tốc độ của nhiều nớc trên thế giới Trong những khoảng thời gian 10 năm (1978 - 1987), tốc độ bình quân với hoạt động ngoại thơng của các nớc trong Hội đồng tơng trợ kinh tế các nớc xã hội chủ nghĩa (SEV) là 7-8%, các nớc thuộc khối thị trờng chung châu Âu (EEC) là 3,1%, nhng tỷ

lệ này ở Trung Quốc là 18,9% Theo thống kê của chính phủ Trung Quốc, trong thời gian 10 năm (1978-1987) thì hoạt động ngoại thơng của Trung Quốc tăng 4 lần, sản xuất công nghiệp tăng 2,5 lần, sản xuất nông nghiệp tăng 2,25 lần Nh vậy, rõ ràng tốc độ phát triển của ngoại thơng tăng nhanh hơn tốc độ phát triển của sản xuất Điều đó chỉ ra rằng vai trò của ngoại th

-ơng tác động trở lại với sự phát triển kinh tế trong nớc rất quan trọng

Nhìn vào hoạt động ngoại thơng, thì cơ cấu hàng xuất nhập khẩu và cơ cấu thị trờng có nhiều thay đổi rõ rật Số lợng hàng thành phẩm công nghiệp xuất khẩu tăng nhanh, nhất là những mặt hàng truyền thống nh quần, áo, giầy, dép, dụng cụ thể thao và các loại hàng thủ công mỹ nghệ Những mặt hàng này tỷ lệ xuất mỗi năm tăng 18,5% Năm 1980, những mặt hàng nêu trên chiếm 25% trong tổng giá trị hàng hoá xuất khẩu Chỉ riêng mặt hàng giầy, dép của Trung Quốc xuất sang thị trờng t bản chủ nghĩa (Mỹ, Nhật, ý, Pháp) giá trị 160 triệu đô la

Việc xuất khẩu than và dầu mỏ tăng nhanh, chiếm 21,5% trong tổng giá trị hàng hoá xuất khẩu Hoạt động này thu đợc kết quả trên cơ sở tăng sản lợng khai thác và mở rộng thị trờng buôn bán Năm 1987, Trung Quốc

đã xuất nhập 27,2 triệu tấn dầu, 13,5 triệu tấn than, trong đó 80% xuất sang Nhật, 20% suất sang Mĩ Bên cạnh đó, Trung Quốc còn xuất một số loại nông phẩm sang thị trơng Mĩ, úc, Pháp v.v

Về nhập khẩu, hớng theo chiến lợc điều chỉnh nền kinh tế, Trung Quốc đã thay đổi chính sách nhập khẩu thiết bị kĩ thuật Quan điểm của Trung Quốc chỉ nhập khẩu có chọn lọc thiết bị toàn bộ cho những công trình lớn, nhng rất cá biệt, Trung Quốc u tiên nhập khẩu kĩ thuật và công nghệ để cải tạo các xí nghiệp cũ đã lạc hậu Với quân điểm nh vậy, Trung

Trang 10

Quốc đã nhập công nghệ và kĩ thuật của trên 40 nớc, chủ yếu là của Mĩ, Nhật, Anh, Pháp, Tây Đức v.v

Trong hoạt động kinh tế đối ngoại, Trung Quốc còn tranh thủ vay vốn của quỹ tiền tệ quốc tế với điều kiện rất thuận lợi và chú trọng sử dụng có hiệu quả Năm 1982, Trung Quốc đã vay của ngân hàng thơng mại quốc tế 10,8 tỉ đô la để thanh toán tiền nhập khẩu thiết bị đồng bộ Bên cạnh đó các nớc Tây Đức, Nhật, Anh v.v cũng cung cấp tín dụng dài hạn với lãi suất u

đãi cho Trung Quốc Tháng 10 - 1984, Tây Đức cho Trung Quốc vay 50 triệu mác, với lãi suất 2% trả trong 30 năm

Với chính sách mở cửa của Trung Quốc, tạo ra những điều kiện thuận lợi cho t bản nớc ngoài đầu t trực tiếp Từ 1978 - 1985, vốn đầu t của t bản nớc ngoài vào các xí nghiệp hợp doanh là 16,2 tỉ đô la, trong đó 5 tỉ đô la

đầu t vào thăm dò và khai thác dầu mỏ, số còn lại là đầu t vào công nghiệp nhẹ, điện tử, hoá chất, luyện kim Nhìn vào hoạt động đầu t của nớc ngoài vào Trung Quốc chủ yếu tập trung vào sản xuất, chiếm tới 70% trong tổng

số xí nghiệp t bản nớc ngoài đầu t, do vậy, số xí nghiệp phi sản xuất chỉ chiếm 25% Hoạt động đầu t của nớc ngoài đã đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của các đặc khu kinh tế và thành phố mở cả Tỉnh Quảng

Đông năm 1979, giá trị sản phẩm sản xuất ra là 60 triệu nhân dân tệ, nhng tới năm 1987 là 8 tỷ nhân dân tệ Nh vậy, mức tăng trởng thật là thần kỳ, gấp 120 lần Nhìn chung trong những năm qua, chính sách mở cửa đã đem lại những kết quả đáng chú ý ở Trung Quốc, việc đầu t của nớc ngoài làm xuất hiện 5.000 xí nghiệp hợp doanh, 120 xí nghiệp nớc ngoài độc doanh Tính tới năm 1987, có 40 nớc trên thế giới t bản đã đầu t kinh doanh vào Trung Quốc với 8,796 hợp đồng ký kết Trung Quốc đã sử dụng 31,9 tỷ đô

la vốn đầu t của nớc ngoài Trong quá trình hợp tác kinh doanh, Trung Quốc đã sử dụng 7.000 kỹ s kỹ thuật viên của các nớc Anh, Pháp, Mỹ, Nhật

Riêng trong quan hệ với các nớc trong khối SEV, tính tới năm 1983 sau hơn 20 năm gián đoạn, Trung Quốc và Liên Xô lại nối quan hệ kinh tế Năm 1985, Liên Xô đã giúp Trung Quốc cải tạo lại 14 công trình công nghiệp cũ và xây dựng 7 công trình công nghiệp mới Với các nớc Đông Âu trong khối SEV, từ năm 1984 bắt đầu quay lại hợp tác với Trung Quốc Các nớc này nhận giúp Trung Quốc cải tạo 79 công trình công nghiệp giá trị 80

tỷ đô la thuộc các ngành chế tạo máy, luyện kim, hoá chất, điện tử

Trên đây là những vấn đề kinh tế diễn ra trong thời kỳ cải cách và mở cửa ở Trung Quốc đã thu đợc những thành tựu to lớn Khối lợng tổng sản phẩm xã hội năm 1988 đạt 1,092 tỷ nhân dân tệ Trung Quốc đã cơ bản giải quyết đợc vấn đề ăn no mặc ấm cho một tỷ ngời Trung Quốc đã tạo việc làm cho 70 triệu ngời ở thành phố và 80 triệu nông dân đã chuyển sang khu

Ngày đăng: 11/04/2013, 16:44

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w