— soCũíca---ÂU THỊ PHƯƠNG THANH NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỬNG CỦA PHÂN BÓN ĐẾN NĂNG SUẤT GIỐNG CHÈ LDP2 VÀ THÀNH PHẦN GIUN ĐẤT TẠI TRẠI THỰC HÀNH THỰC TẬP TRƯỜNG TRUNG CẤP KINH TẾ KỸ THUẬT YÊN BÁ
Trang 1— soCũíca
-ÂU THỊ PHƯƠNG THANH
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỬNG CỦA PHÂN BÓN ĐẾN NĂNG SUẤT GIỐNG CHÈ LDP2 VÀ THÀNH PHẦN GIUN ĐẤT TẠI TRẠI THỰC HÀNH THỰC TẬP TRƯỜNG TRUNG CẤP KINH
TẾ KỸ THUẬT YÊN BÁI
Chuyên ngành' Sinh thái học Mã số: 60.42.01.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC SINH HỌC
Trang 2Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành các thí nghiệm về động vật.
Tôi xin trân ttọng cảm ơn các thầy cô giáo trong phòng Sau đại học - Trường ĐHSP
Hà Nội II đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành chương trình học tập và hoàn thànhluận văn thạc sĩ
Tôi xin trân trọng cảm ơn Trại thực hành thực tập - Trường TC Kinh tế Kĩ thuật YênBái đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu đề tàinày
Hoàn thành luận văn này còn có sự động viên, khuyến khích của gia đình, ngườithân, bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành khóa học vàcông trình nghiên cứu này
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 12 năm 2014 Tác giả
Âu Thị Phương Thanh
Tôi xin cam đoan rằng mọi số liệu sử dụng để hoàn thành báo cáo luận văn thạc sĩsau đây đều được ghi nhận từ các thí nghiệm một cách trung thực và chưa được sử dụngtrong bất cứ tài liệu nào
Hà Nội, ngày 10 tháng 12 năm 2014 Tác giả
Âu Thị Phương Thanh
Trang 3Trang phụ bìa
•
Bảng 1.1: Ảnh hưởng của độ cao so với mực nước biển tới hàm lượng
DANH MỤC HÌNH
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đất nước ta có lịch sử trồng chè lâu đời nhưng cây chè mói chỉ được trồng
và phát triển với quy mô lớn từ khoảng 100 năm nay Với đặc điểm là loại câycông nghiệp dài ngày, dễ trồng và chăm sóc, nhiệm kì kinh tế dài 30
- 40 năm, phù hợp với điều kiện tự nhiên ở các vùng đất dốc của Việt Nam,
do vậy cây chè đã trở thành cây công nghiệp mũi nhọn, mang lại giá trịkinh tế cao, tham gia vào thị trường xuất khẩu
Năng suất và chất lượng của cây chè phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:giống, khí hậu, đất đai, phân bón, kĩ thuật canh tác và công nghệ chế biến Việc
áp dụng tiến bộ kĩ thuật trong thâm canh chè ở các khâu: chọn tạo đưa giốngnăng suất cao vào sản xuất, chế độ bón phân, áp dụng kĩ thuật hái, kĩ thuật đốnchè đã giúp cho ngành chè đạt được sự phát triển nhanh chóng về diện tích, năngsuất và sản lượng Phân hữu cơ được coi là yếu tố tiên phong trong việc cải tạonăng suất cây trồng canh tác bền vững nhưng hiện nay xu hướng sử dụng phânhóa học ngày càng có chiều hướng gia tăng do sử dụng phân hóa học tiết kiệmthời gian và công lao động Trong nền nông nghiệp truyền thống của các nướctrên thế giới cũng như các nước Đông Nam Á và ở Việt Nam, phân hữu cơ khôngchỉ cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng với hàm lượng vốn có của nó mà cònđóng vai ừò quan trọng trong việc cải thiện các đặc tính lí hóa của đất thông quavai trò của vật chất hữu cơ và động vật đất Thực tế sản xuất cho thấy, ngườitrồng chè thường bón phân hữu cơ chủ yếu là phân chuồng kết họp với phân vô
cơ cho chè ở giai đoạn kiến thiết cơ bản, trồng mới và chủ yếu sử dụng phân vô
cơ cho chè ở các giai đoạn sản xuất kinh doanh để tiết kiệm thời gian và công laođộng, thúc đẩy nhanh quá trình sinh trưởng của búp mới, tăng năng suất Mặc dù
đã nhận thức được vai trò của phân hữu cơ trong canh tác bền vững nhưng ở Việt
Trang 5Nam việc sử dụng còn hạn chế Bên cạnh đó sử dụng phân hữu có còn tác dụngtích cực đến nhóm giun đất vốn được coi là “bạn của nhà nông”.
Yên Bái là tỉnh miền núi có nhiều diện tích đồi gò, điều kiện đất đai khíhậu phù họp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây chè Cây chè đã có ở YênBái từ rất lâu đời như những cây chè tổ Suối Giàng Tuy có thời điểm thị trườngtiêu thụ không ổn định, giá chè xuống thấp làm cho đời sống người làm chè gặpnhiều khó khăn nhưng nhìn chung cây chè vẫn giữ một yị trí quan trọng trongnền kinh tế của tỉnh, góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho phần lớn nhân dântrong tinh và góp phần bảo vệ môi trường sinh thái
Hiện nay, cây chè vẫn được xác định là cây công nghiệp chủ lực của tỉnh.Tỉnh Yên Bái có chủ trương phát triển sản xuất chè theo cả 2 hướng, mở rộngdiện tích và thâm canh tăng năng suất, chất lượng chè cùng với cải tiến côngnghệ chế biến Đến nay diện tích chè của tỉnh Yên Bái là 12.035 ha trong đó có11.093 ha chè kinh doanh
Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến năng suất giống chè LDP 2 và thành phần giun đắt tại Trại Thực hành thực tập Trường Trung cấp Kỉnh tế Kĩ thuật Yên Bái”.
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hưởng của việc dùng phân bón hữu cơ đến năng suấtgiống chè LDP 2 và thành phàn giun đất trong đất trồng chè từ đó đánh giá hiệuquả của việc dùng phân bón ưong canh tác cây chè ở miền núi phía bắc Việt nam
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu khả năng sinh trưởng của cây chè khi sử dụng phân bón hữu
cơ thông qua các chỉ tiêu: mật độ búp, trọng lượng búp 1 tôm 2 lá, tỉ lệ búp có tômtrong các công thức thí nghiệm khác nhau
Năng suất thực thu và năng suất lí thuyết khi sử dụng phân bón hữu cơ
so với đối chứng
Trang 6Anh hưởng của các công thức bón phân khác nhau đến thành phần giun đất trước và sau khi tiến hành thí nghiệm.
4 Ý nghĩa của đề tài
Đưa ra công thức bón phân đạt năng suất cao nhất
Xây dựng mô hình học tập cho học sinh tại trại thực hành
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về cây chè
1.1.1 Nguồn gốc cây chè
Nguồn gốc của cây chè là vấn đề rất phức tạp, cho đến nay có nhiều quanđiểm khác nhau dựa ttên những cơ sở về lịch sử, khảo cổ học và thực vật học.Một số quan điểm được nhiều người công nhận là:
Cây chè có nguồn gốc ở Trung Quốc: Năm 1753, Carl Von Linnaeus, nhàthực vật học người Thụy Điển lần đầu tiên trên thế giới xác nhận Trung Quốc là
vùng nguyên sản cây chè của thế giới và định tên khoa học của cây chè là Thea sinensis, phân thành hai thứ: Thea bohea (chè đen) và Thea viridis (chè xanh).
Cây chè có nguồn gốc từ các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam và tỉnh Vân Nam,Trung Quốc, theo Dalaselia -1989, đã giải thích sự phân bố của cây chè mẹ nhưsau: Tỉnh Vân Nam là nơi bắt đầu hàng loạt các dòng suối rồi đổ về các con sônglớn ở Việt Nam, Lào, Campuchia và Miến Điện Đầu tiên cây chè mọc ở VânNam, sau đó hạt chè được di chuyển đến các nước nói trên [15]
Cây chè có nguồn gốc tò Ấn Độ: Năm 1823, Robert Bruel đã phát hiệnđược những cây chè dại lá to ở vùng Atxam (Ấn Độ) Qua nghiên cứu tác giả chorằng nguyên sản của cây chè là ở vùng Atxam (Ấn Độ) chứ không phải là vùngVân Nam - Trung Quốc [16]
Theo Cohen Sta - 1918, nhà phân loại thực vật Hà Lan đã đưa ra thuyết hainguồn gốc cây chè (Nhị Nguyên thuyết): Cây chè lá to có nguồn gốc ở phía tây
Trang 7cao nguyên Tây Tạng Cây chè lá nhỏ có nguồn gốc ở phía Đông và phía ĐôngNam Trung Quốc [16].
Năm 1951, Đào Thừa Trân (Trung Quốc) cho rằng: Nguyên sản của câychè là tình Vân Nam, chúng di thực về phía đông qua tỉnh Tứ Xuyên bị ảnhhưởng của khí hậu nên biến thành giống chè lá nhỏ, di thực về phía nam và tâynam là Ấn Độ, Mianma, Việt Nam biến thành giống chè lá to [15] Nhiều côngtrình nghiên cứu khác cho thấy cách đây 4000 năm, ngưòi Trung Quốc đã biếtdùng chè làm dược liệu và sau đó để uống [16]
Cây chè có nguồn gốc ở Việt Nam: Những công trình của Djemukhatze(1961- 1971) về phức chất catechin của lá chè có nguồn gốc khác nhau, so sánhthành phàn các catechin giữa chè được trồng và chè hoang dại đã nêu lên luậnđiểm về sự tiến hóa sinh hóa của cây chè và từ đó ông đã đi đến kết luận: “Nguồngốc cây chè chính là ở vùng tây bắc Việt Nam” [8]
Các quan điểm trên tuy có sự khác nhau về địa điểm nhưng đều có sựthống nhất rằng: Nguyên sản của cây chè là ở Châu Á, nơi có điều kiện khí hậunóng và ẩm phù hợp cho sinh trưởng, phát triển của chúng
1.1.2 Phân loại cây chè
Tên của cây chè đã trải qua nhiều tranh luận và có rất nhiều cách đặt tên
Tên gọi của cây chè đầu tiên được nhà khoa học Thụy Điển Line đặt là Thea sinensis vào năm 1973 Đến nay danh pháp khoa học của cây chè được nhiều người công nhận nhất là: Camellia sinensis (L.) Okuntze [16], thứ assamỉca xếp
trong hệ thống phân loại thực vật như sau:
Trang 8- Loài: sinensis.
- Thứ: assamica
Cây chè được chia thành nhiều thứ chè (Varìetas) căn cứ vào đặc điểm
hình thái, đặc điểm sinh lý, sinh hóa và tính chống chịu có nhiều cách phân loạinhưng bảng phân loại của nhà bác học Hà Lan Cohen Stuart (1916) được nhiều
người công nhận nhất [16] Cohen Stuart chia Camellia sinensis ra thành 4 thứ
sau đây:
Chè Trung Quốc lá nhỏ (Camellia sỉnensis var bohea): Có đặc điểm thân
bụi thấp, phân cành nhiều, búp mù xòe nhỏ, nhanh, năng suất không cao, phẩmchất trung bình, nhiều hoa, quả, khả năng chống chịu tốt, có thể chịu rét từ 12- 15° c.
Chè Trung Quốc lá to (Camellia sinensis var macrophylla): Cây thân gỗ
nhỡ cao tói 5m, trong điều kiện sinh trưởng tự nhiên Lá to trung bình màu xanhnhạt dài 12-15cm, rộng 5-7cm, có 8-9 đôi gân chính, búp to hoa quả nhiều, cókhả năng chịu rét kém
Chè Shan (Shan tuyết) (Camellia sinensis var Shan): Là giống địa phương
- thứ chè rất phổ biến ở vùng núi cao (Hà Giang, Mộc Châu ) và các đồn điền ởTây Nguyên thời Pháp thuộc Giống hỗn hợp lai tạp, rất nhiều biến dị, được nôngdân chia thành chè trắng (búp tuyết), chè xanh và chè vàng (tùy theo màu sắc củalá)
Chè Atxam (chè Ấn Độ) (Cameỉỉia sỉnensis var atxamica): Cây thân gỗ
cao to trong điều kiện tự nhiên có thể cao 16-17m phân cành thưa, búp to chonăng suất cao thích hợp cho chế biến chè xanh và chè đen Không chịu được rét,hạn, ít hoa quả
Bốn thứ (varietas) chè trình bày trên đây đều có trồng ở Việt Nam, nhưngphổ biến nhất là hai thứ c sinensis var macrophylla và c sinensis var Shan.
Trang 9Camellia sỉnensỉs var macrophỵỉla được trồng nhiều nhất ở các tính trung
du với các tên gọi của địa phương (tùy theo màu sắc của lá) như: chè trung du láxanh, chè trung du lá vàng, v.y Tỷ lệ trồng các giống chè trung du ở miền bắcđạt tới 70% Năng suất búp trong sản xuất đại trà khi chè 5 - 19 tuổi thường đạt 4
- 5 tấn/ha
Các giống chè Trung du chịu được đất xấu, nhưng dễ bị nhiễm nhiều sâuhại: rầy xanh, bọ cánh tơ , ở vùng cao thường bị bệnh phồng lá Chè Trung duthường được dùng chế biến chè xanh, chè đen đều cho phẩm chất tốt
Camellỉsa sinensis var Shan được trồng ở miền núi các tỉnh miền bắc và ở
miền nam Tây Nguyên (Lâm Đồng) Ở mỗi địa phương có các giống khác nhaunhư: Shan Mộc Châu, Shan Tham Vè, Shan Trấn Ninh Năng suất búp thườngđạt 6 - 7 tấn/ha Búp chè có nhiều tuyết, dùng chế biến chè xanh, chè đen đều chophẩm chất tốt nhưng thích hợp với chế biền chè xanh hơn
1.1.3 Phân bố của cây chè
Sự phân bố của cây chè chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện tự nhiên, khí
hậu Ngày nay, cây chè phân bố ở khắp các châu lục, trong đó nhiều nhất là ởChâu Á, sau đó là Châu Phi, Châu Mỹ, rồi đến Châu Đại Dương là ít nhất Vùngchè tập trung nhất phân bố giữa 6-22° vĩ Bắc, trên thế giói vùng chè Miosines củaAchentina là khu vực thấp nhất nam địa cầu [28] Đen nay trên thế giới có 58nước trồng chè, sản xuất chế biến chè ở các quy mô khác nhau, phân bố ở khắp 5châu như sau [15]:
Châu Á: Có 20 nước bao gồm Trung Quốc, Ân Độ, Srilanca, Indonexia,Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kì, Bangladet, Iran, Myanma, Việt Nam, Thái Lan, Lào,Malaxia, Campuchia, Nepan, Philipin, Triều Tiên, Apganistan và Pakistan
Châu Phi: Có 21 nước bao gồm Kenia, Malavi, Uganda, Tanzania,Moozambich, Ruanda, Mali, Ghine, Morrixow, Nam Phi, Ai Cập, Conggo,
Trang 10Camorun, Đảo Reuyniong, Tchat, Rodezia, Abitxi, Brandi, Maroc, Angeri vàZimbabue.
Châu Mỹ: Có 12 nước bao gồm Achentina, Braxin, Peru, Colombia,Ecuado, Goatemela, Paraguay, Jamaica, Mehico, Bolovia, Guyanna và Mỹ
Châu Đại Dương: Có 3 nước bao gồm Papua Tân Ghine, Fiji và Autralia.Châu Âu: Có Nga và Bồ Đào Nha
Các nhà khoa học cho rằng, cây chè trồng ở những nơi có độ cao lớn so vóimực nước biển thường có chất lượng tốt hơn chè trồng ở vùng thấp Chè trồng ởnhững vùng núi cao như Hoàng Sơn (An Huy - Trung Quốc), Sư Tử Phong(Chiết Giang - Trung Quốc), Hà Giang, Mộc Châu, Suối Giàng (Nghĩa Lộ, tỉnhYên Bái) cũng đều có chất lượng cao
Ở Việt Nam, cây chè có từ lâu đời trên các vùng núi cao phía Tây Bắc vớinhững cây chè nguyên thủy ở Suối Giàng (Yên Bái), Thông Nguyên, Cao Bồ,Lũng Phin (Hà Giang), Chồ Lồng, Tà Xùa (Sơn La), Tam Đảo (Vĩnh Phúc) Câychè được trồng với quy mô lớn, hình thành đồn điền trồng chè đầu tiên ở miềnBắc Việt nam tại Phú Thọ vào năm 1890 [27] Sau đó, cây chè được mở rộngdiện tích phân bố trên phạm vi cả nước, trải dài trên 15 vĩ độ Bắc, đã hình thànhnhững vùng chè tập trung như: Vùng Tây Bắc (gồm Sơn La, Lai Châu), VùngViệt Bắc - Hoàng Liên Sơn (gồm Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai),Vùng Trung du Bắc Bộ (gồm Phú Thọ, Nam Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Bắc Cạn,Bắc Giang, Thái Nguyên), Vùng Bắc Trung Bộ (gồm Thanh Hóa, Nghệ An, HàTĩnh), Vùng Tây Nguyên (gồm Gia Lai, Kontum, Lâm Đồng) [ 37]
1.1.4 Một số đặc điểm sinh trưởng, phát triển của cây chè
Chè là cây lâu năm, có hai chu kì phát triển là chu kì phát triển nhỏ và chu
kì phát triển lớn [14]
Chu kì phát triển nhỏ: là chu kì phát triển hàng năm của cây chè Hàng
năm vào mùa đông, khi điều kiện tự nhiên không thuận lợi như nhiệt độ thấp, khô
Trang 11hạn cây chè sinh trưởng và phát triển chậm dàn và ngừng sinh trưởng khi nhiệt
độ thấp hơn 10°c, đây còn gọi là trạng thái ngủ nghỉ hàng năm Tốc độ tăngtrưởng trở lại bình thường trở lại khi nhiệt độ và ẩm độ tăng dần vào mùa xuân
Chu kì phát triển lớn (chu kì phát dục cá thể): bao gồm toàn bộ vòng đời của cây chè, tính từ khi hoa chè được thụ phấn, hình thành hạt, mọc thành cây, qua nhiều năm sinh trưởng phát triển đến khi già cỗi và chết Chu kì này thường kéo dài 30 - 50 năm, có khi tới hàng trăm năm tùy thuộc vào đặc tính của giống
và chế độ canh tác Toàn bộ chu kì phát triển lớn của cây chè trải qua 5 giai đoạn.
Giai đoạn 1 (giai đoạn phôi thai): tính từ khi hoa được thụ phấn, hình
thành phôi, hạt, quả đến khi quả chín Đây là giai đoạn phôi phát triển từ hợp tửtạo nên một thế hệ thể bào tử mới mang một nửa bộ gen từ bố và một nửa bộ gen
từ mẹ
Giai đoạn 2 (giai đoạn cây con hay còn gọi là giai đoạn cây mạ): từ khi
hạt nảy mầm mọc thành cây, đến khi cây ra hoa kết quả làn đầu (từ 1-2 năm saukhi trồng)
Giai đoạn 3 (giai đoạn cây non): từ khi cây ra hoa làn đàu tiên cho tới khi
cây có bộ khung ổn định (từ năm thứ 2-3 đến năm thứ 4 sau trồng)
Giai đoạn 4 (giai đoạn chè lớn hay giai đoạn sản xuất kinh doanh): thời kì
này kéo dài 20 - 30 năm có khi tới 50 - 60 năm phụ thuộc vào điều kiện giống,đất đai và chế độ canh tác
Giai đoạn 5 (giai đoạn chè già): giai đoạn này cây chè đã trải qua thời kì
sản xuất kinh doanh, cây chè có biểu hiện già cỗi, năng suất giảm nhanh chóng
Căn cứ vào đặc điểm của từng giai đoạn để xây dựng các biện pháp kĩthuật khác nhau nhằm tạo điều kiện cho cây chè sinh trưởng phát triển tốt, có khảnăng cho năng suất cao, chất lượng tốt phát huy tiềm năng của giống
Trang 12Nghiên cứu về sự hình thành các đợt sinh trưởng của cây chè M.A.Alikhatde (1964) cho rằng: khi cây chè có 5 lá thì ở nách lá thứ nhất, thứ hai cóchồi bên, khi có lá thứ 6 thì chồi bên thứ 3 xuất hiện, khi có lá thứ 7 thì chồi bênthứ 4 xuất hiện Tác giả cho rằng, khi mầm chè (chồi bên) ở trạng thái nghỉ quamùa đông, 2 lá đầu tiên bao bọc mầm chè là lá vẩy ốc, tiếp theo là lá cá, hai cặp lánày có chức năng bảo vệ mô phân sinh ngọn của chồi bên Các mầm của nách láthứ 4 và lá thứ 5 của đợt sinh trưởng thứ nhất sẽ phát triển thành búp của đợt sinh
trưởng thứ 2 [22]
1.1.5 Điều kiện sinh thái của cây chè
Trong quá trình sinh trưởng và phát triển, cây chè chịu ảnh hưởng rất lớncủa các nhân tố sinh thái Nguyên sản của cây chè ở vùng khí hậu rừng á nhiệtđới Tuy vậy cây chè cho đến nay đã được phân bố khá rộng rãi, từ 30 vĩ tuyếnnam đến 45 vĩ tuyến bắc, là những nơi có điều kiện tự nhiên khác xa với nơinguyên sản Trong những điều kiện như vậy, muốn cho cây chè sinh trưởng bìnhthường và có năng suất phẩm chất tốt phải có trình độ khoa học cao trong canhtác Những công trình nghiên cứu nhiều năm của Liên Xô cho thấy: sự tạo thành
và tích lũy các vật chất khác nhau ừong cây, phàn lớn phụ thuộc vào điều kiện khíhậu và phân bố theo từng vùng Tổng họp các điều kiện ngoại cảnh là yếu tố chủyếu ảnh hưởng đến phẩm chất chè [9]
Vì vậy, xét đến điều kiện sinh thái của cây chè là đề cập đến những điềukiện sống thích hợp nhất về các mặt Nắm vững những yêu cầu cụ thể về sinh tháicũng như khả năng thích ứng của cây chè với điều kiện tự nhiên, là một trongnhững cơ sở khoa học để xác định những biện pháp kỹ thuật trồng ừọt thích hợp.Yêu cầu tổng họp các điều kiện sinh thái thích hợp cho cây chè là: đất tốt, sâu,chua, thoát nước, khí hậu ẩm và ấm
*Điều kiên đất đai và đỉa hình:
Trang 13So với một số cây trồng khác, chè yêu cầu về đất không nghiêm ngặt lắm,song để cây chè sinh trưởng tốt, năng suất cao và ổn định thì đất ừồng chè phảiđạt những yêu cầu sau: tốt, nhiều mùn, sâu, chua và thoát nước Độ pH thích họpcho cây chè phát triển là 4,5 - 6,0 Đất trồng phải có độ sâu ít nhất là 80 cm, mựcnước ngầm phải dưới 1 mét thì hệ rễ mới phát triển bình thường.
Đất trồng chè của ta ở các vùng trung du phần lớn là feralit vàng đỏ đượchình thành trên đá granit, gnai, phiến thạch sét và mica Ở vùng núi phần lớn làđất feralit vàng đỏ được phát triển ừên đá mẹ phiến thạch sét về cơ bản nhữngloại đất này phù họp với yêu cầu sinh trưởng của cây chè như có độ pH từ 4 đến 5
có lớp đất sâu hơn 1 mét và thoát nước Loại đất này thường nghèo chất hữu cơnhất là ở các vùng trồng chè cũ Vì vậy, vấn đề bón phân hữu cơ để bổ sung dinhdưỡng cho cây chè và cải tạo kết cấu vật lý của đất là rất càn thiết Bên cạnh đó,phải coi trọng việc bón đủ và họp lý phân hóa học hàng năm cho chè Chè là loạicây kỵ vôi, nhiều tài liệu cho biết ừong đất trồng chè chỉ có một lượng vôi rất ít,khoảng 0,2% CaC03 đã ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây do đó, không bao giờngười trồng chè dùng vôi để bón vào đất trồng chè, trừ trường họp đất có độ pHquá thấp, dưới 4
Quan hệ giữa đặc điểm môi trường đất và phẩm chất chè rất phức tạp.Phẩm chất do nhiều yếu tố quyết định và tác động một cách tổng hợp Song ừongnhững điều kiện nhất định thì điều kiện dinh dưỡng của đất có ảnh hưởng rất lớnđến phẩm chất Kinh nghiệm trồng chè của người Trung Quốc cho thấy: chè sinhtrưởng trên loại đất pha cát, nhiều mùn, thích họp cho việc chế biến chè xanh:mùi vị hương của chè thành phẩm đều tốt Chè trồng trên đất nặng màu vàng thì
có vị đắng và nước có màu vàng Chè trồng trên đất xấu hương không thơm, vịnhạt và chất hòa tan ít [27]
Địa hình và địa thế có ảnh hưởng rất rõ đến sinh trưởng và chất lượng chè.Thực tiễn ở Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản cho thấy: cây chè trồng trên núi cao
Trang 14có hương thơm và mùi vị tốt hơn chè trồng ở vùng thấp và đồng bằng Kinhnghiệm nhận thấy chè được chế biến từ nguyên liệu ở núi cao Xrilanca có mùithơm của hoa mà hương vị đó không thể có được trong chè trồng ở khu vực thấp.Nhiều tác giả ở Liên Xô (cũ) như Kharabava, Đjêmukhatze đã xác định chè trồng
ở nơi có địa thế càng cao hơn mặt biển (trong một chừng mực nhất định) thìkhuynh hướng tạo thành và tích lũy tanin càng lớn [27]
Phàn lớn các vùng trồng chè có phẩm chất tốt của các nước trên thế giớithường có độ cao cách mặt biển từ 500 đến 800 mét Vùng chè ngon có tiếng ở
Ấn Độ trồng ở độ cao cách mặt biển 2.000 mét Nghiên cứu của Viện nông học
Hồ Nam (1957) cho thấy ảnh hưởng của độ cao so với mực nước biển tới hàmlượng tanin trong búp chè như sau [9]:
Bảng 1.1 Ảnh hưởng của độ cao so với mực nước biển tới hàm lượng tannin trong búp chè
Độ cao so với mực nước
Chất lượng chè ở vùng cao tốt nhưng về sinh trưởng thường kém hơn ởvùng thấp Hướng dốc có ảnh hưởng đến khả năng tích lũy vật chất trong câychè Dogonatze (1969) nhận thấy rằng cường độ tích lũy tanin và vật chất hòatan phụ thuộc nhiều vào chế độ nhiệt Ở hướng dốc phía nam hàm lượng tanin
và chất hòa tan trong búp chè cao hơn ở hướng dốc phía bắc [9]
Ở vĩ độ càng cao phẩm chất và sản lượng chè càng có xu hướng giảmthấp Do độ nhiệt thấp, độ ẩm thấp và ngày dài đã ảnh hưởng không tốt đếnsinh trưởng và tích lũy vật chất trong cây chè
* Điều kiện ánh sáng:
Cây chè ở vùng nguyên sản sinh sống dưới tán rừng rậm, do vậy có tínhchịu bóng rất lớn, nó tiến hành quang hợp tốt nhất ừong điều kiện ánh sáng tán
Trang 15xạ Ánh sáng trực xạ ừong điều kiện độ nhiệt không khí cao, không có lợi choquang họp và sinh trưởng của chè Trong thực tế sản xuất, ở một số nước như
Ấn Độ, Xrilanca thường áp dụng biện pháp trồng cây bóng mát cho chè để hạnchế độ nhiệt cao và ánh sáng quá mạnh
Yêu càu của cây chè đối với ánh sáng cũng thay đổi tùy theo tuổi cây vàgiống Chè ở thời kỳ cây non yêu cầu ánh sáng ít hơn, cho nên ở vườn ươm,người ta thường che râm để đạt tỷ lệ sống cao và cây sinh trưởng nhanh Giốngchè lá to yêu cầu ánh sáng ít hơn giống chè nhỏ
Các điều kiện chiếu sáng khác nhau có ảnh hưởng đến cấu tạo của lá và
thảnh phần hóa học của chúng
Bảng 1.2 Sự biến đỗi thành phần hóa học của búp chè trong điều kiện có che râm (% chất khô) [27]
Công thức thỉ nghiệm Công thức thí nghiệm
Thành phần sinh hóa Che râm Không che râm Che râm Không che râm
Trang 16Do cường độ ánh sáng có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng, phẩm chất chècho nên điều tiết cường độ ánh sáng có thể làm cho năng suất chè tăng lên rõ rệt.Những kết quả nghiên cứu tại Trại thí nghiệm chè Tocklai (Ấn Độ) cho thấy:giảm độ chiếu sáng xuống 30% thì sản lượng búp tươi trong năm đàu tăng 34%
so với xử lý cường độ chiếu sáng hoàn toàn và giảm độ chiếu sáng xuống 50%thì năng suất đạt cao nhất Song nếu tiếp tục giảm cường độ chiếu sáng xuốngdưới 50% thì năng suất bắt đàu giảm thấp
Ánh sáng còn có quan hệ đến giai đoạn phát dục của cây chè: theo các tàiliệu nghiên cứu của Liên Xô thì giống chè Ấn Độ và giống lai Trung - Ấn nguyênsản ở vùng ngày ngắn, sinh trưởng trong điều kiện Gruzia (Liên Xô) ngày dài,không thể hoàn thành giai đoạn ánh sáng cho nên không ra hoa kết quả Songgiống Trung Quốc lá nhỏ đã thích ứng với điều kiện ngày dài, cho nên ừồng ởGruzia vẫn ra hoa kết quả
*Điều kiên đô ẩm và lương mưa:
• • t o
Thực vật nói chung và cây chè nói riêng muốn hình thành nên một phầnvật chất hữu cơ để cấu tạo thành cơ thể của chúng thì chúng phải cần tới 400 phầnnước Chè là loại cây ưa ẩm, là cây thu hoạch búp, lá non, nên càng càn nhiềunước và vấn đề cung cấp nước cho quá trình sinh trưởng của cây chè là yếu tốquan trọng trong thâm canh cây chè
Yêu cầu tổng lượng nước mưa bình quân trong một năm đối với cây chèkhoảng 1.500 mm và mưa phân bố đều trong các tháng Bình quân lượng mưacủa các tháng ừong thời kỳ chè sinh trưởng phải lớn hơn hoặc bằng 100 mm, nếunhỏ hơn 100 mm chè sinh trưởng không tốt Cây chè yêu cầu độ ẩm không khícao, trong suốt thời kỳ sinh trưởng độ ẩm không khí thích hợp là vào khoảng 85%[27]
*Nhiệt độ không khỉ:
Trang 17Để sinh trưởng phát triển tốt, cây chè yêu cầu một phạm vi nhiệt độ nhấtđịnh Theo nghiên cứu của Kvaraxkhêlia (1950) và Trang Vãn Phương (1956) thìcây chè bắt đàu sinh trưởng khi nhiệt độ trên 10°c Nhiệt độ bình quân hàng năm
để cây chè sinh trưởng phát triển bình thường là 12,5°c và sinh trưởng tốt trong
phạm vi 15 - 28°c Giới hạn nhiệt độ thấp đối với sinh trưởng của chè biểu hiện
rõ rệt qua thời kỳ ngừng sinh trưởng trong mùa đông và sinh trưởng trở lại khi cónhiệt độ ấm áp của mùa xuân trong những vùng khí hậu á nhiệt đới Đối với sinhtrưởng của cây trong thời kỳ này thì nhiệt độ không khí trở thành nhân tố sinhthái chủ yếu Cây chè yêu cầu lượng tích nhiệt hàng năm 3.500 - 4.000°c Nhiệt
độ tối thấp tuyệt đối mà cây có thể chịu đựng được thay đổi tùy theo giống, cóthể từ -5°c đến -25°c hoặc thấp hơn
1.2 Nghiên cứu về phân bón cho cây chè
1.2.1. Nghiên cứu về phân bón cho cây chè trên thế giới Quan hệ giữa đặc
điểm môi trường đất, hàm lượng các chất dinh dưỡng đến năng suất, phẩmchất chè rất phức tạp Phẩm chất chè do nhiều yếu tố quyết định Điều kiệndinh dưỡng ảnh hưởng rất nhiều đến năng suất, phẩm chất chè, do vậyngoài việc sử dụng nguồn dinh dưỡng sẵn có ở trong đất, thì việc bón phâncho chè là một biện pháp có hiệu quả
Sản phẩm thu hoạch của chè chỉ chiếm 8 - 1 3% tổng lượng chất khô màcây tổng họp được nếu tính cả các phàn trên và dưới mặt đất Theo nguồn tònhiều tác giả Ấn Độ thì trong 100 kg chè thương phẩm có chứa lượng dinh dưỡng
là 4 kg N2; 1,15 kg p205; 2,4 kg K20; 0,42 kg MgO; 0,8 kg CaO; 100 g Al; 6g Cl;
8g Na [38] Ngoài lượng dinh dưỡng này cây còn lấy một số lớn dinh dưỡng choviệc hình thành bộ lá trên bụi chè, cho số lá rụng, cho việc hình thành thân cành
và rễ Chính YÌ vậy, để hình thành nên 100 kg chè thương phẩm cây lấy đi tổng
Trang 18số dinh dưỡng cho tất cả các bộ phận trên là: 16,9 kg N2; 5,68 kg p205; 8,8 kg K20;2,92 kg MgO; 6,7 kg CaO; 871 g AI và 74 g Na Ngoài ra cây còn lấy đi mộtlượng các nguyên tố vi lượng như 38 g Zn; 26 g Bo; 38 g Cu; 241 g Fe và 479 g
Mn [29] Theo Eden (1958) trong búp chè non có 4,5% N2; 1,5% p205 và 2,5% K20 [27]
1,2-Những kết quả nghiên cứu của Jolemuanu cho thấy nhu càu dinh dưỡngkhoáng của cây chè rất lớn thể hiện qua bảng 1.3 [39]
Bảng 1.3 Hàm lượng một sổ nguyên tố khoáng trong chè một sổ noi
(% chất tro)
Loai
Cũng theo tài liệu của Trung Quốc nếu thu hoạch 7,5 tấn búp/ha, cầnphải cung cấp N2: 37,5 kg, p205: 75 kg và K20: 112 - 150 kg [40]
Ngoài ra, hàng năm trọng lượng cành lá đốn cũng xấp xỉ bằng trọnglượng búp và lá non đã thu hoạch và theo Daraxêli thì lượng đạm bị rửa trôithường 1/3 tổng lượng đạm bón vào đất [27]
Achivicy và Tlanfanchi đã nghiên cứu thành công một số loại cây họ Đậu(Fabaceae) làm cây phân xanh, đồng thời làm cây che bóng cho cây chè [41]
Theo dõi tại vùng chè Assam (Ấn Độ) thấy rằng hiệu lực của đạm tănglên đều đặn theo thòi gian, hiệu suất 2 kg đạm của lần 1,2,3,4 lần lượt là
2,4,6,8 kg chè khô Ở Đông Phi cho thấy: hiệu suất của 1 kg đạm là 4-8 kgchè khô, nếu hiệu suất < 4 kg chè khô/1 kg N thì đã xuất hiện một yếu tốnào khác là lân hay kali [27], [42]
Trang 19Theo M.L.Bziava (1973) liều lượng đạm tăng lên, sản lượng búp sẽ tăng,song để đạt được năng suất 10 tấn/ha bón 200 kg N/ha cho hiệu quả kinh tế caonhất [31].
về phẩm chất, nhiều tài liệu ở nước ngoài như Nhật Bản, Ấn Độ,Srilancan đều cho rằng bón đạm không hợp lí, bón quá nhiều hoặc bón đơnđộc đều làm giảm chất lượng chè (đặc biệt là đối với nguyên liệu để chế biếnchè đen) Những công trình nghiên cứu của Liên Xô (cũ) cho thấy liều lượngđạm 300 kg/ha thì hàm lượng tanin, cafein và chất hòa tan trong búp chè đều cao,
có lợi cho phẩm chất, song nếu vượt qua giới hạn trên thì phẩm chất chè giảmthấp Khi bón nhiều đạm hàm lượng Protein ở trong lá tăng lên Protein kết hợpvới tanin thành các hợp chất không tan vì thế lượng tanin trong chè giảm đi Mặtkhác khi bón nhiều đạm, hàm lượng ankaloit trong chè tăng lên làm chè có vịđắng [24]
Các nghiên cứu về phân bón cho chè của Viện Cây trồng Á nhiệt đới(Gradia) cho thấy, để nâng cao sản lượng và chất lượng nguyên liệu chè, nânghàm lượng tanin, chất hòa tan và điểm nếm thử cảm quan, khi nương chè bónlượng đạm thích họp 300 kg/ha trên nền p và K Nếu tiếp tục nâng cao lượng đạm
sẽ không có hiệu quả kinh tế Sử dụng lượng đạm cao thích hợp cho cây chè khibón phối hợp vói phospho, kali, magie và các nguyên tố vi lượng [43]
AJ Nijarata đã giải thích ảnh hưởng xấu của lượng đạm dư đến phẩm chấtcủa chè như sau: lượng đạm dư của cây chè làm tăng sự phát triển của mô gỗtrong cây kết quả là những phần non của cây chè chưa tích lũy được những chấtquý giá nhất cho cây chè [42]
Những kết quả chẩn đoán dinh dưỡng trong lá chè của Liên Xô (cũ) chothấy: ở cây chè thiếu đạm, hàm lượng đạm trong lá là 2,2 - 2,4%, trong búp là 3-3,5% Cây chè đủ dinh dưỡng hàm lượng đạm tương ứng là: 2,9 - 3,4% và 4,7-5,0% [42]
Trang 20Kết quả phân tích lá chè và đất trồng chè ở Liên Xô (cũ) cho thấy: ở câychè thiếu lân, hàm lượng lân (P2O5) trong lá là 0,27 - 0,28%, trong búp là 0,5 -0,75% Cây chè đủ dinh dưỡng hàm lượng lân tương ứng là 0,33 - 0,39% và 0,82-0,86% [39].
Theo nghiên cứu của F.Hurisa (Liên Xô) thì hiệu quả trực tiếp của 3 nămbón lân và liều lượng 126- 196 kg/ha trên nền N, K tăng sản lượng búp 5 - 30%
so với đối chứng chỉ bón N, K song hiệu quả tăng bình quân 21 năm về sau là 60
- 78% Ở Liên Xô (cũ) trên đất đỏ hiệu quả phân lân ở những năm sau thường caohơn năm trực tiếp bón [9]
Kết quả nghiên cứu của Curxanop (1954) và J.C.Nigaloblis Vili (1966) ởLiên Xô (cũ) đã khẳng định bón phân lân trên nền N, K làm tăng Catein trongbúp chè có lợi cho chất lượng chè [24]
Trong đất nếu hàm lượng p205 là 30 - 32 mg/100 g đất thì cây chè sinhtrưởng bình thường, nếu là 10 - 12 mg/100 g đất thì thiếu nhiều lân [39]
Trên những nương chè mói trồng, phân kali không có hiệu quả vì trênnhững loại đất mới khai phá hàm lượng K20 trong đất đủ cho yêu cầu sinh trưởngphát triển của cây (20 - 25 mg KO/lOOg đất), ở những nơi thường xuyên bón N,
p với liều lượng cao trong nhiều năm, đất trở nên thiếu kali thì hiệu quả việc bón
K20 rất rõ rệt [9] Theo số liệu của Goziaxivili (1949) bón K20 trên đất đỏ với liềulượng 80 - 320 kg/ha có thể tăng sản lượng 28-55% so với đối chứng bón N, p.Những nghiên cứu của A.D.Makharobitze (1948) cho thấy phẩm chất nguyên liệutrong các công thức bón phân khác nhau được xếp theo thứ tự sau: p, K, N vàkhông bón Những kết quả nghiên cứu của Liên Xô (cũ) cho thấy hàm lượng kaliừong lá dưới 0,5% dấu hiệu thiếu kali biểu hiện rõ, ừên 1% thì cây sinh trưởngbình thường Hàm lượng K20 15 mg/100 g đất là thiếu kali, ừên 15 mg/100 g đất,cây sinh trưởng bình thường [10], [27], [28]
Trang 21về chất lượng chè, kali lại ảnh hưởng rõ rệt Theo Djemukhatze chất lượngchè nguyên liệu trong các công thức bón khác nhau được xếp theo thứ tự p, K, N
và sau cùng là không bón Kết quả nghiên cứu của Liên Xô (cũ) hàm lượng kalitrong lá nhỏ hơn 0,5 thì cây thiếu kali [9]
Những công trình nghiên cứu của Acnôn (1954), Evan (1956), Grin(1954), Nalia (1951), Nason (1953), Nicôla (1957), Staccây (1955), MacEuroi vàNason (1954) và những người khác, đều xác nhận là những nguyên tố tham giavào thành phàn nhiều loại men và là chất hoạt hóa của nhiều loại men ấy Nhiềunguyên tố vi lượng có ảnh hưởng tốt tói quang hợp: Mn, Cu, Bo, Co và Mo đẩymạnh sự tổng hợp diệp lục trong lá và phân giải diệp lục trong tối Bo và cácnguyên tố khác tăng cường sự tổng hợp gluxit, làm cho sự tổng hợp và vậnchuyển sacaro và các gluxit thuận lợi hơn (Scônich 1955) Mn, Zn, Cu, Mo vàtrong nhiều trường hợp cả Bo làm tăng độ hô hấp của quá trình oxi hóa khử [27].Phân vi lượng hiện nay đang bắt đầu được sử dụng rộng rãi trong thực tếnông nghiệp và được coi là một khả năng tiềm tàng góp phần đẩy mạnh sự pháttriển của ngành ttồng trọt và chăn nuôi Song việc nghiên cứu và sử dụng phân vilượng cho chè còn rất ít Ở Srilanca đã nghiên cứu và sử dụng kẽm sunfat hoặcaxit kẽm để phun lên lá, hoặc bón borat phối họp với N, p, K cho chè ở những nơixác định có hiện tượng thiếu kẽm và Bo Kết quả nghiên cứu của Tranturia(1973) cho thấy bón N, p, K phối hợp với 5 kg Zn và 5 kg Bo, cho 1 ha, làm tăngphẩm chất của chè nguyên liệu [44], [45]
Godishvili G.c và Beridze A.F (1962) đã nghiên cứu việc sử dụng phânkhoáng thường xuyên bón vào đất chè dẫn đến sự biến đổi hóa học của đất Cácchất dinh dưỡng được hòa tan mạnh hơn khi đất ẩm có mưa, nhất là những vùng ánhiệt đới và đới ẩm các chất khoáng của đất thường bị rửa trôi Sử dụng phânchua sinh lí ở điều kiện thâm canh cao làm thúc đẩy mạnh cường độ rửa ừôi cácion bazơ trong đất, trong đó có Mg Khi bón NPK với mức cao, độ chua của đất
Trang 22tăng cao, ngược lại hàm lượng bazơ lại giảm thấp: CaO 14,4 mg/100g đất, đặcbiệt MgO chỉ còn 1,8 mg/100g đất Trong khi đó đối chứng tương tự là CaO:28,8 MgO: 5,8 mg/100g đất [39], [41] Geus J.G.De, 1983: Việc sử dụng lâu dàiamon sunfat và các loại phân chua sinh lí đã làm thay đổi đáng kể tính chất lý hóahọc của đất Trong môi trường chua sự rửa trôi MgO lớn hơn CaO, mặt khác CaOđược bổ sung cùng việc bón lân còn MgO bị lấy đi cùng búp chè thu hoạch, sựthiếu hụt MgO ngày càng trầm trọng Sự thể hiện thiếu MgO của cây chè cónhiều nguyên nhân: do nhiều năm sử dụng amon sunfat liên tục, do nhiều năm sửdụng kali trên đất feralit nghèo hoặc thiếu magie, do thừa mangan trên đất tto núilửa Khắc phục sự thiếu magie người ta bón vào đất 125 kg dolomiưlha, khi thiếumagie nặng hơn bón 100 - 125 kg kiseserit (24% MgO), hoặc phun MgS04 1 làntrên năm với nồng độ 2% lá được thực hiện ở Srilanka, Nam Ấn Độ đã làm tăngsản lượng 11-16% trên các nương chè già [38], [42].
1.2.2 Nghiên cứu về phân bón cho cây chè ở Việt Nam
Hiện nay ở nước ta cây chè được trồng nhiều trên nhiều loại đất, nhưngchủ yếu là trên nhóm đất đỏ vàng Cây chè thích hợp trồng trên đất chua vừa đến
ít chua, độ dày tàng đất càng sâu thì cây chè sinh trưởng, phát triển càng tốt vàtuổi thọ của cây càng kéo dài So vói các loại cây trồng khác thì cây chè có khảnăng sống ở những nơi đất cằn cỗi, nghèo dinh dưỡng mà vẫn cho thu nhập
Cây chè yêu càu về đất không chặt chẽ lắm Song để cây chè sinh trưởngtốt, năng suất cao và ổn định thì đất trồng chè phải đạt những yêu cầu sau: tốt,nhiều mùn, sâu, chua và thoát nước Độ pH thích hợp cho chè phát triển là 4,5 -6,0 Đất trồng phải có độ sâu ít nhất là 80 cm, mực nước ngầm phải dưới 1 mét thì
hệ rễ mói phát triển bình thường [14]
Đất trồng chè của ta ở các vùng trung du phần lớn là feralit vàng đỏ đượcphát triển trên đá granit, gnai, phiến thạch sét và mica Ở vùng núi phần lớn là đấtferalit vàng đỏ được phát triển trên đá mẹ phiến thạch sét về cơ bản những loại
Trang 23đất này phù họp với yêu cầu sinh trưởng của cây chè như có độ pH từ 4 đến 5 cólớp đất sâu hơn một mét và thoát nước Những đất này thường nghèo chất hữu cơnhất là các vùng trồng chè cũ Vì thế vấn đề bón phân hữu cơ để bổ sung dinhdưỡng cho chè và cải tạo kết cấu vật lí của đất là rất cần thiết Bên cạnh đó, phảicoi trọng việc bón đủ và hợp lí phân hóa học hàng năm cho cây chè Chè là loạicây kị vôi, nhiều tài liệu cho biết trong đất trồng chè chỉ có một lượng vôi rất ít,khoảng 0,2% СаСОз đã làm cây chè bị hại Bỏi thế không bao giờ ngưòi ta dùngvôi để bón vào đất trồng chè, trừ trường hợp đất có độ pH quá thấp, dưới 4 [32].
Theo kết quả nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu và phát triển chè, ViệnKhoa học Kỹ Thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc, cho thấy việc bón phânhữu cơ kết họp với vô cơ năng suất chè tăng 30-32% so với việc sử dụng riêng rẽphân vô cơ Người ta rất coi trọng hiệu quả về sau của việc bón phân hữu cơ chochè Yêu càu về đạm thay đổi tùy theo loại đất tuổi của cây và năng suất vườnchè Tài liệu của trại thí nghiệm chè Phú Hộ, cho thấy bón đạm đầy đủ, sản lượngbúp chè tăng 2-2,5 làn so với đối chứng không bón [25]
Theo nghiên cứu 10 năm liên tiếp của trại chè Phú Hộ về việc bón phân N,
p, К thấy trên cơ sở bón 100 N/ha, 50 p205/ha trong từng năm không có chênhlệch đáng kể về năng suất nhưng từ năm thứ 7 trở đi thì bội thu do phân bón là rất
rõ rệt qua 10 năm 1 kg P2O5 làm tăng được 3,5 kg chè búp tươi [25]
Quy trình bón P2O5 của Liên hiệp xí nghiệp chè Việt Nam 1988 quy định 5năm bón P2O5 một lần với liều lượng 100 kg/ha, bón kết hợp với phân chuồngsau khi đốn, bón sâu khoảng 20-30cm [14]
Nghiên cứu về ảnh hưởng của phân bón đến chỉ tiêu hóa sinh chất lượngbúp chè tác giả Trịnh Văn Loan đã nêu: Những dạng phân bón khác nhau có ảnhhưởng ở các mức độ khác nhau đến hoạt tính của men peroxydaza ở dạng liên kếthay hòa tan trong lá chè Hoạt tính của men peroxydaza cao trong những trườnghọp bón phân photphat và kèm theo đó là hàm lượng tannin trong lá chè tăng lên
Trang 24đáng kể Bón phân photpho có ảnh hưởng tốt đến đặc tính hóa sinh, dẫn đến sựtạo thành hợp chất poliphenol trong lá chè cao [24].
Kết quả 10 năm (1969-1979) nghiên cứu về phân bón NPK cho chè ở Trạithí nghiệm chè Phú Hộ cho thấy, khi bón đạm và kali cho giống chè Trung Du cótác dụng rõ về năng suất và chất lượng búp chè, hàm lượng tannin và chất hòa tanđều cao Tỉ lệ phối hợp bón NPK cho chè hợp H là 3:1:1 [1]
Kết quả nghiên cứu của Đinh Thị Ngọ (1998) về bón phân cho các giốngchè cho thấy, các giống chè và tuổi chè khác nhau có yêu cầu lượng phân bónkhác nhau [1]
Bón phân khoáng cân đối và bổ sung phân hữu cơ đều làm tăng sản lượngchè Nhưng liều lượng NPK thích hợp cho nương chè còn phụ thuộc vào tính chất
lí hóa của đất, tuổi chè và yếu tố tác động các yếu tố sinh thái [12]
Sử dụng các nguyên tố vi lượng (Bo, đồng, mangan, molipđen, kẽm, coban
và iot) vào việc trồng trọt (xử lí các hạt trước khi gieo) và bón vào đất, phun lên
lá, có thể tác động mạnh vào các quá trình sinh lý của cây trồng khác nhau, do đó
có thể làm tăng năng suất và phẩm chất chè [10]
Ở Việt Nam bước đầu đang nghiên cứu ảnh hưởng của một số nguyên tố vilượng như Zn, B, Mo, Mn, Cu, đối với sự sinh trưởng và phát dục của chè, hoặcdung dịch H3BO4 (0,02%) phun phối hợp với ure (2%) để trừ sâu và thúc sinhtrưởng cho chè càng cho kết quả tốt
Nghiên cứu về ảnh hưởng của phân bón đối với đời sống cây trồng hầu hếtcác tác giả chủ yếu chú trọng đến các loại phân đa lượng như N, p, к còn cácphân trung vi lượng như s, Zn, Mn, Mg, Bo, AI rất ít tác giả đề cập đến hoặc nếucũng chỉ nghiên cứu trên một số loại cây như cà phê, đậu, đỗ, bông
Tác giả Lê Xuân Đính cho biết cây cà phê Robusta ở Indonesia lấy đi từđất là 52,3 kg N; 10,5 kg p205; 80,7 kg K20; 16,5 kg MgO; 28 kg CaO thì năngsuất đạt 1,75 tấn/ha Để đảm bảo cho đất không bị nghèo đi thì mức bón tối thiểu
Trang 25phải bù đắp được sự hao hụt các nguyên tố này ừong đất Tùy theo đặc điểm tồntại của từng nguyên tố trong đất mà ngoài phần cây hấp thụ, ta còn phải bù đắp cảphần mất đi do rửa ừôi, bay hơi hoặc do các quá trình hóa học hoặc xói mòn khiến các nguyên tố này không còn nằm trong vùng rễ cây Đối với các nguyên tốtrung lượng, Ca và Mg là hai nguyên tố ít bị rửa trôi hơn s và mức bón (tùy theonăng suất cà phê) ta có thể tính toán từ mức cây hút ở trên và cộng thêm 30% nữa
là đủ [44]
Tác giả Lê Văn Đức đã nghiên cứu về ảnh hưởng của Mg đến chất lượnggiống chè PHi Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón và Mg đến năngsuất, chất lượng giống chè PHi trồng tại Phú Hộ - Phú Thọ Bón Mg ở các liềulượng 50 kg và 70 kg MgSƠ4/ha làm tăng mật độ búp chè 10,5% và 18,9% Tỉ lệ
mù xòe giảm, trọng lượng và chiều dài búp không tăng có tác dụng tích cực đếnnăng suất và chất lượng giống chè PHi [11] Bón Mg với các công thức 50 kgMgSCVha và 75 MgSƠ4/ha làm tăng dung lượng đốn của chè 25% và 32,8% sovới đối chứng Bón Mg làm tăng hàm lượng đường khử, đặc biệt axit amin, do đóảnh hưởng tốt đến chất lượng chè [11]
Chè là cây công nghiệp dài ngày cho sản phẩm thu hái nhiều lần trongnăm, ừong đó sản phẩm thu hoạch (búp chè) chỉ chiếm 8-13% tổng sinh khối củatoàn bộ cây chè và năng suất chè thường chưa cao nên nhu càu dinh dưỡng củacây chè không lớn Trung bình năng suất 2 tấn búp khô lấy đi 80kg N, 23kg p20548kg K20, 8 kg MgO và 16 kg CaO [31] Như vậy, lượng hút dinh dưỡng của chèlại cần tính đến cả lượng dinh dưỡng bị mất theo cành, thân do đốn định kì Dovậy tổng số hàng năm cây chè hút khoảng 144 kg N, 71 kg P2O5, 62 kg K20, 24
kg MgO và 40 kg CaO Tuy đạm là yếu tố dinh dưỡng bị chè hút nhiều nhất,song cân đối đạm-kali-magie là rất quan trọng Tỉ lệ này là thay đổi tùy theo tuổicây và ổn định khi thu hoạch Thông thường, những năm trồng đầu tiên, lượngđạm bón thường cao hơn, biến động trong khoảng 120-240 kg N/ha vói tỉ lệ
Trang 26N:K20 là 1:0,5 Vào thời kì thu hoạch, tỉ lệ N:K20 thay đổi theo hướng tăng kali
và tỉ lệ này thường là 1:1 với lượng bón 240-300 kg N và 240-300 kg K20 Nhữngvườn chè năng suất cao có gia đình đã bón tới 350 kg N và 350 kg K20 Liềulượng lân thường không cao như đạm và kali, biến động trong khoảng 60-80 kg
p205/ha Bón phân cân đối, đúng tỉ lệ và liều lượng làm tăng năng suất chè tăng14-20% với hệ số lãi từ 2,8-3,9 lần, đồng thời cũng làm hàm lượng tannin tăngthêm từ 2-6,5%, chất hòa tan tăng 1,5-3,5%, hương vị được cải thiện Việc bón
Mg (khoảng 10-20 kg MgO/ha) cho chè cũng đảm bảo tăng năng suất và chấtlượng búp Ở Việt Nam có thể dùng một tỉ lệ nhất định phân lân nung chảy nhưmột nguồn phân magie cho chè Ngoài các nguyên tố đa và trung lượng, kẽmcũng có hiệu lực khá với chè, do vậy phun dung dịch sunphat kẽm cũng có tácdụng tăng năng suất và phẩm chất đáng kể Theo một số tác giả, nếu năng suấtcao hơn 3 tấn búp khô thì cần bón thêm cả Bo và Mo [29]
1.3 Giá trị thực tiễn của giun đất
Giun đất là tên thường gọi cho một nhóm loài động vật sống chủ yếu trongđất (terrestrial) và một số ít sống bán thủy sinh (semiaquatic), xuất hiện cách đâykhoảng 600 triệu năm, thuộc lớp Giun ít tơ (Oligochaeta) và ngành Giun đốt(Anneliada) [6]
Trong tự nhiên, giun đất sống trong đất và thảm mục, giun đất di chuyểnrất tích cực bằng cách chủ động đào hang, rãnh để tìm kiếm thức ăn, nhận biếtđồng loại, ghép đôi và sinh sản Nhờ hệ thống hang đào được trong suốt vòng đòicủa mình, chúng xáo trộn làm tơi xốp lớp đất mặt, đào hang chuyển các vụn thựcvật ttên mặt đất xuống lớp sâu hơn, tạo nên lớp đất màu mỡ giàu mùn, giàukhoáng Hang giun đất tạo điều kiện đưa không khí và nước vào đất, làm cho đấtthoáng và ẩm [3], [4]
Giun đất đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển hóa vật chất hữu cơtrong đất Chúng đưa vào ống tiêu hóa của mình các vụn hữu cơ và đất trong quá
Trang 27trình đào hang Các vụn hữu cơ từ thực vật, động vật khi được đưa vào ống tiêuhóa của giun sẽ được nghiền nhỏ và phân loại nhờ hệ thống enzim tiêu hóa Chấtthải sau đó được tống ra ngoài dưới dạng phân giun giàu các hợp chất trao đổi, cógiá tri dinh dưỡng cao đối vói thực vật và vi sinh vật [3], [4].
Giun đất giữ vai trò quan trọng quyết định tính chất vật lí, hóa học và sinh
học của đất [2] Những loài giun đất đào hang sẽ làm tăng độ thông thoáng, tơixốp và khả năng thấm nước cho đất Chúng ăn rác thải hữu cơ và thải phân chứanhững chất dinh dưỡng càn thiết cho cây Tùy vào từng loài mà phân của chúng
có pH, nitơ hoạt động, phospho, kali và canxi khác nhau nhưng luôn cao hơn lớpđất xung quanh [13] Các nhóm vi sinh yật, đặc biệt là vi khuẩn cố định đạmtrong ruột và phân giun đất cũng làm tăng thêm độ phì nhiêu cho đất Nhiều kếtquả nghiên cứu cho thấy giun đất góp phần rất lớn để làm tăng sự phát triển củathực vật nói chung và tăng sản lượng cây trồng nói riêng [3]
Trong nông nghiệp, giun đất là một trợ thủ đắc lực của người nông dân.Với hoạt động cơ học của mình, giun đất giúp giảm đáng kể công đoạn làm đấtnhất là công cày, cuốc, giun làm tăng độ phì nhiêu cho đất Trong nông nghiệphiện nay phân bón hóa học là nguồn bổ sung dinh dưỡng chính cho cây trồng,nhưng do việc sử dụng không hợp lí nên lượng phân bón trở thành hiểm họa chomôi trường, đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước ngầm Giun đất đã góp phần giảiquyết vấn đề này [5] Nhờ vai trò to lớn trong việc cải tạo đất của mình giun đất
đã được Aristot (384-322 trước công nguyên) coi là “ruột của đất trồng” C.Darwin đã nhận xét một cách rất hình tượng và chính xác “cái cày là một trongnhững phát minh cổ nhất và có ý nghĩa nhất của con người, nhưng trước đó rấtlâu, đất được giun đất cày xói và sẽ còn mãi được giun đất cày xới” [26]
Ngoài ra, dựa trên cơ sở thành phần loài và các biểu hiện về số lượng,người ta còn dùng giun đất như một nhóm động vật chỉ thị cho các vùng đất hoặcmức độ thay đổi cảnh quan, còn nếu dựa vào phân bố của từng loài giun đất CÓ
Trang 28thể chỉ thị cho tính chất của đất như Pheretỉma posthuma thường gặp ở đất cát pha, Pheretima elongate ở đất nặng, Pontoscolex corethrurus ở đất nghèo mùn và
chua [26]
Do thịt giun đất có giá trị dinh dưỡng cao nên ttong tự nhiên chúng lànguồn thức ăn phong phú của nhiều nhóm động vật như chim, rùa, rắn, cá Ngoài ra, giun đất cũng là mắt xích vật chất quan trọng trong chuỗi và lưới thức
ăn góp phần khép kín chu trình tự nhiên Đa số chúng là sinh vật tiêu thụ bậc 1chúng ăn vụn hữu cơ trong đất [34]
Nhiều vùng ở nước ta và nhiều nước trên thế giới đã tiến hành gây nuôigiun đất trên quy mô gia đình hoặc công nghiệp để làm thức ăn chăn nuôi cho giacầm, cá, ếch, ba ba, lươn Giun đất đã được sử dụng trong y học dân gian đểchữa một số bệnh sốt rét, hen suyễn, đậu mùa với tên gọi là “Địa long” [20]
Khi sống trong đất, một số loài giun còn là vật chủ trung gian truyền một
số giun sán kí sinh như Giun phổi, Giun thận [26].
về mặt lí thuyết, nghiên cứu giun đất góp thêm dữ liệu hình dung conđường chuyển từ nước lên cạn của động vật, góp phần hình dung quá trình hìnhthành đơn vị bậc loài, dưới loài và sự tiến hóa của các hệ cơ quan động vật [26],[34]
Chutmg 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, vật lỉệu nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cửu
Trang 29Giống chè LDP 2 được 11 tuổi trồng tại Trại Thực hành thực tập
Trang 35-Hình 2.1 Khu bố trí thí nghiệm Giống chè LDP2: Được tạo ra từ tổ hợp lai giữa cây mẹ đại Bạch Trà (Trung quốc) và cây bố PHI (Ẩn Độ), có năng suất cao, chọn lọc theo phương pháp chọn dòng.
Đặc điểm giống chè LDP2:
về hình thái: Diện tích lá trung bình 20-25 cm2, lá có màu xanh nhạt, láthuôn dài, đàu lá nhọn, dài, có thời gian bật búp sớm
về sinh trưởng' Sinh trưởng khỏe, tán rộng, phân cành sớm Búp có màu
xanh nhạt, non hơi phớt tím, trọng lượng búp (1 tôm, 2 lá) từ 0,45-0,55 g Khảnăng chống chịu với điều kiện bất lợi tốt, năng suất khá cao, tuổi 10 đạt 15 tấn/ha
Trường Trung cấp Kinh tế Kĩ thuật Yên Bái (hình 2.1).
Trang 36về chất lượng' Chế biến chè đen chất lượng khá Thành phần các hợp chất
Tanin 34,1%; Chất hòa tan 43,85%; Catechin tổng số (mg/lOOg) 139,0
Đây là giống dễ giâm cành và có hệ số nhân giống cao, cây con sinhtrưởng khỏe cả ở vườn ươm và sau trồng, tỉ lệ sống cao
Phạm vỉ áp dụng: Giống LDP2 đang được phổ biến ở hàu hết các tinh
trồng chè phía Bắc Khả năng thích ứng rộng, chống chịu hạn hán và sâu bệnh tốt,đặc biệt chịu được điều kiện nóng hạn của miền Trung Thích hợp ừồng ở nhữngvùng đồi núi thấp dưới 500m so mực nước biển
2.1.2.Vật liệu nghiên cứu
- Đất trồng chè nơi thí nghiệm: Đất feralit, có dộ dốc 5%.
- Phân bón gồm:
+ Phân chuồng: là loại phân trâu bò đã ủ sẵn có tại địa phương
+ Phân hóa học: Đạm, lân, kali
2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu
Địa điểm: Tại Trại thực hành thực tập, Trường Trung cấp Kinh tế Kĩ thuật,
tình Yên Bái
Thời gian: Từ tháng 1 năm 2014 đến tháng 10 năm 2014.
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1.Phương pháp điều tra, thu thập số liệu
Điều ừa điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội theo phương pháp thu thập
Số liệu từ các nguồn: Phòng thống kê, Phòng nông nghiệp, Trạm khí tượng thủyvăn tỉnh Yên Bái, Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn
Tình hình sản xuất chè từ các nguồn Phòng thống kê, Phòng nông nghiệp
và Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn
2.3.2 Phương pháp bổ trí thí nghiệm đồng ruộng
2.3.2.1 Bố trí thí nghiệm
Trang 37Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh, gồm 4 công thức vói 3 lần nhắc lại, diện tích mỗi lần nhắc lại là 50 m2.
Công thức 1: Không bón phân (đối chứng)
Công thức 2: Bón phân hóa học (2,6 kg đạm + 3,8 kg lân + 1,3 kg
Kali) Công thức 3: Bón phân hữu cơ (50 kg phân chuồng hoai mục)
Công thức 4: Bón phân hóa học kết họp với phân hữu cơ (2,6 kg đạm +3,8kg lân + 1,3 kg Kali và 50 kg phân chuồng hoai mục)
Lưu ý: tính lượng phân bón cho 1 ô diện tích 50 m2 theo tiêu chuẩn ngành chè
Thời gian bón phân:
Bón phân chuồng vào 15/12/2013
Bón phân hóa học chia 2 lần: Lần 1 vào ngày 15/2/2014 và lần 2 vào 1/5/2014
Cách bón phân: Bón vào giữa 2 hàng chè, rạch hàng sâu 20 cm cho phân
•
CT 2 - m C T 2 - I I C T 3 - I vê
•
Dải bảo yệ
2.3.2.2 Các chỉ tiêu theo dõi
a Chỉ tiêu năng suất, các yểu tổ cấu thành năng suất và hiệu quả kỉnh tể
* Các yếu tố cấu thành năng suất:
Trang 38- Mật độ búp (búp/m2): Dùng khung vuông 25 X 25 cm, tính số yết hái ttongkhung ở các vị trí giữa tán, rìa tán, lấy tri số trung bình và quy ra sốbúp/m2, theo dõi theo lứa hái.
- Trọng lượng búp 1 tôm 2 lá (gam): Hái ngẫu nhiên 100 búp 1 tôm 2 látheo 5 điểm ở mỗi công thức, đem cân trên cân kỹ thuật, lấy ữị số trungbình, rồi quy ra trọng lượng của 1 búp, theo dõi theo lứa hái
- Tỷ lệ búp có tôm (%): Cân ngẫu nhiên 100 gam chè búp tươi, đếm tổng sốbúp, số búp có tôm, rồi quy ra % búp có tôm, theo dõi theo lứa hái
Số búp có tôm Tỷ lệ búp có tôm (%) = -тр -7-Ị-7 -X 100
* Năng suất: Theo dõi năng suất thực thu trên các ô thí nghiệm ở từng lứa
hái tính ra tạ búp tươi trên ha.Theo dõi số lứa hái trên các thí nghiệm trong
vụ xuân và vụ hè
Năng suất lí thuyết (tạ búp tươi/ha): Khối lượng của 1 búp X mật độ
búp/m2 X diện tích mặt tán/ha
Năng suất thực thu: cân số kg búp tươi/ ô quy ra tạ/ha
* Chỉ tiêu kinh tể (hiệu quả kinh tế)
Lãi thuần = Tổng thu - tổng chi
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu đối với giun đắt
Trên mỗi công thức đào 3 hố với kích thước 50 X 50 X 50 cm, đếm số giunđất, có trong đó và quy ra số cá thể/m2
Sơ đồ thu mẫu: trong 1 ô thí nghiệm 5m2 có 3 hố đào giun
Trang 39+ Đợt 1: Ngày 15/1/2014 Trước khi bón phân chuồng cho chè.
+ Đợt 2: Ngày 15/3/2014 Ngay sau khi thu hoạch vụ xuân
+ Đợt 3: Ngày 15/5/2014 Sau khi bón phân hóa học lần 2
+ Đợt 4: Ngày 15/7/2014 Ngay sau khi thu hoạch vụ hè
Phưoug pháp thu mẫu
+ Phương pháp thu mẫu định lượng'.
Ngay trước khi làm đất và sau khi thu hoạch ở mỗi ô thí nghiệm:
Đào 3 hố nhỏ, mỗi hố nhỏ 50cm X 50 cm, thu theo từng tàng đất dày 10 cm.
Bắt giun trong các tầng đất, cho vào túi vải có nhãn ghi rõ tầng đất, sinh cảnh, thời gian thu mẫu
+ Phương pháp định hình và bảo quản mẫu vật:
Mau giun đất sau khi thu được rửa bằng nước sạch cho sạch đất và vụn hữu
cơ bám ngoài
Làm giun chết trong dung dịch formalin 2%
Sau đó đưa mẫu vào dung dịch formalin 4% định hình trong trạng thái duỗi
và giữ lâu dài
Việc thu mẫu định lượng được tiến hành theo các phương pháp thu mẫu động vật đất của Ghiliarow M.s (1975)
Phương pháp phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm
Trang 40+ Phương pháp định loại giun đất'.
Mau sau khi định hình sẽ tiến hành định loại theo tài liệu chuyên ngành:
“Khóa định loại giun đất ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu LongViệt Nam” (Thái Trần Bái, 1986) Chúng tôi căn cứ vào các đặc điểm hình thái
và giải phẫu: Đai sinh dục, vị trí, số lượng nhú phụ, nhú đực, lỗ nhận tinh, sốlượng tơ, manh tràng, màu sắc bên ngoài Việc xác định tên cho một loài cụ thểđược tiến hành ở trong phòng thí nghiệm bộ môn Động vật học, khoa Sinh học,trường Đại học Sư phạm Hà Nội
+ Phương pháp tỉnh số lượng và sinh khối:
Tính số lượng cá thể (n): Đối với con nguyên vẹn tính cả con non và con
trưởng thành Đối vói con bị đứt chỉ tính phàn đầu mói là một con, phần đuôikhông tính
Tính sình khối (p): sinh khối được tính bằng trọng lượng giun đất sau khi
định hình mẫu bằng foocmaIin 4%, kể cả phần thức ăn ừong một của giun Cânbằng cân phân tích với độ chính xác đến 0,1 g
Tính phần trăm số cá thể thu được (kí hiệu: n%) Và phàn trăm tổng số
sinh khối thu được (kí hiệu: p%)
Các số liệu được tính trên đơn vị tương ứng là lm2 n
n % (loài): (Tổng số cá thể của loài/ tổng số các cá thể thu được)
X100% p % (loài): (Tổng số sinh khối của loài/ tổng số sinh khốithu
được) X 100%