Khi nhà thơ đủ bản lĩnh để tạo ra tiếng nói mới từ việc tái tạo các ngôn ngữ thông dụng hằng ngày đã sáo mòn, cạn kiệt sức biểu hiện thành sinh động, mới lạ, hấp dẫn nhà thơ càng trẻ hóa
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LÊ THỊ HẠNH
KĨ THUẬT THƠ LÊ ĐẠT
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam hiện đại
Mã số: 60.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS ĐẶNG THU THỦY
HÀ NỘI - 2017
Trang 2MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 8
4 Nhiệm vụ, đóng góp của luận văn 9
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Cấu trúc luận văn 10
Chương 1 : VÀI NÉT VỀ “KĨ THUẬT THƠ” VÀ QUAN NIỆM THƠ CỦA LÊ ĐẠT 11
1.1 Khái niệm “Kĩ thuật thơ” 11
1.2 Quan niệm thơ Lê Đạt 12
1.2.1 Quan niệm của Lê Đạt về thơ 12
1.2.2 Quan niệm của Lê Đạt về nhà thơ 21
1.2.3 Quan niệm của Lê Đạt về người đọc 24
Tiếu kết chương 1 27
Chương 2: KĨ THUẬT CHỮ TRONG THƠ LÊ ĐẠT 28
2.1 Kĩ thuật chế tạo từ 29
2.1.1 Từ trong mối quan hệ nội tại 30
2.1.2 Từ trong mối quan hệ mở rộng 45
2.2 Kĩ thuật trình bày sắp con chữ 56
Chương 3 THỂ THƠ HAIKAU VÀ LIÊN VĂN BẢN 64
3.1 Thể thơ haikau 64
3.1.1 Vài nét về thể thơ Haikâu 64
3.1.2 Thơ Haikâu Lê Đạt 65
3.2 Liên văn bản 70
Trang 33.2.1 Thiết lập mạng lưới liên văn bản 70
3.2.2 Kĩ thuật cắt dán, lắp ghép 88
KẾT LUẬN 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1 Tiếp nối dòng chảy thi ca lâu đời, trải qua bao thăng trầm biến thiên lịch sử, thơ sau 1975 có một diện mạo hoàn toàn mới Thơ ca giai đoạn này có
sự vận động và biến đổi hòa nhập với những biến chuyển của đời sống xã hội
và công cuộc đổi mới của nền văn học nước nhà Đổi mới và cách tân không chỉ là nhu cầu thiết yếu mà còn là quy luật vận động của cuộc sống Bản chất của nghệ thuật là sáng tạo vì thế văn học không nằm ngoài quy luật vận hành
ấy Sự đổi mới không chỉ nằm ở thời đại, ở đời sống văn học nói chung mà còn nằm ở cá thể sáng tạo nói riêng Đó là đội ngũ sáng tạo, những người tiên phong, luôn khát khao sáng tạo đem đến cho nền thi ca dân tộc một luồng gió mới Nhìn lại, vào khoảng thời gian sau năm 90 của thế kỉ XX, khi khuynh hướng hiện đại chủ nghĩa bắt đầu lan rộng trong giới văn chương, đã xuất hiện nhiều tập thơ mới lạ mà phần lớn chủ thể sáng tạo lại là những nhà thơ của thế hệ kháng chiến Những tập thơ của Hoàng Cầm (Về Kinh Bắc, Mưa Thuận Thành) Dương Tường, Lê Đạt (36 bài tình), Đặng Đình Hưng (Bến lạ,
ô mai) Và những sáng tác của các tác giả nhóm “ Dòng chữ”: Trần Dần, Lê Đạt, Dương Tường…bắt đầu được công chúng đón nhận như những đóng góp tích cực trên hành trình tìm tòi đổi mới và phát triển thi ca dân tộc
2 Lê Đạt là một trong số ít những nhà thơ “ôm mộng cách tân thơ Việt” từ rất sớm Trong suốt chặng đường thơ của mình ông tỏ ra là một người không thỏa mãn với hệ hình thi pháp đã định hình trước đó như là một hằng số mà thế hệ “cây đa cây đề” đã để lại vì vậy ông luôn nỗ lực bằng nhiều cách khác nhau để làm mới thơ của mình Với tư cách là thành viên nhóm
“Dòng chữ” ông cùng với Trần Dần, Hoàng Cầm, Dương Tường đã có những đóng góp tích cực trên con đường phát triển thơ ca dân tộc Vượt qua
Trang 5những quan niệm truyền thông về thơ, vượt qua những cách diễn đạt quen thuộc họ đi tìm con đường biểu đạt mới cho thơ, từ đó tạo lập những hệ giá trị mới chuẩn mực mới
3 Mặc dù các nhà thơ trong nhóm dòng chữ đề đề cao tính phi lí của đời sống tiềm thức nhưng mỗi nhà thơ lại chọn cho mình những thể nghiệm khác nhau Với Trần Dần, Dương Tương họ có những trải nghiệm mới mẻ với thơ ngoài lời, thơ thị giác, thơ âm thanh… Còn Lê Đạt ông dành cả tâm huyết của mình với con chữ Mọi thể nghiệm của ông đều xoanh quanh vấn đề làm mới chữ, làm chữ chính là mục đích hàng đầu trong hành trình làm thơ.Theo
ông “làm thơ tức là làm chữ” và quá trình làm chữ là một quá trình chuộc tuổi: “Khi nhà thơ còn non tuổi, thường nói tiếng sẵn của tổ tiên nên tiếng nói
già Khi nhà thơ đủ bản lĩnh để tạo ra tiếng nói mới từ việc tái tạo các ngôn ngữ thông dụng hằng ngày đã sáo mòn, cạn kiệt sức biểu hiện thành sinh động, mới lạ, hấp dẫn nhà thơ càng trẻ hóa.Chính từ quan niệm này mà trong
quá trình làm thơ của mình, ông đã sáng tạo ra rất nhiều kĩ thuật để chinh phục con chữ, tạo ra tính đa diện của chữ trong thơ
4 Không phải đến Lê Đạt mới đặt ra vấn đề “kĩ thuật thơ” Trên thực tế
“cách làm thơ” là vấn đề được đặt ra từ rất lâu.Thơ Đường luật vốn xuất xứ từ Trung Hoa Vào giai đoạn những năm cuối của thiên niên kỉ thứ I sau Công nguyên Là thể thơ đặt trong khuôn khổ luật lệ ngặt nghèo, niêm luật, vần điệu chặt chẽ Việc các nhà thơ tuân thủ theo các nguyên tắc ấy trong quá
trình làm thơ chính là vận dụng kĩ thuật để sáng tạo thi ca Đến với Lê Đạt “kĩ
thuật làm thơ” lại thể hiện ở một khía cạnh khác Bằng việc vận dụng một
cách có ý thức những kĩ thuật trong quá trình sáng tạo nghệ thuật ông đã có những tác phẩm độc đáo kích thích tư duy người đọc từ nhiều phía Sự tranh cãi ở một hiện tượng nghệ thuật bao giờ cũng là sự gọi mời để người tiếp nhận tiếp tục hành trình khám phá Một hiện tượng lạ, một ẩn số, một cách
Trang 6làm mới thơ như Lê Đạt cần có thời gian và sự nghiên cứu đúng mực hơn nữa
để có thể nhìn nhận khách quan dựa trên tinh thần khoa học
6 Cho đến nay, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về thơ Lê Đạt tiếp cận từ nhiều hướng khác nhau Nhưng nghiên cứu một cách hệ thống và
chặt chẽ về “Kĩ thuật thơ” của ông thì chưa có luận văn nào để cập tới Việc
tìm hiểu “Kĩ thuật thơ Lê Đạt” chúng tôi hy vọng sẽ đóng góp một góc nhìn
mới, một cách hiểu về thơ Lê Đạt Giúp chúng ta nhận thức rõ hơn dấu ấn riêng của nhà thơ trong quá trình sáng tác thơ Đồng thời ghi nhận sự dày công, tận tụy và sự nhiệt huyết của ông trên con đường “thơ” nhọc nhằn của mình Đặc biệt là trong chặng đường hiện đại hóa thơ Việt
2 Lịch sử vấn đề
Ngay từ khi còn trẻ Lê Đạt đã ôm mộng cách tân thơ Việt Ông luôn nghiêm túc trên con đường sáng tác của mình Những tác phẩm của ông là thành quả lao động “khổ sai” với con chữ mà thành Với tư cách là một hiện tượng mới lạ, những tác phẩm thơ của ông con rất nhiều ẩn số chưa thể giải
mã tường minh Đặc biệt là là những tìm tòi về hình thức của Lê Đạt đã thách thức ngưỡng tiếp nhận thông thường của bạn đọc cũng như giới chuyên môn
Sự xuất hiện trở lại của ông vào những năm 90 của thế kỉ XX thêm một lần nữa gây xôn xao dư luận trên thi đàn văn chương.Trong giới nghiên cứu, phê
bình thơ Lê Đạt có hai luồng ý kiến: “Phê phán, ủng hộ” Người khen thì hết
lời vì sự cách tân, sáng tạo về đổi mới tư duy, những thứ rất cần trong văn học nghệ thuật Những người ủng hộ mạnh mẽ đầu tiên đến từ Paris đó là: Đỗ Kh, Đặng Tiến, Thụy Khuê… Sau khi không khí cởi mở hơn, các nhà nghiên cứu trong nước bắt đầu vào cuộc như Đỗ Lai Thúy, Phạm Xuân Nguyên vv Còn người chê dùng mọi lĩ lẽ “đánh đòn” thơ ông, bày tỏ thái độ phủ nhận, phê phán quyết liệt, gay gắt những hình thức lạ và cho rằng thơ ông lai căng, lập
dị, là thứ thơ “hũ nút, tắc tịt, khó hiểu” [43] Tiêu biểu cho khuynh hướng này
là Trần Mạnh Hảo, Đỗ Minh Tuấn
Trang 7Những cây bút ủng hộ thơ Lê Đạt đều thể hiện thái độ ghi nhận và trân trọng công sức, sự sáng tạo và những thể nghiệm độc đáo của người “phu chữ” trên con đường nỗ lực cách tân thơ Việt Thụy Khuê là người rất tâm huyết với những sáng tác của Lê Đạt Qua việc phân tích tác phẩm bà có những bài viết rất sâu sắc.Thụy Khuê luôn coi những tác phẩm của Lê Đạt là sự ra đời của một dòng thơ mới, là sự tiếp nối trên hành trình đổi mới thơ từ truyền thống đến hiện
đại “Với Bóng Chữ thơ mới đã thực sự nhường ngôi cho một dòng thơ khác, Thơ
Tạo Sinh hiện đại trong tinh thần khuynh đảo và tái sinh những giá trị cổ điển”
[61] Khi đặt thơ Lê Đạt vào dòng chảy chung của tiến trình văn học để xem xét,
bà coi những tác phẩm ấy phù hợp với dòng chảy bộn bề của thời hiện đại và
đúng với hai tư tự do dân chủ mà chúng ta vẫn thường hay sử dụng “Bà khẳng
định thơ Lê Đạt là thứ thơ tạo sinh đáng được trân trọng.Là thứ thơ sinh sôi nảy
nở, đa tầng bậc, phức âm và đa nghĩa”
Đặng Tiến một nhà phê bình hải ngoại, trong cuốn “Thơ thi pháp và
chân dung” đã đánh giá cao những đóng góp mới mẻ của tập thơ “ Bóng chữ”
trên hành trình phát triển thơ ca dân tộc Trong bài viết “Lê Đạt và Bóng chữ”
đăng trên báo Hà Nội mới số 14 (3/6/1995) và số 15 (10/6/1995) ông cho
rằng: “Thơ Việt Nam qua hai mươi năm qua là hành trình qua sa mạc thi
thoảng có những câu thơ, bài thơ hay những chưa làm nên được nền thơ Có nhiều tác giả mà không có tác gia Giữa sa mạc mênh mông kia, may thay có dăm mười ốc đảo trong có có người nhiều tuổi như Lê Đạt”
Trong “Bóng chữ còn in bóng người” nhà phê bình Phạm Xuân
Nguyên đã viết về Lê Đạt như sau: “Ông không ngừng sục sạo các ngõ ngách
của từ và tiếng, của chữ và lời, không ngại làm mới và không sự bị coi là khác lạ thơ Lê Đạt có vẻ đẹp hiện đại và tân kì” [88]
Đỗ Lai Thúy khi ông cho rằng Lê Đạt đã nhể bỏ các từ hoặc cấy, ghép, cắt dán, nhằm tạo nên những cấu trúc ngôn ngữ mới, thoáng đọc có thể gây
Trang 8cảm giác nhịu Thanh Tâm trong bài viết “Cách làm chữ của nhà thơ” Lê Đạt cho rằng: “mỗi chữ của Lê Đạt đều có khả năng vẫy gọi những tiền giả định
trong ký ức con người Hiệu quả của nó chính là việc sự đọc bị chặn lại khi đang trơn tru theo thói quen, buộc phải dừng để suy ngẫm, để liên hội các ý niệm gợi lên từ chữ, xác lập lại những tri thức, cảm xúc, nhịp điệu có liên quan Phép tương giao ở đây diễn ra trong ý niệm, trong tâm tưởng, bởi vậy rất kín đáo, không phô phang như những miêu tả thông thường Cái sâu xa, bí mật của tâm thức, mỹ cảm qua lao động nhà thơ đã được vực dậy, vươn lên trên những sáo mòn, tự mãn của thi ca đương đại”
Văn Chinh qua bài viết “Bây giờ xin được nói về thơ Lê Đạt” qua tập
“Bóng chữ” lại cho rằng “Bóng chữ, rất hay, rất độc đáo và dân chủ ở chỗ ta
có thể hiểu từng bài từng chữ qua những cách khác nhau” và “ Thơ Lê Đạt và thơ nói chung không thể đọc trong những lúc to tiếng, lúc vượt dốc Nó không kén bạn đọc mà nó kén tâm thế khi bạn đọc nó
Trong bài viết” Mã thơ Lê Đạt” Đỗ Lai Thúy có lời nhận xét: “Người
phu chữ Lê Đạt không đi tìm những thần tự, nhãn tự để làm sang cho thơ Sự tìm chữ của ông thực chất là tìm cách phát nghĩa mới: chữ đanh thổi lửa Mỗi
từ của Lê Đạt đều phát nhiều nghĩa, bởi nó nằm trong nhiều mối quan hệ với các từ khác trên cả trục kề cận lẫn trục liên tưởng” Thông qua viêc sáng tạo
chữ bằng cách ghép những từ mà trong đời sống tự nhiên chúng chẳng bao giờ có duyên kết hợp với nhau với nhau và sử dụng rất nhiều nguyên âm của
tiếng Việt, những tiếng đầu tiên của con người chuyển từ "ngôn ngữ" không phân tiết của loài vật sang ngôn ngữ phân tiết của người Sự ú ớ của họ mang nặng bao tình cảm, kinh nghiệm của thời tiền sử Việc Lê Đạt sử dụng nhiều nguyên âm u (u là mẹ, u là đất, đất mẹ) như một tiếng mời gọi trở về với cội nguồn nguyên thuỷ, cội nguồn vô thức
Tác giả Đặng Thu Thủy trong bài viết “Lịch sử chữ” trong thơ Lê Đạt
có viết: “Lê Đạt có nhiều đóng góp đáng ghi nhận cả trên phương diện lí
Trang 9thuyết với những lập ngôn, lập thuyết ấn tượng và sâu sắc, cá tính và phương diện thực hành thơ với những thể nghiệm độc đáo, có giá trị Trong tâm của những cách tân thơ Lê Đạt chính là việc làm mới tiếng Việt, làm mới con chữ theo cách riêng của ông Gần như suốt cuộc đời cầm bút, Lê Đạt dồn tâm huyết vào việc kiến tạo chữ” [117,34]
Tác giả Nguyễn Văn Long cũng cho rằng: “Điều đáng ghi nhận ở
những nhà thơ theo xu hướng này (dòng chữ) là họ rất chú ý khai thác và làm giàu mỗi chữ trong tiếng Việt, làm mới những chữ quá quen thuộc bằng cách tạo ra những cách kết hợp chữ khác với cách thông thường của một thứ trật
tự ngữ pháp cứng nhắc” [86]
Trong luận văn “Liên văn bản trong thơ Lê Đạt” tác giả Nguyễn Thị
Duyến đã chỉ ra đóng góp của Lê Đạt trong việc dung hòa giữa truyền thống
và hiện đại trong thơ, tạo ra hàm súc đa nghĩa cho tác phẩm Điều đặc biệt là luận văn đã có những ghi nhận về những tìm tòi của Lê Đạt trong việc làm thơ, đó là sự tìm tòi và xây dựng hình thức mới, bằng những thủ pháp nghệ
thuật: tỉnh lược, cắt dán, lắp ghép và tạo được những hiệu ứng nghệ thuật đặc
sắc, tạo ra một thế giới thơ đa tầng, đa nghĩa
Xu hướng phản đối đã lên án thơ Lê Đạt một cách gay gắt và cho
rằng đó là thứ thơ “què quặt, bệnh hoạn” Trong bài viết “nhân đọc bóng
chữ bàn về chữ trong thơ”(1994), “Thơ và Phản thơ” (1995), “ Từ thơ vọt
trào đến hội chứng thơ trào vọt”(2001) “Có nên giết chết thơ bằng đường
lối phi ngữ nghĩa” (2005) Trần Mạnh Hảo phản đối kịch liệt cũng như thể
hiện thái độ nghi ngờ những thể nghiệm mới mà những nhà cách tân thơ Việt đang theo đuổi Coi Lê Đạt và các tác giả trong nhóm dòng chữ là
những nhà“ vô nghĩa học” đã tạo ra một thứ thi pháp thơ ú ớ u ơ
Khi đánh giá về bài thơ Ông phó cả ngựa, bài thơ được coi là hay
nhất trong tập “Bóng chữ” Trần Mạnh Hảo gay gắt: “Hầu hết là những câu
vô nghĩa ghép vào nhau, linh tinh, lảm nhảm, như một người bị lú lẫn đã
Trang 10lâu từ bỏ xã hội loài người Từ bỏ ý nghĩa của từ ngữ, xua đuổi lý trí, không chấp nhận sự tồn tại của nhận thức trong quá trình tạo ra thi ca, tác giả toan đưa người đọc vào một thế giới phi nhân tính ”[41] Với cái nhìn
từ một con người truyền thống và với tư cách là người làm thơ truyền thống, coi sức nặng của chữ nằm ở nghĩa, ông phê phán Lê Đạt gay gắt: “
cố ý rặn ra trò chơi chữ, đeo chữ, mạ chữ, phá chữ, cuồng chữ, ngộ chữ và
mụ chứ” Là những dòng chữ xô sát theo một trật tự vô thức dồn người đọc vào thế bức bách và rồi để phản bác lại quan niệm “ làm thơ tức là làm chữ của Lê Đạt” Ông kết luận những tác phẩm thơ cách tân ấy là “ thứ thơ mới què quặt và bệnh hoạn”.[42]
Tác giả Đỗ Minh Tuấn trong bài viết “Từ một kì trận chữ đến những
mạch đời” (1996) in trên sách ngày văn học lên ngôi Ông đưa ra những
nhận định phản đối thơ Lê Đạt rất quyết liệt, ông thẳng thắn cho Lê Đạt
xếp vào hàng “thi pháp thơ bí hiểm hũ nút ” Lê Đạt bị bệnh đó là thứ bệnh
“Say chữ, say hình thức”.[91,103]
Bên cạnh nhưng nhà phê bình công khai ủng hộ, tán thành hoặc phê phán như trên đã nêu thì vẫn có những nhà phê bình khá thận trọng, chỉ đưa ra những nhận xét chung cho các nhà thơ trong nhóm “Dòng chữ” như Phong Lê,
Lê Lưu Oanh, Nguyễn Phong Sơn Một mặt họ ghi nhận khát vọng đổi mới thi ca, mặt khác nhìn vào thực tế sáng tác của họ để chỉ ra những đóng góp và
hạn chế củ họ trong dòng chảy thi ca dân tộc Trong cuốn thơ trữ tình Việt
Nam 1975-1990 Lê Lưu Oanh có lời khen: “Lê Đạt có những câu thơ rất đẹp,
đầy màu sắc và ấn tượng” Nhưng qua đó bà cũng đưa ra những hạn chế của
thơ Lê Đạt: “thiên về hình thức chủ nghĩa thơ cầu kì nhưng xa cuộc đời”
Vấn đề nghiên cứu thơ Lê Đạt đã được đặt ra từ rất lâu và nhận được nhiều sự quan tâm từ nhiều phương diện khác nhau Bên cạnh những bài phê bình tâm huyết từ những cây bút đại thụ còn có một số đề tài nghiên cứu khoa học và luận văn thạc sĩ viết về Lê Đạt Rải rác trên báo chí cũng liên tục xuất
Trang 11hiện những bài giới thiệu, phê bình thơ về Lê Đạt Tất cả đều công nhận những đóng góp tích cực của Lê Đạt trong quá trình đổi mới thơ dân tộc Những đánh giá, lí giải của các nhà phê bình dù tán thành hay phản đối đều có
những lí lẽ rất logic Nhưng thiết nghĩ, những gì có giá trị thực sự sẽ tồn tại
và những gì tồn tại nghĩa là nó có giá trị Thơ Lê Đạt cho tới hôm nay vẫn
còn là mảnh đất màu mỡ và bí ẩn cần được khai phá, tường minh những giá trị nghệ thuật ẩn trong bề sâu của con chữ Chính điều này đã tạo điều kiện thôi thúc chúng tôi thực hiện luận văn này
Trên cơ sở tiếp thu, nhìn nhận những đánh giá về Lê Đạt cũng như soi
chiếu vào vấn đề “kĩ thuật thơ Lê Đạt” Luận văn sẽ đi sâu tìm hiểu một cách
hệ thống các kĩ thuật mà tác giả đã sử dụng trong việc làm thơ, những giá trị hiệu quả nghệ thuật mà các kĩ thuật đem lại Từ đó góp một tiếng nói nhỏ vào việc lí giải “hiện tượng” thơ Lê Đạt Đem đến một cách tiếp cần mới, một cách hiểu cho người đọc trong quá trình cảm thụ thơ Lê Đạt
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn sẽ nghiên cứu vấn đề “Kĩ thuật thơ Lê Đạt” Xuất phát từ những quan niệm của tác giả về thơ, về nhà thơ, về độc giả đến cách làm thơ Tới những thể nghiệm trong việc sáng tạo chữ trong việc làm thơ Đó là những kĩ thuật độc đáo mang lại hiệu quả nghệ thuật riêng biệt
Trang 124 Nhiệm vụ, đóng góp của luận văn
4.1 Nhiệm vụ
Trên cơ sở những quan niệm lí thuyết đến những thể nghiệm cách tân của nhà thơ Lê Đạt, Luận văn sẽ đi sâu tìm hiểu vấn đề “ Kĩ thuật thơ Lê Đạt”.Chỉ ra các kĩ thuật tác giả đã sử dụng trọng việc chế tạo chữ trong trình làm thơ cũng với mối tương quan với quan niệm “chữ” và “nghĩa” Từ đó cho thấy sức mạnh của kĩ thuật trong việc sáng tác thơ tạo ra những hiệu quả nghệ thuật Qua nó khẳng định những đóng góp của Lê Đạt trong nền thơ đương đại Việt Nam
4.2 Đóng góp của luận văn
Luận văn là quá trình nghiên cứu khách quan và nghiên túc về một vấn
đề có ý nghĩa trong cả nghiên cứu văn học và thực tiễn sáng tác Kết quả của luận văn sẽ đem lại một cách tiếp cận tác phẩm văn học mới, giúp cho việc đánh giá tác phẩm văn học trở nên khách quan hơn, chỉ ra những đóng góp và hạn chế của nhà thơ khi cố gắng làm mới thơ mình nhằm đáp ứng yêu cầu của thời đại.Qua đây, luận văn đóng góp một tiếng nói của cá nhân người nghiên cứu vào việc thưởng thức, đánh giá các hiện tượng văn học còn gây nhiều tranh luận trên thi đàn
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu:
Pương pháp phân tích-tổng hợp: Phân tích những quan niệm nghệ
thuật của tác giả, những đánh giá, nhận xét về thơ Lê Đạt Phân tích những tác phẩm nghệ thuật đặc sắc Từ đó chỉ ra những hiệu quả nghệ thuật, những đóng góp của Lê Dạt và đưa ra hướng nghiên cứu cho luận văn
Phương pháp so sánh, đối chiếu:nhằm làm nổi bật nét riêng biệt của
thơ Lê Đạt so với các tác phẩm thơ của các tác giả trong nhóm dòng chữ, so với thơ ca truyền thống và một số cây bút đương đại nói chung
Trang 13Phương pháp thống kê phân loại: Thống kê, phân loại các bài thơ sử
dụng chung kĩ thuật nào đó mà tác giả vận dụng Từ đó cho thấy ý thức của
Lê Đạt trong việc sử dụng các kĩ thuật trong việc làm thơ của mình
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và tài liệu tham khảo, Luận văn được cấu trúc thành ba chương như sau:
Chương 1: Giới thuyết về khái niệm “kĩ thuật thơ-Quan niệm thơ Lê Đạt Chương 2: Kĩ thuật sáng tạo chữ trong thơ Lê Đạt
Chương 3: Thể thơ Haikâu và Liên văn bản
Trang 14Chương 1 VÀI NÉT VỀ “KĨ THUẬT THƠ” VÀ QUAN NIỆM
THƠ CỦA LÊ ĐẠT
1.1 Khái niệm “kĩ thuật thơ”
Thơ Lê Đạt thuộc khuynh hướng cách tân hình thức ngôn ngữ thơ trong dòng chảy của thơ Việt Nam đương đại Ông và những người cùng chí hướng
với ông như Trần Dần, Dương Tường từng tuyên bố “làm thơ tức là làm chữ”
Với quan niệm này các thi sĩ đã đi đến tận cùng chiều năng nghĩa
Với quan niệm như thế, qua những thể nghiệm của ông ta thấy ông thực
sự là một nhà thơ mê chữ, thờ chữ, tin chữ, tự coi mình là “phu chữ”, nhà thơ
ít nhiều ngoại cảm với chữ Chữ vừa là cứu cánh vừa là phương tiện truyền tải
thông điệp thơ ca Lê Đạt tâm sự: “Tôi không chỉ là một nhà thơ việt Nam, tôi
muốn mình là nhà thơ tiếng việt, khi làm thơ bao giờ tôi cũng muốn làm cho tiếng Việt phong phú hơn”[22] Chính khát vọng làm thơ là “ làm cho tiếng việt phong phú hơn” đã khiến ông trở thành nhà thơ “Dòng chữ” Ông dành
rất nhiều tâm huyết để sáng tạo con chữ trong những bài thơ của mình Ông
đã vận dụng rất nhiều kĩ thuật để sáng tạo thơ nhưng khác với Trần Dần và Dương Tường: khai thác chữ phần nhiều ở mặt âm thanh thì Lê Đạt lại rất chú
ý đến tính đa nghĩa của con chữ, mỗi con chữ đều có khả năng phát nghĩa và
có đời sống lịch sử của mình Làm thơ suy cho cùng đấy chính là làm chữ
Quan niệm này thực sự mới mẻ so với thơ giai đoạn trước khi thơ tồn tại với
tư cách là công cụ truyền tải tư tưởng Đọc thơ là đi lãnh thụ cái tư tưởng của người sáng tác thì nay thơ là để cảm nhiều hơn để hiểu [17]
Ở đây, Kĩ thuật thơ được hiểu là những tất cả những phương cách vận
dụng giúp cho việc diễn đạt ý tưởng trong thơ được khéo léo, tinh tế, gây cảm xúc mạnh cho người thưởng thức Trong thơ Lê Đạt, ông đã vận dụng một số
Trang 15phương cách đặc biệt để tạo nên sức hấp dẫn, thi vị và diễn đạt tư tưởng một cách độc đáo
Nói đến thơ người ta vẫn hay cho rằng đó là “bài văn có vần” Ngôn ngữ của Thơ là những từ ngữ trong sáng, súc tích, và cô đọng nên tác động của Thơ rất mãnh liệt và sâu xa, có thể tạo những chuyển biến toàn diện trong tâm tư con người Nhắc đến kĩ thuật, tưởngchừng như điều gì rất khô khan, sơ cứng nhưng thực ra kĩ thuật thơ là vấn đề được đặt ra từ rất lâu, nó là hiện thân của những quy tắc, luật lệ người làm thơ phải tuân thủ khi thực hiện quá trình sáng tạo của mình Những nguyên tắc nghệ thuật ấy được thể hiện rất rõ trong thơ Đường
Luật Vì vậy không phải đến Lê Đạt mới đặt ra vấn đề “kĩ thuật thơ” nhưng ý
thức, trách nhiệm về sự lao động cực nhọc để làm chữ, làm thơ của ông được thể hiện vô cùng mãnh liệt, khác biệt so với các thế hệ đi trước và cả những nhà thơ trẻ sau này Chính cách tạo ra một tác phẩm nghệ thuật sẽ cho ta biết được người
nghệ sĩ tâm huyết như thế nào với “đứa con mà mình thai nghén” Làm thơ cũng
là một quá trình như người nông dân chăm sóc cây lúc của mình từ khi gieo hạt cho tới ngày thu hoạch những hạt thóc vàng ươm Niềm vui của người nông dân khi mùa màng được bội thu có lẽ có chút đồng cảm tương lân với niềm vui của
người làm thơ khi “đứa con của mình” có một đời sống riêng, một đời sống
được độc giả đón nhận Có lẽ ý thức được quá trình tạo ra những con chữ làm phong phú hơn đời sống văn chương quả thực rất nhọc nhằn gian khổ nên Lê
Đạt mới luôn coi mình là “Phu chữ” và cũng theo ông: “Nhà thơ phải luôn luôn
có ý thức về nghề nghiệp Chừng nào người viết thơ thấu sự khó khăn của nghề chữ, biết luyện chữ, dùng chữ một cách tinh thông, thì chừng đó mới được câu chữ bầu cử làm nhà thơ đích thực.” [22]
1.2 Quan niệm thơ Lê Đạt
1.2.1 Quan niệm của về thơ
Lê Đạt là nhà thơ đương đại luôn khát khao cách tân thơ, làm mới thơ Ông là một nhà thơ “Dòng chữ”, coi chữ như chính sinh mệnh của mình, ông
Trang 16coi thơ là báu vật được sản sinh ra từ quá trình lao động khổ sai của “phu
chữ” từ đó mà ông cho rằng thơ phải cô đúc, đa tầng, đa nghĩa và đa ngã Qua
đó Lê Đạt có những quan niệm rất độc đáo về thơ khác biệt hoàn toàn so với thơ ca truyền thống của dân tộc
Có rất nhiều người đọc thơ Lê Đạt vừa đọc đã muốn gập sách lại Thoạt
đầu không hiểu rồi cũng không muốn hiểu và quy kết cho nó cái tội “hũ nút,
tắc tịt, bệnh hoạn” Nhưng bên cạnh đó vẫn có những độc giả, những cây bút
có hứng thú với thơ Lê Đạt, coi đó là mảnh đất màu mỡ, nơi hội tụ những
trầm tích văn hóa lịch sử Nếu lắng nghe sẽ nghe được rất nhiều, nếu gạt đi
cái chán nản ban đầu, chủ động đào sâu vào tầng lịch sử bên trong của con chữ ắt hẳn sẽ khám phá được nhiều điều thú vị
Thật vậy, mỗi thời đại đều có quan niệm thơ riêng của mình Thơ truyền thống là một bản giao hưởng mẫu mực về đời, về người, về nghệ thuật về kiếp nhân sinh Thơ Mới là một thanh âm lãng mạng mà ở đó con người ta nhìn ra những cảm xúc mỏng manh vốn là phần ẩn ức được giấu kín, thì nay ca từ đã cho họ một vùng đất màu mỡ để tỏ bày tỏ Thơ kháng chiến, chống Pháp, chống Mỹ là những bản trường ca hào hùng mang tính chiến đấu, phục vụ chiến trường và hướng tới quần chúng nhân dân Còn với thơ Đương đại, thơ được coi như là một trò chơi ngôn từ Ngôn từ trước đây chỉ là công cụ thể hiện cái biểu đạt thì nay chính nó là cái biểu đạt trong nghệ thuật.Đây là xu hướng thơ hiện đại ở một số nước Phương Tây Các nhà thơ nhóm dòng chữ là những người trực tiếp chịu sự ảnh hưởng của nền văn hóa phương Tây và các trường phái văn học hiện đại từ rất sớm Chính thế mà ý thức đổi mới thơ trọng họ mạnh mẽ, quyết liệt hơn rất nhiều những nhà thơ cùng thời.Họ chú ý nhiều đến
hình thức của thơ Việc “Thơ nói cái gì” không còn quan trọng bằng việc “Thơ
nói như thế nào”?
Trang 17Mỗi nhà thơ chân chính đều có cách riêng thể hiện quan niệm của mình
về thơ, về quá trình sáng tác văn chương Có những người bộc lộ bằng những phát ngôn trực tiếp, có người gửi gắm vào trong tác phẩm của mình thông qua
hệ thống hình tượng Những nhà thơ nhà văn có quan niệm nghệ thuật độc đáo, riêng biệt và thể hiện được quan niệm đó trong các sáng tác của mình gây được sự chú ý và quan tâm của đông đảo bạn đọc Trần Dần, Lê Đạt, Dương Tường là những người như vậy Quan điểm về nghệ thuật của Lê Đạt
sẽ cho chúng ta một cái nhìn về sự đổi mới, về nhu cầu của tự do sáng tạo văn nghệ cũng như cách lạ hóa tài tình những thể nghiệm thơ của ông
Lê Đạt có những quan niệm mới lạ, khác biệt so với quan niệm về thơ trong truyền thống Nếu như trong truyền thống lời thơ được rút từ “gan ruột” của người nghệ sĩ, được phát lộ từ mặt tư tưởng, tầm nhìn cũng như chí
hướng của họ như Lê Quý Đôn từng nói “Thơ khởi phát từ lòng người” hay
“làm thơ cốt ở tấm lòng Hãy để tấm lòng điều khiển bàn tay”, thơ là vỏ bọc
gói gém tư tưởng, truyền đạt đạo lí, đôi khi là phương tiện truyền đạo Người làm thơ dù có những phút thăng hoa trong cảm xúc nhưng vẫn phải lựa chọn cho mình một chiếc bình phong làm hình thức truyền tải và cần phải tuân theo những quy tắc, luật lệ đã trở thành xác tín trong nghệ thuật
Lê Đạt đã sớm nhận ra nhu cầu đổi mới và đòi hỏi tự do sáng tạo nghệ
thuật để hướng đến một nền văn nghệ tự do dân chủ:“Thơ phải luôn tự thân
đổi mới…Quen dần trong nếp cũ sẽ không còn khả năng vạch ra cái mới, cái
có ích, tức là mất đi khả năng khám phá, là chết dần với cái cũ lặp lại” [5] Lê
Đạt sớm nhận ra những hạn định của thi pháp truyền thống đã có ý thức thoát
ra khỏi thế giới gò bó ấy Ông cho rằng: “truyền thống là một ga xuất phát
chứ không phải ga đến”, “truyền thống là đối tượng cần vượt qua chứ không phải cúi đầu trước nó.[11 ]
Dù nhận thức rất rõ về giới hạn của thi pháp truyền thống nhưng Lê Đạt chưa khi nào phủ định sạch trơn những giá trị mà truyền thống đem lại Trái
Trang 18lại, ông luôn đề cao vai trò của thơ ca truyền thống đối với thơ ca hiện đại Sự phát triển của thơ ca là một quá trình, mà trên con đường ấy nên văn hóa cũng như giá trị thơ ca dân tộc là ngọn nguồn cho sự sáng tạo của thơ hiện đại
“Một nền văn hóa thuần túy truyền thống là một nền văn hóa khăn xếp, áo dài
búi tó,một nền văn hóa bảo tàng, một nền văn hóa chết Một nền văn hóa thuần túy hiện đại là một nền văn hóa chân không đến đất, cật không đến trời, một nền văn hóa tân thời, một nền văn hóa dởm- Một nền văn hóa đích thực bao giờ cũng tồn tại cả hai mặt truyền thống và hiện đại” [13] Điều này cho
thấy, Dù Lê Đạt có háo hức với cái mới nhưng ông vẫn luôn coi truyền thống
là điều cốt lõi của sáng tạo nghệ thuật, đặc biệt là trong thi ca Nắm vững truyền thống, tiếp thu cái mới, không ngừng học hỏi, thử nghiệm cách tân là con đường đi đúng đắn
Trong quá trình cách tân thơ của mình, Lê Đạt chú ý đến “cách tân
chữ” bởi theo ông: “Người làm thơ không phải bằng ý mà bằng chữ Nhà thơ
làm chữ chủ yếu không phải ở “nghĩa tiêu dùng”, nghĩa tự vị của nó mà ở diện mạo, âm lượng, độ vang vọng, sức gợi cảm của chữ trong mối tương quan hữu cơ với câu thơ, bài thơ” (11, 461).Trong thơ, chữ phải là bình chứa
tất cả nội dung mà tự nó đã là nội dung, mỗi con chữ với thiên chức và đặc trưng riêng của mình về âm lượng, hình thức, khả năng gợi cảm đã ẩn chứa một tiềm năng gợi nghĩa khác nhau
Chữ trong thơ Lê Đạt luôn được đặt trong mối tương quan với nghĩa
bởi “Chữ không có nghĩa đơn thuần chỉ là âm thanh, không còn là chữ nữa”
(13,8) Nhưng cần chú ý rằng, nghĩa ở đây không phải là nghĩa có sẵn, đã
được xác định để chữ minh họa, cũng không phải nghĩa được rút ra sau khi nhà thơ hoàn thành tác phẩm Mà nghĩa ở đây là nghĩa tạo sinh từ sự tương tác giữa các con chữ và được tạo sinh qua sự tiếp nhận của người đọc Hay
Trang 19nói cách khác sáng tác thơ Lê Đạt quan tâm tới “chiều năng nghĩa” nghĩa là
cái nghĩa được nhắc đến chưa được định hình mà vẫn đang trong quá trình
hình thành nghĩa và nó phụ thuộc vào người đọc “Tôi viết-tức là tôi để con
chữ tự mình làm nghĩa” hay “chữ ám sát vật để tạo ra nghĩa mới” (Trần Dần)
Ý niệm đó cho phép ta liên hệ đến nhận định của Milan Kundera về nghệ thuật hiện đại Theo Milan Kundera, nghệ thuật hiện đại là cuộc nổi loạn chống lại nguyên tắc bắt chước hiện thực nhân danh những quy luật tự trị của
nghệ thuật Hành vi “ám sát sự vật” ở đây có thể hiểu là sự nổi loạn của chữ
để khẳng định giá trị tự thân của mình, không nhất thiết phải quy chiếu về hiện thực, sự vật Tự nó đủ tư cách làm một hiện thực, một sự vật và “nghĩa” thoát thai từ sự tự do đó
Những cây bút hiện nay không còn thỏa mãn với lỗi viết cũ, hệ thi pháp
đã định hình Nhiều nhà thơ có khao khát bứt phá, thoát ra khỏi lối mòn cũ về thơ Từ nhận thức như thế các nhà thơ nhận định lại vai trò của ngôn ngữ thơ- chữ Trong thơ, ngôn ngữ không còn đơn thuận chỉ là công cụ diễn nghĩa, tải
ý tưởng Sức muôn thưở của thi ca là ở khả năng khiêu gợi, đem đến cho chúng ta những cảm giác mới lạ rộng hơn những gì mà chúng ta vẫn tưởng ở trước đó Với Lê Đạt, Chữ gồm có hai phần: âm thanh (son) và ý nghĩa (sens) Người làm thơ không thể loại bỏ một trong hai bộ phận cấu thành đó của chữ Chữ dường như phải đảm nhận hai vị tí khác nhau: biểu thị (singifier) và hình dung (representer) Để thực hiện chức năng biểu thị, chữ hoạt động với tư cách của một ký hiệu, khi đó, chữ phải trở lên đơn giản, rõ ràng, minh bạch, ý nghĩa của chữ phải là cái đã quen, đã ít nhiều cố định Trong khi đó, ở địa hạt hình dung, chữ không bị vắt kiệt thành ký hiệu mà tự bản thân nó là một sự vật có diện mạo, âm lượng, sức gợi cảm, ký ức lịch sử của mình và luôn ở
trong trạng thái vận động Nói như Lê Đạt: mỗi chữ có một chân dung Nói
Trang 20như vậy không có nghĩa là Lê Đạt cho rằng không cần nghĩa, thơ là một hành
vi phi giao tiếp Có điều, “nghĩa” của bài thơ ở đây cần phải được nhận thức lạị mà thôi
Lê Đạt luôn đặt “chữ” trong mối quan hệ với “nghĩa” Với ông “chữ
không có nghĩa đơn thuần là âm thanh, không còn là chữ nữa”[13] hay
“không một nhà thơ nào có chút ít theo dõi nghiên bút lại chủ trương vứt bỏ
nghĩa” nhưng nghĩa được nhắc tới ở đây không phải là nghĩa đã sẵn có, đã
được xác định trước đó, cũng không phải nghĩa được nhà thơ rút ra sau khi
hoàn thành tác phẩm Mà nghĩa được “tạo sinh” từ sự tương tác giữa các con
chữ và được làm giàu lên nhờ sự tiếp cận của người đọc Chữ được khai thác
để tạo nên khả năng tạo nghĩa cho tác phẩm Sự chuyển đổi quan niệm là cả
một quá trình tư duy lâu dài Từ quan niệm ở thời trung đại “văn dĩ tải đạo”,
“thi dĩ ngôn chí”, văn chương là con thuyền trở đạo đức, với những quy phạm
đạo đức “ chở bao nhiêu đạo thuyền không thẳm” sang quan niệm hiện đại
văn chương là vũ khí chiến đấu “nay ở trong thơ nên có thép”, là công cụ
tuyên truyền giáo huấn.Thì nay, quan niệm văn chương ở thời đương đại là một bước chuyển mình Các nhà thơ đương đại không ngừng sục sạo ngõ ngách từng con chữ, đào sâu từng tầng của con chữ để tìm cho ra nghĩa tán xạ của từng con chữ nhằm tạo ra tính đa tầng đa nghĩa cho chữ Tiêu biểu là Lê Đạt, người phu chữ luôn ý thức làm mới thơ, làm mới chữ, chữ sinh sôi trong câu thơ, một bài thơ, một tập thơ, một đời thơ, cả “ một đời vẫy chữ thăng
hoa” Sau này, Thụy Khuê gọi thơ ông là thơ “ tạo sinh” thứ thơ “sinh nghĩa”
độc đáo
Từ những quan niệm rõ ràng về thơ, tương ứng với nó Lê Đạt có những
lí lẽ về cách làm thơ cho riêng mình Ta thấy, mọi thời đại đều có những quan điểm riêng về văn học nghệ thuật Thời kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ thơ thiên về nội dung có tính chiến đấu, phục vụ mặt trận và hướng đến quần
Trang 21chúng nhân dân Nhưng khi chiến tranh đã qua đi, người ta có xu hướng yêu cầu cao hơn đối với thơ Thơ không còn là công cụ, phương tiện truyền tải thông điệp Thơ không được dễ dãi, nghe một lần đến lần thứ hai đã không còn gì để khám phá nữa Thơ đương đại có yêu cầu cao hơn về mặt hình thức Người ta bắt đầu quan tâm đến góc độ học thuật của thơ Coi thơ như một trò chơi ngôn từ Đây là xu hướng thơ hiện đại trên toàn thế giới chứ không chỉ riêng Việt Nam
Bản thân Lê Đạt cùng với các nhà thơ trong nhóm “Dòng chữ” đã ý
thức và được tiếp xúc điều này từ rất sớm Có lẽ vậy, mà trong họ luôn có một ngọn lửa khát khao đổi mới một cách mạnh mẽ, quyết liệt Họ luôn chú ý đến hình thức thơ Lạ hóa hình thức để tạo ra một lớp nghĩa mới, nội dung mới và đòi hỏi một cách khắt khe đối với người đọc Hơn nữa theo chủ nghĩa cấu trúc
“hình thức không con là chiếc bình chưa nội dung nữa mà tự thân nó đã là nội dung, hình thức không đơn thuần là cái biểu đạt mà chính nó là cái được biểu đạt” như vậy tự thân hình thức đảm nhận cả chức năng biểu vật và biểu niệm của ngôn từ
Với Lê Đạt “làm thơ tức là phải khai phá con chữ, tìn cho ra vùng sâu
vùng xa địa lí ẩn mình trong chữ” “người làm thơ phải lặn lội biên thùy vô nghĩa lo toan mở mang bờ cỗi của nghĩa” Tìm ra những nhánh rễ của “hạt chữ” những cấu trúc mới từ trong hỗn độn chữ vô nghĩa [15 ]
Từ quan điểm mày mà trong quá trình làm thơ các nhà thơ “Dòng chữ”
đã khai thác và vận dụng mọi phương cách để tiềm cho ra cái bề sâu bề xa của nghĩa ẩn hiện trong mỗi con chữ Nếu như Trần Dần nhiều lần phá vỡ những
quy tắc chính tả, cách kết hợp từ thông thường Hay hành động “viết thơ”
thường được định nghĩa như một hành động tự phủ định những lớp ngôn ngữ
đã cũ mòn, những quy phạm ngôn từ đóng khuôn tư duy con người (Mà trong những yếu tố cấu thành quy phạm ngôn từ có áp lực của văn hoá, truyền
Trang 22thống, ý thức hệ có xu hướng kéo suy nghĩ, tư tưởng con người theo những
rãnh trượt của nó) Trong “Sổ bụi” của Trần Dần, ta đọc được những tâm
niệm của ông về sự viết: “Viết như xoá ngay cái mình vừa đưa ra”, “Viết như thế nào mà từ xoá từ, mệnh đề xóa nhau, câu bác câu, nghĩa phản văn, lưỡng nghĩa đè lưỡng nghĩa”, “Viết? giết một cái gì? đầu tiên là quan niệm viết? rồi luôn đó, một cái khác trong – ngoài mình?” [5]
Viết, xét đến cùng, từ chỗ là sự đổi mới ngôn từ đã trở thành sự đổi mới trong tư duy, là hành động “tháo cũi chân mây” (chữ của Trần Dần), khai phóng tầm nhìn của con người Nó làm mới chính bản thân con người, như
Michel Foucault đã viết: “Khi viết, tôi viết trước hết là để thay đổi chính tôi
và làm cho tôi không nghĩ những điều giống như trước đó nữa”
Còn với Lê Đạt thì sao? Lê Đạt rất tâm đắc với câu nói của nhà thơ
Edmond Jabes: “Chữ bầu lên nhà thơ” Câu nói có vẻ như xem nhẹ vai trò
chủ thể trong sáng tạo thơ ca nhưng không phải vậy Để khẳng định tư cách nhà thơ, người cầm bút phải tạo được miền chữ của riêng mình, tạo được dấu
“vân chữ” của anh ta Nhưng để có được một miền chữ mang tên mình như vậy, nhà thơ phải thắng được những thói quen của ngôn ngữ Nếu không, quán tính của ngôn ngữ sẽ dẫn dắt nhà thơ đi theo những lối mòn trong cách
biểu đạt và cả trong tư duy Bởi như A Benveniste đã khái quát: “Chúng ta tư
duy trong một vũ trụ được nhào nặn bởi ngôn ngữ” Do vậy, thắng được
những thói quen trong ngôn ngữ chính là thắng được những thói quen trong tư duy Từ đó mới thấy những nỗ lực cải tạo, đột phá những cấu trúc, mô hình đã trở nên kiên cố của ngôn ngữ, vượt thoát được những áp lực do thói quen mà ngôn ngữ tạo ra chính là cách con người tự giải phóng cho tư duy Nói như Lê
Đạt: “Cất lời cho chúng ta sự táo bạo để sống một cách khác Làm thơ là cố
gắng cất lời cùng mọi người bước ra khỏi cái tiểu vũ trụ của ngôn ngữ quen thuộc và thường là ít nhiều lỗi thời, hy vọng cấp phát cho cuộc sống một ý nghĩa độc đáo hơn, phong phú hơn”
Trang 23Như vậy, Lê Đạt sử dụng cách tự do liên tưởng, lang thang dò tìm trong
vô thức, đảo lộn trật tự ngữ pháp, cắt chữ phân câu theo một trật tự mới, nâng
niu “Bóng chữ” Và với tư tưởng như thế, Lê Đạt đã gặp gỡ người đồng chí hướng với mình Roland Barthes “Chữ trong thơ hiện đại tồn tại một vỉa địa
sinh tồn mang tất cả nội dung của từ, chứ không phải một nội dung có tính chọn lọc như trong văn thơ cổ điển” [16]
Lê Đạt còn sử dụng là tỉnh lược những dấu hiệu liên kết logic hình thức giữa các đơn vị từ trong câu thơ, ly gián những từ ngữ vốn có quan hệ gần gũi với nhau, tổ chức, sắp đặt kề cận những yếu tố từ ngữ vốn ít, thậm chí không
có liên hệ gì với nhau Bằng những thủ pháp đó, nhà thơ phá vỡ tính liên tục của cú pháp câu thơ Nhưng chính tính chất phi liên tục của cú pháp này lại
mở ra một hệ quả: khoảng trống, điểm đứt quãng giữa các con chữ cho phép người đọc tham dự vào quá trình hoàn thành câu thơ bằng việc huy động tưởng tượng, kinh nghiệm của mình liên kết câu thơ lại, lấp đầy những khoảng trắng trong câu thơ Lê Đạt đã gợi mở một ý niệm mới về câu thơ: câu thơ có thể phát ra nhiều kênh ngữ nghĩa khác nhau từ một lượng ngôn từ hữu hạn Điều này rất gần với quan niệm “ngôn tận ý bất tận” trong thơ cổ
Như vậy, đọc Lê Đạt, có thể cảm nhận thấy trong nhiều trường hợp, những cố gắng cải tạo ngôn từ thơ ca của ông là những cách lắt léo để làm ẩn
đi hoặc mơ hồ hoá cái được biểu đạt, do đó, không phải không có cơ sở khi người ta cho rằng thơ Lê Đạt đem đến cho độc giả cái hứng thú của người đi giải đố Các cách thức tỉnh lược, dồn nén chữ nghĩa của nhà thơ vẫn có lúc mang tính chất phô diễn kỹ thuật Kỹ thuật thơ nếu thiếu sự hoà quyện nhuần nhị với cảm xúc của người viết thì tự nó chưa đủ sức vang vọng lâu dài trong
ấn tượng của người đọc, nhất là khi các thao tác kỹ thuật đó lại bị tái lặp Vì lẽ
đó, từ Bóng chữ đến Ngó lời, ngôn ngữ thơ của Lê Đạt phần nào đã bị cũ đi với chính ông
Trang 24Như vậy, Thơ trong quan niệm của Lê Đạt đã ý thức nhận thức lại và
cựa mình cố gắng tách ra khỏi thi pháp truyền thống để sáng tạo ra một “dòng
thơ mới” tìm ra một thành tựu khác, khác với những thành tựu mà thơ trung
đại và thơ Mới đã đạt được.Ông kêu gọi tinh thần giải thiêng thơ mới “Đứng
trên vai quá khứ mới thấy được tương lai” Đây hoàn toàn không phải là quan
điểm chối bỏ truyền thống mà đó là khát vọng của một người nghệ sĩ thực thụ mong muốn làm mới thi ca dân tộc Thơ ở thời đại nào phải nói tiếng nói,
dùng ngôn ngữ, dùng chữ của thời đại đó vì vậy việc tạo ra “tiếng nói riêng”
ở bất kì thời đại nào cũng vô cùng quan trọng và đáng được trân trọng Tiếng nói ấy khi vừa xuất hiện có thể bị chối bỏ, nhưng thời gian sẽ trả lời những gì
tồn tại được thực sự rất có ý nghĩa với đời sống con người
1.2.2 Quan niệm của Lê Đạt về nhà thơ
Mỗi nhà thơ, nhà văn chân chính đều ý thức được vai trò của công việc mình đang làm Và đều có quan điểm riêng về công việc sáng tác của mình Hơn nữa, từ hàng nghìn năm trước, các nhà thơ, nhà văn của phương Đông và
phương Tây đề cho rằng: sáng tạo ra cái mới luôn là phẩm chất hàng đầu của
văn chương ở bất kì thời đại nào
Ta thấy, Thơ mới so với thời Trung đại là cả một bước chuyển mình Nhưng sau cách mạng tháng 8, đặc biệt là sau khi hòa bình lặp lại nó không còn mới nữa Tự bản thân người nghệ sĩ lúc đó đã ý thức được nhu cầu cần đổi mới nền thơ ca dân tộc
Để phục vụ nhu cầu đòi hỏi cái mới, người nghệ sĩ bắt buộc phải lao động một cách nghiêm túc và có tinh thần học hỏi Mỗi nhà thơ có một cách sáng tác riêng nhưng đều phải luyện tập thì mới mong đem lại hơi thở mới
cho tác phẩm Theo Lê Đạt nhà thơ là người “đảm nhiệm trọng trách chữ”,
làm thơ phải trải qua những những giây phút trầm lặng, chán nản, vô danh, vất vả trên xới chữ Làm thơ tức là đi trên con đường “vạn lí trường chinh
Trang 25chữ” Chữ chính là chất liệu, là phương tiên và mục đích để mỗi nhà thơ khám phá Trọng trách của nhà thơ là “khai phá” ngôn ngữ, tìm kiếm những cái mớ, tiếng thanh mới, thoát khỏi lỗi mòn quen thuộc để trưởng thành
Không chỉ vậy, Lê Đạt còn cho rằng: “hành động yêu nước nghiêm túc
của một công dân với tư cách là người làm thơ chính là cúc cung tận tụy, bảo
vệ và mở mang bờ cõi chữ của dân tộc mình.[17] Nhà thơ bao giờ cũng phải
tìm cách vượt qua cái mình đã làm, và không được lặp lại Thông qua đó để khẳng định tài năng sáng tạo cũng như cá tính riêng của người nghệ sĩ Lê Đạt: “ nếu viết không khác người thì đừng viết ra Vì mỗi người có một tính cách khác nhau nên thơ nếu là của anh thì phải phát lộ nhân cách của anh” Như vậy, ngôn ngữ của mỗi nhà thơ sẽ nói lên cái tôi của họ
Vì vậy, mỗi nhà thơ cần có ý thức rèn luyện thi pháp của mình Cách thể hiện, biểu đạt cảm xúc hình ảnh, biểu tượng phải mang những nét riêng thể hiện phong cách, cá tính của bản thân mình Những “ phu chữ” trên con đường lao động đi đến vinh quang chắc chắn sẽ vô cùng cực khổ, gian nan
Với Lê Đạt, làm thơ, sống với thơ, được phiêu lưu cùng chữ và nghĩa là thỏa sức sáng tạo nghệ thuật Trong quan niệm về thơ, Ông luôn thể hiện một
niềm yêu chữ, mê đắm chữ và luôn coi mình là một kẻ “phu chữ”
Lê Đạt coi việc làm thơ là một nghề, cũng như những lao động nghệ thuật khác, lao động cần phải thật nghiêm túc, đôi khi sự trả giá để tạo ra
thành quả vô cùng nặng nhọc Nhà thơ quan niệm: “thơ là một lạng hứng
cộng với một tạ mồ hôi!” Cảm hứng là rất cần cho thơ, nhưng nó mới chỉ là
sự khởi đầu, sau đó là mồ hôi, sự lao động miệt mài với con chữ, vận lộn với
con chữ Thơ là một loại lao động “không nên thụ động thắp hương chờ mà
phải chủ động tìm hứng đến” “nhà thơ phải một nắng hai sương, lầm lũi lực điền trên cánh đồng giấy, đổ bát mồ hôi lấy từng hạt chữ” Văn chương là
nghệ thuật ngôn từ, quá trình sáng tạo nghệ thuật ấy sẽ khẳng định vị trí cũng như nhân cách của người nghệ sĩ sáng tạo ra đứa con tinh thần của mình Qua
Trang 26đây, Lê Đạt cũng có những yêu cầu về người nghệ sĩ, ông cho rằng: Khi chọn
thơ làm nghiệp người nghệ sĩ phải cực kì nghiêm túc, tâm huyết tìm tòi sáng tạo Không chấp nhận thái độ lửa vời, rong chơi Hơn bất kì một lĩnh vực nào, nghệ thuật đòi hỏi người nghệ sĩ phải lao động miệt mài mới mong đem lại chút gì mới mẻ: “ làm thơ là chấp nhận cái thân phận Nữ Oa đội đá vá trời…làm một lao dịch quá khổ không biết đâu là kết thúc Đó là nghiệp của một lực sĩ chạy đường trường vô hạn Một nhà thơ toại nguyện là một nhà thơ chết.[18] như Valry từng nói” một hai câu đầu có thể trời cho, phần còn lại
là khổ sai mà có” Chỉ có quá trình khổ sai ấy những nghệ sĩ mới tạo được
vân chữ cho riêng mình và trả lại cho chữ một thân phận vốn có của nó Và cuối cùng ông khẳng định vai trò của người cầm bút phải tạo ra cho mình một
miền chữ riêng: “Mỗi công dân có một dạng vân tay, mỗi nhà thơ thứ thiệt
phải có một dạng vân chữ Không trộn lẫn”[18] Và miền chữ ấy nhất định phải thắng được thói quen ngôn ngữ thường ngày Nếu không, quán tính ngôn ngữ cố hữu ấy sẽ “đánh lừa” nhà thơ, dẫn dắt nhà thơ đi theo lối mòn trong cách biểu đạt và trong cả hệ tư duy
Vì rất coi trọng nghề văn, bên cạnh việc đưa ra những yêu cầu đối với một nhà thơ ông cũng không quen chỉ ra những hạn chế của những người làm
thơ trẻ: “ Một trong những khuyết điểm của những người làm thơ trẻ là còn
làm thơ chơi bời quá,chưa coi đó là việc nghiêm túc nhất của cuộc đời mình Các nhà thơ trẻ còn quá quen với viêc làm thơ ngẫu hứng Ai cũng biết cảm hứng là cần nhưng cảm hứng chỉ là sự khởi đầu, sau đó là một tạ mồ hôi và vật lộn với từng con chữ”
Lê Đạt là nhà thơ luôn ủng hộ sự cách tân-ghét sự lỗi thời: “ người ta
thường đánh giá cái mới, cái chưa biết bằng những cái biết rồi Đó là nguyên nhân gây ra trạng thái oái oăm, thằng chết cãi thằng khiêng” và hơn hết là
đức tính tỉ mỉ, cần cù khi làm chữ: “Phàm làm việc gì trên đời nhất thiết
không được vội, nhất là khi làm chữ và sắp tự tử” (12)
Trang 27Như vậy, nhà thơ nhất định phải là một người bản lĩnh, chuyên nghiệp, chủ động, có ý chí, dám thử dám sai và dám khẳng khái với quan niệm của mình Và có những thử nghiệm phù hợp giúp ích cho đời và cho nền thơ ca
dân tộc.Người nghệ sĩ nhất định “không được thụ động thắp hương chờ mà
phải chủ động gọi hứng đến.Công việc này đồi hỏi một kỉ luật nghiệt ngã và gian khổ” [11,139-140] Để xứng đáng là một người phu chữ tận tụy nhà thơ
phải “ một nắng hai sương lầm lũi trên cánh đồng giấy đổi bát mồ hôi lấy
từng hạt chữ” 11,118
1.2.3 Quan niệm của Lê Đạt về người đọc
Nhà thơ-Tác phẩm-Người đọc là ba thành tố có mối liên hệ biện chứng tác động qua lại lẫn nhau Sự thay đổi quan niệm về thơ, về nhà thơ đã dẫn đến hệ quả tất yêu là thay đổi quan niệm về người đọc
Bạn đọc_người trực tiếp tiếp nhận tác phẩm, người đánh giá khách quan nhất giá trị tác phẩm cũng như tài năng người nghệ sĩ Công việc của nhà thơ là phục vụ người đọc, phải giúp người đọc tạo ra những lỗ tai mới, đổi mới thơ tức là thay đổi tư duy tiếp nhận của người đọc, lối tiếp nhận thụ động đã trở thành lối mòn
Người đọc hôm nay đóng vai trò chẳng kém gì tác giả, mà hơn nữa nhà thơ đôi khi còn bị chi phối bởi sự tiếp nhận của người đọc Nên tình trạng giãi
bày dường như không còn vai trò thiết yếu nữa Lê Đạt chỉ rõ: “Bạn đọc thời
trước là bạn đọc tương đối thụ động đi tìm và lí giải một hàm nghĩa sẵn có Người đọc thời nay là người đọc tích cực cùng tham gia phát nghĩa với nhà thơ Người đọc phần nào đồng tác giả với người viết” [15] Nhờ quá trình
tham gia tích cực của độc giả mà “chiều năng nghĩa” càng trở lên phong phú,
giàu có và mở rộng Sự tiếp nhận mang tính chất biện chứng chứ không còn thụ động một chiều như trước đây.Vai trò của người đọc chưa bao giờ lại được đề cao đến thế.Một cuộc chơi chữ đòi hỏi sự lao động không ngừng nghỉ
Trang 28của người nghệ sĩ và tâm sức của bạn đọc chính là những yếu tố thúc đẩy nền văn học nghệ thuật theo hướng hiện đại hóa
Vì thế, người độc hôm nay không phải là độc giả thông thường mà là đối tác, là chủ thể cảm nhận tác phẩm đồng thời là chủ thể đồng sáng tạo ý nghĩa tác phẩm Ông vừa kêu gọi tinh thần cầu thị của người đọc vừa khẳng định vị thế mới của người đọc trong mối tương quan với văn bản chỉ có người đọc mới khiến văn bản trở thành tác phẩm và duy trì đời sống cho tác phẩm nếu nó thực sự có ý nghĩa Người đọc lúc này có vị thế bình đẳng và độc lập với chủ thể sáng tác Chức năng tác giả ở đây khi người đọc xuất hiện đồng nghĩa với cái chết của tác giả Tác giả không hề có quyền uy dẫn dắt hay tạo ra tư tưởng, ý nghĩa trong thơ của mình vì vậy đây là lúc sự cảm thụ văn thơ theo hướng tác giả hoàn toàn chấm dứt Người đọc hoàn toàn có thể giải
mã tác phẩm theo khả năng của mình, lật mở từng lớp trầm tình ẩn sâu trong từng con chữ và phán đoán tần đa trị của nó
Việc giải phóng người đọc khỏi sự chế ngự của người viết đồng nghĩa với việc ra tăng tiềm năng phát nghĩa của con chữ, của câu thơ Nhờ vậy, bào thơ không đóng băng, chêt cứng về ý nghĩa mà ý nghĩa ấy luôn được phát lộ,
viết lại, tái sinh nhờ tư duy của người đọc Người đọc “phải biết trân trọng
đối thoại với cái khác, cái lạ” vì “con đường thơ là một chu kì mở, không ai được vỗ ngực độc quyền chân lý cũng như tự cho phép mình nói tiếng cuối cùng” [9,3] Nhà thơ đang lần mò trong phép “thử và sai”, nhà phê bình cũng
như công chúng nên có thái độ bao dung, rộng mở với những cách tân nghệ thuật, đừng vội quy chụp, gay gắt Hãy thử tìm hiểu và chấp nhận sự tồn tại của nó Biết đâu cái mới phôi thai khi gặp được môi trường tốt nó sẽ nảy sinh
ra những hệ giá trị mới Vì thế người đọc phải nhận thức rõ tư cách đồng tác giả của mình, huy động triệt để trải nghiệm và vốn hiểu biết của bản thân Dùng nó hòa lẫn và tương tác với đời sống của từng kí hiệu chữ trong bài thơ Chính sự tương tác tích cực ấy sẽ làm léo sáng vẻ đẹp con chữ, khai sinh
Trang 29những nét nghĩa mới, mang lại một sinh khí, một đời sống mới cho tác phẩm nghệ thuật
Nhìn lại chặng đường đã qua, giai đoạn nào thơ ca cũng có những thành tựu nhất đinh Chẳng hạn như thơ Mới nó làm thay đổi diện mạo hoàn toàn thơ ca trung trung, tạo ra một đời sống riêng, dồi dào sức sống và có những thành tựu thực sự nổi bật mà không gì có thể phủ nhận Tiệm cần với
nó là những thể nghiệm của nhóm Xuân Thu Nhã Tập, nhóm Dạ Đài, Thơ không vần của Nguyễn Đình Thi, đều toát lên ước vọng mãnh liệt, bản lĩnh thay đổi, khát khao tìm được tiếng nói riêng so với thơ Mới Tiếp nối là các
nhà thơ trong nhóm “Dòng chữ”, Trần Dần, Lê Đạt, Dương Tường, Tử
Phác…họ thực sự đã dấy lên một cuộc cách tân thơ âm thầm, âm ỉ suốt 30 năm đại nạn sau tiền chiến Ý thức đã có mầm mống từ rất sớm mà có lần Lê
Đạt bày tỏ: “Ngay từ nhỏ tôi đã ôm mộng cách tân thơ Việt” và thời gian treo
bút chính là lúc ông chiêm nghiệm và thực hiện ước muốn của mình Dù đôi
lần loay hoay, dằn vặt nhưng rồi chính câu nói của Et-xi-mông: “chữ bầu lên
nhà thơ” đã đánh thức ông, rồi trở thành động lực để ông cách tân thơ của
mình như ngày hôm nay chúng ta thấy
Sự khẳng định vai trò của người đọc trong việc lí giải thơ được thể hiện rất rõ trong kĩ thuật mà ông sử dụng Liên văn bản là một công cụ thực
sự được Lê Đạt đón nhận khi sáng tác từ đó ông có những yêu cầu khắt khe
với người đọc “hãy tạo ra những lỗ tai mới” Sự đón nhận này còn thể hiện qua việc sáng tạo chữ mang nặng tính lịch sử “Câu thơ mang nặng lịch sử
chữ, hành động ở nhiều tầng văn hóa, có cả trong ý thức lẫn vô thức của người viết”.[117]
Như vậy, Người đọc là chủ thể tiếp nhận, là người quyết định số phận của bài thơ đi về hứng nào Sẽ tồn tại hay không tồn tại, có giá trị hay không
có giá trị Người đọc độc lập lập với tác giả, là người tại ra cuộc chơi cho từng con chữ trong bài thơ
Trang 30Tiếu kết chương 1
Lê Đạt là người “xem chữ nghĩa quý hơn tính mệnh” Là một kẻ viết tung hoành “giữa kì trận chữ” Là một người phu chữ tận tụy, tận hiến Lê Đạt với tư cách là một nhà thơ “Dòng chư” đã có những quan điểm riêng về
thơ, về tư cách nhà thơ, về cách làm thơ, lối hành xử của người nghệ sĩ với chữ để sáng tạo thơ ca Những quan điểm ấy hoàn toàn thống nhất với những
thể nghiệm của ông Thơ là để cảm nhiều hơn để hiểu “đọc thơ đừng đi tìm
người ta viết cái gì mà chúng ta thấy gì trong thơ”, nhà thơ là một người “phu chữ “ đánh đổi một tạ mồ hôi để đón nhận những bài thơ thực sự có giá trị,
phục vụ người đọc, tạo ra những “lỗ tai mới”, kích thích tư duy và thay đổi
thói quen đọc thơ thụ động xưa kia Cuối cùng, làm thơ tức là làm chữ, làm tiếng Việt Nó là một loại lao động có kỉ luật khắt khe Một bài thơ hay và một bài thơ càng tồn tại lâu bền với thời gian lại càng phát xạ được nhiều nét nghĩa mới thông qua tư duy và nhận thức của người đọc
Trang 31Chương 2: KĨ THUẬT CHỮ TRONG THƠ LÊ ĐẠT
So với những giai đoạn thơ trước đó, bước đột phá trong sáng tạo thơ
của các nhà thơ “Dòng chữ” nói chung và của Lê Đạt nói riêng là họ xem
“chữ” như là nguyên liệu căn bản của thơ Coi chữ là thi liệu quý báu tạo lên
những bài thơ hay
Barthes trong tiểu luận “Độ không của lối viết” đã nói đến từ như một
thực thể độc lập với ngữ và nghĩa Từ không còn hiển hiện trong văn bản với những nét nghĩa cố định, chết cứng trong tự điển, từ không xuất hiện trong văn bản, bị trừu tượng hóa để nhằm đích đến là bộc lộ nghĩa biểu niệm hay khái quát các mối quan hệ Chức năng của từ trong thơ cổ là sự sắp xếp theo những nghi thức cũ hơn là việc sáng tạo ra các từ mới Nhưng trong lối viết hiện đại Từ là một sinh thể có sự sống, được trao cho sự sống, được làm mới, được sáng tạo
Từ mất đi nghĩa từ vị, người tiếp nhận mất đi sự định hướng nghĩa trong các
quan hệ Từ độc lập xuất hiện như “một đại lượng tuyệt đối” và tiến hành phát
nghĩa trong các mối quan hệ kèm với tất cả khả năng của nó [ 67,88]
Chữ vốn được hiểu là công cụ để truyền đạt ý tưởng trong thơ ca, là thành phần dẫn nhập để kiến tạo nghĩa Ngôn ngữ vấn được hiểu là một hệ thống tín hiệu luôn tồn tại song song hai mặt: mặt biểu đạt và mặt được biểu đạt Trong đó, mặt biểu đạt chính là phần tri giác được, nhật biết được bằng giác quan, còn mặt được biểu đạt là tín hiệu thông tin về một cái gì đó trong đời sống hiện thực Các yếu tố ngôn ngữ trong một chỉnh thể nghệ thuật, muốn trở thành chất liệu thực sự của văn học phải chịu một quá trình khía quát hóa nghệ thuật, biểu trưng hóa nghệ thuật để đạt đến những ý nghĩa thẩm mĩ.Đích đến cuối cùng là mối liên hệ về nghĩa giữa các tín hiệu, cáu được biểu đạt được nâng lên thành ý nghĩa thẩm mĩ, là tư tưởng
Trang 32Với Lê Đạt chữ phải là công cụ, cũng không cái gì khác ngoài tư tưởng Chính là vừa là thi liệu, vừa là tư tưởng Nó không còn là cái hình thức được trưng ra mà chính nó là nội dung, là lí tưởng thẩm mĩ Con chữ khắc phục được tính trơ của ngôn ngữ Chữ được tẩy sạch mọi nét nghĩa cố định, hình thành những nét nghĩa mới, những nét nghĩa tạo sinh mới mẻ Người tiếp nhận không bị chi phối bất cứ lớp ý nghĩa có sẵn nào bởi những giá trị giao tiếp và thẩm mĩ mà chữ mang lại Người tiếp nhận đón nhận chữ như chính nó, trinh nguyên và tinh khiết trong giá trị tự thân, trong mối quan hệ mới mệnh đề-câu
2.1 Kĩ thuật chế tạo từ
“Từ của tiếng việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang
những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng việt và nhỏ nhất là để tạo câu”.[4,17] Như vậy ta có thể thấy rằng: trong định nghĩa
thông thường các thành phần trong từ gồm thành phần ngữ âm, thành phần ngữ pháp, thành phần cấu tạo, thành phần ý nghĩa không hề độc lập với nhau
mà quy định lẫn nhau, thống nhất với nhau thành một thành một tập thể gọi là
từ Đặc biệt một mình thành phần ngữ âm không thể cho ta biết nó có phải là
từ hay không hoặc không thể cho ta biết nó là một hay nhiều từ Nếu như một thành phần nào đó thay đổi thì có khi chúng ta phải thừa nhận là có nhiều từ khác nhau mặc dầu các thành phần kia-nhất là thành phần ngữ âm vẫn giữ
nguyên Nói cách khác các thành phần (thành phần ngữ pháp và thành phần
ý nghĩa ) của từ có tính đồng loạt chứ không phải chỉ có tính riêng biệt
Nhưng thành phần trong cấu trúc từ đến với Lê Đạt lại có một sự thay đổi hoàn toàn khác biệt mối quan hệ các thành phần với nhau vốn chặt chẽ bỗng trở lên lỏng lẻo, nhưng không làm lệch lạc các giá trị vốn có mà còn
Trang 33“tạo sinh” thêm những ý nghĩa và giá trị thẩm mĩ khác nhau một cách độc đáo
Như vậy, sự thay đổi cấu trúc vốn có của từ đã giúp Lê Đạt tạo ra được “vân chữ” riêng cho mình
2.1.1 từ trong mối quan hệ nội tại
2.1.1.1 Kĩ thuật nói lái, nói nhịu, nhại âm
Tính sáng tạo là các phẩm chất cần có của nhà văn, nhà thơ Không có
sự tìm tòi sáng tạo, văn chương nghệ thuật nói chung và thơ ca nói riêng sẽ đi đến lối mòn và không thể tìm ra những giá trị thẩm mĩ đích thực để phục vụ đời sống tinh thần cho con người Những cách sáng tạo độc đáo, hấp dẫn với
thời đại trước sẽ trở lên sáo mòn, “không hợp thời” với thời đại sau nếu không
đáp ứng được nhu cầu thẩm mĩ cuả công chúng Vì vậy, nhu cầu đổi mới luôn được đặt ra ở từng giai đoạn văn học và người sáng tác
Đến với Lê Đạt, ông cho rằng người làm thơ chân chính phải dám vật
lộn cả đời với con chữ, dám phiêu lưu vào cuộc “thử và sai” để đem đến
những điều mới mẻ như chính ông bộc bạch về nỗi trăn trở với sự phiệp thơ
ca: “nhà thơ là nhà bác học, tính đến cùng đều theo đuổi mục đích: tạo ra
một cái nhìn khác tiếp cận hiện thực bị che phủ dưới lớp bụi của quán tính [16] Bởi thế, không nên đóng khung con chữ trong một khuôn thước có sẵn,
cần tạo ra những cái khác từ chiều năng nghĩa, chiều biến ảo của con chữ Xuất phát từ nhu cầu sáng tạo của văn học, từ sự tự ý thức về vai trò của con chữ trong thi ca, Lê Đạt đã tạo ra một số kĩ thuật biến điệu chữ độc đáo đó là các kĩ thuật như: nói lái, nói nhịu và nhại âm
Trang 34Một số bài thơ tiêu biểu Lê Đạt sử dụng kĩ thuật nói lái:
trang
Máy kéo gặm xứ đồng tơ ơ cỏ
Nghé sét buồn lƣng sáo đá xon xon
41
42
Trang 35Tiết mục hu hu cay đắng hẳn buồn cười
Lê Đạt vẫn được biết đến là nhà thơ mê chữ, thờ chữ, tin chữ, coi thân phận của mình là phu chữ, coi nhà thơ ít nhiều ngoại cảm với chữ Ông đã ý thức rất rõ việc vận dụng kĩ thuật nhại âm trong của mình.Trong đời sống văn
hóa ngày nay, “nhại” hoàn toàn được coi là một thủ pháp nghệ thuật Hay còn
gọi là thủ pháp “ bắt chước” một phần hoặc toàn bộ một cái gì đó Với thơ sự bắt chước ấy có thể là một từ, có thể là một câu, một bài hay là một kiểu nói trong thơ Nhưng quan trọng, thông qua đó tác giả muốn trao thông điệp cho
người đọc “ hãy liên tưởng đi” “ hãy suy nghĩ đi” vì sự nhại âm đã tạo ra một
từ hoàn toàn khác Người đọc có thể dựa vào vốn hiểu biết của mình để lí giải
nó theo một cách nào đó vô cùng sáng tạo
Chẳng hạn bài Gương:
“Hay em biến trong gương
một người giống em trở lại
Má má môi
mà mỗi mỗi xa”
Bản thân Gương là một ảo ảnh, sự phản chiếu của gương sẽ tạo ra bóng, chiếc bóng ấy chúng ta không thể cầm, nắm, sờ hay chạm vào nó Từ bản thân
hiện tượng ấy, cùng sự nhại âm “má môi xa”, “mỗi mỗi xa” đã “ tạo ra một sự
đối sánh giữa gương và một tình yêu em-giống em” [109 272] Chính sự nhại
âm ấy tạo ra cho người ta cảm giác mơ hồ về hình với bóng, gần và xa, còn và mất…
Còn trong bài Sông quê, Lê Đạt tạo ra cách nhại âm có phần bông lơn
bỡn cợt của truyện tiếu lâm, nhưng trong thơ Lê Đạt hiệu ứng tạo ra là sự phóng khoáng của tâm trạng:
Trang 36“ Bầy em én/Tin xuân/Tròn mẩy áo” Do đó kiểu nhại âm: “ cây ải cây
ai/gió sải/tóc buông thề” rất phù hợp ở đây Và nó mang tính hô ứng với lời
kết: “ Nghé sắt buồn lưng sáo đá son son” Nhịp điệu đã “bắt vần” với nhau hợp lí hợp tình “ ải ai”, “son son” nhịp điệu ấy cho thấy sự phóng khoáng
của thanh xuân tuổi trẻ như Lê Đạt trước cái đẹp
“Nắng tạnh heo mày hoa lạnh Mimôiza chiều khép cánh mimôixa”
Mimôiza là tên một loài hoa nhưng đã được tác giả bóc tách và tạo ra
chữ mới theo kiểu nhại âm: mi/môi/xa Tất thảy 13 âm tiết, 3 chữ cuối được
khai sinh từ chữ đầu tiên của câu thứ 2 cho ta thấy sức căng của độ nén chữ
được ép ra Hoàng hôn “nắng tạnh” với những cơn gió nhè nhẹ “heo may”
hoa Mimôiza khép cánh khiến ta hình dung đến một mối tình thơ mông nhưng đượm màu chia li, xa ngái
Sự thành tâm với con chữ khiến ông luôn muốn tận dụng tối đa sự tán
xạ của chữ, sự phì nhiêu của tiếng Việt Lê Đạt đã nỗ lực tạo ra sự đồng đẳng
chữ mà qua phép nhại âm ông muốn độc giả có sự “tạo sinh nghĩa” theo
những lí giải của mình
Một số bài thơ tiêu biểu sử dụng kĩ thuật nói nhịu:
Trời sáng ngần thân phố khỏa xuân
Trắng ngần
2
Đùi bãi ngô non Ngo ngó sông đầy
Tầm xuân
Hoa bông hoa rỏ hồng
Rỏ máu
Trang 374
Đầu xuân cài cỏ mộ
Thơm em đôi nỗi hường
Đôi môi hồng
Hoa chạy hường lên má
Má hồng
6
Tranh Gôganh chiều thổ cẩm phơi đào
-Tuổi dậy thì-tuổi trăng tròn
-tranh của Gôganh, con người thường chiếm một diện lớn trên nền phong cảnh, hoành tráng, tĩnh tại, ước lệ
be nghé gọi ồi ồi
Bến nghé
[10,12]
Đâu cát che thân chàng họ Chử
Mà mình công chúa ngó ngần trăng
Bâng khuâng
Trang 38Mây khói bâng lâng trời ảo xứ
Tình bằng già trăm mối nhện giăng
Xưa xích xiềng di luỵ mãi tự do
Các bài thơ sử dụng kĩ thuật nói lái nói nhịu trong tập “Bóng chữ” đều tạo được những hiệu ứng nhất kích thích trí liên tưởng của người đọc đến các
văn bản khác, các sự việc khác.Đúng như Đỗ Lai Thúy từng phát biểu: bí mật
thi pháp chữ của Lê Đạt nằm ở chỗ, một mặt nhà thơ vẫn sử dụng các thủ pháp biến điệu chữ để tạo ra sự đứt đoạn, mặt khác tác giả lại duy trì áp lực tính liên tục của cú pháp lên con chữ bị biến điệu khiến nó trở thành chữ sai, chữ nhịu” [107,272]
Với bài thơ Áo Trắng ông viết:
“ Áo trắng bước bồng bềnh mây trắng Trời sáng ngần thân phố khỏa xuân”
Vỏn vẹn tất thảy có hai câu thôi, các chữ trong bài thơ cũng rất quen thuộc Thế nhưng nếu đọc nhanh và tăng tốc độ đọc một cách tối đa có thể ta
sẽ bị trượt ra đường biên của con chữ bởi lẽ chúng ta vẫn hay bắt gặp từ
“ trắng ngần” nhưng câu thơ từ trắng được thay thế bằng từ sáng, bản thân từ sáng và trắng đều là những từ có cùng trường nghĩa liên tưởng Nhưng tại sao
tác giả lại dùng như vậy? Kĩ thuật nói nhịu đi đã khiến câu thơ mang một thần
thái khác Áo trắng, mây trắng, trời sáng ngần, nhưng lại “thân phố khỏa
xuân”? ở đây có thể hiểu câu trên như: “phố xuân khỏa thân” thì mới logic, tất
cả đều hướng đến vẻ đẹp của người con gái Sự nói nhịu này bắt người đọc
Trang 39phải tư duy thêm nhờ những kí hiệu gợi mở, những kí hiệu ấy chính là các từ khóa trong bài thơ, là lối dẫn nhập vào bài thơ để tìm ra cái “ bóng chữ ngả dài” trong câu thơ
Bên cạnh đó, con chữ nhờ có những kĩ thuật vận dụng tài tình của tác giả mà khả năng phát nghĩa ngày càng đi xa hơn Chẳng hạn trong bài thơ Quan họ:
“ Tóc trắng tầm xanh qua cầu với gió
Đùi bãi ngô non
ngo ngó sông đầy”
Hoa tầm xuân có lẽ là loài hoa đã quen thuộc với người dân Việt Nam, càng thân thuộc hơn khi nó là hình ảnh thường xuyên xuất hiện trong ca dao
Nhưng khi đọc câu thơ “ Tóc trắng tầm xanh qua cầu với gió” hẳn ta thấy có
gì đó ngờ ngợ, sai sai bởi tác giả đã nói nhịu “tầm xuân” biến thành “tầm
xanh” Hai chữ “xuân” và “xanh” khiến ta hình dung là một vị cao niên tóc
bạc đi nghe quan họ để tìm về với ẩn ức đẹp đẽ của thời dĩ vãng hay đi tìm cả tình yêu (tầm xuân) và tuổi trẻ của mình đã xa xôi Sự nhịu lời đem đến một trường nghĩa mênh mông, man mác…
Như vậy, kĩ thuật nói nhịu là là cả một sự kì công tâm huyết của người phu chữ Là thành quả của tư suy miệt mài lao động nghệ thuật không ngừng nghỉ Kĩ thuật ấy đã đem đến cho “phu chữ” Lê Đạt những thành quả nhất định, gia tăng tính đúng đắn về quan niệm làm thơ mà ông vẫn thành tâm theo đuổi “ làm thơ tức là làm chữ”
2.1.1.2 Tách chữ từ mẫu gốc
Với nhà thơ Lê Đạt chữ là hiện thực trực tiếp và thứ nhất của tư duy
thơ Chữ vừa là phương tiện vừa là mục đích của hoạt động sáng tạo “Kỳ trận
chữ” của Lê Đạt khơi gợi tư duy và mỹ cảm, làm hiện hình thế giới tinh thần
sâu thẳm, phong phú của thi nhân và cõi sống
Trang 40Phép tách chữ khiến những tiếng, những từ vốn sóng đôi với nhau nay
bị giãn ra, kết cấu vững chắc của một đơn vị từ loại bị tấn công nhằm nới lỏng cấu trúc, tạo ra không gian nhất định cho từ Cấu trúc ngữ pháp thông thường trong trường hợp này đã mất đi vị thế thay vào đó là sự mềm mại, linh hoạt Với kĩ thuật tách chữ xây dựng lại địa hạt hoạt động cho từ và hơn hết là khẳng định tính bình đẳng trong từng con chữ
Chẳng hạn trong bài thơ Thế bồi ông viết:
“ Đường ngẩn ga ngơ mùa ngợ
Đồng hồ mọt kim nạng gỗ số chờ”
Với mẫu gốc là một tính từ “ngẩn ngơ” chỉ tâm trạng thẫn thờ, vô định
của con người trước hoàn cảnh, không chú ý được gì đến xung quanh, tâm hồn đang ở đâu đâu, tác giả đã dùng kĩ thuật tách chữ mở ra không gian, điệu
vang cho tâm hồn người “ngẩn ga ngơ” rõ ràng vẫn là một trạng thái ngẩn
ngơ nhưng lại mang một sắc thái khác, mềm mại và mơ màng hơn
Hay trong câu thơ “xập xanh xòe cửa ngó” từ “xập xòe” bị giãn thành
“xập xanh xòe” Đọc câu thơ có phần hơi lạ, sự tách chữ như thế quả thực là
một ý đồ bởi lẽ từ xanh đặt giữa từ xập xòe tạo ra hiệu ứng láy kép phụ âm đầu, gây ra tính luyến láy cho cho câu thơ
Còn với bài Quan họ, kĩ thuật tách chữ tạo ra một xúc cảm thẩm mĩ
mới ấn tượng
“ Tóc trắng tầm xanh qua cầu với gió
Đùi bãi ngô non ngo ngó sông đầy Cây gạo già
lơi tình
lên hiệu đỏ
La Lả cành
Yếm thắm