1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

bài giảng luật lao động

156 234 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 156
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết cấu của tập bài giảng gồm 11 chương: Chương 1: Khái quát chung về Luật lao động Chương 2: Việc làm, học nghề Chương 3: Công đoàn Chương 4: Hợp đồng lao động Chương 5: Tiền lương, t

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU Bộ luật lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 23 tháng 6 năm 1994, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 1995 Cho đến nay, do có nhiều đổi mới trong chủ trương, chính sách của Đảng, thay đổi trong thị trường lao động nên Bộ luật lao động đã có nhiều sửa đổi bổ sung qua các năm 2002, 2006, 2007

Đây là văn bản rất quan trọng trong hệ thống pháp luật của nước ta, điều chỉnh quan hệ lao động giữa người lao động làm công ăn lương với người sử dụng lao động và các quan hệ xã hội khác liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động

Để đáp ứng kịp thời nhu cầu nghiên cứu và học tập của sinh viên trường Đại học Lao động – Xã hội cũng như yêu cầu của công tác giảng dạy, tập bài giảng này là một tài liệu tham khảo quan trọng, hữu ích, mang tính cập nhật cao các quy định của pháp luật lao động Việt Nam, có sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn

Tập bài giảng này được sử dụng để giảng dạy, nghiên cứu, học tập cho sinh viên hệ cao đẳng và đại học

Thời lượng chương trình 75 tiết

Kết cấu của tập bài giảng gồm 11 chương:

Chương 1: Khái quát chung về Luật lao động Chương 2: Việc làm, học nghề

Chương 3: Công đoàn Chương 4: Hợp đồng lao động Chương 5: Tiền lương, tiền công Chương 6: Thỏa ước lao động tập thể Chương 7: Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi Chương 8: Bảo hiểm xã hội

Chương 9: Kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất Chương 10: Giải quyết tranh chấp lao động

Chương 11: Quản lý, thanh tra nhà nước về lao động Tập bài giảng này được thực hiện trên cơ sở kết quả nghiên cứu tổng hợp từ các quy định của pháp luật lao động hiện hành, một số giáo trình của các trường đại học, các bài báo, công trình nghiên cứu khoa học và các vấn đề thực tiễn hiện nay của quan hệ lao động tại Việt Nam Tác giả đã rất cố gắng trong quá trình biên soạn, nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được ý kiến góp ý phê bình của độc giả để góp phần hoàn thiện hơn

Trang 2

CHƯƠNG I

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LUẬT LAO ĐỘNG

I KHÁI NIỆM, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHỈNH CỦA LUẬT

LAO ĐỘNG

1 Khái niệm Luật Lao động

Hệ thống pháp luật Việt Nam bao gồm nhiều ngành luật khác nhau, trong đó có Luật Lao động So với một số ngành luật khác, Luật lao động là ngành luật non trẻ, hình thành và phát triển muộn hơn Tuy nhiên, Luật lao động ngày nay đã trở thành một ngành luật rất quan trọng và có vai trò lớn đối với sự phát triển kinh tế- xã hội

Luật Lao động là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam bao gồm toàn bộ các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ lao động giữa người lao động làm công ăn lương với người sử dụng lao động và các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp với người lao động

Theo Điều 1 Bộ luật lao động quy định: “Bộ luật lao động điều chỉnh quan hệ lao động giữa người lao động làm công ăn lương với người sử dụng lao động và các quan hệ

xã hội liên quan trực tiếp với quan hệ lao động”

Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là Luật lao động chỉ điều chỉnh các quan hệ phát sinh trên cơ sở hợp đồng lao động mà theo Điều 4 Bộ luật lao động quy định: “Chế độ lao động đối với công chức, viên chức Nhà nước, người giữ các chức vụ được bầu, cử hoặc bổ nhiệm, người thuộc lực lượng quân đội nhân dân, công an nhân dân, người thuộc các đoàn thể nhân dân, các tổ chức chính trị, xã hội khác và xã viên hợp tác xã do các văn bản pháp luật khác quy định nhưng tuỳ từng đối tượng mà được áp dụng một số quy định trong

Bộ luật này”

2 Đối tượng điều chỉnh của Luật lao động

Với tư cách là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật, Luật lao động điều chỉnh quan hệ lao động giữa người lao động làm công ăn lương với người sử dụng lao động và các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp với quan hệ lao động

Trang 3

Như vậy, những quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Lao động gồm hai nhóm:

Nhóm 1: Những quan hệ lao động phát sinh trong quá trình lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động làm công ăn lương ( gọi là quan hệ lao động)

Nhóm 2: Những quan hệ xã hội liên quan trực tiếp với quan hệ lao động: quan hệ về việc làm, quan hệ về học nghề, quan hệ về bồi thường thiệt hại trong quá trình lao động, quan hệ về bảo hiểm xã hội, quan hệ về giải quyết tranh chấp lao động và các cuộc đình công, quan hệ giữa người sử dụng lao động với đại diện của tập thể lao động, quan hệ về quản lý và thanh tra Nhà nước về lao động

Lao động là hoạt động có ý chí, có mục đích của con người tác động vào thế giới xung quanh để tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng đa dạng của mình.Trong qúa trình lao động, con ngưòi có quan hệ với tự nhiên Ph.Angghen đã viết: “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống con người, đến một mức và trên một ý nghĩa nào đó chúng ta phải nói rằng: Lao động đã tạo

ra chính bản thân con người” Bên cạnh đó, trong quan hệ lao động, con ngưòi còn có quan hệ với nhau Quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sử dụng sức lao động gọi là quan hệ lao động Như vậy, quan hệ lao động xuất hiện từ khi con người biết lao động

Quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường hiện nay có nhiều loại như: quan hệ lao động trong các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp, hợp tác xã, các tổ chức xã hội, quan hệ khoán việc.… Luật Lao động không lấy tất cả các quan hệ lao động này làm đối tượng điều chỉnh chủ yếu của mình, mà Luật lao động chủ yếu điều chỉnh quan hệ lao động giữa người lao động làm công ăn lương với người sử dụng lao động thuộc mọi thành phần kinh tế Đây là quan hệ được xác lập trên cơ sở hợp đồng lao động

Đối với quan hệ lao động theo hợp đồng lao động, Nhà nước không can thiệp trực tiếp mà chỉ đề ra các tiêu chuẩn, khung pháp lý để các chủ thể tham gia quan hệ được tự

do thoả thuận trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng về các vấn đề có liên quan đến quá trình lao động phù hợp với pháp luật và với điều kiện của mình

Từ khi nền kinh tế nước ta chuyển sang vận hành theo cơ chế thị trường, có sự thừa nhận sức lao động là một loại hàng hóa thì tính chất của quan hệ lao động đã có sự biến đổi sâu sắc Người lao động làm công ăn lương và người sử dụng lao động đã được các văn bản pháp luật lao động quy định chi tiết các quyền và nghĩa vụ lao động Người lao động làm công ăn lương có quyền bán sức lao động của mình cho bất kỳ người sử dụng lao động nào theo thoả thuận của các bên thông quan hợp đồng lao động; còn người sử dụng lao động có quyền mua sức lao động của bất kỳ người lao động nào và sử dụng sức

Trang 4

lao động đó theo quy định của pháp luật Sự thừa nhận sức lao động là hàng hoá đã làm thay đổi quan hệ lao động xã hội, tạo ra những điều kiện thuận lợi cho ngưòi lao động kiếm việc làm, giải quyết tình trạng dư thừa lao động và khuyến khích người lao động nâng cao trình độ nghề nghiệp của mình để đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn hiện nay

Tính đặc biệt của quan hệ lao động giữa người lao động làm công ăn lương với người sử dụng lao động thể hiện:

Về bản chất, quan hệ này vừa là một quan hệ kinh tế, vừa là một quan hệ xã hội Đây là một quan hệ “mua bán hàng hóa” với một thứ hàng hóa rất đặc biệt là “sức lao động”, cũng chính vì sự đặc biệt đó nên quan hệ này không đơn thuần là quan hệ kinh tế mà nó còn là một quan hệ mang tính xã hội, là một quan hệ cơ bản trong xã hội

Về quy mô, quan hệ này vừa là quan hệ cá nhân, vừa là một quan hệ có tính tập thể Về lợi ích, quan hệ này vừa có tính thống nhất, vừa có sự mâu thuẫn

Về pháp lý, quan hệ này vừa bình đẳng, vừa phụ thuộc

Về nội dung, quan hệ này vừa cụ thể, vừa không xác định

Nội dung của quan hệ lao động giữa người lao động làm công ăn lương với người sử dụng lao động tương đối phong phú, trong đó chứa đựng những vấn đề cơ bản về: tuyển chọn, điều hành lao động, thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi; tiền lương; kỷ luật lao động; an toàn lao động và vệ sinh lao động; …

Khác với quan hệ lao động theo hợp đồng lao động, một số quan hệ lao động như: giữa xã viên hợp tác xã với hợp tác xã, giữa công chức nhà nước với Nhà nước, quan hệ lao động thuộc lực lượng vũ trang, quan hệ lao động giữa các đại biểu dân cử … do có những thuộc tính riêng nên do các ngành luật khác nhau điều chỉnh Chẳng hạn:

Quan hệ lao động giữa xã viên hợp tác xã do Luật hợp tác xã điều chỉnh Quan hệ lao động giữa cán bộ công chức nhà nước với Nhà nước do Luật hành chính điều chỉnh Quan hệ lao động giữa người lao động làm thuê và người khoán việc do Luật dân sự điều chỉnh

Tuy nhiên, xét ở một góc độ nhất định, xã viên hợp tác xã, công chức nhà nước, người làm trong lực lượng vũ trang, đại biểu dân cử, người làm khoán cũng đều là người lao động Họ cũng sử dụng sức lao động của mình để phục vụ cho đơn vị sử dụng lao động, cũng có các nhu cầu để tái sản xuất sức lao động, cũng phải nuôi sống bản thân và gia đình… Bởi vậy, quan hệ lao động giữa họ với đơn vị sử dụng lao động mặc dù do các ngành luật điều chỉnh nhưng tuỳ từng đối tượng, trong từng trường hợp mà Luật lao động cũng có sự tác động tới

Trang 5

2.2 Các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp với quan hệ lao động

Bên cạnh việc điều chỉnh quan hệ lao động giữa người lao động làm công ăn lương với người sử dụng lao động, Luật lao động còn điều chỉnh các quan hệ xã hội có liên quan trực tiếp với quan hệ lao động Đây là những quan hệ xã hội phát sinh trực tiếp từ quan hệ lao động, trên cơ sở quan hệ lao động Đó là những quan hệ sau:

* Quan hệ về việc làm

Việc làm là đối tượng mà hoạt động lao động của con người diễn ra, là cái không thể thiếu khi nói đến trong quá trình lao động, là cái để sức lao động được thể hiện giá trị Ba vấn đề đã được Tổ chức lao động quốc tế đặt ra và mong muốn các quốc gia có những nỗ lực để đảm bảo là “việc làm đầy đủ”, “việc làm có hiệu quả”, “việc làm được tự do lựa chọn”

Quan hệ về việc làm được xác lập để bảo đảm việc làm cho người lao động Quan hệ này vừa có tính chất tạo cơ hội, vừa có tác dụng nâng cao khả năng tham gia làm việc ổn định của người lao động đồng thời để nâng cao chất lượng của việc làm

Quan hệ về việc làm được chia thành 3 loại:

- Quan hệ về đảm bảo việc làm giữa nhà nước và người lao động

Trong quan hệ này, Luật lao động chủ yếu quy định trách nhiệm của Nhà nước đối với vấn đề việc làm Trách nhiệm trực tiếp thuộc về Chính phủ, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Uỷ ban nhân dân các cấp

- Quan hệ về bảo đảm việc làm giữa người sử dụng lao động với người lao động Trong mối quan hệ này luật lao động xác định trách nhiệm của đơn vị sử dụng lao động trong việc đảm bảo việc làm cho người lao động

- Quan hệ giữa tổ chức giới thiệu việc làm với người lao động, người sử dụng lao động

Tổ chức giới thiệu việc làm có nhiệm vụ tư vấn, giới thiệu việc làm cho người lao động, cung ứng và tuyển chọn lao động theo yêu cầu của người sử dụng lao động, thu nhập, cung ứng thông tin về thị trường lao động

* Quan hệ học nghề

Trình độ nghề nghiệp là một yếu tố rất cần thiết vì không có trình độ nghề nghiệp thì người lao động sẻ ít có cơ hội tham gia quan hệ lao động cũng như duy trì và ổn định quan hệ lao động Khoa học và công nghệ ngày nay đã có những bước tiến mạnh mẽ và nhanh chóng, để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi trình độ nghề nghiệp của người lao động phải ngày càng được nâng cao

Trang 6

Quan hệ giữa các cơ sở dạy nghề với người học nghề được thiết lập thông qua hợp đồng học nghề trong đó có quy định rõ quyền và nghĩa vụ của mỗi bên và không trái với các quy định của pháp luật

* Quan hệ về bồi thường thiệt hại trong quá trình lao động

Quan hệ về bồi thường thiệt hại trong quá trình lao động phát sinh khi các bên tham gia vào quan hệ lao động có hành vi vi phạm gây thiệt hại cho nhau về tài sản, sức khoẻ hoặc tính mạng Quan hệ này có liên quan chặt chẽ với quan hệ lao động, nó chỉ phát sinh khi các bên thiết lập quan hệ lao động Vì vậy, Luật Lao động cũng điều chỉnh quan hệ này

Luật lao động điều chỉnh các quan hệ này nhằm khắc phục những thiệt hại mà các bên đã gây ra cho nhau, cũng như để nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật trong quá trình lao động

* Quan hệ về bảo hiểm xã hội

Quan hệ về bảo hiểm xã hội phát sinh trong quá trình bảo đảm về vật chất cho người lao động khi họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hay đã hết tuổi lao động Các quan hệ này được hình thành từ ba chủ thể chủ yếu là người lao động, người sử dụng lao động và cơ quan bảo hiểm xã hội

* Quan hệ giữa người sử dụng lao động và đại diện của tập thể lao động

Quan hệ về đại diện lao động là quan hệ giữa Công đoàn với người sử dụng lao động được thiết lập trong các lĩnh vực sản xuất, lao động và cải thiện đời sống của người lao động, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động Các bên tham gia vào quan hệ này gồm có người sử dụng lao động và tổ chức Công đoàn

* Quan hệ về giải quyết tranh chấp lao động và các cuộc đình công

Tranh chấp như là một tất yếu khách quan tiềm ẩn trong tất cả các quan hệ xã hội nói chung, và sẽ không loại trừ quan hệ lao động Luật lao động điều chỉnh các quan hệ này nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của các bên tranh chấp, bảo đảm sự hài hoà ổn định của quan hệ lao động cũng như trật tự an toàn xã hội

* Quan hệ về quản lý và thanh tra nhà nước về lao động

Quan hệ về quản lý và thanh tra nhà nước về lao động là quan hệ giữa nhà nước hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền với các cấp, các ngành, các doanh nghiệp hoặc với người sử dụng lao động trong việc chấp hành các quy định của nhà nước về sử dụng lao động Những quan hệ này cũng gắn bó chặt chẽ với quan hệ lao động được phát triển lành mạnh, hài hoà và nhằm phòng ngừa, ngăn chặn kịp thời các vi phạm pháp luật lao động, phục vụ lợi ích chung cho toàn xã hội

Trang 7

Luật Lao động điều chỉnh các quan hệ này bằng cách quy định nhiệm vụ, quyền hạn, của các cơ quan quản lý và thanh tra nhà nước về lao động, nội dung của việc quản lý, thanh tra nhà nước về lao động cũng như các hình thức, mức độ xử phạt các vi phạm pháp luật lao động

3 Phương pháp điều chỉnh cơ bản của luật lao động

Phương pháp điều chỉnh của pháp luật là những cách thức tác động pháp luật lên các quan hệ xã hội để đạt được mục đích đề ra Phương pháp điều chỉnh pháp luật phụ thuộc vào nội dung, tính chất của các quan hệ xã hội (đối tượng điều chỉnh pháp luật) và

ý chí của các nhà làm luật Vì vậy, mỗi ngành luật có phương pháp điều chỉnh riêng Phương pháp điều chỉnh của một ngành luật là cách thức, biện pháp tác động của nhà nước lên các quan hệ xã hội mà ngành luật ấy điều chỉnh

Dựa trên những đặc điểm của đối tượng điều chỉnh của mình, Luật lao động sử dụng những phương pháp điều chỉnh cơ bản sau:

− Phương pháp bình đẳng thoả thuận

− Phương pháp mệnh lệnh

− Phương pháp tác động thông qua hoạt động của tổ chức Công đoàn trong quá trình lao động

3.1 Phương pháp bình đẳng thoả thuận

Phương pháp này được sử dụng trong việc xác lập một hành lang pháp lý dựa trên nguyên tắc: những quy định về nghĩa vụ và trách nhiệm thì ở mức tối đa còn những quy định về quyền và lợi ích thì ở mức tối thiểu Trong khuôn khổ của hành lang ấy, các bên chủ thể của quan hệ lao động có thể tự do thương lượng và thoả thuận trên cơ sở nhu cầu và khả năng đáp ứng của mỗi bên Ngoài ra, nguyên tắc thương lượng, hoà giải cũng là một trong các biểu hiện của phương pháp thoả thuận

Đây là phương pháp điều chỉnh rất quan trọng của Luật Lao động Phương pháp này bảo đảm quyền tự định đoạt cho các bên trong quan hệ lao động

Một số ngành luật khác cũng sử dụng phương pháp này, như: Luật Dân Sự, Luật Kinh tế,… Tuy nhiên, mức độ sử dụng của mỗi ngành luật có sự khác nhau Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường hiện nay, phương pháp bình đẳng thoả thuận được Luật lao động sử dụng phổ biến và giữ một vai trò quan trọng, bởi vì tính chất tự do và bình đẳng là bản chất của quan hệ lao động

3.2 Phương pháp mệnh lệnh

Cở sở của phương pháp này nằm ngay trong yêu cầu của việc quản lý nhà nước về lao động cũng như trong tổ chức và điều hành quá trình lao động Để quản lý lao động,

Trang 8

cơ quan quản lý nhà nước về lao động cần sử dụng quyền uy, mệnh lệnh mà nhà nước trao cho Người sử dung lao động không thể tổ chức và điều hành quá trình lao động theo nhu cầu sản xuất kinh doanh nếu không có quan hệ quyền uy và phục tùng

Nội dung của phương pháp này là pháp luật đảm bảo cho một chủ thể có quyền đưa

ra những quyết định bắt buộc thi hành đối với các chủ thể khác

Phương pháp này giúp cho các cơ quan quản lý nhà nước về lao động có điều kiện để thực hiện được chức năng quản lý của mình Đồng thời cũng góp phần làm cho quá trình sử dụng lao động có nề nếp, tăng cương kỷ luật lao động

Đây là phương pháp mà Luật Hành chính, Luật Kinh tế và một số ngành luật khác cũng sử dụng Song cũng như phương pháp bình đẳng thoả thuận, mức độ sử dụng phương pháp mệnh lệnh của mỗi ngành luật là khác nhau

3.3 Phương pháp tác động thông qua hoạt động của tổ chức công đoàn trong quá trình lao động

Đây là phương pháp điều chỉnh đặc thù của luật lao động Phương pháp này được sử dụng để giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quá trình lao động có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động

Nội dung của phương pháp này là khi giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình lao động có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động như: sắp xếp việc làm, điều động lao động, trả lương, kỷ luật lao động,… phải có sự tham gia của tổ chức Công đoàn với tư cách là người đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động

Khi tham gia vào quan hệ lao động, người lao động thường ở vào vị thế yếu hơn so với người sử dụng lao động Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho mình, người lao động đã thành lập ra tổ chức Công đoàn Tổ chức Công đoàn sẽ đại diện cho người lao động, thay mặt cho người lao động tham gia vào quan hệ với người sử dụng lao động bảo vệ quyền lợi cho người lao động

Sự tham gia của tổ chức Công đoàn vào các quan hệ lao động là cần thiết Nhà nước ghi nhận và đảm bảo cho tổ chức Công đoàn thực hiện được các quyền và nghĩa vụ của mình trong quan hệ lao động

Sự tham gia của công đoàn vào việc điều hành các quan hệ lao động thể hiện trước hết trong lĩnh vực tham gia sáng tạo những quy phạm pháp luật lao động, cũng như trong lĩnh vực áp dụng những quy phạm pháp luật lao động, giải quyết tranh chấp lao động Tuỳ từng cấp công đoàn, từng mối quan hệ mà sự tham gia của công đoàn có mức độ khác nhau, nhưng sự tham gia của công đoàn là bắt buộc

Trang 9

4 Nguồn của luật lao động

Nguồn của một ngành luật là hình thức biểu hiện hay tồn tại của ngành luật ấy Các

quy phạm pháp luật lao động cũng có những hình thức biểu hiện của nó Đó chính là các

văn bản quy phạm pháp luật

Như vậy, nguồn của Luật lao động là các văn bản pháp luật do các cơ quan nhà

nước có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các quan hệ lao động và các quan hệ liên

quan đến quan hệ lao động

4.1 Các văn bản luật

Các văn bản luật là nguồn của Luật lao động bao gồm:

- Hiến pháp năm 1992: Đối với Luật lao động thì những quy phạm pháp luật được quy

định tại Chương V Hiến pháp năm 1992 Đặc biệt là các điều 10, điều 55, điều 56 được

coi là nguồn rất quan trọng Các quy phạm này là cơ sở để xây dựng hệ thống pháp luật

lao động Đồng thời, các quy định đó cũng là những nguyên tắc cơ bản của Luật Lao

Bộ Luật Lao động là sự thể chế hoá đường lối đổi mới của Đảng và cụ thể hoá các

quy định của Hiến pháp năm 1992 về lao động, quản lý và sử dụng lao động Bộ luật lao

động gồm 17 chương, 198 điều Đây là nguồn chủ yếu của Luật lao động

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động (Quốc hội thông qua ngày 02/4/2002, có hiệu lực từ ngày 01/01/2003)

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động (Quốc hội thông qua

ngày 29/11/2006, có hiệu lực từ ngày 01/07/2007)

+ Các luật khác có chứa đựng các quy phạm pháp luật lao động, như: Luật Công đoàn

(1990), Luật phá sản doanh nghiệp (2004), Luật doanh nghiệp (2005), Bộ luật tố tụng

dân sự; Luật dạy nghề…

4.2 Các văn bản dưới luật

Các văn bản dưới luật là nguồn của Luật Lao động bao gồm:

a Pháp lệnh: Các pháp lệnh được coi là nguồn của Luật Lao động gồm:

+ Pháp lệnh về người cao tuổi

+ Pháp lệnh về người tàn tật

Trang 10

b Các Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ; Quyết định, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ Đặc biệt là một số nghị định sau:

+ Nghị định 39/2003/NĐ-CP về việc làm

+ Nghị định 105/2003/NĐ-CP về lao động nước ngoài tại Việt Nam

+ Nghị định 113/2004 về xử phạt vi phạm hành chính trong lao động

c Các Thông tư của các Bộ, cơ quan ngang bộ

d Những quy định có tính chất nội bộ như: nội quy lao động, điều lệ doanh nghiệp, thoả ước lao động tập thể đã được đăng ký

Các văn bản này của được coi là nguồn của Luật lao động Nội dung của các văn bản này cụ thể hoá các quy định của pháp luật, không trái với pháp luật để áp dụng cho phù hợp với điều kiện sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Khi các văn bản này có hiệu lực thì tất cả các đối tượng có liên quan trong doanh nghiệp đều phải thực hiện

II CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA LUẬT LAO ĐỘNG

Các nguyên tắc của bất kỳ ngành luật nào cũng là những tư tưởng chủ đạo, mang tính xuất phát điểm và xuyên suốt ngành luật đó

Các nguyên tắc cơ bản của luật lao động là những tư tưởng chủ đạo, xuyên suốt trong toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật lao động thể hiện những quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về lao động và quan hệ lao động trong nền kinh tế hiện nay

Các nguyên tắc cơ bản của Luật Lao động gồm:

− Nguyên tắc bảo vệ người lao động;

Trang 11

− Nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động;

− Nguyên tắc kết hợp hài hoà chính sách kinh tế và chính sách xã hội trong lĩnh vực lao động;

− Nguyên tắc pháp chế

1 Nguyên tắc bảo vệ người lao động

Đây là nguyên tắc cơ bản, bao trùm nhất của Luật lao động Nguyên tắc này thể hiện ngay trong lời nói đầu của Bộ luật lao động Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đã đề ra mục tiêu: “vì con người, phát huy nhân tố con người, trước hết là người lao động” Nghị quyết của Đại hội Đảng VIII tiếp tục khẳng định cụ thể hơn: “Để phát triển sản xuất cần phát huy khả năng của mọi thành phần kinh tế, thừa nhận trên thực tế vẫn còn có bóc lột, sự phân hóa giàu nghèo nhất định trong xã hội, nhưng phải luôn quan tâm, bảo vệ lơ6i ích người lao động” Luật lao động bảo vệ người lao động vì người lao động thuộc về số đông trong xã hội Hơn nữa, trong quan hệ lao động, người lao động thường ở vị thế yếu hơn so với người sử dụng lao động

Nội dung của nguyên tắc này rất rộng, đòi hỏi pháp luật phải thể hiện quan điểm bảo vệ người lao động với tư cách bảo vệ con người, chủ thể của quan hệ lao động Vì vậy, nó không chỉ bao hàm mục đích bảo vệ sức lao động, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người lao động,… mà phải bảo vệ họ trên mọi phương diện: việc làm, nghề nghiệp, thu nhập, sức khoẻ, tính mạng, nhân phẩm, danh dự, cuộc sống của bản thân và gia đình họ, thậm chí cả nhu cầu nghỉ ngơi, nâng cao trình độ, liên kết và phát triển trong môi trường lao động và xã hội lành mạnh Do vậy, luật lao động bảo vệ người lao động ngay cả khi người lao động từ bỏ quyền của mình

Nguyên tắc này thể hiện:

− Đảm bảo quyền tự do lựa chọn việc làm và nơi làm việc của người lao động

Điều này được đảm bảo tức là đảm bảo quyền tự do định đọat của người lao động đối với sức lao động của mình, phù hợp với nhiệm vụ vừa mang tính cấp bách vừa có tính chiến lược lâu dài trong chính sách kinh tế – xã hội của Đảng và Nhà nước ta Điều 55 Hiến pháp năm 1992 quy định: “ Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ra ngày càng nhiều việc làm cho người lao động” Quy định này là một sự bảo đảm về mặt pháp lý quyền tự do lựa chọn việc làm, tự do hành nghề của người lao động Cụ thể hoá quy định này của Hiến pháp, khoản 1 Điều 5 Bộ luật lao động quy định: “ Mọi người đều có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm và nghề nghiệp, học và nâng cao trình độ nghề nghiệp , không bị đối xử về giới tính, dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo “ Đây là một bảo đảm về mặt pháp lý cho người lao động trong phạm vi khả năng, nguyên vọng của mình có được cơ hội tìm kiếm việc làm và có quyền làm việc

Trang 12

Để người lao động được hưởng và thực hiện được các quyền nói trên, Luật lao động ghi nhận quyền làm việc của người lao động Đồng thời, để bảo đảm cho quyền này được thực hiện, Nhà nước cũng quy định trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước, của các doanh nghiệp và của toàn xã hội trong việc tạo điều kiện để mọi người lao động có việc làm và được làm việc

Quyền có việc làm, tự do lựa chọn việc làm và nơi làm việc của người lao động không chỉ dừng lại ở việc tìm kiếm việc làm, có được việc làm ổn định mà trong quá trình làm việc người lao động còn được pháp luật bảo đảm quyền tự do chuyển dịch lao động phù hợp với khả năng và hoàn cảnh của cá nhân và gia đình họ Tự do việc làm còn được thể hiện ở việc người lao động tuỳ thuộc vào khả năng của mình tham gia vào quan hệ lao động với tư cách là người lao động bán sức lao động hoặc người sử dụng lao động thuê mướn lao động

− Đảm bảo quyền được trả công của người lao động

Trong nền kinh tế thị trường, sức lao động là một loại hàng hoá Tiền lương là giá cả sức lao động Tiền lương trả cho người lao động phải bảo đảm cho họ đủ bù đắp sức lao động hao phí và duy trì cuộc sống lâu dài Do vậy, các quy định về tiền lương do Nhà nước ban hành phải phản ánh đúng giá trị sức lao động Tuỳ từng tính chất, đặc điểm khác nhau của từng loại lao động mà Nhà nước có những quy định về chế độ tiền lương hợp lý Tùy từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế mà chế độ cũng được điều chỉnh theo để ngày càng mở rộng thêm những chức năng của tiền lương

− Thực hiện bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội đối với người lao động

Vấn đề bảo hộ lao động là một nội dung rất quan trọng của pháp luật lao động, là một biện pháp chủ yếu để cải thiện điều kiện lao động Với nhận thức con người là vốn quý nhất, Đảng và Nhà nước ta ngày càng đề cao yêu cầu bảo đảm an toàn lao động, bảo vệ sức khoẻ của người lao động Nhà nước ghi nhận đây là một trong những quyền cơ bản của công dân

Nhà nước coi việc bảo vệ tính mạng và sức khoẻ, an toàn lao động và vệ sinh lao động cho người lao động là nhiệm vụ và trách nhiệm không thể thiếu được của Nhà nước, của các đơn vị sử dụng lao động

Bên cạnh bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội cũng được coi là một trong những quyền cơ bản của công dân được ghi nhận tại Điều 56 Hiến pháp năm 1992

Bảo hiểm xã hội là một hoạt động không thể thiếu được trong đời sống xã hội và càng không thể được đối với người lao động Đó là một bảo đảm rất quan trọng và có ý nghĩa thiết thực, góp phần ổn định cuộc sống cho người lao động trong những trường hợp rủi ro Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác bảo hiểm xã hội và thực hiện bảo hiểm xã hội đối với người lao động

Trang 13

− Đảm bảo quyền được nghỉ ngơi của người lao động

Quyền được nghỉ ngơi là một trong những quyền cơ bản của người lao động được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1992 (Điều 56) và trong các văn bản pháp luật khác

Luật lao động quy định trách nhiệm của Nhà nước, của người sử dụng lao động là phải tạo mọi điều kiện để người lao động được hưởng quyền nghỉ ngơi Để quyền được nghỉ ngơi của người lao động được thực hiện Nhà nước còn quy định thời giờ làm việc hợp lý nhằm giúp người lao động có điều kiện để phục hồi sức khoẻ, tái sản xuất sức lao động và tăng năng suất lao động

− Đảm bảo các quyền khác của người lao động

Ngoài các quyền trên, Luật lao động còn ghi nhận và bảo đảm cho người lao động thực hiện một số quyền khác khi tham gia vào quan hệ lao động như:

+ Quyền được thành lập và gia nhập tổ chức Công đoàn

+ Quyền được đình công

+ Quyền được hưởng các phúc lợi tập thể

+ Quyền được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

+ Quyền được yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Tất nhiên, trên đây là những quyền và lợi ích pháp lý cơ bản của người lao động chứ không phải là quyền tự nhiên, vô giới hạn

2 Nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động

Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động là tư tưởng chủ đạo xuyên suốt trong quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật lao động Trong quan hệ lao động có hai chủ thể tham gia là người lao động và người sử dụng lao động Luật lao động không chỉ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động mà còn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động mặc dù họ là kẻ mạnh người sử dụng lao động là một bên của quan hệ lao động Suy cho cùng, mặc dù lợi ích của hai bên trong quan hệ lao động xét về cục bộ là mâu thuẫn với nhau, nhưng trên bình diện tổng thể lại thống nhất với nhau Một bên chỉ có thể tìm thấy lợi ích vững bền và lâu dài của mình trong chừng mực tương quan với lợi ích của phái bên kia

3 Nguyên tắc kết hợp hài hoà giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội trong

lĩnh vực lao động

Cơ sở của nguyên tắc này nằm ngay trong tính chất của quan hệ lao động Việc kết hợp hài hoà giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội là một chủ trương có tính chiến lược được thể hiện trong nhiều Nghị quyết của Đảng

Trang 14

Nhà nước lấy chính sách kinh tế là cơ sở, là tiền đề để thực hiện các chính sách xã hội, đồng thời lấy chính sách xã hội làm động lực và là mục đích của chính sách kinh tế Như vậy, bên cạnh các mục tiêu kinh tế như tiền lương, thu nhập, tăng trưởng kinh tế, lợi nhuận, … Luật lao động cũng quan tâm giải quyết các vấn đề xã hội như việc làm, dân chủ, tương trợ cộng đồng ngay tại đơn vị sử dụng lao động, … nhằm hạn chế những tiêu cực của nền kinh tế, tạo điều kiện để các doanh nghiệp phát triển, bảo vệ người lao động, xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh

Trong quá trình thực hiện, Luật lao động không xem nhẹ chính sách nào mà luôn kết hợp hài hoà các chính sách trên

4 Nguyên tắc pháp chế

Những quy định của Luật lao động phù hợp với các Công ước quốc tế mà Nhà nước đã phê chuẩn, phù hợp với các quy định của Hiến pháp và các văn bản có liên quan Ngoài việc tuân thủ các Công ước quốc tế, Luật lao động còn tuân thủ các quy định của pháp luật trong nước Những quy định của Luật lao động là sự cụ thể hoá các vấn đề về lao động, sử dụng lao động của Hiến pháp 1992 Khi ban hành các quy định của Luật lao động, Nhà nước luôn bảo đảm sự phù hợp với các quy định của Hiến pháp, sự thống nhất với các văn bản pháp luật khác

III QUAN HỆ PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG

1 Khái niệm, đặc điểm của quan hệ pháp luật lao động

1.1 Khái niệm

Quan hệ pháp luật lao động (Quan hệ pháp luật về sử dụng lao động) là những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình sử dụng sức lao động của người lao động tại các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, … được các quy phạm pháp luật lao động điều chỉnh

Quan hệ pháp luật lao động phát sinh trong quá trình sử dụng sức lao động của người lao động bởi vì thực chất đây là quan hệ pháp luật về sử dụng lao động, trong đó người sử dụng lao động mua sức lao động của người lao động Sức lao động là hàng hoá có tính đặc biệt không thể đem bán được như các hàng hoá khác mà chỉ bán được qua quá trình sử dụng

1.2 Đặc điểm

Quan hệ pháp luật lao động là một loại quan hệ pháp luật nên nó cũng mang những đặc điểm chung của quan hệ pháp luật như: là quan hệ xã hội có ý chí, mang tính giai cấp, xuất hiện trên cơ sở các quy phạm pháp luật, các bên tham gia được hưởng các quyền và gánh chịu những nghĩa vụ tương ứng, được bảo đảm bằng sự cưỡng chế của Nhà nước

Trang 15

Tuy nhiên, quan hệ pháp luật lao động còn có những đặc điểm riêng giúp ta phân biệt được các quan hệ pháp luật có những điểm gần gũi khác như: quan hệ pháp luật hành chính, quan hệ pháp luật hợp tác xã, quan hệ pháp luật dân sự, … Đó là:

- Trong quan hệ pháp luật lao động, người lao động phải tự mình hoàn thành công việc được giao

- Trong quan hệ pháp luật lao động, người sử dụng lao động có quyền kiểm tra, giám sát quá trình lao động của người lao động

- Nội dung quan hệ này gắn liền với danh dự, nhân phẩm, sức khỏe và sự sống của bản thân cũng như gia đình người lao động

- Trong quá trình tồn tại, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật lao động, luôn có sự tham gia của đại diện tập thể lao động

2 Cấu thành của quan hệ pháp luật lao động

Cũng như các quan hệ pháp luật khác, quan hệ pháp luật lao động có cấu thành của nó Cấu thành của quan hệ pháp luật lao động bao gồm:

- Chủ thể của quan hệ pháp luật lao động

- Khách thể của quan hệ pháp luật lao động

- Nội dung của quan hệ pháp luật lao động

2.1 Chủ thể của quan hệ pháp luật lao động

Chủ thể của quan hệ pháp luật lao động là các bên tham gia vào quan hệ pháp luật lao động, bao gồm: người lao động và người sử dụng lao động

* Người lao động

Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động

Người lao động bao gồm: công dân, người nước ngoài, người không quốc tịch

Công dân là chủ thể của quan hệ pháp luật lao động Song không phải bất kỳ công dân nào cũng đều có thể trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật lao động với tư cách là người lao động Muốn trở thành chủ thể của bất cứ quan hệ pháp luật nào thì công dân phải có năng lực chủ thể pháp luật, tức là phải có năng lực pháp luật và năng lực hành

vi theo quy định của ngành luật đó

- Năng lực pháp luật lao động là khả năng mà pháp luật quy định cho công dân quyền có việc làm, được làm việc và một số chế độ khác, đồng thời phải thực hiện các nghĩa vụ của người lao động

Trang 16

Năng lực pháp luật lao động không xuất hiện ngay từ khi công dân mới sinh ra như năng lực pháp luật dân sự mà chỉ xuất hiện khi công dân đạt một độ tuổi nhất định, hiện nay, theo quy định của Bộ luật lao động độ tuổi này là tròn 15

Như vậy, năng lực pháp luật lao động của công dân xuất hiện trên cơ sở các quy định của pháp luật lao động Song các quy định này có thể trở thành thực tế hay không lại phụ thuộc vào khả năng của mỗi công dân, tức là phụ thuộc vào năng lực hành vi lao động

- Năng lực hành vi lao động là khả năng của công dân bằng chính hành vi của bản thân mình trực tiếp tham gia vào một quan hệ pháp luật lao động để gánh vác những nghĩa vụ và thực hiện những quyền lợi của người lao động

Năng lực hành vi lao động được xác định dựa trên hai yếu tố: thể lực và trí lực Điều kiện thể lực đó là tình trạng sức khoẻ bình thường, có thực hiện một số công việc theo yêu cầu Điều kiện trí lực là khả năng nhận thức của công dân đối với hành vi lao động mà họ thực hiện, đối với nhiệm vụ lao động của họ hay mục đích công việc họ thực hiện Để có được những điều kiện đó, con người phải trải qua một thời gian phát triển cơ thể, giáo dục, học tập … tức là phải đạt một độ tuổi nhất định và phát triển bình thường Theo quy định cuả Luật lao động, độ tuổi đó là tròn 15

Như vậy, trong quan hệ pháp luật lao động, năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động xuất hiện đồng thời khi công dân đả 15 tuổi

Khi đủ các điều kiện nói trên, công dân có thể tham gia và được tham gia vào các quan hệ pháp luật lao động

Ngoài ra, trong quan hệ pháp luật lao động còn có chủ thể có năng lực hành vi lao động không đầy đủ (năng lực hành vi lao động một phần) Đó là những quan hệ lao động được thiết lập trong một số ngành nghề nhất định do đặc trưng của công việc như ngành văn hoá, nghệ thuật có thể sử dụng lao động nhỏ tuổi (dưới 15 tuổi), hoặc người sử dụng lao động vừa sử dụng lao động nhỏ tuổi vừa đào tạo họ Trong các trường hợp này, người lao động nhỏ tuổi được coi là có năng lực hành vi lao động không đầy đủ vì họ không tham gia vào quan hệ pháp luật lao động để làm bất cứ công việc gì, mà chỉ được làm những công việc mà pháp luật cho phép Đồng thời, khi sử dụng họ phải được sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ hoặc người giám hộ, người đỡ đầu hợp pháp

Có một số công dân lại bị hạn chế năng lực pháp luật lao động như bị pháp luật cấm làm một số nghề hay giữ một số công việc nhất định do lỗi của họ Khi đó,mặc dù có khả năng, có năng lực hành vi lao động đầy đủ nhưng họ không được tham gia vào quan hệ pháp luật lao động trong phạm vi mà pháp luật cấm

Trang 17

Có công dân lại không có năng lực hành vi lao động ( bị mất trí) Luật Lao động không thừa nhận một công dân khi họ rơi vào trường hợp này tham gia vào quan hệ pháp luật lao động

Như vậy, điều kiện chung để công dân được tham gia vào quan hệ pháp luật lao động là phải có năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động

Người nước ngoài và người không quốc tịch nếu đủ điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam có thể trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật lao động khi họ làm việc trong các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân người Việt Nam trên lãnh thổ Việt Nam Tuy nhiên việc sử dụng họ là rất hạn chế

* Người sử dụng lao động

Người sử dụng lao động là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thuê mướn, sử dụng và trả công lao động

Như vậy, người sử dụng lao động bao gồm: các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, các cơ quan và tổ chức nước ngoài đóng trên lãnh thổ Việt Nam, các cá nhân và hộ gia đình có thuê mướn lao động

Để tham gia vào quan hệ pháp luật lao động với tư cách là người sử dụng lao động, các chủ thể nói trên phải có đủ điều kiện tuyển chọn và sử dụng lao động theo pháp luật quy định Đó là:

- Đối với các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các cơ quan và tổ chức nước ngoài đóng trên lãnh thổ Việt Nam

- Đối với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, các cá nhân kinh doanh và nhóm kinh doanh nhỏ (gọi chung là các đơn vị kinh doanh) phải được phép kinh doanh theo pháp luật quy định

- Đối với các cá nhân là người sử dụng lao động trong hộ gia đình thì phải từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có nơi cư trú hợp pháp, có khả năng bảo đảm tiền công và điều kiện lao động cho người lao động

2.2 Nội dung của quan hệ pháp luật lao động

Nội dung của quan hệ pháp luật là tổng thể các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đó Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ pháp luật luôn gắn bó với nhau, quyền của chủ thể này là nghĩa vụ của chủ thể kia Các bên có nghĩa vụ tôn trọng quyền và nghĩa vụ của nhau đồng thời các bên phải tôn trọng những quyền và nghĩa vụ mà Nhà nước quy định để bảo đảm trật tự, lợi ích xã hội

Nội dung của quan hệ pháp luật lao động bao gồm các quyền và nghĩa vụ lao động của người lao động và người sử dụng lao động

Trang 18

* Quyền và nghĩa vụ của người lao động

- Quyền của người lao động: Khi tham gia vào các quan hệ pháp luật lao động, người lao động có các quyền cơ bản sau:

+ Được trả lương

+ Được bảo hộ lao động

+ Được nghỉ ngơi theo quy định của pháp luật;

+ Được thành lập, gia nhập, hoạt động Công đoàn theo qui định của luật Công đoàn + Được hưởng phúc lợi tập thể

+ Được đình công theo quy định của pháp luật

Ngoài các quyền trên, lao động đặc thù do có những đặc điểm riêng nên còn được hưởng các quyền riêng theo quy định của pháp luật

- Nghĩa vụ của người lao động: Khi tham gia vào quan hệ pháp luật lao động, người lao động có các nghĩa vụ cơ bản sau:

+ Thực hiện hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể;

+ Chấp hành kỷ luật lao động, nội quy lao động và tuân theo sự điều hành của người sử dụng lao động

+ Không ngừng nâng cao năng suất lao động, bảo đảm chất lượng, có ý thức tiết kiệm và bảo vệ tài sản trong đơn vị

* Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động

- Quyền của người sử dụng lao động: Các quyền của người sử dụng lao động bao gồm:

+ Được tuyển chọn lao động, bố trí, điều hành lao dộng theo nhu cầu sản xuất, kinh doanh

+ Được khen thưởng và xử lý kỷ luật lao động theo quy định của pháp luật lao động; + Được cử đại diện để thương lượng, ký kết thoả ước lao động tập thể trong doanh nghiệp hoặc thoả ước tập thể ngành

- Nghĩa vụ của người sử dụng lao động: Người sử dụng lao động có các nghĩa vụ sau: + Phải cộng tác với Ban chấp hành Công đoàn, bàn bạc các vấn đề về quan hệ lao động, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người lao động

+ Bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động và các điều kiện lao động khác;

+ Bảo đảm kỷ luật lao động;

+ Tôn trọng danh dự, nhân phẩm và đối xử đúùng đắn với người lao động

Những quyền và nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao dộng như trình bày ở trên là những quyền và nghĩa vụ chung nhất trong bất kỳ một quan hệ pháp luật lao động nào Trong từng quan hệ pháp luật lao động cụ thể các bên sẽ có các quyền và nghĩa vụ cụ thể tuỳ thuộc vào từng quan hệ

Trang 19

2.3 Khách thể của quan hệ pháp luật lao động

Khách thể của quan hệ pháp luật nói chung là những lợi ích vật chất, tinh thần và lợi ích xã hội khác có thể thoả mãn những yêu cầu, đòi hỏi các chủ thể vì chúng mà các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật, tức là vì chúng mà các chủ thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ chủ thể của mình Khách thể là cái thức đẩy các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật và quyết định tính chất, nội dung của quan hệ pháp luật

Trong quan hệ pháp luật lao động, việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể để đề nhằm hướng tới sức lao động của người lao động

Như vậy, khách thể của quan hệ pháp luật lao động là sức lao động của người lao động

3 Sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật lao động

Quan hệ pháp luật chỉ phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt dưới sự tác động của ba điều kiện: quy phạm pháp luật, năng lực chủ thể và và sự kiện pháp lý Sự kiện pháp lý là những sự kiện thực tế mà sự tồn tại của chúng được pháp luật gắn với việc phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt một quan hệ pháp luật

Quan hệ pháp luật lao động chỉ phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt khi có những sự kiện pháp lý Việc xác định sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt một quan hệ pháp luật lao động có ý nghĩa rất quan trọng trong việc điều chỉnh của pháp luật đối với quan hệ xã hội Bởi vì thông qua các sự kiện pháp lý mà ta có thể xác định được các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ pháp luật lao động Các loại sự kiện pháp lý khác nhau sẽ để lại hệ quả khác nhau

Sự kiện pháp lý làm phát làm phát sinh quan hệ pháp luật lao động là những sự kiện mà sự xuất hiện của nó là cơ sở pháp lý làm nảy sinh một quan hệ pháp luật lao động Đó là sự kiện người sử dụng lao động tuyển chọn người lao động vào làm việc trong cơ quan, doanh nghiệp, gia đình mình Sự kiện này có thể xuất hiện trên cơ sở những hình thức tuyển dụng lao động khác nhau, song bao giờ cũng thể hiện ý chí của hai bên Điều này thể hiện tính tự do, tự nguyện của quan hệ pháp luật lao động Những quan hệ pháp luật lao động được thiết lập trên cơ sở ép buộc, lừa dối đều không được pháp luật thừa nhận

Sự kiện pháp lý làm thay đổi quan hệ pháp luật lao động là những sự kiện pháp lý làm thay đổi các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ pháp luật lao động đã được xác lập

Sự kiện này có thể xảy ra do ý chí của hai bên, chẳng hạn hai bên thoả thuận thay đổi nội dung của hợp đồng lao động (thay đổi công việc, địa điểm làm việc, …)

Trang 20

Sự kiện này có thể xảy ra do ý chí cuả một bên (của người lao động hoặc người sử dụng lao động) Ví dụ: người sử dụng lao động chuyển người lao động sang làm công việc khác trong trường hợp pháp luật cho phép, người sử dụng lao động cách chức người lao động hoặc chuyển người lao động sang làm công việc khác có mức lương thấp hơn do người lao động vi phạm pháp luật lao động, …

Có trường hợp sự kiện này xảy ra do ý chí của người thứ ba như Toà án ra quyết định cấm người lao động làm công việc cũ do họ vi phạm pháp luật

Để bảo đảm sự ổn định cần thiết của quan hệ pháp luật lao động đã được xác lập, Nhà nước quy định chặt chẽ các trường hợp có thể thay đổi quan hệ pháp luật lao động, nhất là từ phía người sử dụng lao động, bên có thế mạnh trong quan hệ pháp luật lao động

Sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan hệ pháp luật lao động là những sự kiện dẫn đến việc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ pháp luật lao động Sự kiện này bao gồm sự biến và hành vi

Sự biến làm chấm dứt quan hệ pháp luật lao động là những sự kiện không phụ thuộc vào ý chí của con người mà sự tồn tại của chúng sẽ làm chấm dứt một quan hệ pháp luật lao động, ví dụ : người sử dụng lao động chết mà không có người kế tiếp buộc doanh nghiệp phải chấm dứt hoạt động hoặc người lao động chết Trong các trường hợp này, quyền và nghĩa vụ các bên đương nhiên chấm dứt

Hành vi làm chấm dứt quan hệ pháp luật lao động là những sự kiện thể hiện ý chí của con người mà sự tồn tại của chúng sẽ làm chấm dứt một quan hệ pháp luật lao động Hành vi đó có thể thể hiện ý chí của một bên (như người sử dụng lao động sa thải người lao động hoặc một bên đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động); của hai bên (như hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động, hết thời hạn hợp đồng lao động, công việc thoả thuận đã được hoàn thành); của người thứ ba (như Toà án ra quyết định tước quyền tự do của người lao động, cơ quan y tế kết luận người lao động bị bệnh tâm thần – mất năng lực hành vi lao động)

Trang 21

CÂU HỎI CHƯƠNG I:

1 Chứng minh luật lao động là ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam?

2 Đối tương và phương pháp điều chỉnh của Luật lao động

3 Chứng minh Luật lao động bảo vệ quyền lợi của người lao động?

4 Chứng minh Luật lao động bảo vệ quyền lợi của người sử dụng lao động?

5 Tại sao phải kết hợp hài hòa giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội trong luật lao động?

6 Sự biến có làm phát sinh quan hệ pháp luật lao động không? Giải thích

Trang 22

CHƯƠNG II

VIỆC LÀM, HỌC NGHỀ

I VIỆC LÀM

1 Khái niệm

Hiện nay, việc làm được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau

Dưới góc độ kinh tế xã – hội: có quan niệm cho rằng, việc làm là một vấn đề có tính chất cá nhân, trong đó có sự trả công do có sự tham gia có tính chất cá nhân và trực tiếp của người lao động vào quá trình sản xuất; cũng có quan niệm cho rằng việc làm là tất cả những gì quan hệ đến cách thức kiếm sống của con người, kể cả các quan hệ xã hội, và các tiêu chuẩn hành vi tạo thành quá trình kinh tế; có quan niệm lại cho rằng việc làm là sự kết hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất nhằm biến đổi đối tượng lao động theo mục đích của con người …

Qua các quan niệm trên cho thấy việc làm phải tạo ra thu nhập để nuôi sống bản thân người lao động và gia đình họ ở mức độ tối thiểu trở lên Đồng thời, việc làm tuy là hoạt động của mỗi cá nhân nhưng lại luôn gắn với xã hội

Dưới góc độ pháp lý, trong Bộ luật Lao động, việc làm được hiểu là mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm

Khái niệm này đã giải toả được quan niệm cũ cho rằng chỉ làm việc trong khu vực Nhà nước mới được coi là có việc làm Theo quan niệm đó thì lao động tạo ra nguồn thu nhập không chỉ trong cơ quan nhà nước mà còn cả khu vực ngoài quốc doanh, không chỉ ngoài xã hội mà còn cả tại gia đình nếu không bị pháp luật cấm đều được coi là việc làm Như vậy sẽ mở rộng và đa dạng hoá được thị trường lao động, xây dựng được quan niệm mới về giá trị xã hội của việc làm

Khái niệm trên còn làm nổi bật đặc trưng của nhà nước pháp quyền, thể hiện ở chỗ: trong nhà nước pháp quyền, công dân được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm Điều đó cũng có nghĩa rằng có những việc làm tuy có tạo ra nguồn thu nhập nhưng bị pháp luật cấm thì không được thừa nhận là “việc làm”

Trang 23

Việc làm và giải quyết việc làm có ý nghĩa to lớn cả về mặt kinh tế – xã hội và pháp lý đối với cả quốc gia cũng như cá nhân người lao động

Đối với mỗi quốc gia, đảm bảo việc làm cho công dân là một trong những chỉ tiêu quan trọng cùng với các chỉ tiêu khác dùng để đánh giá mức độ phát triển của một quốc gia, tính ưu việt của một chế độ xã hội

Đối với toàn xã hội, giải quyết tốt vấn đề việc làm, hạn chế thất nghiệp giúp cho xã hội phát triển ổn định, bền vững, bảo đảm sự phát triển hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, ngăn ngừa, hạn chế các tệ nạn tiêu cực

Đối với một cá nhân, việc làm không chỉ là nguồn sống mà còn là một trong những điều kiện quan trọng để phát triển nhân cách, giữ gìn nhân phẩm con người

Trong lĩnh vực quan hệ lao động, việc làm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Nó là điều kiện tiên quyết để người sử dụng lao động và người lao động thiết lập quan hệ pháp luật lao động thông qua việc giao kết hợp đồng lao động Đồng thời, nó còn là một yếu tố thuộc về nội dung của quan hệ lao động Nói cách khác, không có việc làm, tức là một công việc cụ thể thì sẽ không có hợp đồng lao động, cũng có nghĩa là không có quan hệ lao động và những yếu tố khác làm nên nội dung của quan hệ lao động

Chính vì những lý do trên, nên vấn đề làm việc và chống thất nghiệp luôn được tổ chức lao động quốc tế (ILO) quan tâm Ngay trong lời nói đầu Điều lệ của ILO đã xác định, một trong những nhiệm vụ của tổ chức này là: “Chống nạn thất nghiệp, bảo đảm tiền công đủ sống” cho người lao động Tuyên ngôn Philadenphia cũng ghi nhận mục đích hàng đầu của các chương trình cần thực hiện của ILO là : “Toàn dụng lao động và nâng cao mục đích sống” cho người lao động Kể từ khi thành lập đến nay, ILO đã tích cực thực hiện nhiệm vụ của mình trong lĩnh vực việc làm trên hai mặt chủ yếu là : thông qua các công ước về việc làm và thực hiện các hoạt động thuộc chương trình hỗ trợ việc làm cho các quốc gia và khu vực ILO đã thông qua nhiều công ước về việc làm như : Công ước số 88 (1948) về tổ chức việc làm ; Công ước 122(1964) về chính sách việc làm; Công ước số 159 (1983)về việc tái thích ứng nghề nghiệp và việc làm của người có khuyết tật; Công ước sô168 (1988)về xúc tiến việc làm và bảo vệ chống lại thất nghiệp Đây là những căn cứ quan trọng để các quốc gia thành viên, trong đó có Việt Nam , xây dựng hệ thống pháp luật của mình về việc làm

Trong chương trình nghị sự tại các hội nghị thường niên của tổ chức lao động quốc tế thì việc làm cũng luôn là một nội dung quan trọng

Việc làm và giải quyết việc làm cũng luôn được các quốc gia quan tâm Nhìn chung , vấn đề giải quyết việc làm được các quốc gia giải quyết theo hai hướng : xây dựng hệ thống luật pháp quốc gia về việc làm và hệ thông tổ chức các hoạt động giải quyết việc làm Trong đó, xây dựng hệ thống pháp luật về vịêc làm là một vấn đề được các quốc gia

Trang 24

rất chú trọng và thực hiện Nhiều nước đã ban hành các đạo luật về việc làm, có các chương về việc làm trong bộ luật lao động Cùng với việc xây dựng hệ thống pháp luật, các nước cũng rất coi trọng các hoạt động về giải quyết việc làm do chính phủ trực tiếp tổ chức thực hiện với sự hỗ trợ giúp của các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ Nhiều chính sách thị trường lao động tích cực đãû được các quốc gia triển khai thực hiện như : đào tạo, đào tạo miễn phí, việc làm đối với thanh niên là người khuyết tật

Ở nước ta , trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung trước kia , với việc tuyệt đối hóa thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa với hai hình thức sở hữu là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, phủ nhận hoặc không nhìn nhận đúng mức sự tồn tại của các thành phần kinh tế khác, quan niệm phiến diện về việc làm và giải quyết việc làm, do vậy việc làm

bị bó hẹp trong phạm vi biên chế Nhà nước hoặc chỉ những người làm việc trong hợp tác xã mới được coi là có việc làm Từ quan niệm như vậy pháp luật lao động chỉ chủ yếu quy định về chế độ, chính sách tuyển dụng và cho thôi việc đối với công nhân viên chức nhà nước Người lao động và người sử dụng lao động là các cơ quan, xí nghiệp hầu như thụ động, năng suất lao động thấp, biên chế nhiều Tuy vậy, trong thời kỳ này, pháp luật cũng đã có những quy định về bố trí việc làm cho lao động dư thừa, về phân bố lao động, về sắp xếp việc làm cho những người chưa có việc làm, người thiếu việc làm ở thành thị và thực hiện hợp tác lao động với các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu cũ

Từ năm 1986 đến nay, với việc thực hiện chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường quan niệm về việc làm và giải quyết việc làm cũng có nhiều thay đổi Về nguyên tắc, công dân có quyền tự do kinh doanh, tự do thuê mướn lao động Người lao động có quyền làm việc cho bất kỳ ai, ở bất kỳ nơi nào mà pháp luật không cấm Giải quyết việc làm từ chỗ là trách nhiệm của riêng Nhà nước, nay còn là trách nhiệm của các tổ chức xã hội, của các doanh nghiệp và mỗi người sử dụng lao động và kể cả người lao động Nhà nước tạo ra những điều kiện cần thiết thông qua cơ chế, chính sách và hỗ trợ một phần tài chính để khuyến khích các đơn vị kinh tế, các tổ chức và người lao động tự giải quyết việc làm và tự tạo việc làm mới Chế độ tuyển dụng vào biên chế Nhà nước được thay thế dần bằng chế độ tuyển dụng theo hợp đồng lao động Nguồn lực để giải quyết việc làm từ chỗ chỉ do một nguồn của ngân sách nhà nước, nay chuyển sang khai thác nhiều nguồn, trong đó có nguồn của dân là chủ yếu Đồng thời tranh thủ và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư, các nguồn tài trợ của nước ngoài, gắn giải quyết việc làm tại chổ, ở trong nước với việc mở rộng quan hệ quốc tế về việc làm

2 Quan hệ việc làm

Những quy định về việc làm trong Bộ luật lao động mang tính khái quát cao, bước đầu đã tiếp cận với một số nội dung, quan niệm của quốc tế trong lĩnh vực việc làm, đặt

Trang 25

nền móng cho việc xây dựng hệ thống pháp luật giải quyết việc làm ở nước ta, là cơ sở để thiết lập các quan hệ về việc làm

Quan hệ về việc làm bao gồm 3 loại:

− Quan hệ về bảo đảm việc làm giữa Nhà nước với người lao động

− Quan hệ về bảo đảm việc làm giữa người sử dụng lao động với người lao động

− Quan hệ giữa các tổ chức giới thiệu việc làm với người lao động

2.1 Quan hệ về bảo đảm việc làm giữa Nhà nước với người lao động

Chủ thể của quan hệ này là Nhà nước và người lao động

Nội dung của quan hệ này bao gồm trách nhiệm của Nhà nước và người lao động đối với vấn đề việc làm

Về phía Nhà nước, trách nhiệm trực tiếp thuộc về Chính phủ, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cụ thể:

− Nhà nước định chỉ tiêu làm mới trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và hàng năm, tạo điều kiện cần thiết, hỗ trợ tài chính, cho vay vốn hoặc giảm, miễn thuế và áp dụng các biện pháp khuyến khích khác để mọi người có khả năng lao động tự giải quyết việc làm, để các tổ chức đơn vị và cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển nhiều nghề mới nhằm tạo việïc làm cho nhiều người lao động

Chỉ tiêu việc làm mới là số lao động mới cần tuyển thêm vào làm việc thường xuyên tại doanh nghiệp, tổ chức, đơn vị và cá nhân sử dụng lao động theo hợp đồng lao động thuộc mọi thành phần kinh tế do nhu cầu mới thành lập hoặc mở rộng thêm về quy mô và các mặt hoạt động, sắp xếp lại lao động Ở đây, điều đáng lưu ý là việc sử dụng lao động trong chỉ tiêu tạo việc làm mới phải theo hình thức hợp đồng lao động, còn bất kỳ hình thức sử dụng lao động nào khác cũng không được gọi là chỉ tiêu tạo việc làm mới

Chỉ tiêu tạo việc làm mới có ý nghĩa rất quan trọng trong vấn đề tạo việc làm nên pháp luật quy định trong các chương trình, dự án và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội nhất thiết phải có các chỉ tiêu tạo việc làm Đồng thời, hằng năm các doanh nghiệp, tổ chức, đơn vị và cá nhân có sử dụng lao động phải báo cáo kết quả thực hiện chỉ tiêu tạo việc làm mới về các Bộ, ngành và địa phương có trách nhiệm tổng hợp và báo cáo chỉ tiêu tạo việc làm mới về Bộ lao động – Thương binh và Xã hội và các cơ quan hữu quan Với quy định như vậy thì các doanh nghiệp, tổ chức, các bộ ngành và địa phương cũng như cả nước xác định được chỉ tiêu tạo việc làm mới

− Nhà nước có chính sách ưu đãi về giải quyết việc làm để thu hút và sử dụng lao động là người dân tộc thiểu số

Trang 26

− Nhà nước có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức và cá nhân trong và nước ngoài, bao gồm cả người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, để giải quyết việc làm cho người lao động

− Chính phủ lập chương trình quốc gia về việc làm, dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, di dân phát triển vùng kinh tế mới gắn với chương trình giải quyết việc làm; quỹ quốc gia về việc làm từ ngân sách nhà nước và các nguồn lực khác, phát triển hệ thống tổ chức giới thiệu việc làm Hằng năm, Chính phủ trình Quốc hội quyết định chương trình và quỹ quốc gia về việc làm

Chương trình quốc gia về việc làm bao gồm: mục tiêu, chỉ tiêu, các nội dung hoạt động, thời gian, các giải pháp, nguồn tài chính, tổ chức thực hiện và quản lý chương trình Đây là những nội dung quan trọng được xác định trong Chương trình quốc gia về việc làm

Quỹ quốc gia về việc làm được hình thành từ các nguồn: Ngân sách nhà nước; Các nguồn hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước; Các nguồn hỗ trợ khác Quỹ quốc gia về việc làm được sử dụng vào các mục đích:

+ Cho vay vốn theo dự án nhỏ để giải quyết việc làm cho một số đối tượng

+ Cho các doanh nghiệp vay để hạn chế lao động mất việc làm và nhận người thất nghiệp

+ Hỗ trợ để cũng cố và phát triển hệ thống tổ chức giới thiệu việc làm và các hoạt động phát triển thị trường lao động

− Ủy ban nhân dân cấp tỉnh lập chương trình và quỹ giải quyết việc làm của địa phương bao gồm: mục tiêu, chỉ tiêu, các nội dung hoạt động, thời gian các giải pháp, nguồn tài chính, tổ chức thực hiện và quản lý chương trình

Quỹ giải quyết việc làm của địa phương được hình thành từ các nguồn:

+ Ngân sách của địa phương do Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định

+ Các nguồn hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước

+ Các nguồn hỗ trợ khác

Quỹ giải quyết việc làm được sử dụng theo đúng mục tiêu của Chương trình giải quyết việc làm của địa phương Trong thời gian vừa qua, việc sử dụng Quỹ quốc gia về việc làm và Quỹ giải quyết việc làm của địa phương vào mục đích hỗ trợ để phát triển thị trường lao độâng rất phong phú và có tác động tích cực đến người lao động và người sử dụng lao động Việc tổ chức hội chợ việc làm ở các địa phương đã đem lại tác động tích cực trong việc cung cấp thông tin nhiều chiều về thị trường lao động, tạo điều kiện để người lao động và người sử dụng lao động trực tiếp trao đổi và tuyển dụng

Trang 27

Về phía người lao động, người lao động có quyền và trách nhiệm tự tạo việc làm cho mình thông qua sự hỗ trợ của Nhà nước

2.2 Quan hệ về bảo đảm việc làm giữa người sử dụng lao động và người lao động Chủ thể của quan hệ này là người sử dụng lao động và người lao động

Nội dung của quan hệ này bao gồm quyền, trách nhiệm của người sử dụng lao động và người lao động đối với vấn đề việc làm

Quyền, trách nhiệm của người sử dụng lao động bao gồm :

− Người sử dụng lao động có quyền trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức giới thiệu việc làm để tuyển chọn lao động, có quyền tăng, giảm lao động phù hợp với nhu cầu sản xuất, kinh doanh theo qui định của pháp luật

Cho dù người lao động trực tiếp hay thông qua các tổ chức giới thiệu việc làm để tuyển lao động thì đều phải tuân theo các qui định của pháp luật về thủ tục tuyển dụng lao động

Thủ tục tuyển dụng lao động được thực hiện như sau:

Ít nhất 7 ngày , trước khi nhận hồ sơ đăng ký dự tuyển của người lao động, ngưới sử dụng lao động phải thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết tại trụ sở về nhu cầu tuyển dụng lao động Nội dung bao gồm : nghề , công việc , trình độ chuyên môn, số lượng cần tuyển, thời hạn lao động, mức lương, điều kiện làm việc và một số yêu cầu cần thiết khác nếu doanh nghiệp yêu cầu:

Hồ sơ đăng kí dự tuyển gồm:

+ Phiếu đăng ký dự tuyển theo mẫu qui định của Bộ Lao động thương binh và xã hội

+ Bản sao sổ lao động (không cần công chứng ) Trường hợp chưa được cấp sổ lao động thì phải có sơ yếu lý lịch theo mẩu doBộ Lao động thương binh và xã hội qui định + Bản sao các văn bằng, chứng chỉ theo yêu cầu của vị trí dự tuyển (không cần công chứng)

+ Giấy khám sức khỏe của cơ quan y tế có thẩm quyền(cấp huyện trở lên)

+ Các giấy tờ do doanh nghiệp qui định do tính chất, yêu cầu của công việc

Khi nhận hồ sơ đăng ký dự tuyển lao động, người sử dụng lao động phải vào sổ theo dõi và trao giấy biên nhận hồ sơ cho người lao động trong đó ghi rõ thời gian dự tuyển Khi người lao động không trúng tuyển hoặc không đến dự tuyển, thì người sử dụng lao động phải trả hồ sơ cho người lao động và thu lại giấy biên nhận

Trang 28

Qui định về hồ sơ đăng ký dự tuyển là qui định mới của Chính phủ so với trước đây Hồ sơ đăng ký dự tuyển thay cho hồ sơ xin việc làm trước kia, đã xác định vị thế của người lao động đối với người sử dụng lao động, tránh mặc cảm và nhìn nhận theo kiểu “ xin - cho” trong việc tuyển dụng lao động

Người sử dụng lao động chịu trách nhiệm chi trả mọi chi phí cho việc tuyển lao động(trừ hồ sơ đăng ký dự tuyển lao động)

Người lao động có thể trực tiếp nộp hồ sơ cho doanh nghiệp hoặc đăng ký việc làm thông qua tổ chức giới thiệu việc làm Khi đăng ký, người lao động cũng phải nộp hồ sơ cho tổ chức giới thiệu việc làm như trường hợp trực tiếp nộp hồ sơ đã nêu trên Nếu nhận được việc làm thì người lao động phải trả phí giới thiệu việc làm cho tổ chức giới thiệu việc làm

− Trong trường hợp do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ mà người lao động đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên bị mất việc thì người sử dụng lao động có trách nhiệm đào tạo lại họ để tiếp tục sử dụng vào những chổ làm mới Nếu không thể giải quyết được việc làm mới cho ngưới lao động thì người lao động được thôi việc Người sử dụng lao động phải giải quyết trợ cấp mất việc làm, cứ mỗi năm làm việc bằng một tháng lương, nhưng thấp nhất cũng bằng hai tháng lương

Những trường hợp được coi là thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ :

+ Thay đổi một phần hoặc toàn bộ máy móc, thiết bị, qui trình công nghệ tiên tiến có năng suất lao động cao hơn;

+ Thay đổi cơ cấu sản phẩm dẫn đến sử dụng lao động ít hơn

Khi cần cho nhiều người lao động thôi việc theo trường hợp trên, người sử dụng lao động phải công bố danh sách cho thôi việc Danh sách này căn cứ vào nhu cầu của doanh nghiệp và thâm niên làm việc tại doanh nghiệp, tay nghề, hoàn cảnh gia đình và các yếu tố khác của từng người để lần lượt cho thôi việc, sau khi trao đổi, nhất trí với Ban chấp hành công đoàn cơ sở trong doanh nghiệp Việc cho thôi việc chỉ được tiến hành sau khi doanh nghiệp tiến hành báo cáo với cơ quan quản lý nhà nước về lao động địa phương

− Các doanh nghiệp phải lập quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm để kịp thời trợ cấp cho người lao động trong doanh nghiệp bị mất việc làm

Mức trích quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc từ 1%-3% trên quỹ tiền lương làm cơ sở đóng bảo hiểm xã hội của doanh nghiệp

2.3 Quan hệ giữa các tổ chức giới thiệu việc làm và người lao động

Chủ thể của quan hệ lao động này là tổ chức giới thiệu việc làm và người lao động Nội dung của quan hệ này bao gồm quyền, trách nhiệm của các chủ thể trên

Trang 29

− Tổ chức giới thiệu việc làm có nhiệm vụ tư vấn, giới thiệu việc làm cho người lao động: cung ứng, tuyển dụng lao động theo nhu cầu của người tuyển dụng lao động; thu thập, cung ứng thông tin về thị trường lao động và các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật

Các tổ chức giới thiệu việc làm bao gồm : các trung tâm giới thiệu việc làm và các doanh nghiệp giới thiệu việc làm

Các doanh nghiệp chuyên giới thiệu việc làm, nhưng là hoạt động chuyên giới thiệu việc làm mà không hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khác Các doanh nghiệp này phải bảo đảm đủ các điều kiện do Thủ tướng Chính phủ qui định và được Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cấp phép hoạt động

− Người lao động cần tìm việc làm có quyền trực tiếp liên hệ để tìm việc làm hoặc đăng ký tại các tổ chức giới thiệu việc làm để tìm việc tùy theo nguyện vọng khả năng , trình độ nghề nghiệp và sức khỏe của mình

Như vậy qua các quan hệ trên, có thể xác định các chủ thể tham gia vào quan hệ việc làm bao gồm: Nhà nước, người sử dụng lao động, tổ chức giới thiệu việc làm , người lao động Trong đó Nhà nước đã xác định quyền, trách nhiệm của các chủ thể tham gia vào quan hệ này

Bên cạnh đó, Nhà nước còn qui định các tổ chức kinh tế, các đoàn thể nhân dân và tổ chức xã hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tham gia thực hiện các chương trình và quỹ giải quyết việc làm

II HỌC NGHỀ

1 Quan hệ học nghề

Hiện nay, các quốc gia trên thế giới ngày càng coi trọng việc đào tạo và đào tạo lại nghề và coi đó là một bộ phận quan trọng của chế độ giáo dục hiện đại, một biện pháp chiến lược của việc phát triển kinh tế quốc dân Rất nhiều nước có những đạo luật riêng về đào tạo nghề hoặc có chế định riêng về đào tạo nghề trong Bộ luật lao động

Đối với mỗi người, để tìm được việc làm nhanh chóng, dễ dàng và nâng cao khả năng cạnh tranh trong thị trường lao động; để giữ được chỗ làm việc hoặc tìm được chỗ làm việc với thu nhập cao thì có nghề là một điều kiện quan trọng hàng đầu, có tính tiên quyết Trong giai đoạn hiện nay, để thực hiện mục tiêu đẩy mạnh “công nghiệp hoá, hiện đại hoá” đất nước, cũng như để tham gia vào quá trình phân công và hợp tác lao động quốc tế thì việc đào tạo nghề cho người lao động là một yêu cầu cần thiết Do đó, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác dạy nghề

Trang 30

Xuất phát từ vai trò vô cùng quan trọng của dạy nghề và học nghề, Bộ luật lao động được ban hành năm 1994 đã dành hẳn một chương quy định về học nghề (chương III) Những quy phạm pháp luật về học nghề đã tạo ra một khung pháp lý tương đối hoàn chỉnh để tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể tham gia vào quan hệ học nghề – dạy nghề

Tuy nhiên cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội thì quan hệ học nghề – dạy nghề cũng phát triển không ngừng, ngày càng phong phú, đa dạng về hình thức và phức tạp về nội dung Chính vì vậy, ngày 29 tháng 11 năm 2006, Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Dạy nghề có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 06 năm 2007 Luật Dạy nghề quy định về tổ chức, hoạt động của cơ sở dạy nghề, quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động dạy nghề Theo Luật dạy nghề thì “dạy nghề” được hiểu là: hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học

Những quy định trong Luật dạy nghề đã khắc phục được tính chung chung trong chương III của Bộ luật Lao động qui định về các hình thức và trình độ đào tạo nghề Theo đó, dạy nghề có thể thực hiện dưới hai hình thức là dạy nghề chính quy và dạy nghề thường xuyên Như vậy, Luật dạy nghề đã mở rộng phạm vi chủ thể tham gia quan hệ học nghề so với Bộ luật lao động, theo đó, cơ sở dạy nghề bao gồm cả hệ thống trường nghề chính quy, đảm bảo sự bình đẳng giữa cơ sở dạy nghề công lập và tư thục Cũng trong Luật dạy nghề, trình độ đào tạo nghề được phân thành ba cấp là sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề

Tuy nhiên, dù quan hệ pháp luật dạy nghề - học nghề có được thể hiện dưới hình thức nào và cấp trình độ nào thì cấu thành của quan hệ này cũng gồm ba bộ phận là chủ thể, nội dung và khách thể

1.1 Chủ thể của quan hệ dạy nghề

Chủ thể của quan hệ học nghề là các bên tham gia vào quan hệ này, bao gồm: cơ sở dạy nghề và người học nghề

1.1.1 Cơ sở dạy nghề

Cơ sở dạy nghề là các cơ sở có hoạt động dạy nghề, bổ túc nghề cho người lao động Cơ sở dạy nghề bao gồm các loại hình trung tâm dạy nghề; trường trung cấp nghề và trường cao đẳng nghề do Nhà nước hoặc do các cá nhân, tổ chức trong hoặc ngoài nước thành lập theo các hình thức công lập, tư thục hoặc liên doanh

Trung tâm dạy nghề, trường trung cấp nghề, trường cao đẳng nghề công lập do Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên

Trang 31

Trung tâm dạy nghề, trường trung cấp nghề, trường cao đẳng nghề tư thục do các tổ chức hoặc cá nhân thành lập, đầu xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên

Trung tâm dạy nghề, trường trung cấp nghề, trường cao đẳng nghề có vốn đầu tư nước ngoài thành lập theo hình thức liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài do tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên

Doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo luật doanh nghiệp có đăng ký hoạt động dạy nghề, bổ túc nghề cho người lao động để đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất, kinh doanh hoặc sự thay đổi cơ cấu của doanh nghiệp

Tất cả cơ sở dạy nghề trên phải đủ điều kiện theo quy định của pháp luật về việc thành lập, tổ chức, hoạt động Cụ thể những điều kiện đó là:

- Có trường sở, khả năng tài chính và thiết bị dạy lý thuyết, thực hành phù hợp với nghề, trình độ nghề và quy mô đào tạo;

- Có đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đạt tiêu chuẩn về phẩm chất, trình độ chuẩn và kỹ năng nghề bảo đảm thực hiện mục tiêu, chương trình dạy nghề

Thủ tục thành lập, cho phép thành lập, đình chỉ hoạt động dạy nghề, sáp nhập, chia, tách, giải thể trung tâm dạy nghề, trường trung cấp nghề, trường cao đẳng nghề và đăng ký hoạt động dạy nghề do Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề ở Trung ương quy định

Trung tâm dạy nghề, trường trung cấp nghề, trường cao đẳng nghề có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập, ngoài những tiêu chuẩn trên còn có văn bản chứng nhận của ngân hàng về vốn điều lệ

Khi có đủ các điều kiện trên và văn bản thoả thuận của cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề có thẩm quyền thì cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư sẽ xem xét để cấp giấy chứng nhận đầu tư cho trung tập dạy nghề, trường trung cấp nghề, trường cao đẳng nghề có vốn đầu tư nước ngoài

Doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp có đăng ký hoạt động dạy nghề, bổ túc nghề cho người lao động phải bảo đảm về điều kiện thành lập theo quy định của Luật doanh nghiệp

Như vậy ta thấy điều kiện và thủ tục thành lập, hoạt động của trung tập dạy nghề, trường trung cấp nghề, trường cao đẳng nghề có vốn đầu tư trong nước và trung tập dạy nghề, trường trung cấp nghề, trường cao đẳng nghề có vốn đầu tư nước ngoài được Luật Dạy nghề quy định có những điểm khác nhau

Trang 32

Tham gia dạy nghề là những giáo viên có đủ điều kiện theo qui định của pháp luật đối với từng trình độ dạy nghề về lý thuyết hoặc thực hành Người dạy nghề phải bảo đảm các nhiệm vụ, quyền hạn theo qui định của pháp luật khi tham gia dạy nghề

Giáo viên dạy nghề phải bảo đảm những tiêu chuẩn chung như sau:

- Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt;

- Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ;

- Đủ sức khoẻ theo yêu cầu nghề nghiệp;

- Lý lịch bản thân rõ ràng

Về trình độ của giáo viên dạy nghề được qui định như sau:

- Giáo viên dạy lý thuyết trình độ sơ cấp nghề phải có bằng tốt nghiệp trung cấp nghề trở lên; giáo viên dạy thực hành phải là người có bằng tốt nghiệp trung cấp nghề trở lên hoặc nghệ nhân, người có tay nghề cao;

- Giáo viên dạy lý thuyết trình độ trung cấp nghề phải có bằng tốt nghiệp đại học sư phạm kỹ thuật hoặc đại học chuyên ngành; giáo viên dạy thực hành phải là người có bằng tốt nghiệp cao đẳng nghề hoặc là nghệ nhân, người có tay nghề cao;

- Giáo viên dạy lý thuyết trình độ cao đẳng nghề phải có bằng tốt nghiệp đại học sư phạm kỹ thuật hoặc đại học chuyên ngành trở lên; giáo viên dạy thực hành phải là người có bằng tốt nghiệp cao đẳng nghề hoặc là nghệ nhân, người có tay nghề cao;

Trường hợp giáo viên dạy nghề trên đây không có bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm kỹ thuật hoặc đại học sư phạm kỹ thuật thì phải có chứng chỉ đào tạo sư phạm

Các cơ sở dạy nghề có thể mời người có đủ tiêu chuẩn như trên đến giảng dạy theo chế độ thỉnh giảng

1.1.2 Người học nghề

Công dân có quyền lao động, tự do lựa chọn nghề nghiệp và nơi làm việc, điều đó cũng có nghĩa là công dân có quyền học nghề để thực hiện quyền lao động của mình Theo quy định của Luật dạy nghề thì mọi người đều có quyền tự do lựa chọn nghề và nơi học nghề phù hợp với nhu cầu việc làm của mình

Người học nghề ít nhất phải đủ 13 tuổi Những người dưới 13 tuổi chỉ được học một số nghề do Bộ Lao độâng – Thương binh và Xã hội quy định và phải có đủ trình độ và sức khỏe theo yêu cầu của nghề theo học và cấp trình độ nghề

Ngoài ra, tuỳ vào mỗi cấp trình độ nghề đào tạo và đối tượng học nghề thì pháp luật quy định thời gian học khác nhau

Trang 33

1.2 Nội dung của quan hệ dạy nghề

Nội dung của quan hệ dạy nghề - học nghề bao gồm các quyền và nghĩa vụ của cơ sở dạy nghề và người học nghề

1.2.1 Nhiệm vụ và quyền hạn của cơ sở dạy nghề

Các cơ sở dạy nghề gồm trung tâm dạy nghề, trường trung cấp nghề, trường cao đẳng nghề Trong qúa trình hoạt động dạy nghề các cơ sở dạy nghề có các nhiệm vụ và quyền hạn sau:

- Tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong tổ chức, quản lý và xây dựng chương trình, giáo trình đào tạo nghề theo quy định của pháp luật;

- Tư vấn học nghề, tư vấn việc làm miễn phí cho người học nghề;

- Tổ chức cho người học nghề tham quan, thực tập tại doanh nghiệp;

- Liên doanh, liên kết hoạt động dạy nghề với doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài;

- Được thành lập doanh nghiệp và tổ chức sản xuất, kinh doanh, dịch vụ theo quy định của pháp luật;

- Đưa nội dung giảng dạy về ngôn ngữ, phong tục tập quán, pháp luật có liên quan của nước mà người lao động đến làm việc và pháp luật có liên quan của Việt Nam vào chương trình dạy nghề khi tổ chức dạy nghề cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài Ngoài những nội dung chủ yếu trên đây thì trung tâm dạy nghề có các quyền hạn và nhiệm vụ được quy định trong quy chế mẫu của trung tâm dạy nghề; Trường trung cấp nghề, trường cao đẳng nghề có quyền hạn và nghĩa vụ được quy định trong điều lệ mẫu của trường

Quy chế mẫu của trung tâm dạy nghề, điều lệ mẫu của trường trung cấp nghề, điều lệ mẫu của trường cao đẳng nghề do Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề ở Trung ương ban hành

b Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp trong hoạt động dạy nghề

Trong hoạt động dạy nghề các doanh nghiệp có quyền:

- Thành lập trung tâm dạy nghề, trường trung cấp nghề, trường cao đẳng nghề để đào tạo nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và cho xã hội

- Tổ chức dạy nghề cho người lao động để làm việc cho doanh nghiệp; được Nhà nước hỗ trợ khi tiếp nhận người tàn tật vào học nghề và làm việc cho doanh nghiệp

- Liên doanh, liên kết với cơ sở dạy nghề để tổ chức dạy nghề cho người lao động, tổ chức nghiên cứu, sản xuất, ứng dụng, chuyển giao công nghệ theo quy định của Luật dạy nghề và quy định khác của pháp luật có liên quan

Trang 34

- Được cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề, cơ sở dạy nghề mời tham gia hội đồng thẩm định chương trình, giáo trình dạy nghề; giảng dạy, hướng dẫn thực tập nghề và đánh giá kết quả học tập của người học nghề; tham gia xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề, đánh giá kỹ năng nghề quốc gia đối với những nghề liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Được trừ để tính thu nhập chịu thuế theo quy định của pháp luật đối với các khoản chi phí sau đây:

+ Các khoản đầu tư, chi phí hợp lý của doanh nghiệp để duy trì hoạt động của cơ sở dạy nghề trực tiếp phục vụ cho sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp;

+ Chi phí dạy nghề của doanh nghiệp cho người lao động được tuyển dụng vào làm việc cho doanh nghiệp

Doanh nghiệp dạy nghề phải thực hiện các nghĩa vụ sau:

- Cung cấp thông tin về ngành nghề, nhu cầu đào tạo và sử dụng lao động của doanh nghiệp cho cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề

- Tiếp nhận người học nghề đến tham quan, thực tập kỹ năng nghề tại doanh nghiệp thông qua hợp đồng với cơ sở dạy nghề

- Trả công cho người học nghề khi họ trực tiếp hoặc tham gia làm ra sản phẩm cho doanh nghiệp Mức tiền công do hai bên thoả thuận

Ngoài ra, nếu cở sở dạy nghề có hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng nghề và đào tạo lại nghề cho người lao động của doanh nghiệp thì phải thực hiện các nghĩa vụ sau:

- Xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng nghề cho người lao động của doanh nghiệp để đáp ứng nhu cầu sử dụng nhân lực và đổi mới công nghệ trong sản xuất, kinh doanh

- Tạo điều kiện cho người lao động của doanh nghiệp vừa làm, vừa học để nâng cao trình độ kỹ năng nghề

- Đào tạo lại nghề cho người lao động khi chuyển sang làm công việc khác của doanh nghiệp Chi phí đào tạo lại và tiền lương, tiền công cho người lao động trong thời gian học nghề do doanh nghiệp chi trả

2.1.2 Quyền và nghĩa vụ của người học nghề

* Quyền của người học nghề

- Được học tập, rèn luyện theo mục tiêu dạy nghề hoặc hợp đồng học nghề đã giao kết;

- Được bảo lưu kết quả học tập theo quy định của pháp luật;

- Được cơ sở dạy nghề tôn trong và đối xử bình đẳng, được cung cấp đầy đủ thông tin về việc học tập, rèn luyện của mình;

Trang 35

- Được cấp chứng chỉ sơ cấp nghề theo quy định;

- Được cấp bằng trung cấp nghề, bằng cao đẳng nghề theo quy định;

- Được sử dụng thiết bị, phương tiện của cơ sở dạy nghề phục vụ việc học tập, thực hành, thực tập nghề và các hoạt động văn hoá, thể dục, thể thao Được bảo đảm các điều kiện về an toàn, vệ sinh lao động trong quá trình học tập, thực hành, thực tập nghề theo quy định của pháp luật;

- Được trực tiếp hoặc thông qua đại diện hợp pháp của tập thể người học nghề kiến nghị với cơ sở dạy nghề về các giải pháp góp phần xây dựng cơ sở dạy nghề, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình;

- Được hưởng các chính sách đối với người học nghề theo quy định của pháp luật;

* Nghĩa vụcủa người học nghề

- Học tập, rèn luyện theo chương trình, kế hoạch đào tạo;

- Tôn trong giáo viên, cán bộ và nhân viên; đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong học tập; thực hiện quy chế của cơ sở dạy nghề, chấp hành pháp luật;

- Đóng học phí theo quy định;

- Tham gia lao động và hoạt động xã hội, hoạt động bảo vệ môi trường;

- Giữ gìn, bảo vệ tài sản của cơ sở dạy nghề, nơi thực hành, thực tập nghề;

- Tuân thủ các quy định về an toàn lao động và vệ sinh lao động;

- Thực hiện nghĩa vụ làm việc có thời hạn theo quy định trong hợp đồng học nghề và quy định của pháp luật;

- Thực hiện nếp sống văn minh, lành mạnh; tham gia xây dựng, bảo vệ và phát huy truyền thống của cơ sở dạy nghề;

1.3 Khách thể của quan hệ dạy nghề

Khách thể của một quan hệ pháp luật nói chung là lợi ích vật chất, tinh thần hay lợi ích xã hội khác có thể thoả mãn những yêu cầu, đòi hỏi của các chủ thể vì chúng mà các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật, tức là vì chúng mà các chủ thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ chủ thể của mình Khách thể là cái thúc đẩy các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật

Quan hệ dạy nghề là một quan hệ pháp luật nên cũng bảo đảm cấu thành chủ thể, nội dung và khách thể Trong quan hệ này, cái mà các bên chủ thể là cơ sở dạy nghề và người học nghề cùng quan tâm tới, thúc đẩy các bên tìm đến với nhau chính là nghề được đào tạo Tuỳ thuộc vào mỗi quan hệ cụ thể được giao kết thì sẽ có những thông tin chính xác về nghề được đào tạo Luật dạy nghề với tính chất là khung pháp lý để các bên xác lập quan hệ dạy nghề

Trang 36

1.3.1 Sơ cấp nghề

Dạy nghề trình độ sơ cấp nhằm trang bị cho người học nghề năng lực thực hành một nghề đơn giản hoặc năng lực thực hành một số công việc của một nghề; có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn

Vì mục tiêu đào tạo trình độ sơ cấp nghề không cao, nên thời gian đào tạo nghề chỉ là từ 3 tháng đến dưới1 năm Tuỳ vào trình độ, sức khoẻ của người học nghề và nghề được đào tạo Do đó yêu cầu về nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo sơ cấp nghề cũng chưa cao

1.3.2 Trung cấp nghề

Dạy nghề trình độ trung cấp nhằm trang bị cho người học nghề kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề; có khả năng làm việc độc lập và ứng dụng kỹ thuật công nghệ vào công việc; có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn

Thời gian đào tạo trung cấp nghề là từ một đến hai năm tuỳ thuộc vào nghề được đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông và từ ba đến bốn năm tuỳ thuộc vào nghề được đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở

1.3.3 Cao đẳng nghề

Dạy nghề trình độ cao đẳng nhằm trang bị cho người học nghề kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề, có khả năng làm việc độc lập và tổ chức làm việc theo nhóm; có khả năng sáng tạo, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc; giải quyết được các tình huống phức tạp trong thực tế; có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn

Thời gian đào tạo cao đẳng nghề là từ hai đến ba năm tuỳ thuộc vào nghề được đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông và từ một đến hai năm tuỳ thuộc vào nghề được đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp nghề cùng ngành nghề đào tạo

Ngoài ba cấp trình độ đào tạo trong dạy nghề thì Luật dạy nghề còn quy định hai hình thức đào tạo nghề là dạy nghề chính quy và dạy nghề thường xuyên

- Dạy nghề chính quy được thực hiện với các chương trình sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề theo các khoá học tập trung và liên tục

Trang 37

- Dạy nghề thường xuyên được thực hiện linh hoạt về thời gian, địa điểm, phương pháp đào tạo để phù hợp với yêu cầu của người học nhằm tạo điều kiện cho người lao động học suốt đời, nâng cao trình độ kỹ năng nghề thích ứng với yêu cầu của thị trường lao động, tạo cơ hội tìm việc làm, tự tạo việc làm

Dạy nghề thường xuyên được thực hiện với các chương trình sau:

+ Chương trình bồi dưỡng, nâng cao, cập nhật kiến thức và kỹ năng nghề;

+ Chương trình dạy nghề theo hình thức kèm cặp nghề, truyền nghề;

+ Chương trình chuyển giao công nghệ;

+ Chương trình sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề theo hình thức vừa học vừa làm hoặc tự học có người hướng dẫn để được cấp chứng chỉ sơ cấp nghề, bằng tốt nghiệp trung cấp nghề, bằng tốt nghiệp cao đẳng nghề

Như vậy, chương trình dạy nghề thường xuyên được mở rộng hơn so với chương trình dạy nghề chính quy

2 Thiết lập quan hệ dạy nghề:

Tuỳ thuộc vào chương trình đào tạo nghề, Luật dạy nghề có những quy định khác nhau về việc thiết lập quan hệ dạy nghề như tuyển sinh, ký kết hợp đồng học nghề

2.1 Tuyển sinh học nghề

Tuyển sinh được áp dụng cho chương trình đào tạo sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề Đối với đào tạo trình độ sơ cấp nghề và trung cấp nghề thì tuyển sinh theo hình thức xét tuyển Đối với đào tạo trình độ cao đẳng nghề thì có thể áp dụng cả xét tuyển và thi tuyển, xét tuyển áp dụng với những trường hợp được tuyển thẳng

Quy chế tuyển sinh học nghề do Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề

ở Trung ương ban hành

2.2 Hợp đồng học nghề

Ngoài các trường hợp người học nghề theo chương trình sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề phải thông qua những quy định tuyển sinh của Luật Dạy nghề thì các trường hợp còn lại phải ký kết hợp đồng học nghề

2.2.1 Khái niệm hợp đồng học nghề

Trong những trường hợp nhất định, các bên tham gia quan hệ học nghề phải giao kết hợp đồng học nghề theo qui định của pháp luật Điều 35 Luật dạy nghề qui định: Hợp đồng học nghề là sự thoả thuận về quyền và nghĩa vụ giữa người đứng đầu cơ sở dạy nghề với người học nghề

2.2.2 Hình thức hợp đồng học nghề:

Hợp đồng học nghề có thể được giao kết bằng văn bản hoặc bằng miệng:

Trang 38

Các trường hợp phải giao kết hợp đồng học nghề bằng văn bản, bao gồm:

- Doanh nghiệp tuyển người vào học nghề để làm việc cho doanh nghiệp;

- Học nghề tại cơ sở dạy nghề có vốn đầu tư nước ngoài

Các trường hợp sau được giao kết hợp đồng học nghề bằng lời nói hoặc bằng văn bản, bao gồm:

- Truyền nghề;

- Kèm cặp nghề tại doanh nghiệp

Trường hợp giao kết hợp đồng học nghề bằng văn bản phải lập thành hai bản có giá trị như nhau, mỗi bên giữ một bản

2.2.3 Nội dung hợp đồng học nghề

Hợp đồng học nghề phải có các nội dung sau đây:

- Tên nghề học, kỹ năng nghề đạt được;

- Nơi học và nơi thực tập;

- Thời gian hoàn thành khoá học;

- Mức học phí và phương thức thanh toán học phí;

- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của mỗi bên khi vi phạm hợp đồng;

- Các thoả thuận khác không trái pháp luật và đạo đức xã hội

Ngoài nội dung trên, Trường hợp doanh nghiệp tuyển người vào học nghề để làm việc cho doanh nghiệp thì hợp đồng học nghề còn có các nội dung sau:

- Cam kết của người học nghề về thời hạn làm việc cho doanh nghiệp;

- Cam kết của doanh nghiệp về việc giao kết hợp đồng lao động sau khi học xong;

- Trả công cho người học nghề trực tiếp hoặc tham gia làm ra sản phẩm cho doanh nghiệp trong thời gian học nghề

Trường hợp hợp đồng học nghề theo hình thức kèm cặp nghề tại doanh nghiệp thì phải có thêm thoả thuận về thời gian bắt đầu được trả công và mức tiền công trả cho người học nghề theo từng thời gian

2.2.4 Chấm dứt hợp đồng học nghề

Hợp đồng học nghề có thể chấm dứt khi đã thực hiện xong (theo thỏa thuận của các bên) hoặc do một bên đơn phương chấm dứt

Trường hợp người học nghề đơn phương chấm dứt hợp đồng học nghề trước thời hạn thì không được trả lại học phí đã nộp Nếu người học nghề đơn phương chấm dứt hợp đồng học nghề vì lý do đi làm nghĩa vụ quân sự, bị ốm đau, tai nạn, thai sản không đủ sức

Trang 39

khoẻ hoặc gia đình có khó khăn không thể tiếp tục học nghề thì được lấy lại phần học phí đã đóng của thời gian học còn lại

Trường hợp cơ sở dạy nghề đơn phương chấm dứt hợp đồng học nghề thì phải báo trước ít nhất ba ngày làm việc và trả lại toàn bộ học phí đã thu, trừ những sự kiện bất khả kháng theo quy định của pháp luật dân sự

Trường hợp doanh nghiệp tuyển người vào học nghề để sau đó làm việc cho doanh nghiệp, nếu người học nghề không làm việc theo cam kết thì phải bồi hoàn chi phí dạy nghề Mức bồi hoàn do hai bên thoả thuận theo hợp đồng học nghề

Chi phí dạy nghề gồm các khoản chi phí hợp lý cho người dạy, tài liệu, vật liệu thực hành, chi phí khấu hao nhà xưởng, máy móc thiết bị và các chi phí khác đã chi cho người học nghề

Trang 40

CÂU HỎI CHƯƠNG II:

1 Phân tích khái niệm việc làm

2 Phân tích vai trò của Nhà nước trong vấn đề giải quyết việc làm

3 Nghĩa vụ đảm bảo việc làm của người sử dụng lao động

4 Quyền và nghĩa vụ của trung tâm giới thiệu việc làm

5 Phân tích mối quan hệ giữa quan hệ việc làm với quan hệ dạy nghề

6 Bồi thường phí đào tạo trong pháp luật Việt Nam

Ngày đăng: 12/06/2017, 21:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w