Câu 1 : Bản chất của tâm lí người Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định : “ Tâm lí người là sự phản ánh hiện thực khách qan vào não người thông qua chủ thể, tâm lí người có bản chất xã hội lịch sử “ Tâm lí người là sự phản ánh hiện thực khách quan vào nãongười thông qua chủ thể Phản ánh là quá trình tác động qua lại giữa hệ thống này và hệ thống khác, kết quả là để lại dấu vết (hình ảnh) tác động ở cả hệ thống tác động và hệ thống chịu sự tác động.Phản ánh là thuộc tính chung của mọi sự vật hiện tượng đang vận động vì tất cả các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan đều đang vận động, không tránh khỏi những va chạm tác động và để lại sự phản ánh. Có nhiều loại phản ánh: +Phản ánh cơ học : ví dụ viên phấn viết lên bảng đen để lại vết phấn trên bảng và bảng làm mòn viên phấn +Phản ánh vật lí : ví dụ khi mình đứng trước gương thì thấy hình ảnh của mình qua gương +Phản ánh sinh học : ví dụhoa hướng dương luôn hướng về phía mặt trời mọc +Phản ánh hóa học: ví dụ 2H2 + O2 > 2H2O +Phản ánh xã hội : phản ánh các mối quan hệ trong xã hội mà con người là thành viên sống, hoạt động. ví dụ : đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau “lá lành đùm lá rách” + Phản ánh tâm lí là hình thức phản ánh cao nhất và phức tạp nhất, đó là kết quả cuả sự tác động của hiện thực khách quan vào não người và do não tiến hành. Phản ánh tâm lí là một loại phản ánh đặc biệt vì: Đây là sự tác động của hiện thực khách quan vào não người, vào hệ thần kinh, bộ não người là tổ chức cao nhất của vật chất. Chỉ có hệ thần kinh và não người mới có khả năng nhận được tác động của hiện thực khách quan, xử lí chúng, và tạo ra trên não hình ảnh tinh thần chứa đựng các vết vật chất ( Do não có cấu tạo , có nhiều vùng chức năng có thể tiếp nhận và xử lí rất nhiều kích thích, hình ảnh, tác động..).Đó là các quá trình sinh lí sinh hóa trong hệ thần kinh và não bộ. Phản ánh tâm lí tạo ra “hình ảnh tâm lí” (bản sao chép) về thế giới. Hình ảnh tâm lí là kết quả của quá trình phản ánh thế giới khách quan vào não người .Song hình ảnht âm lí khác xa về chất so với các hình ảnh cơ,lí, sinh vật ở chỗ: +Hình ảnh tâm lí mang tính sinh động và sáng tạo: ví dụ hình ảnh tâm lí về một cuốn sach trong đầu người biết chữ khác xa về chất so với hình ảnh vật lí ở trong gương là hình ảnh chết cứng. +Hình ảnh tâm lí mang tính chủ thể, chịu ảnh hưởng của chủ thể và phụ thuộc vào chủ thể. Nghĩa là con người phản ánh thế giới bằng hình ảnh tâm lí thông qua lăng kính chủ quan của mình. Cùng nhận một sự tác động của hiện thực khách quan nhưng ở mỗi chủ thể khác nhau lại cho ta những hình ảnh tâm lí với mức độ và săc thái khác nhau. (Ví dụ: A và B cùng ngắm nhìn 1 bức tranh, A khen đẹp còn B chê màu săc quá tối). Và cùng một hiện thực khách quan tác động vào chủ thể duy nhất nhưng ở thời điểm hoàn cảnh và trạng thái, tinh thần khác nhau sẽ ta thấy mức độ biểu hiện và sắc thái khác nhau ở 1 chủ thể ấy ( ví dụ : bình thường A đi học về, con chó nhà A chạy ra quấn quýt, A rất vui về sự quấn quýt đo.Nhưng hôm nay A đang vội , tâm trạng lại không vui, A thấy bực mình về con chó) Chính chủ thể mang hình ảnh tâm lí là người cảm nhận, cảm nghiệm và thể hiện rõ nhất. Thông qua mức đọ và sắc thái tâm lí khác nhau mà mỗi chủ thể tỏ thái độ và hành vi khác nhau đối với hiện thực. Tâm lí người này khác với tâm lí người kia là do nhiều yếu tố chi phối: +Mỗi người có một đặc điểm riêng về cơ thể, giác quan , hệ tuần hoàn, thần kinh và não bộ +Mỗi người có một hoàn cảnh sống riêng và được giáo dục trong môi trường không giống nhau. +Mỗi cá nhân thể hiện sự tích cực hoạt động, tích cực giao lưu không giống nhau.
Trang 1ÔN TÂM LÍ HỌC ĐẠI CƯƠNG Hoàng Thanh Huyền
K65A– Giáo dục mầm non
Câu 1 : Bản chất của tâm lí người
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định : “ Tâm lí người là sự phản ánh hiện thực khách qan vào não người thông qua chủ thể, tâm lí người có bản chất xã hội lịch sử “
*Tâm lí người là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người thông qua chủ thể
Phản ánh là quá trình tác động qua lại giữa hệ thống này và hệ thống khác, kết quả là để lại dấu vết (hình ảnh) tác động ở cả hệ thống tác động và hệ thống chịu sự tác động.Phản ánh là thuộc tính chung của mọi sự vật hiện tượng đang vận động vì tất cả các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan đều đang vận động, không tránh khỏi những va chạm tác động và để lại sự phản ánh
Có nhiều loại phản ánh:
+Phản ánh cơ học : ví dụ viên phấn viết lên bảng đen để lại vết phấn trên bảng và bảng làm mòn viên phấn
+Phản ánh vật lí : ví dụ khi mình đứng trước gương thì thấy hình ảnh của mình qua gương
+Phản ánh sinh học : ví dụ hoa hướng dương luôn hướng về phía mặt trời mọc
+Phản ánh hóa học: ví dụ 2H2 + O2 -> 2H2O
+Phản ánh xã hội : phản ánh các mối quan hệ trong xã hội mà con người là thành viên sống, hoạt động
ví dụ : đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau “lá lành đùm lá rách”
+ Phản ánh tâm lí là hình thức phản ánh cao nhất và phức tạp nhất, đó là kết quả cuả sự tác động của hiện thực khách quan vào não người và do não tiến hành
Phản ánh tâm lí là một loại phản ánh đặc biệt vì:
-Đây là sự tác động của hiện thực khách quan vào não người, vào hệ thần kinh, bộ não người là tổ chức cao nhất của vật chất Chỉ có hệ thần kinh và não người mới có khả năng nhận được tác động của hiện thực khách quan, xử lí chúng, và tạo ra trên não hình ảnh tinh thần chứa đựng các vết vật chất ( Do não
có cấu tạo , có nhiều vùng chức năng có thể tiếp nhận và xử lí rất nhiều kích thích, hình ảnh, tác
động ).Đó là các quá trình sinh lí sinh hóa trong hệ thần kinh và não bộ
Trang 2-Phản ánh tâm lí tạo ra “hình ảnh tâm lí” (bản sao chép) về thế giới Hình ảnh tâm lí là kết quả của quá trình phản ánh thế giới khách quan vào não người Song hình ảnht âm lí khác xa về chất so với các hình ảnh cơ,lí, sinh vật ở chỗ:
+Hình ảnh tâm lí mang tính sinh động và sáng tạo: ví dụ hình ảnh tâm lí về một cuốn sach trong đầu người biết chữ khác xa về chất so với hình ảnh vật lí ở trong gương là hình ảnh chết cứng
+Hình ảnh tâm lí mang tính chủ thể, chịu ảnh hưởng của chủ thể và phụ thuộc vào chủ thể Nghĩa là con người phản ánh thế giới bằng hình ảnh tâm lí thông qua lăng kính chủ quan của mình
* Cùng nhận một sự tác động của hiện thực khách quan nhưng ở mỗi chủ thể khác nhau lại cho ta những hình ảnh tâm lí với mức độ và săc thái khác nhau (Ví dụ: A và B cùng ngắm nhìn 1 bức tranh, A khen đẹp còn B chê màu săc quá tối)
* Và cùng một hiện thực khách quan tác động vào chủ thể duy nhất nhưng ở thời điểm hoàn cảnh và trạng thái, tinh thần khác nhau sẽ ta thấy mức độ biểu hiện và sắc thái khác nhau ở 1 chủ thể ấy ( ví dụ : bình thường A đi học về, con chó nhà A chạy ra quấn quýt, A rất vui về sự quấn quýt đo.Nhưng hôm nay
A đang vội , tâm trạng lại không vui, A thấy bực mình về con chó)
-Chính chủ thể mang hình ảnh tâm lí là người cảm nhận, cảm nghiệm và thể hiện rõ nhất
-Thông qua mức đọ và sắc thái tâm lí khác nhau mà mỗi chủ thể tỏ thái độ và hành vi khác nhau đối với hiện thực
Tâm lí người này khác với tâm lí người kia là do nhiều yếu tố chi phối:
+Mỗi người có một đặc điểm riêng về cơ thể, giác quan , hệ tuần hoàn, thần kinh và não bộ
+Mỗi người có một hoàn cảnh sống riêng và được giáo dục trong môi trường không giống nhau
+Mỗi cá nhân thể hiện sự tích cực hoạt động, tích cực giao lưu không giống nhau
*Tâm lí người mang bản chất xã hội lịch sử
Tâm lí con người có nguồn gốc từ thế giới khách quan (tự nhiên và xã hội) trong đó nguồn gốc xã hội là yếu tố quyết định tâm lí con người thể hiện qua các mối quan hệ kinh tế-xã hội, đạo đức pháp
quyền,mối quan hệ giữa con người với con người,quan hệ gia đình hàng xóm quê hương, quan hệ cộng đồng nhóm…Các mối quan hệ trên quyết định bản chất tâm lí con người.Trên thực tế nếu con người thoát li ra khỏi các mối quan hệ xã hội, mối quan hệ giữa con người với con người thì tâm lí người sẽ mất bản tính người
Tâm lí người là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp trong các mối quan hệ xã hội, là sản phẩm cuả con người với tư cách là chủ thể xã hội, chủ thể của nhận thức, chủ thể của hoạt động và giao tiếp một cách chủ đông và sáng tạo… Như vậy tâm lí con người mang đầy đủ dấu ấn xã hội-lịch sử của con người
Trang 3Tâm lí của mỗi cá nhân là kết cả của quá trình chiếm lĩnh và biến kinh nghiệm xã hội , nền văn hóa xã hội thành cái riêng của mỗi người thông qua hoạt động, giao tiếp và giáo dục trong đó giáo dục giữ vai trò chủ đạo, hoạt động và mối quan hệ giao tiếp của con người có tính chất quyết định
Ví dụ 1 đứa trẻ sinh ra chúng như một trang giấy trắng, sau một thời gian được bố mẹ chăm sóc dạy dỗ, được tiếp xúc với nhiều người nó ngày càng học hỏi , tiếp thu và lĩnh hội nhiều hơn về thé giới xung quanh
Tâm lí con người hình thành, phát triển và biến đổi cùng với sự phát triển của lịch sử cá nhân,lịch sử dan tộc và cộng đồng.Tâm lí con người mang tính lịch sử, nó chịu sự ước chế bởi lịch sử cuả cá nhân và cộng đồng Tuy nhiên nó không phải là sự copy một cách máy móc mà được thay đổi thông qua đời sống tâm
lí cá nhân Chính vì thế mỗi cá nhân vừa mang những nét đặc trưng cho xã hội lịch sử vừa mang những nét riêng đặc trưng cho mỗi cá nhân
KẾT LUẬN SƯ PHẠM:
-Tâm lí người có nguồn gốc từ thế giới khách quan vì thế khi nghiên cứu tâm lí người phải nghiên cứu hoàn cảnh mà trong đó con người sống và hoạt động
-Tâm lí người mang tính chủ thể vì thế trong dạy học giáo dục, quan hệ ứng xử, phải chú ý đến cái riêng trong tâm lí mỗi người (giáo dục tâm lí cá biệt)
-Tâm lí là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp vì thế phải tổ chức các hoạt động và các hoàn cảnh giao tiếp để nghiên cứu sự hình thành và phát triển tâm lí con người
-Cần tổ chức các hoạt động dạy học và giáo dục hợp lí,tổ chức tốt các hoạt động chủ đạo ở từng giai đoạn lứa tuổi khác nhau để hình thành phát triển tâm lí người
-Não bộ có vai trò vô cùng quan trọng trong các hoạt động tâm lí và nhận thức củ con người nên trong dạy học hướng dẫn trẻ cách bảo vệ não bộ sao cho khỏe mạnh
Câu 2: Phân tích khái niệm và đặc điểm của hoạt động
Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thế giới xung quanh(khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới và cả về phía con người (chủ thể)
Trang 4Phân tích:
Hoạt động gồm hai quá trình qua lại, thống nhất với nhau:
-Quá trình đối tượng hóa (xuất tâm): là qua trình chủ thể chuyển những đặc điểm tâm lí của mình vào trong sản phẩm.Đó là quá trình tâm lí của chủ thể được bộc lộ ra ngoài trong suốt quá trình hoạt động
và được thể hiện trong sản phẩm của hoạt động Nói cách khác sản phẩm là nơi tâm lí con người được bộc lộ
-Quá trình chủ thể hóa (nhập tâm): con người chuyển nội dung khách thể(những quy luật bản chất đặc điểm… của khách thể) vào bản thân mình tạo nên tâm lí ý thức, nhân cách của bản thân Đó là qua trình con người có thêm kinh nghiệm, hiểu biết về thế giới, thêm kinh nghiệm tác động vào thế giới, rèn luyện cho mình những kĩ năng, phẩm chất cần thiết để tác động vào thế giới hiệu quả.Nói cách khác , quá trình này hình thành tâm lí ở chủ thể
-Hai quá trình xuất tâm và nhập tâm thống nhất với nhau, tạo thành một hoạt động trọn vẹn, thống nhất của con người
Kết quả của sự tác động này là tạo ra sản phẩm kép:
-Sản phẩm về phía thế giới khách quan: sản phẩm vật chất (bàn, ghế,tủ ), sản phẩm tinh thần(khái niệm tri thức biểu tượng…), kí hiệu (công thức )… các sản phẩm này chứa đựng tâm lí, ý thức của chủ thể -Sản phẩm về phía chủ thể: Hoạt động gip hình thành , phát triển tâm lí, ý thức của con người, đồng thời bộc lộ tâm lí ý thức ra ên ngoài.Con người lĩnh hội được các kiến thức, kĩ năng kinh nghiệm để tạo ra và làm phong phú tâm lý ý thức của con người
Các đặc điểm của hoạt động:
Hoạt động bao giờ cũng là hoạt động có đối tượng
-Đối tượng là một phần cuả hiện thực khách quan, là cái mà con người tác động vào nhằm thay đổi hoặc chiếm lĩnh nó
-Đối tượng của hoạt động có thể tồn tại dưới 3 dạng
+Vật chất (sự vật, con người )
+Kí kiệu (công thức)
+Tinh thần (khái niệm, tri thức, biểu tượng, mối quan hệ…)
-Hoạt động có tính chất đối tượng thể hiện ở chỗ:
+Hoạt động của con người bao giờ cũng hướng đến đối tượng nhất định
Trang 5+Tính đối tượng của hoạt động chỉ xuất hiện khi chủ thể có nhu cầu chiếm lĩnh đối tượng.
-Như vậy, đối tượng của hoạt động chính là hiện thân của động cơ hoạt động, thỏa mãn nhu cầu của con người và thúc đẩy con người hoạt động
Hoạt động bao giờ cũng có chủ thể
-Hoạt động bao giờ cũng do con người tiến hành, con người trở thành chủ thể của hoạt động khi tự giác, tích cực và có ý thức tác động vào đối tượng của hoạt động
-Chủ thể của hoạt động có thể là một người hay nhiều người
Hoạt động bao giờ cũng có tính mục đích
-Mục đích là biểu tượng về sản phẩm hoạt động có khả năng thỏa mãn nhu cầu của chủ thể, nó điều khiển , điều chỉnh hoạt động
-Mục đích nói chung của mọi hoạt động là làm biến đổi thế giới(khách thể) và biến đổi bản thân chủ thể
Hoạt động vận hành theo nguyên tắc gián tiếp
-Trong hoạt động, con người tác động đến khách thể một cách gián tiếp: con người tác động đến thế giới khách thể thông qua công cụ lao động
-Công cụ lao động của con người có thể tồn tại dưới hai dạng:
+Vật chất: máy móc và các phương tiện cụ thể như cuốc, cày, xe cộ, khoan… Gọi chung là công cụ kĩ thuật
+Tinh thần: các tri thức, khái niệm, biểu tượng… gọi chung là công cụ tinh thần
Ví dụ: tiếng nói, chữ viết, kinh nghiệm và các hình ảnh tâm lí là các công cụ tâm lí được sử dụng để tổ chức, điều khiển thế giới tinh thần của con người
=>Làm cho hành vi của con người khác xa với hành vi của con vật bởi công cụ là sản phẩm của con người,trong công cụ tích đọng những đặc điểm tâm lí của chủ thể làm ra nó, thể hiện trình độ phát triển của xã hội đó Trong quá trình sử dụng con người không chỉ tác động vào khách thể mà còn có sự hiểu biết về công cụ và khách thể, về cấu tạo chức năng và cả tri thức xã hội lịch sử, giá trị tích đọng trong công cụ đó và truyền lại cho thế hệ sau
Trang 6Vai trò của hoạt động:
Hoạt động đóng vai trò quyết định đến sự hình thành và phát triển tâm lí và nhân cách cá nhân thông qua hai quá trình:
-Quá trình đối tượng hóa : chủ thể chuyển năng lực và phẩm chất tâm lí của mình tạo thành sản
phẩm.Từ đó tâm lí người được bộc lộ, khách quan hóa trong quá trình tạo ra sản phẩm , hay còn gọi là quá trình xuất tâm
Ví dụ : Khi thuyết trình một môn học nào đó thì người thuyết trình phải sử dụng kiến thức kĩ năng, thái
độ, tình cảm của mình về môn học đó để thuyết trình.Trong khi thuyết trình thì mỗi người lại có tâm lí rất khác nhau: người thì rất tự tin, nói to, mạch lạc, rõ ràng logic, người thì run, lo sợ, nói nhỏ, ấp úng Cho nên phụ thuộc vào tâm lí mỗi người mà bài thuyết trình đó sẽ đạt yêu cầu hay không đạt yêu cầu
-Qua trình chủ thể hóa: Thông qua các hoạt động đó, con người tiếp thu lấy tri thức, dúc rút được kinh nghiệm nhờ quá trình tác động vào đối tượng, hay còn được gọi là quá trình nhập tâm
Ví dụ: Sau lần thuyết trình đầu tiên đó thì cá nhân đã rút được ra rất nhiều kinh nghiệm cho bản thân, và
đã biết làm thế nào để có một bài thuyết trình đạt hiệu quả tốt Nếu lần sau có thuyết trình thì sẽ phải chuẩn bị một tâm lí tốt, đó là phải tự tin, nói to, rõ ràng, mạch lạc, logic, phải làm chủ được mình trước mọi người
Như vậy thông qua xuất tâm và nhập tâm, tâm lí con người hình thành và phát triển.Con người có hiểu biết về đặc điểm thuộc tính của sự vật hiện tượng,trong quá trình tác động con người có thêm kinh nghiệm tác động vào thế giới xung quanh.Nếu khách thể là một sản phẩm của một chủ thể khác trc đó thì thông qua khách thể chủ thể có thể có thêm những hiểu biết về đặc điểm tâm lí cũng như trình độ của chủ thể trước,mỗi ngành nghề đều có những yêu cầu về kiến thức và kĩ năng khác nhau, qua đó, tâm
lí của con người cũng được hình thành và phát triển
Bên cạnh đó, thông qua sản phẩm của hoạt động, chủ thể tự đánh giá năng lực của bản thân, tâm lí khong chỉ thể hiện ra bên ngoài mà còn tự rút được kinh nghiệm cho bản thân, từ đó hình thành và phát triển
Hoạt động chủ đạo có vai trò quyết định đến sự biến đổi các quá trình tâm lí con người trong những giai đoạn nhất định, tạo ra cấu trúc tâm lí đặc trưng mới,là cở để hình thành và phát triển tâm lí
Kết luận sư phạm
-Hoạt động quyết định đến sự hình thành và phát triển tâm lí, nhân cách cá nhân nên cần tổ chức nhiều hoạt động đa dạng và phong phú trong cuộc sống và học tập
-Sự hình thành và phát triển tâm lí, nhân cách cá nhân phụ thuộc vào hoạt động chủ đạo của từng thời kì nên trong dạy học cho trẻ cần tổ chức tốt các hoạt động chủ đạo cho phù hợp để tạo điều kiện, môi trường thuận lợi cho trẻ phát triển
Trang 7Ví dụ: Giai đoạn tuổi nhà trẻ (1-2t) hoạt động chủ đạo là hoạt động với đồ vật : trẻ bắt chước các hành động sử dụng đồ vật,nhờ đó khám phá tìm hiểu sự vật xung quanh Giai đoạn tuổi mẫu giáo, hoạt động chủ đạo là đóng vai theo chủ đề
Câu 3 : Phân tích khái niệm giao tiếp, các chức năng của giao tiếp
Giao tiếp là quá trình tác động qua lại giữa con người với con người, thể hiện sự tiếp xúc tâm lí giữa người với người, thông qua đó con người trao đổi thông tin, trao đổi cảm xúc, tri giác lẫn nhau, tác động
và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau
Hay nói cách khác: Giao tiếp là quá trình xác lập và vận hành quan hệ người - người,thực hiện hóa các quan hệ xã hội giữa chỉ thể này với chủ thể khác
Phân tích khái niệm:
-Giao tiếp là quá trình tác động qua lại giữa con người với con người, thể hiện sự tiếp xúc tâm lí giữa các chủ thể
+Giao tiếp giữa con người với con người chỉ diễn ra trong môi trường xã hội dưới nhiều hình thức khác nhau như cá nhân-cá nhân, cá nhân-nhóm, nhóm-nhóm, cộng đồng…
+Trong quá trình giao tiếp, những người tham gia giao tiếp sẽ thay nhau giữ vai trò chủ thể gaio tiếp +Phương tiện con người sử dụng để giao tiếp là : ngôn ngữ (nói, viết) ;tín hiệu phi ngôn ngữ (cử trỉ, điệu bộ,ánh mắt ) ; vật chất (vật thể do con người tạo ra truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác)
+Trong qua trình giao tiếp, các chủ thể đều phải tích cực tự giác trong quá trình tác động qua lại lẫn nhau
-Nội dung của sự tiếp xúc tâm lí bao gồm : Trao đổi thông tin, trao đổi cảm xúc
-Từ sự tiếp xúc tâm lí đó, các chủ thể có thể tri giác lẫn nhau, hiểu nhau
-Trên cơ sở hiểu nhau, các chủ thể tác động ảnh hưởng qua lại lẫn nhau, xác lập mối quan hệ với nhau
và hiện thực hóa các quan hệ xã hội giữa chủ thể này và chủ thể khác
-Chính vì vậy, giao tiếp vừa mang tính xã hội vừa mang tính cá nhân.Tính xã hội thể hiện ở việc diễn ra trong môi trường xã hội, sử dụng các phương tiện do con người tạo ra để giao tiếp, tính cá nhân thể hiện ở nội dung giao tiếp, phong cách giao tiếp và hình thức giao tiếp khác nhau
Chức năng của giao tiếp :
Giao tiếp có 5 chức năng :
-Chức năng thông tin
Trang 8+Thông qua giao tiếp con người trao đổi thông tin, truyền đạt tri thức, mở rộng hiểu biết.
+Từ quá trình trao đổi tri thức, hiểu biết, con người thu nhận và xử lí thông tin,là con đường quan trọng
để phát triển nhân cách
-Chức năng cảm xúc
+Thông qua giao tiếp con người không chỉ bộc cảm xúc mà còn tạo ra ấn tượng , khơi gợi cảm xúc mới giữa các chủ thể , hình thành nên tình cảm của con người
-Chức năng ngận thức và đánh giá lẫn nhau
+Trong giao tiếp, mỗi chủ thể tự bộc lộ quan điểm, tư tưởng thái độ, thói quen của mình Nó là cơ sở để các chủ thể có thể nhận thức về nhau, đánh giá lẫn nhau.Đặc biết là từ việc so sánh đánh giá với ý kiến của người khác mà mỗi chủ thể có thể tự đánh giá về bản thân mình
-Chức năng điều chỉnh hành vi
+Con người thông qua giao tiếp có thể nhận thức lẫn nhau, đánh giá lẫn nhau và tự đánh giá bản thân
Từ đó mỗi chủ thể có khả năng điều chỉnh hành vi của mình, cũng như tác động đến động cơ, mục đích, quá trình ra quyết định hành động của một chủ thể khác
-Chức năng phối hợp hoạt động
+Con người giao tiếp, hiểu nhau, tìm được ý kiến chung, từ đó có thể phối hợp hoạt động để cùng nhau giải quyết một nhiệm vụ nào đó nhằm đạt tới một mục tiêu chung.Giao tiếp thể hiện chức năng phục vụ các nhu cầu chung của xã hội hay của 1 nhóm người
Tóm lại, giao tiếp là quá trình quan hệ, tác động qua lại giữa con người với con người, nhờ đó con người có thể trao đổi thông tin, cảm xúc, nhận thức, đánh giá và điều chỉnh hành vi lẫn nhau, đồn thời tự điều chỉnh hành vi của mình
Vai trò của giao tiếp đối với sự hình thành và phát triển tâm lí, nhân cách cá nhân
Giao tiếp là điều kiện tồn tại của cá nhân và xã hội
-Giao tiếp là điều kiện tồn tại của con người.Nếu không có sự giao tiếp với người khác thì con người không thể phát triển, cảm thấy cô đơn và có khi trở thành bệnh hoạn
-Nếu không có giao tiếp thì không có sự tồn tại xã hội , vì xã hội luôn là một cộng đồng người có sự ràng buộc , liên kết với nhau
Trang 9-Qua giao tiếp chúng ta có thể xác định các mức độ nhu cầu, tư tưởng tình cảm, vốn sống, kinh nghiệm của đối tượng giao tiếp, nhờ đó mà chủ thể giao tiếp đáp ứng kịp thời, phù hợp với mục đích và nghiệm
vụ giao tiếp
-Từ đó tạo thành các hình thức giao tiếp giữa cá nhân với cá nhân,giữa cá nhân với nhóm, nhóm với nhóm hoặc nhóm với cộng đồng
Ví dụ: Khi một người sinh ra được chó sói nuôi, thì người đó sẽ có nhiều lông, không đi thẳng mà đi bằng
4 chân, ăn thịt sống, sẽ sợ người, sống ở trong hang và có những hành động, cách cư xử giống như tập tính của loài sói
Giao tiếp là nhu cầu lớn nhất của con người từ khi tồn tại đến khi mất đi
-Từ khi con người mới sinh ra đã có nhu cầu giao tiếp, nhằm thỏa mãn những nhu cầu của bản thân -Ở đâu có sự tồn tại của con người thì ở đó có sự giao tiếp giữa con người với con người, giao tiếp là cơ chế bên trong của sự tồn tại và phát triển con người
-Để tham gia vào các quan hệ xã hội, giao tiếp với người khác thì con người phải có một cái tên, và phải
có phương tiện để giAO tiếp
-Lớn lên, con người phải có nghề nghiệp, mà nghề nghiệp do xã hội sinh ra và quy định Việc đào tạo, chuẩn bị tri thức cho nghề nghiệp phải tuân theo một quy định cụ thể khoa học… không học tập tiếp xúc với mọi người thì sẽ không có nghề nghiệp theo đúng nghĩa của nó, hơn nữa muốn hành nghề phải có nghẹ thuật giao tiếp với mọi người thì mới thành đạt trong cuộc sống
-Trong quá trình lao động, con người không thể tránh được các mối quan hệ với nhau.Đó là một phương tiện quan trọng để giao tiếp và một đặc trưng quan trọng của con người đó là tiếng nói và ngôn ngữ -Giao tiếp giúp con người truyền đạt kinh nghiệm, thuyết phục, kích thích đối tượng giao tiếp hoạt động, giả quyết các vấn đề trong học tập, sản xuất kinh doanh, thỏa mãn những nhu cầu hứng thú , cam xúc tạo ra
-Qua giao tiếp, con người hiểu biết lẫn nhau, lien hệ với nhau và làm việc cùng nhau
Ví dụ: Từ khi một đứa trẻ vừa mới sinh ra đã có nhu cầu giao tiếp với bố mẹ và mọi người để thỏa mãn nhu cầu an toàn, bảo vệ, chăm sóc và được vui chơi…
Thông qua giao tiếp con người gia nhập vào các mối quan hệ xã hội, lĩnh hội nền văn hóa xã hội, đạo đức, chuẩn mực xã hội.
- Trong quá trình giao tiếp thì cá nhân điều chỉnh, điều khiển hành vi của mình cho phù hợp với các chuẩn mực xã hội, quan hệ xã hội, phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực
Trang 10- Cùng với hoạt động giao tiếp con người tiếp thu nền văn hóa, xã hội, lịch sử biến những kinh nghiệm đó thành vốn sống Kinh nghiệm của bản thân hình thành và phát triển trong đời sống tâm lý Đồng thời góp phần vào sự phát triển của xã hội
- Nhiều nhà tâm lý học đã khẳng định, nếu không có sự giao tiếp giữa con người thì một đứa trẻ không thể phát triển tâm lý, nhân cách và ý thức tốt được
- Nếu con người trong xã hội mà không giao tiếp với nhau thì sẽ không có một xã hội tiến bộ, con người tiến bộ
- Nếu cá nhân không giao tiếp với xã hội thì cá nhân đó sẽ không biết phải làm những gì để cho phù hợp với chuẩn mực xã hội, cá nhân đó sẽ rơi vào tình trạng cô đơn, cô lập về tinh thần và đời sống sẽ gặp rất nhiều khó khăn
- Trong khi giao tiếp với mọi người thì họ truyền đạt cho nhau những tư tưởng , tình cảm, thấu hiểu và có điều kiện tiếp thu được những tinh hoa văn hóa nhân loại, biết cách ứng xử như thế nào là phù hợp với chuẩn mực xã hội
Ví dụ: Khi gặp người lớn tuổi hơn mình thì phải chào hỏi, phải xưng hô cho đúng mực, phải biết tôn
trọng tất cả mọi người, dù họ là ai đi chăng nữa, phải luôn luôn thể hiện mình là người có văn hóa, đạo đức
2.2 Thông qua giao tiếp con người hình thành năng lực tự ý thức.
- Trong quá trình giao tiếp, con người nhận thức đánh giá bản thân mình trên cơ sở nhận thức đánh giá người khác Theo cách này họ có xu hướng tìm kiếm ở người khác để xem ý kiến của mình có đúng không, thừa nhận không Trên cơ sở đó họ có sự tự điều chỉnh, điều khiển hành vi của mình theo hướng tăng cường hoặc giảm bớt sự thích ứng lẫn nhau
- Tự ý thức là điều kiện trở thành chủ thể hành động độc lập, chủ thể xã hội
- Thông qua giao tiếp thì cá nhân tự điều chỉnh, điều khiển hành vi theo mục đích tự giác
- Thông qua giao tiếp thì cá nhân có khả năng tự giáo dục và tự hoàn thiện mình
- Cá nhân tự nhận thức về bản thân mình từ bên ngoài đến nội tâm, tâm hồn, những diễn biến tâm lý, giá trị tinh thần của bản thân, vị thế và các quan hệ xã hội
- Khi một cá nhân đã tự ý thức đươc thì khi ra xã hội họ thựờng nhìn nhận và so sánh mình với người khác xem họ hơn người khác ở điểm nào và yếu hơn ở điểm nào, để nổ lực và phấn đấu, phát huy nhũng mặt tích cực và hạn chế những mặt yếu kém
- Nếu không giao tiếp cá nhân đó sẽ không biết những gì mình làm có được xã hội chấp nhận không, có đúng với những gì mà xã hội đang cần duy trì và phát huy hay không
- Nếu con người khi sinh ra mà bị bỏ rơi, mà được động vật nuôi thì những cử chỉ và hành động của nuôi bản thân con người đó sẽ giống như cử chỉ và hành động của con vật mà đã nuôi bản thân con người đó