Việc tìm hiểu về nền giáo dục nước ta qua các thời kì cần phải gắn liền với hoàn cảnh lịch sử - xã hội cụ thể, sự hình thành và phát triển của ngành sư phạm, tên tuổi của những nhà giáo
Trang 1TRUYỀN THỐNG NGÀNH SƯ PHẠM VIỆT NAM
Nền giáo dục Việt Nam được hình thành, phát triển qua nhiều thời kì khác nhau, với nhữngđối tượng giáo dục, nội dung giáo dục, tư tưởng giáo dục, chính sách giáo dục… không giống nhau Ta có thể phân loại nền giáo dục Việt Nam theo 3 giai đoạn chính:
- Giáo dục Việt Nam trước thế kỉ XX ( giáo dục thời phong kiến)
- Giáo dục Việt Nam hiện nay
Việc tìm hiểu về nền giáo dục nước ta qua các thời kì cần phải gắn liền với hoàn cảnh lịch sử - xã hội cụ thể, sự hình thành và phát triển của ngành sư phạm, tên tuổi của những nhà giáo có đóng góp to lớn cho cải cách giáo dục Việt Nam từ xưa đến nay Cụ thể như sau:
A – GIÁO DỤC VIỆT NAM TRƯỚC THẾ KỈ XX
( GIÁO DỤC THỜI PHONG KIẾN)
I Quá trình hình thành và phát triển, các đặc điểm của giáo dục thời phong kiến
Năm 1010, khi Lý Công Uẩn định đô tại Thăng Long, nền giáo dục kinh đô bắt đầu được gây dựng và phát triển với sự ra đời của Văn Miếu (1070) và Quốc Tử Giám (1076) mở đầu cho sự phát triển rực rỡ của sự nghiệp giáo dục Việt Nam
1 Hệ thống giáo dục chính thống: do các triều đại phong kiến quản lí, nhằm đào tạo
tầng lớp nho sĩ trí thức, quan lại trung thành với các triều đại
2 Đội ngũ học quan: vừa trông coi việc học, vừa trực tiếp giảng dạy, sát hạch, gồm:
quan tế tửu, tư nghiệp, học chính (ở Quốc Tử Giám), đốc học (ở tỉnh), giáo thụ và huấn
đạo (ở phủ, huyện)
3 Chương trình học của giáo dục phong kiến: sử dụng chủ yếu 2 bộ sách kinh điển của
Nho giáo là Tứ thư và Ngũ kinh Chữ Hán là chữ chính thống trong nhà trường phong
kiến, song bên cạnh chữ Hán là chữ Nôm xuất hiện từ thế kỉ 13
4 Về trường học: có các loại hình trường dành cho con em hoàng thân, quốc thích, gia
đình quý tộc và trường học dành cho dân thường
- Quốc tử Giám là trường công lập đầu tiên, lớn nhất nước, được xây dựng ở kinh đô
Đây là trường dành riêng cho con em quý tộc và gia đình quyền quý
- Tam quán là 3 trường học thời Lê dành cho con cháu quan lại, hoàng thân quốc thích
gồm: Sùng văn quán (năm 1505 đổi tên là Chiêu văn quán), Nho lâm quán và Tú lâm
cục Tam quán ra đời vào khoảng từ năm 1434 đến năm 1439
- Các trường ở tỉnh, phủ, huyện: trước năm 1281, không có trường công lập do Nhà
nước mở ở địa phương Đời Trần, năm 1281 mở trường công lập ở phủ Thiên Trường
Cuối đời Trần, Hồ Quý Ly chủ trương mở trường ở các phủ lị nhưng việc chưa thực hiên
được mấy thì Minh xâm lược
- Thời Lê, hầu như tất cả các lộ, phủ đều tổ chức được trường, đặt chức Giám thụ (Huấn
đạo) để trông coi việc học
- Thời nhà Nguyễn, các trường học ở địa phương được tổ chức hầu hết ở các huyện, các
phủ và các tỉnh, đặt chức Đốc học để đôn đốc việc học
- Các dạng trường tư thục, dân lập, nửa công lập, nửa dân lập: thời Lê, từ cấp tổng đến
Trang 2xã, thôn việc học phải do dân tự lo, Nhà nước chỉ góp sức một phần Thời Tây Sơn, cáctrường học ở xã phải do dân xã lập ra và cử người dạy, Nhà nước làm nhiệm vụ côngnhận tư cách người thầy sau khi đã qua kiểm tra xem xét Thời Nguyễn, các trường ởTổng được lập ra trên cơ sở Nhà nước cử thầy giáo sau khi đã chọn lựa, nhưng khôngnằm trong hệ thống quan chế, Nhà nước chỉ trả một số tiền ít ỏi với tính chất giúp đỡ,không làm nhà học, ngồi dạy ở đâu cũng được Đây là hình thức nửa công lập nửa dânlập.
- Ngoài ra, loại hình trường chiếm đa số trong xã hội là lớp tư gia và trường tư Loạihình này rất được tín nhiệm trong thời trước Lớp tư gia thì mờ thầy đồ về dạy Trường tưthì lớn hơn như trường của Chu Văn An…
5 Chế độ thi cử thời phong kiến : được chia thành 3 cấp: Thi Hương, Thi Hội, và Thi
Đình.
- Thi Hương: Chữ “Hương” ở đây không phải “hương hoa” mà từ chữ “quê hương”.
Nghĩa là dầu ở đâu mà muốn ghi danh đi thi thì phải về tận quê hương mình để dự thi Vìthế, thi Hương luôn luôn được tổ chức tại địa phương và được tổ chức từng 3 năm mộtvào các năm Tị - Sửu - Mẹo - Dần của 12 chi theo lịch Trung quốc Năm 1884, triều đình
ra điều lệ thi mới về tuyển người: nhất cử tam tú Nghĩa là cứ lấy một người đỗ cử nhânthì cho 3 người đỗ tú tài Thời gian thi không phải chỉ có một hai ngày mà tới cả thángcho một khoa thi Năm 1918 là năm khoa thi Hương được tổ chức lần cuối cùng của chế
độ thi cử thời phong kiến tại 4 địa phương: Thừa Thiên, Bình Định, Nghệ An, và ThanhHóa Sở dĩ sau đó không còn tổ chức thi Hương nữa là vì chế độ thi cử của thực dân Pháp
đã được thay thế
- Thi Hội: Nếu thi Hương được tổ chức tại các địa phương thì thi Hội chỉ được tổ chức
tại triều đình mà thôi Thi Hội được tổ chức cũng cứ 3 năm một lần, sau mỗi kỳ thiHương Nghĩa là ai đậu kỳ thi Hương thì sang năm được ghi danh thi Hội
- Thi Đình: Khác với Thi Hội, Thi Đình do chính nhà vua ra đề thi Điểm đậu cao nhất là
10 điểm Nếu ai đậu được điểm này gọi là “Trạng Nguyên” Từ năm 1822 tới năm 1919,tổng số có 39 kỳ thi Đình để chọn được 219 tiến sĩ Năm 1842 là năm có số đỗ tiến sĩ caonhất là 13 vị Năm 1865 số tiến sĩ đỗ thấp nhất chỉ có 3 vị Như vậy, trung bình cứ mỗi
kỳ thi Đình thì có 7 người đậu “tiến sĩ”
6 Đối tượng giáo dục
Dưới thời phong kiến, đại bộ phận nông dân, dân nghèo, phụ nữ không được đi học donhững quy định ngặt nghèo của xã hội phong kiến Ngay từ thời nhà Lê đã có lệnh "bảokết hương thí" và "cung khai tam đại" Hễ là con cháu nhà xướng ca (như Đào Duy Từ)hay có tội với triều đình thì không được dự thi Cùng với hệ thống giáo dục do triều đìnhquản lí, còn có loại trường làng, xã của các thầy đồ Nhiều người đỗ đạt cao đã từ quan
về quê mở trường dạy học như Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Thiếp, …Khoa thi Hội cuối cùng vào năm 1919, chấm dứt lịch sử việc học và thi bằng chữ Hántrên đất Việt Nam
Nhìn chung, hệ thống giáo dục thời phong kiến đáp ứng được ý chí của giai cấpthống trị thời bấy giờ Đó là việc đào tạo tầng lớp nho sĩ trí thức, quan lại trung thành với
các triều đại Vì vậy, mục đích lớn nhất của người học như trên đã trình bày là học
để làm quan Về nội dung và phương thức học cũng vì thế mà tuân theo những quy định
ngặt nghèo của chế độ khoa cử thời đó Nhà trường không có nhiệm vụ đào tạo nghềnghiệp, mà chủ yếu truyền lại cho thế hệ con em đang lớn lên những tri thức và đạo lý
Trang 3của cha ông Truyền lại cho học sinh vốn văn hóa ấy là nhiệm vụ hàng đầu của nhà
trường được thực hiện với một phương thức học hành cổ điển: thầy giảng, trò ghi nhận,
cộng với học thuộc sách kinh điển, thầy kiểm tra bằng cách ra bài, hay chất vấn Học một
nội dung chương trình được quy định rõ rằng, thầy đóng vai trò chủ động, học trò
đóng vai thụ động ( thụ giáo), lấy trí nhớ làm gốc.
II Thành tựu của giáo dục phong kiến.
1 Xây dựng Văn miếu và trường Quốc Tử Giám – Trường đại học đầu tiên ở nước ta.
-Văn Miếu được xây dựng từ năm 1070 dưới thời Vua Lý Thánh Tông (1054-1072), có tạc tượng Chu Công, Khổng Tử cùng tứ phối là Nhan Tử, Tăng Tử, Tư Tử, Mạnh Tử và hình vẽ các hiền nho để thờ cúng, bốn mùa tế lễ
- Năm 1076, Vua Lý Nhân Tông cho xây nhà Quốc Tử Giám kề sau Văn Miếu Khi mới xây dựng, trường chỉ dành riêng cho con vua và con các bậc đại quyền quý ( nên gọi tên là Quốc Tử )
- Từ năm 1253, Vua Trần Thái Tông cho mở rộng Quốc Tử Giám và thu nhận cả con cái thường dân có học lực xuất sắc
- Đời vua Trần Minh Tông, Chu Văn An được cử làm quan Quốc Tử Giám Tư nghiệp (Hiệu trưởng) và thầy dạy trực tiếp của các hoàng tử Đến năm 1370 Chu Văn An qua đời được Vua Trần Nghệ Tông cho thờ ở Văn Miếu bên cạnh Khổng Tử
- Sang thời Hậu Lê, Nho giáo rất thịnh hành Vào năm 1484, Vua Lê Thánh Tông cho dựng bia Tiến sĩ của những người đỗ Tiến sĩ từ khóa thi năm 1442 trở đi Nay chỉ còn lại 82 tấm bia tiến sĩ
- Năm 1762, vua Lê Hiển Tông cho sửa lại Quốc Tử giám làm Cơ sở đào tạo và giáo dục cao cấp của triều đình
- Năm 1785 Quốc Tử Giám được đổi thành nhà Thái học
- Đến đầu thời Nguyễn, năm 1802, Gia Long bãi bỏ trường Quốc Tử Giám ở Hà Nội, đổi nhà Thái Học làm nhà Khải Thánh để thờ cha mẹ Khổng Tử và xây dựng Khuê Văn Các ở trước Văn Miếu Đầu năm
1947, giặc Pháp nã đạn đại bác làm đổ sập căn nhà, chỉ còn cái nền với hai cột đá và 4 nghiên đá
2 Đào tạo được một đội ngũ quan lại, tiến sĩ lớn phục vụ cho xã hội phong kiến
- Trạng nguyên là danh hiệu thuộc học vị Tiến sĩ của người đỗ cao nhất trong các khoa đình thời phong
kiến ở Việt Nam của các triều nhà Lý, Trần, Lê, và Mạc, kể từ khi có danh hiệu Tam khôi dành cho 3 vị trí đầu tiên Người đỗ Trạng nguyên nói riêng và đỗ tiến sĩ nói chung phải vượt qua 3 kỳ thi: thi hương, thi hội và thi đình
- Tổng số các tiến sĩ, phó bảng và tương đương (trúng tuyển thi Hội) kể từ khoa thi đầu tiên 1075 đến
khoa thi cuối cùng 1919 là 2.848 người
III Một số thầy giáo tiêu biểu của nền giáo dục phong kiến Việt Nam.
1 Thầy giáo Lê Văn Hưu ( 1280 – 1322)
- Lê Văn Hưu là nhà sử học đời nhà Trần, tác giả bộ Đại Việt sử ký, bộ quốc sử đầu tiên của Việt Nam
Bộ sách này không còn nhưng nhờ nó mà sử gia Ngô Sĩ Liên đã dựa vào để soạn bộ Đại Việt sử ký toàn thư.
- Lê Văn Hưu là người làng Phủ Lý (tục gọi Kẻ Rỵ), huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa, nay thuộc xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa
- Năm Đinh Mùi (1247), Lê Văn Hưu đi thi, đỗ Bảng nhãn khi mới 17 tuổi
Sau khi thi đỗ, ông được giữ chức Kiểm pháp quan, rồi Binh bộ Thượng thư, sau đó Hàn lâm viện học sĩ kiêm Quốc sử Viện giám tu Ông cũng là thầy học của Thượng tướng Trần Quang Khải
Trang 4- Trong thời gian làm việc ở Quốc sử Viện, theo lệnh vua Trần Thái Tông, Lê Văn Hưu đã hoàn thành
việc biên soạn Đại Việt sử ký - bộ quốc sử đầu tiên của Việt Nam - ghi lại những sự việc quan trọng chủ
yếu trong một thời gian lịch sử dài gần 15 thế kỷ, từ Triệu Vũ đế - tức Triệu Đà - cho tới Lý Chiêu
Hoàng Đại Việt sử ký tất cả gồm 30 quyển, hoàn thành năm 1272 và được Trần Thánh Tông xuống chiếu
ban khen
2 Thầy giáo Chu Văn An ( 1292 – 1370 )
- Chu Văn An (1292 - 1370) còn được gọi là Chu An, Chu Văn Trinh, tự là Linh Triệt, hiệu là Tiều Ẩn,
người thôn Văn, xã Quang Liệt, huyện Thanh Đàm (nay là Thanh Trì), Hà Nội Những ghi chép về nghiệp học của ông thuở thiếu thời hiện không thống nhất Có sách ghi ông thi đỗ Thái học sinh (Tiến sỹ), lại có ý kiến khác cho rằng ông không đỗ đạt gì Đời Vua Trần Minh Tông, Chu Văn An được mời ragiữ chức Tư nghiệp Trường Quốc Tử Giám Đến đời Trần Dụ Tông, ông từ chức về ở ẩn tại Làng Kiệt Đặc, Huyện Chí Linh (Hải Dương), làm nhà ở giữa hai ngọn núi Kỳ Lân – Phượng Hoàng và mở trường dạy học Ít năm sau khi lên ngôi, Vua Trần Dụ Tông có chỉ triệu Chu Văn An hồi triều nhưng ông từ chốinên Vua tỏ ý giận dữ Thân mẫu Vua là Hoàng Thái hậu Bảo Từ khuyên: “Người ấy là bậc cao hiền, Thiên tử không có quyền bắt người ta làm tôi được” Khi Trần Nghệ Tông lên ngôi, có mời nhưng ông chỉ về Kinh chúc mừng, rồi trở lại núi cũ, không nhận chức tước Sau khi Chu Văn An mất, ông được triều đình truy tặng tước Văn Trinh Công (tên gọi Chu Văn Trinh là do sự ân tặng này) Ông được ban tên thụy là Khanh Tiết và thờ ở Văn Miếu
- Nét nổi bật hơn cả ở con người Chu Văn An đó là một người thầy mẫu mực trong lịch sử đất nước ta
Từ trước đời Trần, có biết bao nhiêu người thầy với những cống hiến lớn lao, và các triều đại về sau lại càng nhiều những bậc tôn sư đạo cao đức trọng, thế nhưng không ai có thể so sánh được với Chu Văn
An Người thầy này có nhiều điều đáng quý:
+ Ông đã dạy các lứa học trò từ bậc cao nhất cho đến lớp học trò bình thường ở nông thôn Ông là thầy (Tư phó) ở Trường Quốc Tử Giám dạy con em các vua quan Ông đã mở một trường tư nhỏ tại huyện Thanh Đàm, lấy tên là trường Huỳnh Cung (làng Cung Huỳnh, cạnh làng Văn, huyện trên, nơi Chu Văn
An làm nhà đọc sách) Tuy trường nhỏ nhưng đã thu nạp hàng ngàn môn sinh đến chật cửa Chính từ trường Huỳnh Cung này mà Chu Văn An nức tiếng, được Vua mời về Quốc Tử Giám
+ Về phương pháp dạy học, Chu Văn An có một phong cách đặc biệt hấp dẫn, khiến cho mọi người đều phải kính nể, tôn phục Tài liệu xưa còn ghi lại, ông rất nghiêm nghị và gương mẫu Những học trò
cũ đã làm quan to như Phạm Sư Mạnh, Lê Quát lúc về thăm ông vẫn phải khép nép giữ gìn, và sau khi cóđiều gì chưa đúng phép, ông vẫn nghiêm khắc dạy bảo Sự nghiêm minh này càng khiến ông được học trò kính mến hơn
- Sinh thời, Chu Văn An luôn luôn được dân chúng ca ngợi về phẩm chất thanh cao tuyệt vời của ông Ông được tôn là “ Vạn thế sư biểu”, nghĩa là người thầy chuẩn mực của Việt Nam muôn đời Sau khi ôngqua đời, triều đình đã đưa ông vào thờ ở Văn Miếu, xem ông ngang hàng với những bậc Thánh hiền ngàyxưa
Người dân vùng quê Thanh Đàm thờ ông làm Thành hoàng và gọi là đức Thánh Chu Việt Nam có nhữngthánh võ như Thánh Dóng, Thánh Trần, thì cũng phải có cả Thánh văn Thánh văn là nhà giáo, là thầy Chu Văn An Những di tích trong nước có liên quan đến ông đều gắn với uy danh người thầy giáo: Đền Thanh Liệt, Đền Huỳnh Cung, Đền Văn Điển, Đền Phượng Sơn, Mả Thuồng Luồng, Đầm Mực, Linh Đàm, v.v… Vị trí của ông trong lịch sử giáo dục Việt Nam hoàn toàn được khẳng định
Thầy Chu Văn An mở trường Huỳnh Cung ở một làng quê giáp với làng mẹ sinh sống Trường của thầy có Hội đồng môn do thầy chọn trong các môn sinh Và Hội đồng tôn suy tôn trưởng tràng là người giỏi giang và phẩm chất tốt Do uyên bác, thầy Chu Văn An đủ sức dạy môn sinh học liền 10 năm để nộpquyển dự các kỳ thi hương, thi hội, thi đình, tức tú tài, cử nhân, tiến sĩ Các môn sinh của thầy, sử sách còn ghi lại: Phạm Sư Mạnh, Lê Quát đỗ Thái học sinh đời vua Trần Anh Tông đã làm quan trọng triều đến chức Hành Khiển (Tể tướng)
Trang 53 Hồ Quý Ly ( TK XIV)
Hồ Quý Ly (1336–1407) là một vị vua Việt Nam, người đã tiến thân từ một đại thần dưới thời nhà
Trần để khởi đầu nhà Hồ trong lịch sử Việt Nam Trong thời gian cầm quyền, ông đã thực hiện nhiều cải cách quan trọng, nhưng bị thất bại trong việc hợp sức toàn dân chống lại cuộc xâm lăng của nhà Minh
Hồ Quý Ly không hẳn là một nhà giáo mặc dầu ông từng đảm nhận việc dạy các hoàng tử và người trong cung Ông là nhà cầm quyền chính trị, và trước cũng như sau ngày lên ngôi, về mặt giáo dục, ông
là người có nhiều ý kiến và biện pháp cải cách táo bạo và sắc sảo 2 Ý đồ cải cách giáo dục của Hồ Quý Ly: Nhận thức và tổ chức thực hiện
a Những nhận thức độc đáo riêng của Hồ Quý Ly
- Trước hết là thái độ của Hồ Quý Ly với Khổng Tử và Tống Nho Trong khi Nho học đề cao Khổng
Tử thì Quý Ly đưa ra 14 thiên Minh Đạo dâng Trần Nghệ Tông, trong đó đại lược khen Chu Công hơn Khổng Tử Phải xem Chu Công là tiên thánh, thờ ở giữa Văn Miếu, còn Khổng Tử thì chỉ là thầy (tiên sư) thờ bên cạnh
- Ông cũng nêu những điều ngờ vực trong Luận ngữ Từ nhận thức này Hồ Quý Ly có thái độ quan tâm đến văn hoá nước nhà, quan tâm đến lối học thực dụng, chẳng hạn ông quan tâm đến chữ Nôm, thơ Nôm, ông chú ý đến môn toán Kỳ thi năm 1393 gọi là thi lại viên, ông cho tổ chức cả thi chữ nghĩa lẫn thi sự vụ hành chính
b Việc tổ chức giáo dục dưới thời Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương
- Những nội dung cải cách giáo dục của Hồ Quý Ly tiến hành trong thời gian ông cầm quyền rất đáng kể Từ năm 1383 ông đã cho lập một thư viện trên núi Lạn Kha và dùng Trần Tôn làm Viện trưởng để dạy học trò Năm 1396 ông định lại phép thi, bãi bỏ những gì thiếu sáng tạo Đến năm
1402 lại thay đổi một lần nữa Trước đó lệ thi chỉ có 3 đến 4 kỳ, nay thêm kỳ thứ 5 phải viết tập và làm toán Sự mở đường cho toán học bắt đầu từ đây Việc tổ chức các kỳ thi như vậy là khá toàn diện,
có thi Thái học Sinh (chữ nghĩa), có thi Lại viên (sự vụ hành chính) chứ không thiên về lý thuyết như xưa
- Ông cũng rất chú ý yêu cầu mở rộng giáo dục ở cơ sở Mặc dù triều Hồ không mấy dài, nhưng một lớp nhân tài cho đất nước cũng đã được xuất hiện Có những nhân vật mà lịch sử không thể nào quên: Nguyễn Trãi, Nguyễn Mộng Tuân, Lý Tử Tấn, Hồ Nguyên Trừng Giáo dục thời Hồ Quý Ly, riêng những thành quả trên cũng đáng được ghi công đầu trong lịch sử
Bà nổi tiếng là người đẹp nhất vùng Sau khi cha chết, bà phải cùng mẹ tần tảo nuôi dạy các
em, phải đem chiếu đi bán và trong một lần lên kinh thành bán chiếu bà đã gặp Nguyễn Trãi, rồi trở thành người bạn đời của Nguyễn Trãi, cùng Nguyễn Trãi vào Lam Sơn tụ nghĩa Tại Lam Sơn, Nguyễn Thị Lộ là trợ thủ đắc lực cho ông mọi công việc
- Từ thời ở Lam Sơn bà đã làm thày dạy con em thủ lĩnh và nghĩa quân Thái Tông lên ngôi bà
được tuyển vào cung, phong làm Lễ nghi học sĩ Bà là người phụ nữ đầu tiên ở chức vụ này.
Ở cương vị Lễ nghi học sĩ “Bà soạn thảo và cho chẩn chỉnh nhiều phong tục từ trong cung ra
Trang 6đến ngoài triều… xin chỉ dụ vua cho mở mang nền học vấn dân tộc khuyến khích phụ nữ học chữ thánh hiền.”
- Bà bị giết vào ngày 16 tháng 4 năm Nhâm Tuât (1442) sau cái chết đột ngột của vua Lê Thái Tông Cái chết oan khuất của bà trải 560 năm bước đầu mới được các nhà sử học minh oan và đang chờ một cuộc hội thảo có quy mô lớn “ để trả lại cho Nguyễn Thị Lộ những giá trị đính thực trong quốc sử và trong nhân tâm”
5 Thầy Lương Đắc Bằng ( 1472 – 1522)
- Lương Đắc Bằng (1472 - 1522 ), người làng Hội Trào (Hội Triều), huyện Hoằng Hóa, phủ Hà Trung,
trấn Thanh Hóa (nay là xã Hoằng Phong, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hóa).Lương Đắc Bằng lúc nhỏ nổi tiếng là người hay chữ, đỗ Bảng nhãn năm Kỷ Mùi 1499 Ra làm quan, được thăng đến chức Tả Thị
Lang bộ Lễ sau lại thăng lên Lại bộ Thượng thư, kiêm Đông Các Đại học sĩ, tước Đôn Trung bá Công
thần thời Lê Hiến Tông (1497-1504) đến Lê Tương Dực (1510-1516)
Năm 1510, ông thảo hịch kể tội Lê Uy Mục, khởi binh đánh đổ Uy Mục, lập Tương Dực làm vua NhưngTương Dực làm vua, tình hình cũng không khác trước Tháng 10 năm Canh Ngọ (1510), ông từng dâng
vua "Trị bình thập tứ sách" gồm 14 đề mục chính để trị dân và tạo thái bình
Trị bình thập tứ sách được vua khen ngợi nhưng không thi hành Lương Đắc Bằng cáo quan về nhà, mở
trường dạy học tại Lạch Triều và nghiên cứu lý số Nguyên thời đi sứ Trung hoa, ông có mang về bộ
Thái Ất thần kinh để tham khảo Ông rất thanh liêm và trọng đạo đức, dù làm quan lớn mà gia cảnh rất
nghèo, con phải đi gặt thuê để sống
- Học trò ông nổi tiếng có Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm Tân Hợi (1491), người tỉnh Hải Dương
6 Thầy giáo Nguyễn Bỉnh Khiêm ( 1491 – 1585)
- Ông sinh năm Tân Hợi đời vua Lê Thánh Tông, tức năm Hồng Đức thứ 22 (1491), tại thôn Cổ Am, Hải Dương, nay là huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng Sinh trưởng trong một danh gia vọng tộc, thân phụ ông là Thái bảo Nghiêm quận công Nguyễn Văn Định, thân mẫu là bà Nhữ Thị Thục, con gái quan Thượng thư Nhữ Văn Lan, là người giỏi văn thơ và am hiểu lý số, nên Nguyễn Bỉnh Khiêm từ sớm đã hấp thụ truyền thống gia giáo kỷ cương
Vì ông đỗ trạng nguyên và được phong tước Trình Tuyền hầu nên dân gian gọi ông là Trạng Trình
- Làm quan được 7 năm, ông dâng sớ hạch tội 18 lộng thần nhưng không được vua nghe nên xin cáo quan năm 1542
Khi về trí sĩ, ông dựng am Bạch Vân và lấy hiệu Bạch Vân Cư Sĩ mở trường dạy học cạnh sông Hàn giang, do đó còn có tên Tuyết giang và học trò gọi ông là "Tuyết giang Phu tử" Học trò của ông có nhiều người cũng nổi tiếng như Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, một nhà ngoại giao hay Nguyễn Dữ,
tác giả Truyền Kỳ Mạn Lục, Lương Hữu Khánh, Nguyễn Quyền
- Ông mất năm Ất Dậu (1585) hưởng thọ 94 tuổi Lễ tang ông có quan phụ chính triều đình là Ứng vương Mạc Đôn Nhượng dẫn đầu các quan đại thần về dự Việc vua Mạc cử người được vua coi như cha
Trang 7về dự lễ tang nói lên sự trân trọng rất lớn của nhà Mạc với Trạng Trình Trong buổi lễ tang ấy, Ứng
vương đã thay mặt vua truy tặng Nguyễn Bỉnh Khiêm tước Thái phó Trình quốc công.
7 Thầy giáo Nguyễn Thiếp ( 1723 – 1804)
- La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp sinh ngày 24-9-1723, mất ngày 6-2-1804, quê làng Nguyệt Ao, huyện La Sơn (nay là huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh) Ông đỗ Hương giải (1743) ra làm quan huấn đạo, tri phủ ít lâu thì cáo về, ở ẩn trên núi Thiên Nhẫn, đọc sách, nghiên cứu lý học
- Nguyễn Thiếp, lúc thiếu thời đã nổi tiếng văn tài lỗi lạc, năm 21 tuổi lần đầu thi Hương đậu ngay giải Nguyên, đến đây ông dự định không đi thi nữa, nhưng rồi bạn bè và thầy giáo vốn là Thúc phụ giục giã
nên đến năm 26 tuổi Nguyễn Thiếp đi thi Hội, "một khoa vào Tam trường" Đến đây ông đoạn tuyệt với
thi cử vì lối học theo ông là không ích nước, lợi nhà Ông về quê dạy học với chủ trương giáo dục riêng, theo lời ông thì nên theo lối dạy và học của Chu Hi đời Tống Ông chỉ làm việc thiết thực, để mong đưa nước tới một cái đạo có thể làm cho dân, nước thịnh cường Đến năm 34 tuổi, bị ràng buộc bởi tục lệ
“thi đậu thì ra làm quan giúp nước”, nhưng rồi thấy rõ thế đạo suy vi, nhân tâm phân hoá trong cuộc nội
chiến kéo dài, nên ông xa lánh người đời, cáo quan xin về ở ẩn tại trại núi Bùi Phong để vui riêng với nếp sống thanh cao tự tại của mình, đóng cửa đọc sách, làn thơ hay du ngoạn đó đây xem thiên văn, nghiên cứu địa lý
- Cũng như các vị tiền bối đạo hạnh cao niên, Nguyễn Thiếp được người đương thời tôn làm Phu tử, uytín lừng lẫy Ông không có địa vị khoa bảng cao, chỉ dạy học, rồi lui về ở ẩn Tiếng tăm của ông do phẩmchất cao thượng và quá trình tu dưỡng mà thành
- Trong những năm ra giúp nhà Tây Sơn, ngoài việc thống nhất với Quang Trung thần tốc đánh quân Thanh Nhận chức viện trưởng Viện Sùng chính, chỉ đạo việc dịch các sách chữ Hán sang chữ Nôm Tìm
đất ở Nghệ An để xây dựng Phượng Hoàng trung đô Ông còn là một người khởi xướng cải cách nền giáo dục thời bấy giờ Ông đề xuất việc chính học, nhấn mạnh việc giảng dạy đạo đức Nguyễn Thiếp
đề ra phép học: "Học cho rộng, rồi ước lược cho gọn, theo điều học biết mà làm Họa may nhân tài mới
có thể thành tựu, nhà nước nhờ nó mà yên"
- Có một điểm đáng chú ý, Nguyễn Thiếp tỏ ra vừa chú trọng học đạo đức vừa chú trọng lao
động.Quan điểm truyền thống của Nho giáo là coi trọng lao động trí óc mà coi khinh lao động chân tay Nguyễn Thiếp lại coi ngang cày ruộng với đọc sách, là một quan điểm tiến bộ, độc đáo vượt ra ngoài khuôn khổ của Nho gia Thực tế thì cuộc sống của ông cũng gắn bó với nông thôn, và việc giảng dạy đạo
lý của ông chủ yếu là làm cho con người tự bồi dưỡng nâng cao để xây dựng cuộc đời thường cho trong sạch, tiến bộ Ông dạy như thế, và đã tự mình sống như thế
8 Thầy Lê Qúy Đôn ( 1726 – 1784)
- Tên thật Lê Danh Phương, là quan của nhà Hậu Lê đồng thời có thể coi là một nhà khoa học trong
nhiều lĩnh vực
- Ông được mọi người biết đến với những công trình văn hoá, văn học xuất sắc và ông còn nổi tiếng là một nhà nho, một nhà giáo dục có đức độ, tài năng Ông mở trường lớp, thu nhận học trò và dạy họ những kiến thức, những đạo đức làm người nên tình cảm của học trò đối với ông rất sâu sắc
Trang 89 Thầy giáo Nguyễn Đình Chiểu (1822 - 1888)
- Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888), tục gọi là Đồ Chiểu (khi dạy học), tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai (sau khi bị mù); là nhà thơ lớn nhất của miền Nam Việt Nam trong nửa cuối thế kỷ 19.
- Thuở nhỏ, Nguyễn Đình Chiểu được mẹ nuôi dạy Năm lên 6, 7 tuổi, ông theo học với một ông thầy đồ
ở làng
- Năm Quý Mão (1843), ông đỗ Tú tài ở trường thi Gia Định lúc 21 tuổi Khi ấy, có một nhà họ Võ hứa
gả con gái cho ông
Năm 1847, ông ra Huế học để chờ khoa thi năm Kỷ Dậu (1849) Lần này, ông cùng đi với em trai là Nguyễn Đình Tựu (10 tuổi)
- Năm 1858, quân Pháp nổ súng vào Đà Nẵng Vấp phải sự kháng cự quyết liệt của quân và dân Việt,
họ vào Nam đánh phá thành Gia Định vào đầu năm 1859 Sau khi tòa thành này thất thủ (17 tháng 2 năm1859), Nguyễn Đình Chiểu đưa gia đình về sống ở Thanh Ba (Cần Giuộc), tức quê vợ ông
- Sau Hòa ước Nhâm Tuất 1862, ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ mất về tay Pháp, theo phong trào “tỵ địa”, Nguyễn Đình Chiểu cùng gia đình rời Thanh Ba (Cần Giuộc) về Ba Tri (Bến Tre)
- Về Ba Tri, ông tiếp tục dạy học, làm thuốc và đem ngòi bút yêu nước của mình ra phục vụ cuộc đấu tranh anh dũng của đồng bào Nam Kỳ suốt trong hơn 20 năm, dù đã mù lòa
B – GIÁO DỤC VIỆT NAM HIỆN NAY I.Mục tiêu tổng quát của nền GD VN hiện nay
- Hội nghị Trung ương 4 khóa 7 đã nêu rõ : Mục tiêu giáo dục tổng quát của nền GD nước ta tronggiai đoạn hiện nay là : nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
- Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: "Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu
Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũgiáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt";
- Quan điểm chỉ đạo phát triển GD&ĐT trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH: Mục tiêu tổng quát
của sự nghiệp GD&ĐT là tiếp tục xây dựng, hoàn thiện nền giáo dục XHCN mang tính nhân dân, dân tộc, khoa học và hiện đại Thực hiện giáo dục toàn diện ở tất cả các bậc học Chú trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, phẩm chất đạo đức, nhân cách, lối sống, nâng cao khả năng tư duy sáng tạo và năng lực thực hành
II Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
a) Thực hiện quy hoạch nhân lực ngành Giáo dục
Trang 9- Tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát, tập huấn hoạt động xây dựng, thực hiệnquy hoạch nhân lực ngành Giáo dục của các địa phương Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu, thôngtin dự báo nhu cầu nhân lực ngành Giáo dục.
- Triển khai thực hiện Chương trình phát triển ngành sư phạm và các trường sư phạm đếnnăm 2020
- Triển khai quy chế bồi dưỡng thường xuyên giáo viên mầm non, phổ thông và giáo dụcthường xuyên
b) Hoàn thiện, cải tiến chế độ, chính sách đối với đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáodục
- Xây dựng, bổ sung các văn bản về chế độ, chính sách, quy định đối với đội ngũ nhà giáo vàcán bộ quản lý giáo dục
- Xây dựng, ban hành và thực hiện các chính sách ưu đãi, nhất là chính sách tiền lương vàchế độ đãi ngộ
c) Thực hiện đề án đào tạo trình độ tiến sĩ cho giảng viên các trường đại học, cao đẳng vớiphương thức kết hợp đào tạo trong và ngoài nước Tập trung giao nhiệm vụ cho một số đại học,trường đại học và viện nghiên cứu lớn trong nước đảm nhiệm việc đào tạo tiến sĩ trong nước với
sự tham gia của các giáo sư được mời từ những đại học có uy tín trên thế giới
d) Triển khai Đề án “Đào tạo giáo viên giáo dục quốc phòng - an ninh cho các trường trunghọc phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề giai đoạn 2010 - 2016” Trình Thủtướng Chính phủ ban hành Đề án “Đào tạo giáo viên giáo dục quốc phòng - an ninh các trườngđại học, cao đẳng” và triển khai thực hiện
III.Yêu cầu về phẩm chất và năng lực của người giáo viên hiên nay.
1 Yêu cầu về phẩm chất
a) Lòng yêu nước và lí tưởng nghề nghiệp
- Người GV phải có phẩm chất chính trị và thế giới quan chủ nghĩa Mac-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tạo niềm tin và định hướng GD của Đảng và Nhà nước
- Có niềm tin cách mạng: là cơ sở để người giáo viên gắn bó cuộc đời mình với sự nghiệp cách mạng của dân tộc, sự nghiệp giáo dục mà đảng lãnh đạo
- Có niềm tin sư phạm : Là yếu tố quan trọng về phẩm chất đạo đức của người giáo viên, có niềm tin này giáo viên mới tin vào bản chất tốt đẹp của con người, vào khả năng to lớn của giáo dục
b) Lòng yêu nghề, yêu trẻ
Lòng yêu nghề: Người thầy phải thấy được tính có ích của nghề nghiệp, nhận thấy được nét hay
nét đẹp của nó
- Lòng yêu trẻ: Thể hiện ở chỗ:
Trang 10+ Sự vui sướng của người thầy khi được tiếp xúc với trẻ, khi đi vào thế giới tâm hồn rất đặc biệt của các em; người thầy thấy hạnh phúc vì khám phá ra những điều bí mật tiền ẩn trong các em.+ Luôn sẵn sang sống trong niềm vui, nỗi buồn của các em
+ Quan tâm đầy thiện chí tới HS, kể cả với em học kém và vô kỷ luật
2.Yêu cầu về năng lực
* Năng lực chung
- Có tri thức và tầm hiểu biết rộng
- Năng lực hiểu HS trong lĩnh vực GD
* Năng lực dạy học
- Năng lực chế biến tài liệu học tập
- Năng lực ngôn ngữ
* Năng lực GD
- Năng lực vạch được dự án phát triển nhân cách
- Năng lực khéo léo ứng xử sư phạm
* Các kỹ năng chuyên biệt:
- Nhóm kỹ năng giảng dạy
- Nhóm kỹ năng GD
- Nhóm kỹ năng nghiên cứu KH
- Nhóm kỹ năng hoạt động XH
Trang 11- Nhóm kỹ năng tự học.
(* SO SÁNH HỆ THỐNG GIÁO DỤC HOA KỲ VÀ VIỆT NAM HIỆN NAY
Giáo dục Hoa Kỳ Giáo dục Việt Nam
Phát triển
con người
Vì mỗi học sinh có khả năng khác nhau nên nhà trường không đặt kỳ vọng rằng tất cả học sinh đều đạt được thành tích xuất sắc như nhau
Mỗi cá nhân đều có điểm mạnh/ yếu riêng và mục đích của giáo dục là phân loại và sắp xếp các em dựa theo khả năng phù hợp
Mỗi em là một phần của tập thể, do đó nhu cầu của tập thể phải được đặt lên hàng đầu so với nhu cầu của từng cá nhân
Việc học tập
đích thực
Học không chỉ là ghi nhớ một cách hời hợt mà phải là sự đào sâu tìm hiểu về một vấn đề cụ thể và khả năng ứng dụng những kiến thức đã học vào các tình huống khác nhau
Là việc ghi nhớ các kiến thức Ghi nhớ và sao chép bằng cáchhọc thuộc lòng là những công
cụ học tập quan trọng
Hiểu biết
Bao gồm khả năng phát triển
tư duy cá nhân từ những điều được học
Tự phát triển tư duy không quan trọng bằng việc hiểu và chấp nhận những kiến thức được học
Đặt câu hỏi
trong lớp
Nhằm phát huy tư duy cá nhân,nhà trường khuyến khích học sinh đặt câu hỏi và nêu ra các ýtưởng
Học sinh có thể bị xem là vô phép nếu các em hỏi hay thắc mắc về bài giảng của giáo viên
Phản ánh kết
quả học tập
Kết quả học tập được nâng caokhi từng cá nhân chịu khó tìm tòi và khám phá
Học tập là 1 quá trình tương tác
xã hội, chỉ được nâng cao khi học sinh biết tôn trọng quá khứ
và từ đó rút ra được những bài học
Giáo viên là người chia sẻ kiếnthức và là hình mẫu của sự uyên bác cũng như đức hạnh
Môi trường
học tập
Giáo viên sẽ lồng vào bài giảng của họ những tình huốngbuộc học sinh phải tự tìm hiểu
và khám phá
Chủ yếu là giáo viên giảng- học sinh lắng nghe và ghi chép lại Khi thi, các em chỉ cần viếtđúng theo những gì đã học trong lớp là đủ Các em không được khuyến khích diễn đạt bằng chính từ ngữ của mình