1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tiểu luận: Sáng tác Nguyễn Minh Châu sau những năm đổi mới

15 2,5K 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 107,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu như trước những năm 1975 văn học là hiện thực của chiến tranh thì sau những năm 1975 không còn chiến tranh, cuộc sống thay đổi vì thế đề tài trong văn học cũng thay đổi, cuộc sống tr

Trang 1

A MỞ ĐẦU

Các vấn đề của đời sống đã đi vào văn học từ những giai đoạn trước năm

1975 và giai đoạn sau năm 1975 tiếp tục kế thừa và phát triển “hiện thực nào văn học ấy” Nếu như trước những năm 1975 văn học là hiện thực của chiến tranh thì sau những năm 1975 không còn chiến tranh, cuộc sống thay đổi vì thế đề tài trong văn học cũng thay đổi, cuộc sống trở về với những gì bình thường vốn có của nó Chính vì thế văn học cũng trở về với cuộc sống hòa bình, cùng nhau xây dựng đất nước Với cuộc sống hòa bình đòi hỏi các nhà văn phải tiếp cận và khám phá hiện thực cuộc sống một cách nhân bản với tất cả sự phức tạp vốn có của nó Trong đó Nguyễn Minh Châu thuộc tốp người đi đầu mạnh dạn nhưng lặng lẽ thay đổi tất cả cách nhìn của mình, tự tìm cách đổi mới sáng tác của mình

Nguyễn Minh Châu được mệnh danh là “một trong số những người mở đường tinh anh và tài năng nhất” của nền văn học Việt Nam hiện đại Ông sáng tác

ở rất nhiều thể loại: Tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn tuy nhiên ở giai đoạn sau

1975 truyện ngắn của ông là đặc sắc hơn cả với đề tài thế sự Ông đã có một loạt các tập truyện ngắn như “Bến quê” (1980), “Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành” (1983), “Chiếc thuyền ngoài xa”… tất cả đã làm lên tên tuổi của Nguyễn Minh Châu những năm đổi mới

B NỘI DUNG

I Những vấn đề lý thuyết.

1 Đề tài thế sự.

Khái niệm đề tài: Là khái niệm chỉ loại các hiện tượng đời sống được miêu

tả, phản ánh trực tiếp trong sáng tác văn học Đề tài là phương diện khách quan của nội dung tác phẩm [110]

Trang 2

Khái niệm thế sự: Là khái niệm để chỉ những sự việc diễn ra trong cuộc sống hàng ngày

Đề tài thế sự: Là mảng đề tài nói về những sự việc diễn ra trong cuộc sống đời thường

Cũng giống như thời kỳ sau hòa bình (1954) sau khi giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước (1975) một thời kỳ mới đã mở ra trong đời sống xã hội Việt Nam độc lập – thống nhất – hòa bình Vượt qua giai đoạn quán tính ( 1975-1985) văn học đang tạo đà phát triển mới Không chỉ phát triển theo những quy luật nội tại vốn có của bản thân, văn học giờ đây đã nhanh nhạy trước yêu cầu của cuộc sống, tiếp xúc chủ động, mạnh mẽ với các yếu tố ngoại sinh Sự tiếp xúc đa dang hơn trong môi trường văn hóa cởi mở và hội nhập đã làm thay đổi thị hiểu thẩm mỹ của người đọc và người cầm bút, thúc đẩy quá trình cách tân hiện đại hóa văn học Sau năm 1975 đất nước ta bước chân ra khỏi chiến tranh ác liệt và bắt tay xây dựng cuộc sống hòa bình, chính vì vậy ít xuất hiện những tác phẩm viết về chiến tranh thay vào đó đề tài thế sự đã khẳng định được vị thế của mình Một cuộc sống mới với biết bao điều mới mẻ, bao nhiêu mối quan hệ phức tạp

2 Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975.

Sau 1975 văn học trở về với cuộc sống đời thường, không còn những tiểu thuyết chiến tranh ác liệt, những hi sinh mất mát nữa Chính vì vậy văn học phải có

sự thay đổi cho phù hợp với đời sống và Nguyễn Minh Châu thuộc lớp người đi đầu trong việc đổi mới sáng tác Ông đã gặt hái được rất nhiều thành công trong đó bao gồm cả thể loại truyện ngắn

Trong một thời gian ngắn ông đã sáng tác được một loạt các tập truyện ngắn như:

Bến quê (1980), Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (1983), Chiếc thuyền ngoài xa (1983), Mẹ con chị Hằng, Đứa ăn cắp, Hương và Phai, Khách ở quê ra, Phiên Chợ Giát, Bức tranh…

Trang 3

II Đề tài thế sự trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975.

Trong cuộc sống thời bình, đất nước, con người bước vào thời kỳ đổi mới với muôn mặt đời thường, các quan hệ thế sự của cuộc sống riêng tư Với sự mẫn cảm của mình, Nguyễn Minh Châu đã đi sâu ngòi bút vào những vấn đề của đời sống

Với đề tài thế sự, Nguyễn Minh Châu chỉ viết những câu chuyện bình thường trong cuộc sống nhưng qua đó là những bài học vô cùng sâu sắc đối với độc giả

“Sắm vai” là truyện ngắn tiêu biểu của Nguyễn Minh Châu Nhân vật chính trong câu chuyện là anh T T có thói quen thức dậy lúc hai, ba giờ sáng và ngồi làm việc đến tận trưa mới đi ăn cho dù trong lúc ấy có hàng trăm con người dậy hối hả

ăn sáng, tập thể dục, chải tóc Nhưng đó chỉ là quá khứ còn hiện tại thì khác hoàn toàn Vì chiều theo cô vợ xinh đẹp, trẻ trung mà đã sẵn sang từ bỏ cả nếp sống quen thuộc T đã thay đổi thói quen ấy, anh cũng ngủ đến tận 5 giờ sáng, sau đó tập thể dục đến lúc mọi người ăn sáng anh cũng ăn Anh đi lấy xe đạp về cho vợ, lau chùi

xe, rồi mấy hôm sau thay hàm răng giả, nhuộm tóc…Vợ anh ở nước ngoài về anh phải chiều vợ với những cái bắt tay kiểu cách, học nhảy, nịnh vợ… Không chỉ đánh mất thói quen, đánh mất bản thân và T còn từ bỏ cả sáng tạo Qua đó Nguyễn Minh Châu muốn cảnh tỉnh con người trước lối sống tiêu dung phàm tục để rồi đánh mất

cả bản thân

Hay trong truyện ngắn “Đứa ăn ắp”, câu chuyện xoay quanh nhân vật chính

là Thoan Thoan vợ của Khánh, cô làm cấp dưỡng và hai người sống trong khu tập thể cùng với những gia đình khác Một lần có một người đàn bà trong khu tập thể

bị mất hai thước vải hoa rất đẹp phơi ngoài dây, hai ba ngày tìm khắp xó xỉnh mà không thấy rồi thấy nó ở đáy rương nhà Thoan Trước đó mọi người cũng có đôi lần bị mất cắp và tưởng chừng như những lần đó đều do Thoan lấy cả Từ đó tưởng

là hết mất cắp nhưng lâu lâu lại xảy ra cắp vặt và họ nghĩ chẳng ai khác ngoài

Trang 4

Thoan “lại chỉ có con Thoan chứ không có ai vào đây?” Cuối tháng 11 có một đợt biên chế rút gọn người trong cơ quan và quyết định trả cô cấp dưỡng Thoan về trên nhà quê sản xuất Thoan đang có bầu sắp sinh nên chồng cô muốn xin cho cô nán lại một thời gian đợi sinh xong thì về vì ở quê quá xa bệnh viện Nhưng những người đàn bà trong khu tập thể la ó, kêu ca như phải chịu đựng một thứ tai họa Rồi bao nhiêu lời chửi mắng, nguyền rủa Thoan vì vậy chồng cô quyết định đưa cô về quê Đến kỳ sinh nở vì ở xa bệnh viên nên cô bị băng huyết và chết

Câu chuyện là tội lỗi về đạo đức trước một người phụ nữ bị chết khi sinh mà người ta đã vu oan, hãm hại đơn giản như thể không chủ tâm, cố ý Chính thái độ thờ ơ vô trách nhiệm với những người cùng sống đã gây ra hậu quả nguy hại

Qua một loạt truyện ngắn về đề tài thế sự sau 1975, Nguyễn Minh Châu đã làm nổi bật lên sự tự nhận thức của con người Người họa sỹ trong “Bức tranh” vì

tự ái nghề nghiệp mà từ chối vẽ bức tranh chân dung cho người chiến sỹ để anh gửi cho mẹ để mẹ yên lòng Sau đó chính người chiến sỹ ấy đã giúp người họa sỹ vượt qua dòng lũ cuối cùng người họa sỹ cũng chịu vẽ bức chân dung và hứa mang đưa đến tận nơi cho bà mẹ Bao nhiêu bức tranh họa sỹ mất công vẽ thì không đoạt giải ngược lại bức tranh chân dung người lính đoạt giải trong cuộc triển lãm và người nghệ sỹ năm nào đã quên đi mất lời hứa của mình Ông đem bức tranh đi triển lãm

và trở thành người nổi tiếng Tình cờ người họa sỹ gặp lại người chiến sỹ trong thời bình làm nghề cắt tóc và bà mẹ mù vì khóc con quá nhiều Lương tâm người họa sỹ hết sức dằn vặt còn người chiến sỹ thì thản nhiên làm công việc cắt tóc của mình như không hề nhận ra người năm xưa Người họa sỹ đã suy nghĩ về chính mình để phản diện bản thân mình để ánh sáng, con người được thắp lên từ sự chân thành, để cái xấu, cái thấp hèn được phơi bày trước lương tâm nghiêm minh phán xét

Vấn đề trách nhiệm đạo đức trước những người lính của cuộc chiến tranh

vừa qua được Nguyễn Minh Châu viết “rất kỹ” trong truyện ngắn Bức tranh (được viết từ 1976 nhưng đến1982 mới công bố được) rất đặc sắc… Bức tranh chưa phải

Trang 5

là kiệt tác của Nguyễn Minh Châu nhưng đó là truyện ngắn bản lề báo hiệu một

bước chuyển mới trong sáng tạo văn học, dự báo một quan niệm, một bút pháp

hoàn toàn mới Trong Bức tranh, không có con người “lý tưởng hóa” mà đó là con

người đa nhân cách: Có cả cao đẹp lẫn thấp hèn Từ những dằn vặt, đối chứng của nhân vật người họa sỹ, câu hỏi lớn - nhức nhối đặt ra cần được trả lời ngay trong tác phẩm là: Chúng ta không thể vì cái danh hiệu vinh quang của cộng đồng dân tộc mà bỏ qua số phận cá nhân Cái nhìn của nhà văn đã thay đổi theo hướng nhìn thẳng vào bản chất của hiện thực: Chiến tranh không chỉ là ánh hào quang của Chủ nghĩa Anh hùng cách mạng mà còn có cả mất mát, đớn đau, giả dối; Chiến tranh còn làm “cho người ta hư đi hơn là làm người ta tốt hơn”; con người cũng không còn lấp lánh vẻ đẹp thiên thần mà hội tụ cả những ham muốn tầm thường, thấp hèn

Kế liền sau Bức tranh là Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (1983)

-những vấn đề của “hậu chiến” được Nguyễn Minh Châu suy nghĩ nghiêm túc Hoặc

có thể nói, sau âm hưởng sử thi- anh hùng ca là thứ âm hưởng khác dữ dội hơn, khốc liệt hơn trong các truyện ngắn như Bức tranh, Người đàn bà trên chuyến tàu

tốc hành Đó là âm hưởng của một nỗi đau không thể nói thành lời trước những

mất mát mà chiến tranh gây ra cho dân tộc nói chung, cho mỗi con người cụ thể nói riêng

Truyện ngắn Bức tranh có lẽ là điểm đánh dấu rất đáng kể cho một hướng

tìm tòi của nhà văn Không phải ngẫu nhiên ngay ở đầu truyện, nhân vật chính đã gọi câu chuyện của mình là “những lời tự thú” Có thể gọi đây là truyện ngắn tự thú, là truyện tự ý thức về đạo đức Đọc truyện, ta sẽ ngập dần vào “cảm giác phạm tội” của nhân vật, ngập dần vào những day dứt như là tự hành hạ mình của người

đó Anh ta, nhân vật họa sĩ có tiếng ấy, không phải là người thất bại, trái lại, là người thành đạt trong đời Cái tình thế đã thức dậy ở anh cảm giác có tội, thật ra, cũng không mấy hiển nhiên: Chuyện bà mẹ người lính bị mù vì tưởng con trai hy sinh và chuyện người họa sĩ quên lời hứa, đã không đem bức tranh hoặc tới thăm

Trang 6

bà cụ, báo tin con cụ còn sống − không hẳn là hai việc có quan hệ nhân quả tất yếu (hoặc chỉ có vẻ là nhân quả tất yếu trong cách suy nghĩ của nhân vật bây giờ) Nhưng đây chính là nét vốn có của các chuyện tự thú về đạo đức: Mức độ tội trạng thực tế càng mơ hồ, càng ít xác định bao nhiêu thì mức độ tự ý thức về tội lỗi của mình ở con người kia càng phải mạnh bấy nhiêu Vấn đề là anh ta tự thấy mình có tội, tự thấy mình phải chịu trách nhiệm về tai họa của người khác chứ không phải là thật ra anh ta có tội hay không, hoặc mức độ nặng nhẹ ra sao Một người thành công trong đời bỗng thấy mình có tội lỗi gì đấy với ai đấy, ít nhất cũng có nghĩa là anh ta thấy mình chưa hoàn thiện Và cũng có nghĩa là anh ta có khát vọng tự hoàn thiện Phương diện tích cực, đáng khích lệ của nhân vật là ở đấy Sức tác động vào

sự tự ý thức ở mỗi người đọc truyện sẽ từ đấy mà ra Những truyện loại này của Nguyễn Minh Châu không hấp dẫn người đọc ở cốt truyện gay cấn hay chi tiết đặc sắc Nó hấp dẫn người ta chủ yếu bằng độ căng của những tấn kịch nội tâm, độ căng của những thao thức dằn vặt trong bề sâu ý thức nhân vật Khá gần gũi

với Bức tranh về mặt này là Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành Câu chuyện

của nữ nhân vật chính − quân y sĩ Quỳ − có thể gọi là lịch sử một tâm hồn Nhưng, với tất cả tính chất riêng tư của con người này, ta vẫn thấy đấy là một tâm hồn mang “hệ số chung” nhiều hơn là một ngoại lệ Sẽ không thấy được cái “hệ số chung” ấy nếu tìm nó qua sự đại diện về thành phần, hoặc qua mức độ phổ biến của kiểu người, kiểu tâm trạng mà các nhân vật của Nguyễn Minh Châu có thể đại diện

“Hệ số chung” ấy, theo tôi là ở tính chất khá “tầm cỡ” của những tình thế xung đột nội tâm mà rõ ràng là nhà văn có dụng ý nhấn mạnh Nếu nhìn nhận những trường hợp của Quỳ, của anh họa sĩ như là những trường hợp thuần túy cá biệt, thì dễ cho

đó là cường điệu, là không “tự nhiên”, không “giống” như thật… Nhưng như thế thì sẽ là không hiểu tác giả, và không hiểu nghệ thuật Tôi sẽ không cố sức thuyết phục bạn đọc bằng những trích dẫn cho thấy rằng trong quan niệm mô tả nghệ thuật của phần đông các nghệ sĩ lớn của thế kỷ XX, thì “đời sống đích thực − là đời sống nội tâm” (Romain Roland) “lịch sử đích thực − là lịch sử cá nhân” (M.Gorki), rằng

Trang 7

chính quan niệm như vậy đã làm cho họ không hề lo sợ thu hẹp sức khái quát thời đại khi tập trung sự mô tả vào một mảnh đất nhỏ hơn một con tem là thế giới bên trong một con người Tôi chỉ lưu ý là ở văn xuôi Nguyễn Minh Châu, trong giai đoạn sáng tác mới đây của ông, nhất là ở thể truyện ngắn, nhà văn như đang cố sức chuyển những tương quan lớn của đời sống bên ngoài vào đời sống bên trong của một vài con người cụ thể Và đến lượt nó, cái “quy mô bên trong” đó của nhân vật, dẫu có hơi khác thường, ít “tự nhiên”, nhưng lại cho thấy tầm vóc không nhỏ bé của con người ở thời đánh giặc hôm qua cũng như ở thời đấu tranh xây dựng hôm nay Cho đến những sáng tác gần đây nhất, Nguyễn Minh Châu cũng chưa bao giờ

tỏ ra là thích thú miêu tả và miêu tả thành công phương diện gọi là “cái riêng nhỏ bé” thực sự của con người thế tục Và cái điều vừa là ưu điểm vừa là nhược điểm này ở ngòi bút ông chỉ “tố cáo” một điều: Trước sau ôngvẫn là nhà văn của những tình cảm cao cả − nếu không phải cái cao thượng của những phẩm chất người thì cũng là cái cao lớn, “tầm cỡ” của những tình thế, những vấn đề con người Tôi nghĩ

sẽ là không quá đáng lắm nếu nói rằng có thể tìm thấy dấu vết “lịch sử tâm hồn” của một hoặc một số thế hệ người đương thời trong cái “lịch sử tâm hồn” của cô y

sĩ Quỳ, “người đàn bà quá ham hố”, được trời phú cho khá nhiều ưu thế giới tính

và cũng có một đời sống tình cảm khác thường Cô yêu như thể bị “chinh phục” bởi tài năng quân sự xuất chúng của một trung đoàn trưởng, yêu từ “tầm xa”, đầy ngưỡng mộ, thán phục, nhưng không thể giữ nguyên được tình cảm ấy khi ở gần, khi thấy anh cũng bình thường, tầm thường như những người khác, “cũng mừng rỡ

hý hửng khi được thăng cấp… cũng chăn một đàn gà riêng, cũng đánh một cái quần

xà lỏn đi phát rẫy, cũng yêu người này, nói xấu sau lưng người kia”… và hiện thân của sự bình thường ấy là bàn tay ra mồ hôi “lúc nào cũng dấp dính” khiến cô khó chịu… Rồi con người ấy hy sinh trong một trận đánh ác liệt Trong nỗi đau, cô nhận ra lầm lẫn của mình: “Tôi đã không coi họ là những con người đang sống giữa cuộc đời mà lại đòi hỏi nơi họ một thánh nhân Tôi đã đi tìm cái tuyệt đối không bao giờ có” Nhưng sai lầm này chưa qua hết thì một sai lầm nữa lại lộ ra: “Tôi

Trang 8

đinh ninh rằng tình yêu của tôi có thể cứu sống được hết tất cả mọi người” Ấy thế

mà, trên thực tế “tình yêu mà tôi tưởng hết sức nhiệm mầu, chẳng cứu sống được một ai cả” Cho đến quãng đời sau chiến tranh, cô vẫn sống trong quan niệm ấy, và thật ra, cái tình yêu có sức cứu vớt ấy không phải là không có hiệu quả, khi cô dành

nó cho bạn của người liệt sĩ năm xưa, đưa anh ta ra khỏi nhà tù, trở về vị trí của người sáng tạo khoa học Cái lịch trình của một tâm hồn muốn tìm thấy một thánh nhân ở người mình yêu (đây là điều nhân vật tự cảm thấy, tự phê phán) và muốn tự mình làm một thánh nhân trong tình yêu (điều thứ hai này là do người kể chuyện phát hiện và “phê bình” nhân vật Quỳ), − rốt cuộc, nữ nhân vật vẫn chưa vượt qua được Vả chăng, phương cách đúng đắn không phải là dứt bỏ toàn bộ quan niệm ấy Vấn đề là ý thức được tính chất phiến diện cực đoan của quan niệm

“đi tìm tuyệt đối” ấy Yếu tố tự phê phán bộc lộ rõ trong lời nhân vật và lời người

kể chuyện chính là thực hiện chức năng ý thức và tự ý thức Cái gọi là “lầm lẫn” của Quỳ, có khi là lầm lẫn thực sự, có khi lại bao hàm một lẽ sống đáng trọng Nó chưa hiển nhiên cứu sống một ai, cũng chưa hiển nhiên “giết chết” một ai, nhưng,

cũng tựa như “cảm giác phạm tội” của người họa sĩ trong Bức tranh, chính vì

những hậu quả không có gì là hiển nhiên nên sự tự ý thức của nhân vật càng rõ rệt Vấn đề là ý thức cho được cái phần “sống ngoài ý thức, không hoàn toàn làm chủ được mình” để chế ngự nó, hoặc nói cách khác là ý thức cho được tương quan giữa

ý chí chủ quan và thực tế khách quan Câu chuyện lịch sử một tâm hồn, như vậy, trở thành một câu chuyện triết lý về cách nhận thức, về quan niệm sống Ý nghĩa ẩn

dụ của nó là khá rõ Hơn nữa, chỉ khi thừa nhận bình diện ẩn dụ của câu chuyện, ta mới có thể chấp nhận những gì ít nhiều cường điệu nếu nhìn thuần túy theo yêu cầu miêu tả “giống” như thực thông thường Lại cũng phải lưu ý điều mà nhiều nhà nghiên cứu đã nhận thấy: ở văn học thế kỷ XX, loại truyện ngụ ý, ngụ ngôn, triết

lý, đã không còn chỉ là một thứ con rối cho các luận đề Ngược lại, loại truyện này

đã có dạng sinh hoạt tả thực rõ rệt, nhân vật đã được tạo dựng như một tính cách

Và bình diện ngụ ý triết lý luôn luôn chìm khuất sau bình diện sinh hoạt tả thực

Trang 9

Người ta thấy điều này ở truyện của Camus, Kafka, Golding v.v… hoặc trong văn học Xô-viết, ở Bykov, Aitmatov, Dumbatze v.v… Trong văn xuôi ở ta gần đây, chúng ta cũng thấy đặc điểm này ở các truyện của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Nguyễn Kiên, v.v… Dìm sâu các ẩn ý triết lý vào mạch truyện “giống thực”

là cách truyền sự sống cho ý tưởng ấy, tuy nhiên, mặt khác, người viết loại truyện này không thể không tìm cách cho ẩn ý kia thỉnh thoảng lại lộ ra, nhô ra Do vậy

mà thường có những không khí khác thường cho nhân vật bộc lộ tâm sự, tâm trạng, giống như bị phục rượu mà phải nói to lên những ý nghĩ bao quát hơn, trừu tượng hơn so với lời nói của họ trong các cảnh ngộ thông thường

Lão Khúng trong “Phiên chợ Giáp” đi bán bò già cho người ta làm thịt ở chợ Cầu Giáp, lão đi từ 3 giờ đến 7 giờ, quãng đương đi ấy hết 5h đồng hồ Song cuộc hành trình đó lại là những hồi tưởng về quãng đời trước kia, những đau khổ nhọc nhằn, những phi lý đọa đầy, lừa đảo, cái sống và cái chết và cả những giọt nước mắt Nguyễn Minh Châu đã dựng lên hình tượng người nông dân vừa là bò khoang vừa là lão Khúng, hai mà một, một mà hai Bò khoang là hiện thân của sức chịu đựng bền bỉ làm việc nhẫn nại “suốt đời nai lung ra làm kéo cày” Đối lập với hiện thực cuộc sống khắc nghiệt là mơ ước giải thoát, thoát khỏi cuộc sống lam lũ cơ cực không phải kéo cày, kéo xe và được ăn uống thỏa thuê Chính vì thế lão Khúng

đã giải thoát cho con bò khoang không chỉ chứng tỏ tình thương, lòng tốt mà còn

có ý nghĩa là sự tự giải thoát Nhưng đến kết truyện, từ rừng sâu con bò lại quay trở lại với chủ qua đó ta thấy sự quẩn quanh của số kiếp bò khoang là sự thất bại của

ảo tưởng tự do

Qua một số tác phẩm Nguyễn Minh Châu đã phơi bày những mặt trái của xã hội từ đó đưa ra những bài học đúng đắn trong cách nhìn nhận cuộc sống cũng như đánh giá con người

“Chiếc thuyền ngoài xa” là truyện ngắn tiêu biểu Theo yêu cầu của trưởng phòng, nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng đến một vùng ven biển miền Trung (cũng là nơi

Trang 10

anh từng chiến đấu) để chụp một tấm ảnh cho cuốn lịch năm sau Sau nhiều ngày

“phục kích”, người nghệ sĩ đã phát hiện và chụp được “một cảnh đắt trời cho” – đó

là cảnh một chiếc thuyền ngoài xa đang ẩn hiện trong biển sớm mờ sương Nhưng khi chiếc thuyền vào bờ, anh đã ngạc nhiên đến sững sờ khi chứng kiến từ chính chiếc thuyền đó cảnh người chồng vũ phu đánh đập vợ một cách dã man, đứa con

vì muốn bảo vệ mẹ đã đánh trả lại cha mình Những ngày sau, cảnh tượng đó lại tiếp diễn và lần này người nghệ sĩ đã ra tay can thiệp Theo lời mời của chánh án Đẩu (một người đồng đội cũ của Phùng) người đàn bà hàng chài đã đến toà án huyện Tại đây, người đàn bà ấy đã từ chối sự giúp đỡ của Đẩu và Phùng, nhất quyết không bỏ lão chồng vũ phu Chị đã kể câu chuyện về cuộc đời mình và đó cũng là lí do giải thích cho sự từ chối trên Rời vùng biển với khá nhiều ảnh, người nghệ sĩ đã có một tấm được chọn vào bộ lịch “tĩnh vật hoàn toàn” về “thuyền và biển” năm ấy Tuy nhiên, mỗi lần đứng trước tấm ảnh, người nghệ sĩ đều thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai và nếu nhìn lâu hơn bao giờ anh cũng thấy hình ảnh người đàn bà nghèo khổ, lam lũ bước ra từ tấm ảnh

Qua hai phát hiện của nghệ sỹ Phùng với sự đối lập một bên là bức tranh cảnh biển buổi sớm đẹp toàn thiện toàn mỹ với một bên là cuộc sống lam lũ vất vả đặc biệt là nạn bạo lực trong gia đình người đàn bà hang chai, Nguyễn Minh Châu

đã đưa ra bài đúng đắn trong cách nhìn nhận cuộc sống Để đánh giá một sự việc, vấn đề thì phải đi sâu vào bản chất bên trong, không nên đứng từ xa rồi đưa ra nhận xét Cũng đừng đồng nhất vẻ đẹp bên ngoài với bản chất bên trong Với câu chuyện của người đang bà hàng chài tại tòa án huyện tác giả đưa ra cái nhìn đa chiều trong nhìn nhận cuộc sống Phùng và Đẩu khuyên người đàn bà hàng chài bỏ chồng, mục đích của hai người là tốt tuy nhiên cái nhìn của họ chỉ một chiều, đơn giản Họ chỉ nghĩ đến mực đích duy nhất là giải thoát cho người phụ nữ ấy Còn ngược lại người đàn bà hang chai lại suy nghĩ vô cùng sâu sắc Người phụ nữ ấy không bỏ chồng trước hết vì chị biết ơn chồng Chính người chồng đã lấy chị trong khi tất cả mọi người chê xấu Chị thấu hiểu chồng và biết bản chất của chồng không phải vũ

Ngày đăng: 25/06/2017, 01:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w