1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI 4 THƯƠNG TÍCH TRONG PHÁP y

29 366 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 163 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, trong khám và giám định thơng tích pháp y không có tổn thơng nào đợc coi là “nhẹ” vì nhiều khi một vài vết sây sát hay bầm máu “nhẹ” trong con mắt nhà ngoại khoa vì có thể không

Trang 1

Bài 4

Thơng tích trong pháp y

Mục tiêu:

1 Thuộc và biết ứng dụng trong lâm sàng phân loại pháp y các thơng tích cơ bản.

2 Có ý thức chẩn đoán cơ chế hình thành thơng tích khi thăm khám ngời bệnh bị thơng.

3 Xử lý về chuyên môn y học song song với xử lý về pháp lý khi khám chữa bệnh cho

1.1 Định nghĩa: Thơng tích với nghĩa rộng nhất bao gồm mọi tổn thơng do các tác

nhân bên ngoài tác động vào cơ thể và sự phản ứng của cơ thể đối lại những tác động

đó Kết quả của quá trình này để lại những dấu tích, di chứng có ý nghĩa nh những chứng cứ y học khách quan

Với sự phát triển của xã hội công nghiệp hóa, hiện đại hóa, con ngời không chỉ đối diện với thiên nhiên nguyên sơ mà ngày càng phải chịu đựng những tác nhân tiêu cực ngày càng phức tạp đòi hỏi ngời thầy thuốc phải có những kiến thức, năng lực xử lý cập nhật Thơng tích trong pháp y liên quan rộng rãi đến các chuyên khoa bạn vì mọi thơng tích

dù đợc chuyên khoa nào nghiên cứu, chữa trị đều có thể trở thành thơng tích mà pháp y

xử lý về góc độ y học - pháp luật Mọi ngời thầy thuốc thuộc bất cứ chuyên khoa nào làm việc ở bất cứ cơ sở y tế nào đều có thể gặp trong hoạt động hàng ngày những ngời bệnh bị thơng tích Tuân theo đúng y đạo và y đức, thầy thuốc có trách nhiệm cấp cứu nạn nhân với khả năng và phơng tiện tối u Đồng thời, bên cạnh việc xử lý thơng tích về

Trang 2

ngoại khoa cấp cứu, thầy thuốc phải xử lý đúng ngay từ đầu những đòi hỏi chặt chẽ khía cạnh pháp y của vụ việc Điều này đặc biệt quan trọng trong cả nhận thức và thực hành vì những dấu vết thơng tích cần phải đợc khám, ghi nhận lại thật tỉ mỉ, chính xác ngay từ

đầu trớc khi có can thiệp ngoại khoa hay làm thay đổi vết tích Một số sai sót nhỏ trong khám thơng tích ban đầu có thể dẫn đến những lạc hớng trong giám định, kết luận sau này mà khó có cách gì khắc phục đợc Một thầy thuốc rất giỏi chuyên khoa môn y học nhng coi nhẹ khía cạnh pháp lý khi hành nghề sẽ không làm tròn bổn phận của mình, nếu không nói là có thể gặp phải những sai sót, tai tiếng không đáng có ảnh hởng đến uy tín nghề nghiệp của mình

1.2 Phản ứng của cơ thể đối với các tác nhân bên ngoài:

Trớc đây, trong pháp y ngời ta chỉ quan tâm đến hình thái học của thơng tích nhằm mục tiêu xác định cơ chế gây thơng tích và nhận định về hung khí Sự phiến diện này có thể làm lệch hớng ngời khám thơng tích cũng nh ngời giám định y học t pháp khi đánh giá tổng thể tình trạng của nạn nhân

Phản ứng của cơ thể bao gồm những yếu tố sau:

Phản ứng của hệ thần kinh: Choáng tủy, mất ý thức thời điểm

Phản ứng của thần kinh - thể dịch: Sự tăng của Adrénaline/máu và các hormon tới cơ quan tiếp nhận, sự thay đổi của hệ thần kinh giao cảm - phó giao cảm v.v Có thể thờng gặp các triệu chứng lâm sàng nh: Tăng hoặc giảm nhịp tim mạch, tăng hoặc tụt huyết áp, tăng tiết mồ hôi, đờm dãi v.v

Trang 3

Đáng quan tâm là các quá trình dọn dẹp của đại thực bào, bạch cầu đa nhân tạo nên những hình ảnh mô bệnh học điển hình chứng minh sự có mặt của dị vật, của tác nhân đã gây nên tổn thơng.

1.3.4 Phản ứng tạo sẹo hoặc mô xơ:

Vừa làm liền vết thơng nhng lại vừa gây cản trở chức năng bình thờng của cơ quan đó

nh dính dây thần kinh, co kéo cơ, cứng khớp Thậm chí hình thành những u hạt (Granulome) dễ bị ngộ nhận nguyên nhân bệnh lý

Hơn nữa, trên nền tảng của một mô sẹo xấu có thể là nguyên nhân phát sinh các mô ung

th do quá trình ung th hóa

1.3.5 Phản ứng ở mức độ siêu cấu trúc:

Với kỹ thuật hiển vi điện tử, các ngành pháp y ở các nớc phát triển đã nghiên cứu những tổn thơng, những dấu vết để lại trên vết thơng bằng quan sát siêu cấu trúc Ví dụ nh xác

định lỗ đạn qua siêu cấu trúc

1.3.6 Phản ứng của sinh hóa học:

Nghiên cứu về thơng tích không còn dừng lại ở hình thái học, mà với tiến bộ công nghệ, ngời ta còn nghiên cứu về những chỉ số sinh hóa và những biến đổi của nó khi cơ thể chịu những tác nhân bất lợi

2 Chấn thơng:

2.1 Thơng tích cơ bản theo phân loại pháp y:

Thơng tích là một loại tổn thơng mà nhiều chuyên khoa y học cùng quan tâm tới với những mục đích đặc thù của chuyên khoa mình Đối với pháp y, mục tiêu nghiên cứu và cơ sở để phân loại thơng tích là nhằm vào cơ chế gây nên thơng tích để từ đó có thể xác

định đợc vật gây thơng tích cũng nh tình huống xảy ra Vì vậy, trong khám và giám định thơng tích pháp y không có tổn thơng nào đợc coi là “nhẹ” vì nhiều khi một vài vết sây sát hay bầm máu “nhẹ” trong con mắt nhà ngoại khoa (vì có thể không cần có can thiệp gì cũng có thể khỏi) thì ngợc lại, đối với pháp y, những dấu tích “nhẹ” ấy lại có ý nghĩa rất lớn, đôi khi là chìa khóa mở vào bí mật của vụ việc Một đặc điểm cần quan tâm trong pháp y là sự quan tâm đến hình thái học của thơng tích thể hiện ngay từ cách thức thăm khám, mô tả trong văn bản và việc sử dụng hình ảnh để giữ lại dấu vết thơng tích Tùy theo điều kiện, có thể đo vẽ sơ đồ cho đến chụp ảnh, quay video các thơng tích đợc thăm khám

2.1.1 Thơng tích phần mềm:

Trang 4

Nếu diễn biến bình thờng, không bị bội nhiễm, vết sây sát sẽ tự lành, không tạo thành sẹo Đôi khi, có thể để lại vết sạm sẫm màu trên da do vết thơng không đợc làm sạch dị vật gây nên phản ứng đại thực bào ăn dị vật.

2.1.1.2 Bầm máu:

Tổn thơng này làm vỡ các mạch máu nhỏ, thờng gặp ở dới da hay trong các tạng Đặc

điểm của vết bầm máu là da vẫn phẳng nhng có màu tím nhạt hay sẫm Hiện diện của vết bầm máu chứng tỏ thơng tích có từ khi còn sống Tổn thơng này cần phân biệt với vết hoen tử thi hoặc vết xuất huyết của một số bệnh về máu Dựa vào sự đổi màu của bầm máu ta có thể ớc đoán đợc thời gian gây nên thơng tích (mảng bầm máu từ 1cm trở lên):

- Màu tím: Thơng tổn xảy ra khoảng một vài giờ

- Màu đen: Thơng tổn xảy ra khoảng 2 đến 3 ngày

- Màu xanh: Thơng tổn xảy ra khoảng 3 đến 6 ngày

- Màu xanh lá mạ: Thơng tổn xảy ra khoảng 7 đến 12 ngày

- Màu vàng: Thơng tổn xảy ra khoảng 12 đến 25 ngày

Sau 25 ngày thơng tích mất dấu vết Quá trình thay màu sắc này do hiện tợng thoái hóa của huyết sắc tố

2.1.1.3 Tụ máu:

Là thơng tổn do dập vỡ các mạch máu cỡ vừa Do áp lực của vật cứng trên phần mềm làm vỡ mạch máu tràn vào mô, tạo ra cục tụ máu đông tại chỗ đó Nếu thơng tích ở ngoài da hoặc dới thành mạc, vùng tụ máu hơi lồi lên, màu tím Tổn thơng này gặp ở da, thanh mạc ống tiêu hóa, trong sọ, gan, đôi khi tổn thơng này gây chết nhanh chóng đặc biệt là ở trong sọ (ở đây không đề cập đến tụ máu nội sọ nội khoa và ngoại khoa vì phạm

vi, mức độ quan trọng của vấn đề)

2.1.1.4 Vết thủng:

Tổn thơng thủng là sự mất liên tục của tổ chức gây ra bởi nhiều loại hung khí khác nhau

Đặc điểm của vết thơng là một hình khe, hay lỗ thủng kèm theo đờng hầm có tụ máu Nếu thơng tích ở bụng hoặc ở ngực, có thể kèm theo tổn thơng nội tạng Đôi khi có lỗ vào và lỗ ra nếu vật gây thơng tích tạo thành rãnh xuyên

Trang 5

2.1.1.5 Vết đứt cắt:

Vết đứt cũng là tổn thơng mất tính chất liên tục của mô nh vết thủng nhng diện rộng hơn, mô bị tách ra không bị mất đi

Đặc điểm của tổn thơng này là:

- Mép vết đứt thẳng gọn, đôi khi nham nhở do hung khí cùn

- Thờng không có tụ máu ở mép vết đứt, trừ khi lỡi hung khí quá cùn

- Vết thơng há miệng

2.1.1.6 Vết chém hay băm chặt:

Thơng tích do vật có diện rộng hoặc có trọng lợng lớn tác động với lực mạnh vào cơ thể:

nh dao dựa, dao phay, búa, rìu Tổn thơng có đặc điểm:

- Vết thơng dài, diện rộng, đáy hẹp, độ sâu ít

Cũng cần lu ý để có thể phân biệt với những vết rách, thủng, đứt da và các mô dới da của những trờng hợp, gãy xơng hở mà đầu gãy đâm ra ngoài

2.1.2.2 Rạn xơng:

Là vết nứt của xơng cha gây gãy rời hoàn toàn với nhiều hình ảnh:

Trang 6

- Đờng rạn đơn độc ngắn hoặc dài.

- Đờng rạn có nhiều nhánh

- Đờng rạn hình sao có tâm điểm là nơi bị tác động trực tiếp

- Đờng rạn chặn, cắt đờng rạn khác khi xảy ra ở 2 thời điểm trớc, sau

- Đờng rạn đi kèm đờng vỡ xơng hay đờng bai khớp (tách rộng khe khớp)

2.1.2.3 Lún xơng:

Thờng gặp trong xơng sọ:

Lún bản ngoài khi chỉ bản ngoài bị vỡ và lõm lún vào phần tủy cha tổn thơng bản trong Lún cả bản ngoài và bản trong đè ép vào màng cứng

Đây là một chỉ định ngoại khoa cấp cứu nhng riêng với pháp y có ý nghĩa đặc biệt vì đặc

điểm hình dạng, kích thớc của vết lún nh một dấu ấn giữ lại hình dạng của vật gây thơng tích hoặc cho phép nhận định cơ chế gây thơng tích

2.1.2.7 Bai khớp:

Thờng gặp ở những khớp đã có liên kết cố định chặt chẽ nh các khớp của hộp sọ, khớp

Trang 7

Khi lực tác động đúng vào điểm có khớp hoặc một đờng vỡ xơng gần kề, cơ chế phân tán lực sẽ làm tách rộng đờng khớp là nơi có sự liên kết yếu hơn bản xơng liền Tuy nhiên,

đánh giá về mức độ tổn thơng bai khớp cũng có ý nghĩa gần nh một đờng vỡ xơng (trừ trờng hợp của trẻ em khi các khớp xơng cha cố định chặt chẽ )

2.1.4 Thơng tích thuộc các chuyên khoa:

Đặc biệt hay gặp trong các thơng tích vùng đầu - mặt vì các tác nhân ngoại lực vào vùng này thờng không “chừa” các chấn thơng về răng - hàm - mặt, mắt, tai- mũi - họng Thầy thuốc pháp y cũng giống nh thầy thuốc ngoại khoa không thể không biết những kiến thức tối thiểu về các chuyên khoa bạn

2.1.4.1 Răng - hàm - mặt:

- Những thơng tích phần mềm nh các vết rách da vùng mặt có nguy cơ ảnh hởng thẩm

mỹ nếu không đợc xử lý đúng ngay từ đầu theo đúng chuyên khoa

- Gẫy cung tiếp xơng gò má

- Gãy xơng hàm (trên, dới hoặc cả 2)

- Chấn thơng răng (vỡ xơng ổ răng, hay lung lay răng, mất răng chấn thơng )

Trang 8

• Hậu quả của vỡ xơng đá.

• Liệt mặt ngoại biên

Hiện nay, do phát triển của kỹ thuật đông lạnh, nớc ta đã gặp nhiều trờng hợp tổn thơng

do chịu nhiệt độ quá thấp (thờng phải dới -100C) với biểu hiện nhẹ nhất là vết “bỏng lạnh” và trầm trọng với các rối loạn thần kinh vận mạch, rối loạn nuôi dỡng máu và nặng nhất có thể hoại tử mất bộ phận ví dụ mất vành tai, mất ngón tay

3.3 Các thơng tích do hóa chất:

Rất nhiều loại hóa chất có thể gây nên những tổn thơng phức tạp, nhiều khi kín đáo với

di chứng lâu dài và nặng nề

Trang 9

ở đây chỉ kể đến những hóa chất hay gặp nhất trong pháp y là tổn thơng bỏng acid và bỏng kiềm.

Lu ý đến đặc điểm cháy thủng rất dễ nhận trên quần áo nạn nhân Lu ý đến mức độ tổn thơng sâu do bỏng hóa chất

Cách đánh giá bỏng theo qui định chung về phân loại bỏng

4 Thơng tích do vũ khí nổ:

Vấn đề thơng tích do các loại vũ khí nổ (còn gọi là hỏa khí) là một vấn đề rất lớn trong khoa học pháp y và khoa học hình sự, đến mức đã trở thành chuyên ngành đặc biệt Trong phạm vi bài học dành cho ngời thầy thuốc không phải là chuyên khoa, chỉ tập trung vào những hiểu biết cơ bản nhất nhằm nhận biết đợc đặc điểm thơng tích do vũ khí

- Súng quân dụng: có thể bắn phát một hay bắn liên thanh

- Súng săn công nghiệp: có thuốc nổ hoặc không có thuốc nổ (súng hơi)

- Súng săn tự tạo: súng kíp, súng tự tạo thủ công

- Súng thi đấu thể thao

4.1.1.2 Cấu tạo chung của súng:

Báng súng, nòng súng, cò súng, kim hỏa, ổ lắp đạn, bộ phận ngắm:

Trang 10

Nòng súng: ở các kiểu súng hiện đại, mặt trong nòng súng có các rãnh gọi là rãnh

kh-ơng tuyến hay đờng khkh-ơng tuyến Mỗi đờng khkh-ơng tuyến dù nông, sâu, dài hay ngắn chỉ

đợc đủ một vòng xoắn từ gốc đến ngọn Rãnh khơng tuyến có tác dụng cho đạn tạo chuyển động xoay quanh trục của nó khi bay và giữ cho đờng bay ổn định Hai tác dụng

đó làm tăng độ xa và tăng sức xuyên của đạn Có thể có 4 rãnh, 6 rãnh đến 8 rãnh Dựa vào đờng kính của nòng súng ngời ta có 3 cỡ nòng đối với súng quân dụng và 5 cỡ nòng

đối với súng dân dụng (súng săn)

- Quân dụng: + Cỡ nhỏ 5,66mm

+ Trung bình: 6,35mm; 7,62mm và 9mm+ Lớn: trên 10mm

- Súng dân dụng: + Số 10: 19,30mm- 19,70mm

+ Số 12: 18,20mm - 18,60mm+ Số 16: 16,80mm - 17,20mm+ Số 20: 15,60mm - 16,10mm+ Số 32: 12,40mm - 13,10mmDùng phổ biến là cỡ số 12 và 16

4.1.1.3 Đạn:

Mỗi loại súng có loại đạn riêng Để thuận tiện cho chiến đấu, ngày nay ngời ta chế tạo một loại đạn có thể dùng cho một vài loại súng v.v nh đạn K56 dùng chung cho súng quân dụng SKS, AK, RPD, RPK Đạn có nhiều cỡ, cỡ đạn (đờng kính) tính theo đờng kính của rãnh khơng tuyến Ngời ta chia làm hai loại đạn:

a Đạn quân dụng mỗi viên đạn có 4 thành phần: vỏ đạn, kíp đạn, thuốc đạn và đầu

đạn

- Vỏ đạn: Là kim loại, thờng dùng hợp kim (đồng thau)

- Hạt nổ: (kíp đạn) đáy vỏ đạn có hạt nổ (ngòi nổ) Làm bằng chất Fulminate thủy ngân

- Thuốc đạn: có nhiều loại nhng dựa vào màu sắc và độ cháy hoàn toàn hay không hoàn toàn, chia làm hai loại:

+ Thuốc đen (có khói) thành phần:

Nitrat kali 75% hoặc sulfer 18%;

Lu huỳnh 13% hoặc salpêtre 70%

Than 12%

Salpêtre 78%

Lu huỳnh 10%

Trang 11

Thuốc này cháy không hoàn toàn nên tạo ra nhiều khói muội và lửa Thuốc không mạnh, sức đẩy kém, hiện tại trong quân sự không còn dùng nhng ở nớc ta tại một số vùng miền núi vẫn còn dùng cho súng kíp tự tạo để săn bắn.

+ Thuốc trắng (ít) thành phần có nitroxelluloza hoặc nitroglyxerin Thuốc sản xuất dới dạng hạt nhỏ, hình trụ, hình ống, có khi các hạt thuốc có đợc bọc chất chống ẩm Thuốc này cháy gần nh hoàn toàn ít khói sinh nhiều lửa tạo nên áp suất rất mạnh

Đạn bắn ra ở tầm khác nhau đặc biệt ở tầm kề và tầm gần khiến khói thuốc hoặc các hạt thuốc còn sót lại bám quanh lỗ vào giúp giám định pháp y phát hiện các loại súng, đạn

- Đầu đạn: đầu có thể tròn hoặc nhọn với trọng lợng khác nhau, trung bình 12-15gram

Vỏ đầu đạn làm bằng đồng đỏ, đồng trắng, thép hoặc bằng hợp kim kết hợp với antimon

Ngoài ra còn có loại đạn đặc biệt sau khi bắn ra đầu đạn có thuốc nổ sẽ nổ lần thứ 2 khi chạm mục tiêu Hội nghị Quốc tế cấm sử dụng loại đạn này sau chiến tranh 1914 - 1918

g: Lực gia tốc hấp dẫnQua công thức này, có thể thấy độ phá của vết thơng do đạn tùy thuộc vào khối lợng của

đầu đạn và vận tốc của đầu đạn Với v2, vận tốc của đầu đạn có tác dụng lớn hơn so với khối lợng đầu đạn khi phá vỡ mục tiêu Mặt khác, động năng đầu đạn khi xuyên vào cơ thể lại bị chi phối mật độ, độ cứng, độ chun giãn khác nhau của các loại mô trong cơ thể

Do đó, các dấu vết xuyên phá của đầu đạn trong cơ thể có các dấu hiệu tổn thơng khác nhau giúp ta có thể xác định động năng ở từng thời điểm của đầu đạn và cũng có nghĩa

là tầm bắn xa gần của phát đạn

b Đạn dân dụng (súng săn) còn gọi là đạn ghém gồm 4 thành phần: vỏ đạn, kíp đạn

(hạt nổ), thuốc đạn và các viên chì Các viên chì cũng có nhiều cỡ khác nhau số 2: mỗi

cỡ nhỏ hơn 0,25mm và có đánh dấu ký hiệu khác nhau nh: số 1: 4mm 3,75mm

Trong đạn súng săn, ngoài đầu đạn và thuốc nổ ra còn có vật liệu đệm bằng giấy hoặc vải Các vật liệu này cũng giúp giám định viên phán đoán loại đạn đã dùng

4.2 Khái niệm tầm bắn:

Trang 12

Tầm bắn là một khái niệm xác định khoảng cách khi đạn bay ra kể từ tiết diện của đầu nòng súng cho đến bề mặt tiếp cận của mục tiêu Tầm bắn có thể hớng lên cao, xuống thấp, hớng chếch hoặc hớng ngang v.v tầm bắn khác nhau để lại những dấu vết trên mục tiêu khác nhau Dựa vào đặc điểm ấy trong pháp y ngời ta qui định có 3 loại tầm bắn dựa vào khả năng nhận biết đợc vết tích của đạn để lại trên mục tiêu:

4.2.1 Tầm kề: loại tầm này có 3 mức độ:

Tầm kề sát (kề hoàn toàn): Đầu súng áp sát vào mục tiêu thờng là thẳng góc, khi ấy

nòng súng sẽ ấn sâu trực tiếp với rãnh xuyên của vết thơng, nên lỗ vào tròn, ở trờng hợp điển hình này (tuy ít gặp), ta thấy dấu ấn của nòng súng nghĩa là thấy vết xớc da

tụ máu hoặc vết bỏng hay vết dầu lau nòng súng in hình của đầu nòng súng trên da hoặc quần áo Vì đầu nòng súng trực tiếp với rãnh xuyên nên hơi thuốc súng lùa theo

đầu đạn phá bục da và mô dới da làm bờ vết thơng nham nhở có thể rộng hơn cỡ đạn, một số trờng hợp thấy thuốc đạn bám trong rãnh xuyên Có khi không thấy, hoặc thấy rách da ở hai bên Có thể thấy trên một vết thơng có 2 dấu ấn đầu nòng súng do súng giật, vì tì không chắc, một điều đáng chú ý là tổn thơng hầm phá Hầm phá là một phần mô dới da bị lóc vòng tròn nh một túi bịt, do áp lực hơi nòng súng gây nên (chỉ

ở nơi nào mô dới da là cơ mới có hầm phá) Hầm phá có thể có khói thuốc đạn đen xám, các mảnh thuốc đạn còn sót bám vào (lấy que diêm, que kim loại nóng đỏ ấn vào những mảnh nghi có thuốc súng, nếu đúng, sẽ bùng cháy) Hầm phá mô dập nát

có màu hồng, tơi sắc tố của cơ và huyết sắc tố gắn với CO (cacboxyhémoglobin) Hình ảnh màu của cơ dập nát và màu của máu ở hầm phá có thể thấy cả ở lỗ đạn vào

và ra

Tầm kề không hoàn toàn: Là tầm đầu nòng súng không ấn chặt vào da mà chỉ chạm

vào da Khi súng nổ, một phần khói thuốc súng tỏa trên mặt da, mặt khác hơi ở đầu súng phá ngay từ mặt da nên da tổn thơng rộng và chúng tạo nên quầng khói đen quanh vết thơng, vòng đen gồm thuốc súng, ion kim loại của đầu đạn và của nòng súng vì thế bằng phơng pháp hóa học có thể phát hiện đợc loại đạn Da ở đây rách th-ờng hình chữ thập làm vết thơng rất rộng, bên dới không có hầm phá vì hơi đã tỏa ra bên ngoài

▪ Tầm kề nghiêng: Đầu súng chạm mục tiêu nhng có góc nghiêng chếch Tổn thơng giống tầm kề không hoàn toàn, nhng chỉ khác ở đầu nòng súng hớng sát mục tiêu thì phần đó bị ám khói, quầng khói đó hình bán nguyệt hoặc hình ê-líp và vết rách dài Trong vết thơng có phần ám khói và thuốc đạn

Dù tầm kề hoàn toàn hay không hoàn toàn hoặc kề nghiêng thì cả 3 loại bao giờ cũng có

ám khói và thuốc súng còn sót trên vết thơng

Trang 13

Tầm gần, tầm nằm trong giới hạn tác động của các yếu tố phụ nh hơi thuốc đạn, khói thuốc đạn, mảnh thuốc đạn còn sót lại và các bụi kim loại Đối với súng chiến đấu tầm hoạt động của những yếu tố này phát huy trong khoảng 1 mét Nhng đối với súng săn giới hạn xa hơn Dựa vào cách phân bố và mức độ biểu hiện của các yếu tố phụ trên mục tiêu có thể xác định đợc tầm bắn.

Vết cháy hoặc bỏng do nổ cháy chủ yếu của các thuốc đạn cháy có khói, thờng thấy

trong phạm vi 20-25cm Đối với các thuốc súng không khói, dấu tích này thấy ở phạm vi 10cm Đôi khi cũng thấy có vết xám nhẹ

Vết khói thấy ở khoảng cách 15-30cm Trong vòng 15cm dấu tích này biểu hiện rõ

nhất Từ 20-30cm biểu hiện rất nhẹ, có thể không thấy, vết ám khói trên quần áo nói chung khó xác định, tùy thuộc vào bản chất sợi vải và màu sắc của vải, muốn xác

định cần dùng phơng pháp chụp ảnh bằng tia hồng ngoại Vết ám khói càng nhạt dần tầm bắn càng xa

Mảnh thuốc đạn: Mảnh thuốc đạn có thể thấy khảm vào (găm, cắm vào) lớp biểu bì,

có khi cả ở lớp trung bì của da hoặc thấy chúng bắm quanh lỗ đạn thể hiện bằng các vết lấm tấm đen quanh vết thơng, với súng ngắn khoảng cách tầm bắn 50-70, với súng trờng khoảng cách 100cm thấy đợc mảnh thuốc đạn Ngời ta coi phạm vi 100cm (1 mét) là phạm vi của tầm gần

Vành quệt (vành chùi): Những bụi bẩn của bản thân đầu đạn cũng nh bụi khói, mảnh

nhỏ của thuốc đạn và dầu lau súng còn sót lại dính vào đầu đạn đợc nung nóng trong quá trình nổ súng, khi đầu đạn xuyên qua mục tiêu, vừa xuyên vừa xoáy để lại xung quanh bờ lỗ vào và rãnh xuyên một lớp xám đen, lớp xám đen ấy chính là vành quệt

Xác định hớng bắn có thể phán đoán đợc t thế của ngời bắn và t thế của nạn nhân khi bị

đạn xuyên Để xác định hớng bắn ngời ta căn cứ vào 3 thành phần của vết thơng: Lỗ vào, rãnh xuyên hoặc lỗ ra

4.3.1 Lỗ vào:

Trang 14

Nh ngời ta đã biết, đầu đạn khi bắn xuyên vào ngời ấn lõm da thành hình phễu làm căng lớp hạ bì và gây cháy bỏng mặt ngoài của lớp biểu bì do động năng và nhiệt độ cao của

đầu đạn tạo nên các hiện tợng:

- Lỗ mất da tròn hoặc bầu dục

- Có vành xợt da quanh mép vết thơng

- Có vành quệt (vành chùi): Do đầu đạn dính thuốc đạn, khói đạn hay dầu lau súng thì

sẽ để lại trên quần áo trắng hoặc có màu xám một vành quệt quanh lỗ đạn vào Dùng

ánh đèn tử ngoại có thể nhìn rõ vết dầu hoặc thuốc đạn

ở tầm kề hoặc tầm gần còn thấy các dấu hiệu của các yếu tố phụ giúp ta nhận định thuận lợi lỗ vào

4.3.2 Rãnh xuyên:

Rãnh xuyên là một đờng dài kín hoặc hở, tạo ra khi đầu đạn xuyên qua cơ thể Có hai hình thái rãnh xuyên:

Rãnh xuyên hoàn toàn: Là đờng hầm nối giữa lỗ vào và lỗ ra.

Rãnh xuyên không hoàn toàn: là đờng hầm tận cùng trong cơ thể, tiếp sau lỗ vào, còn

gọi là lỗ đạn chột hay vết thơng chột

Rãnh xuyên không phải khi nào cũng là một đờng thẳng vì đạn vào cơ thể bị xơng có độ rắn làm chệch hớng Nếu sức đẩy của đầu đạn hết, đầu đạn có nằm trong phần mềm, trong mạch máu lớn, trong ống tiêu hóa hoặc trong xơng Trờng hợp đầu đạn gặp chớng ngại vật cứng (cột sống, xơng chậu, v.v ) thì rất dễ đổi hớng

- ở phổi rãnh xuyên khó phát hiện vì nhu mô phổi xốp, lại luôn luôn di động co giãn

- ở tạng đặc nh gan, lách, v.v rãnh xuyên có các tia rạn nứt

- Trờng hợp đạn hết lực đẩy lọt vào lòng mạch máu lớn, ống tiêu hóa, v.v phải kiểm tra tỉ mỉ kỹ càng, phải mở các mạch máu lớn, ống tiêu hóa để thu hồi đầu đạn

- Trong rãnh xuyên có thể tìm thấy các dị vật nh: mảnh quần áo, xơng hoặc dị vật khác

- Ngày nay, tìm đạt chột dễ dàng hơn nhờ chụp X.quang tử thi

4.3.3 Lỗ ra:

Đầu đạn xuyên qua ngời va chạm vào vật hoặc mô mềm cũng nh vật hoặc mô rắn có thể biến dạng Đạn làm căng da từ mặt trong chọc thủng hạ bì rồi đến biểu bì Vì vậy đối với tầm xa, lỗ ra có thể nhỏ hơn lỗ vào, có khi lỗ vào lỗ ra bằng nhau hoặc có hình thái bất thờng nh hình khe, hình sao, v.v Lỗ ra thờng không có vành xợt và vành quệt do các yếu tố phụ đã ở lại trong cơ thể trớc khi đầu đạn thoát ra

Ngày đăng: 01/06/2017, 15:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w