1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh những điểm tương đồng và chưa tương đồng giữa Bộ tiêu chuẩn TNXH về lao động SA 8000 với Bộ luật lao động Việt Nam

18 1,3K 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 350,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI CS II CHUYÊN ĐỀ CHUYÊN SÂU TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP TRONG LĨNH VỰC LAO ĐỘNG ĐỀ TÀI : SO SÁNH NHỮNG ĐIỂ

Trang 1

BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI (CS II)

CHUYÊN ĐỀ CHUYÊN SÂU TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP

TRONG LĨNH VỰC LAO ĐỘNG

ĐỀ TÀI : SO SÁNH NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ CHƯA TƯƠNG ĐỒNG GIỮA BỘ TIÊU CHUẨN TNXH VỀ LAO ĐỘNG SA 8000 VỚI BỘ

LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM

Họ và tên SV : Đoàn Cương Quyết

Tháng 01 năm 2013

Trang 2

Mục Lục



PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 1

3 Đóng góp của đề tài 1

Chương 1 : Tổng quan về SA 8000 và Bộ luật lao động Việt Nam 2

1.1 SA 8000 2

1.1.1 Khái niệm 2

1.1.2 Yêu cầu của bộ tiêu chuẩn SA 8000 2

1.2 Bộ luật lao động Việt Nam 4

1.2.1 Bộ luật lao động Việt Nam 4

1.2.2 Các yêu cầu của Bộ luật lao động tương đồng với SA 8000 4

Chương 2: So sánh những điểm tương đồng và chưa tương đồng giữa Bộ tiêu chuẩn TNXH về lao động SA 8000 với Bộ luật lao động Việt Nam 6 2.1 Về lao động trẻ em 6

2.2 Về lao động cưỡng bức 7

2.3 Sức khoẻ và an toàn lao động 7

2.4 Tự do thành lập hiệp hội và quyền thương lượng tập thể 9

2.5 Phân biệt đối xử 10

2.6 Những nguyên tắc kỷ luật 11

2.7 Giờ làm việc 11

2.8 Bồi thường (bù đắp) 12

2.9 Hệ thống quản lý 13

Chương 3 : Những ưu và nhược điểm của SA 8000 so với Bộ luật lao động Việt Nam 14

3.1 Ưu điểm 14

3.2 Nhược điểm 15

TÀI LIỆU THAM KHẢO

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 3

1 Bộ luật lao động Việt Nam

2 Bộ tiêu chuẩn SA 8000

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay các doanh nghiệp ở nước ta đang xây dựng và từng bước áp dụng bộ tiêu chuẩn SA 8000 vào việc ứng xử giữa doanh nghiệp và xã hội Và

bộ tiêu chuẩn SA 8000 đang dần trở thành một chuẩn mực cho các doanh nghiệp tại Việt Nam và nhất là trong các doanh nghiệp nhà nước Để cho các doanh nghiệp áp dụng SA 8000 mà không vi phạm Bộ Luật lao động Việt Nam

Em chọn đề tài: “So sánh những điểm tương đồng và chưa tương đồng giữa

Bộ tiêu chuẩn TNXH về lao động SA 8000 với Bộ luật lao động Việt Nam”

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu, làm rõ những điểm tương đồng và chưa tương đồng giữa SA

8000 và Bộ luật lao động Việt Nam để rút ra ưu và nhược điểm giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam khi áp dụng SA 8000

3 Đóng góp của đề tài

Dùng làm tài liệu tham khảo cho các doanh nghiệp Việt Nam trước khi áp dụng SA 8000

Giúp bản thân hiểu biết sâu hơn về SA 8000 và Bộ luật lao động Việt Nam

PHẦN NỘI DUNG :

Trang 5

Chương 1 Tổng quan về SA 8000 và Bộ luật lao động Việt Nam

1.1.1 Khái niệm SA 8000

SA 8000 là bộ tiêu chuẩn quốc tế ban hành năm 1997, đưa các yêu cầu về quản trị trách nhiệm xã hội nhằm cải thiện điều kiện làm việc trên toàn cầu SA 8000 được Hội đồng công nhận quyền ưu tiên Kinh tế thuộc hội đồng ưu tiên kinh tế (CEP) xây dựng dựa trên các Công ước của tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Công ước của Liên hiệp quốc và quyền trẻ em và Tuyên bố toàn cầu và Nhân quyền Hội đồng công nhận quyền ưu tiên Kinh tế là một tổ chức phi chính phủ, chuyên hoạt động về các lĩnh vực hợp tác trách nhiệm xã hội, được thành lập năm 1969, có trụ sở đặt tại New York

Thuật ngữ “Trách nhiệm xã hội” trong tiêu chuẩn SA 8000 đề cập đến điều kiện làm việc và các vấn đề liên quan như: Lao động trẻ em; Lao động cưỡng bức;

An toàn sức khoẻ; Tự do hội họp và thoả ước lao động tập thể; Kỷ luật; Thời gian làm việc; Sự đền bù và Hệ thống quản lý

1.1.2 Yêu cầu của bộ tiêu chuẩn SA 8000

SA 8000 được xây dựng dựa trên các nguyên tắc làm việc trong các công ước của ILO và Tuyên bố toàn cầu của Liên Hợp Quốc về Quyền con người và Công ước về Quyền của Trẻ em Các yêu cầu của tiêu chuẩn bao gồm:

- Lao động trẻ em:

Không có công nhân làm việc dưới 15 tuổi, tuối tối thiểu cho các nước đang thực hiện công ước 138 của ILO là 14 tuổi, ngoại trừ các nước đang phát triển; có hành động khắc phục khi phát hiện bất cứ trường hợp lao động trẻ em nào

- Lao động bắt buộc:

Trang 6

Không có lao động bắt buộc, bao gồm các hình thức lao động trả nợ hoặc lao động nhà tù, không được phép yêu cầu đặt cọc giấy tờ tuỳ thân hoặc bằng tiền khi được tuyển dụng vào

- Sức khoẻ và an toàn:

Đảm bảo một môi trường làm việc an toàn và lành mạnh, có các biện pháp ngăn ngừa tai nạn và tổn hại đến an toàn và sức khoẻ, có đầy đủ nhà tắm

và nước uống họp vệ sinh

- Tự do hiệp hội và quyền thương lượng tập thể:

Phản ảnh quyền thành lập và gia nhập công đoàn và thương lượng tập thể theo sự lựa chọn của người lao động

- Phân biệt đối xử:

Không được phân biệt đối xử dựa trên chủng tộc, đẳng cấp, tôn giáo, nguồn gốc, giới tính, tật nguyền, thành viên công đoàn hoặc quan điểm chính trị

- Kỷ luật:

Không có hình phạt về thể xác, tinh thần và sỉ nhục bằng lời nói

- Giờ làm việc:

Tuân thủ theo luật áp dụng và các tiêu chuẩn công nghiệp về số giờ làm việc trong bất kỳ trường hợp nào, thời gian làm việc bình thường không vượt quá 48 giờ/tuần và cứ bảy ngày làm việc thì phải sắp xếp ít nhất một ngày nghỉ cho nhân viên; phải đảm bảo rằng giờ làm thêm (hơn 48 giờ/tuần) không được vượt quá 12 giờ/người/tuần, trừ những trường hợp ngoại lệ và những hoàn cảnh kinh doanh đặc biệt trong thời gian ngắn và công việc làm thêm giờ luôn nhận được mức thù lao đúng mức

1.2.1 Bộ luật Lao động Việt Nam :

Trang 7

Pháp luật lao động đưa ra các quyền và nghĩa vụ của người lao động và sử dụng lao động, tiêu chuẩn lao động, nguyên tắc sử dụng lao động và hành chính; góp phần vào việc nâng sản xuất, và do đó giữ một vị trí quan trọng trong đời sống xã hội và trong hệ thống pháp lý của dân tộc Kế thừa và phát triển pháp luật lao động ban hành ở nước ta từ sau Cách mạng tháng Tám Năm

1945, Bộ luật Lao động hiện nay institutionalizes chính sách đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam và cung cấp chi tiết để thực hiện các quy định của Hiến pháp năm 1992 của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam liên quan đến lao động, sử dụng lao động và hành chính Bộ luật Lao động bảo vệ quyền làm việc,; quyền lợi và các quyền khác của người lao động và, ở cùng thời gian, các-quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao qua đó tạo điều kiện cho một hài hòa và mối quan hệ lao động ổn định Nó góp phần giải phóng sức sáng tạo và tài năng của cả hai tay và trí tuệ của công nhân, của người quản lý lao động, với mục đích đạt được một trình độ cao về năng suất và chất lượng và tiến bộ xã hội trong lao động, sản xuất và dịch vụ, hiệu quả trong việc sử dụng

và quản trị của lao động và góp phần vào sự nghiệp công nghiệp và hiện đại hóa của đất nước, vì mục tiêu dân giàu, một quốc gia hùng mạnh và một bằng, dân chủ, xã hội văn minh

1.2.2 Các yêu cầu của Bộ luật lao động tương đồng với SA 8000

- Lao động trẻ em

Được quy định tại điều 119 đến 122 của Bộ luật lao đông Việt Nam

- Lao động cưỡng bức

Được quy định tại điều 5, khoản 2 của Bộ luật lao đông Việt Nam

- Sức khoẻ và an toàn

Được quy định tại điều 95 đến 108 của Bộ luật lao đông Việt Nam

- Tự do hội họp – Thoả ước lao động tập thể

Trang 8

Được quy định tại điều 44 đến 54 và điều 153 đến 156 của Bộ luật lao đông Việt Nam

- Phân biệt đối xử

Được quy định tại điều 5 khoản 1 và điều 111 của Bộ luật lao đông Việt Nam

- Kỷ luật lao động

Được quy định tại điều 86 đến 94 của Bộ luật lao đông Việt Nam

- Lạm dụng hoặc quấy rối

Được quy định tại điều 8 khoản 3 của Bộ luật lao đông Việt Nam

- Thời giờ làm việc

Được quy định tại điều 68 đến 81 của Bộ luật lao đông Việt Nam

- Tiền lương

Được quy định tại điều 55 đến 67 của Bộ luật lao đông Việt Nam

Chương 2 : So sánh những điểm tương đồng và chưa tương đồng giữa Bộ tiêu chuẩn TNXH về lao động SA 8000 với Bộ luật lao động Việt Nam

2.1 Về lao động trẻ em:

- Về độ tuổi :

Trang 9

SA 8000 quy định công ty không được sử dụng hoặc tạo điều kiện cho việc

sử dụng lao động trẻ em (phổ quát ở mức dưới 15 tuổi hoặc ngoại lệ ở các nước đang phát triển dưới 14 tuổi) Lao động nhỏ tuổi được quy định là từ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi Việt Nam cũng có quan điểm tương tự khi cấm nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc và coi lao động dưới 18 tuổi là lao động chưa thành niên và phải có chế độ kiểm tra, theo dõi riêng (điều 119 - 120 Bộ luật Lao động) Bộ luật Lao động lại cho phép một số nghề và công việc nhất định được nhận trẻ em đủ 15 tuổi vào làm việc với sự đồng ý của cha mẹ hoặc người giám hộ, danh mục các công việc này do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định Có thể nhận thấy trên thực tế, những việc có tính chất đơn giản trong phạm vi gia đình hoặc hộ

kinh doanh cá thể thường sử dụng nhiều lao động trẻ em

-Về điều kiện sử dụng lao động trẻ em:

Cả SA 8000 lẫn Bộ luật Lao động đều quy định không được bố trí trẻ em hoặc lao động nhỏ tuổi vào những vị trí làm việc mang tính chất nguy hiểm, không

an toàn, nặng nhọc và có hại đến sức khỏe Thông tư Liên bộ số 09/TT-LB ngày 13/4/1995 giữa Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế còn quy định chi tiết điều kiện lao động có hại, tương ứng với danh mục 81 công việc cấm

sử dụng lao động chưa thành niên SA 8000 quan tâm nhiều hơn đến việc khuyến khích và hỗ trợ điều kiện để trẻ em tiếp tục được hưởng quyền học tập, không thuê mướn lao động nhỏ tuổi và lao động trẻ em trong giờ học và đảm bảo thời gian học tập và làm việc không quá 10 giờ mỗi ngày Trong khi đó, Bộ luật Lao động chỉ quy định thời gian làm việc của lao động chưa thành niên không quá 7 giờ/ngày hoặc 42 giờ/ tuần Nhưng cũng cần lưu ý rằng Luật Giáo dục Việt Nam quy định bậc tiểu học là bắt buộc đối với mọi trẻ em trong độ tuổi từ 6 - 14 Nên chăng có một sự kết nối giữa các quy định trong Luật Giáo

Trang 10

dục và Bộ luật Lao động để các doanh nghiệp có trách nhiệm đảm bảo quyền học tập của trẻ em

2.2 Về lao động cưỡng bức:

Tương tự như tiêu chuẩn 2.1 của SA 8000, khoản 2, điều 5 Bộ luật Lao động cấm sử dụng lao động cưỡng bức dứơi bất cứ hình thức nào Tiêu chuẩn SA

8000 còn đưa thêm quy định cấm không được đòi hỏi vật thế chấp hoặc giấy tờ tuỳ thân khi người lao động đang làm việc với công ty

2.3 Sức khỏe và an toàn lao động :

Tiêu chuẩn này trong SA 8000 tương ứng với một chương trong Bộ luật Lao động về an toàn lao động và vệ sinh lao động.Có thể nói tiêu chuẩn 3.3 về huấn luyện thường xuyên cho nhân viên về sức khỏe và an toàn lao động rất phù hợp với quy định của pháp luật lao động của Việt Nam Một số Thông tư của các Bộ yêu cầu người sử dụng lao động có trách nhiệm tổ chức huấn luyện an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với người lao động Bản thân người sử dụng lao động cũng buộc phải tham gia các khóa huấn luyện về những văn bản quy định của nhà nước, về các quy phạm, tiêu chuẩn an toàn lao động, vệ sinh lao động, công tác tổ chức huấn luyện với sự hỗ trợ của các cơ quan Nhà nước Ðối với những nơi làm việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động, vệ sinh lao động, Nhà nước yêu cầu tổ chức những khóa huấn luyện đặc biệt và cấp thẻ an

toàn (Thông tư số 08/LÐTBXH-TT ngày 11/4/95 và Thông tư số

23/LÐTBXH-TT ngày 19/9/95) Về vấn đề thiết lập hệ thống báo động tại những nơi có hiểm

họa đối với sức khỏe và an toàn cho các hân viên (tiêu chuẩn 3.4 SA 8000), pháp luật Việt Nam không chỉ quy định chi tiết về hệ thống báo động, mà còn quy định những biện pháp nhằm ngăn ngừa và khắc phục sớm những yếu tố nguy hại Những biện pháp đó bao gồm: (1) Yêu cầu lập nội quy, quy trình vận hành máy móc, quy trình an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với từng loại máy móc, thiết bị và dán tại nơi làm việc trực tiếp; (2) Buộc những cơ sở sản

Trang 11

xuất phải tổ chức đo lường các yếu tố môi trường độc hại hàng năm Về tổ chức

bộ máy và quy định trách nhiệm cụ thể, tiêu chuẩn 3.2 của SA 8000 yêu cầu phải chỉ định một đại diện quản lý cấp cao phụ trách trực tiếp vấn đề này Ðiều

13, Nghị định 06/NÐ - CP ngày 20/1/1995 quy định chi tiết một số điều của Bộ luật Lao động về an toàn lao động, vệ sinh lao động yêu cầu người sử dụng lao động phải cử người giám sát việc thực hiện các quy định, nội quy, biện pháp an toàn lao động, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp, nhưng không chỉ rõ phải là cấp nào, nhưng có nêu rõ doanh nghiệp có dưới 300 lao động phải cử cán bộ bán chuyên trách phụ trách về vệ sinh và an toàn lao động, doanh nghiệp có từ

300

đến dưới 1000 lao động phải cử cán bộ chuyên trách đảm nhiệm về vệ sinh và

an toàn lao động Mặt khác, pháp luật Việt Nam lại yêu cầu thiết lập hệ thống y

tế cơ quan, tùy theo quy mô số lượng người lao động trong công ty; xây dựng một mạng lưới an toàn viên, vệ sinh viên phối hợp với chữ thập đỏ để thực hiện nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người lao động và tổ chức sơ cấp cứu khi có tai nạn lao động Mạng lưới này còn có nhiệm vụ giám sát việc thực hiện các quy định về an toàn và vệ sinh lao động tại doanh nghiệp Một quy định khác của Bộ luật Lao động buộc người sử dụng lao động tại các đơn vị sản xuất phải tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người lao động định kỳ mỗi năm hoặc

6 tháng một lần, tuỳ mức độ độc hại của môi trường lao động Ðây là biện pháp nhằm phát hiện sớm về bệnh nghề nghiệp để có biện pháp phòng và điều trị kịp thời Có thể nói mức độ quan tâm của các nhà làm luật đến sức khỏe của người lao động được thể hiện khá rõ qua các quy định về vệ sinh và an toàn lao động Tuy nhiên trên thực tế, việc thực hiện các quy định này, nhất là về vệ sinh lao động tại nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa được chú trọng đúng mức SA

8000 đưa ra các yêu cầu về trang bị đảm bảo vệ sinh cho người lao động như phòng tắm, bồn rửa tay, thiết bị bảo quản thực phẩm (tiêu chuẩn 3.5) Quy định này không bắt buộc trong Bộ luật Lao động và trên thực tế cũng ít được các cơ

Trang 12

sở chú trọng, trừ những trang bị vệ sinh tối thiểu như nhà vệ sinh, cung cấp nước uống sạch, nhưng Luật Lao Ðộng lại có quy định nếu doanh nghiệp có sử dụng lao động nữ thì bắt buộc phải có trang bị đảm bảo vệ sinh cho người lao động Tiêu chuẩn 3.6 về đảm bảo cung cấp cho tất cả nhân viên nơi ở sạch sẽ,

an toàn và đạt các điều kiện cần thiết của cá nhân là rất hợp lý, để người lao động yên tâm làm việc Tuy nhiên, yêu cầu này là quá cao đối với các doanh nghiệp Việt Nam, phần lớn là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong khi lao động chưa ổn định Pháp luật về lao động cũng không

có quy định nào bắt buộc về vấn đề này Nhìn chung, theo quy định của pháp luật Việt Nam, vấn đề đảm bảo chỗ ở cho người lao động không thuộc trách nhiệm của công ty

2.4 Tự do thành lập hiệp hội và quyền thương lượng tập thể

Nhìn chung, các tiêu chuẩn SA 8000 này phù hợp với tinh thần của nhà nước Việt Nam, đảm bảo quyền tự do lập hiệp hội vì lợi ích của người lao động trong doanh nghiệp, đồng thời Nhà nước cũng thiết kế định chế thỏa ước lao động tập thể để đảm bảo quyền thương lượng tập thể của người lao động Tại Việt Nam, việc thành lập tổ chức đại diện quyền lợi của người lao động tại các doanh nghiệp được khuyến khích Tổng Liên đoàn Lao động là tổ chức lớn nhất đại diện quyền lợi

của người lao động Ðây là một tổ chức chính trị - xã hội thống nhất, được Nhà nước thừa nhận và hỗ trợ hoạt động Tổng Liên đoàn Lao động là một hệ thống được tổ chức thống nhất từ Trung Ương xuống cơ sở tại các địa phương trên toàn quốc Thiết lập một mạng lưới rộng khắp tổ chức công đoàn cơ sở tại các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là mối quan tâm của các cấp chính quyền, nhằm bảo đảm quyền lợi của người lao động Tuy nhiên, điều quan trọng là nâng cao chất lượng hoạt động của các cán

Ngày đăng: 27/09/2014, 11:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w