Chi tiết IMF Quản lý các công cụ tài chính chính quyền địa phương và quan hệ đối tác công-tư ở Trung Quốc Bài viết này nghiên cứu tác động của diễn biến lãi suất trên thị trường Mỹ l
Trang 1VIỆN CHIẾN LƯỢC NGÂN HÀNG – BANKING STRATEGY INSTITUTE (BSI); website: www.bsi.org.vn
Số 09 - Tháng 09/2016
Volume: 09 – Sep, 2016
LƯU HÀNH NỘI BỘ
THÔNG TIN KHOA HỌC THÁNG 09
NGHIÊN CỨU QUỐC TẾ THÁNG 09
VIỆN CHIẾN LƯỢC
NGÂN HÀNG
***
Bản tin phát hành định kỳ vào
ngày 10 hàng tháng,
được gửi trực tiếp qua email và
đăng tải trên Cổng thông tin
® Bản tin này được tổng hợp từ
các báo cáo, đề tài nghiên cứu
định kỳ hàng tháng liên quan đến
lĩnh vực kinh tế tài chính – ngân
hàng của các tổ chức quốc tế
WB, ADB, IMF, BIS và thông tin
kết quả nghiên cứu của các đề tài
cấp nhà nước, cấp ngành của
NHNN, các Bộ, ngành TW của
Việt Nam, các thông tin Hội thảo
của các Viện nghiên cứu, trường
đại học, ấn phẩm khoa học của
các NXB có uy tín tại Việt Nam
phù hợp với quy định pháp luật
về báo chí và bản quyển
® Mọi quan điểm, nội dung
trong Bản tin đều được dịch hoặc
căn cứ vào thông tin khoa học
chính thống, chỉ có hàm ý cung
cấp thông tin tham khảo mà
không phản ánh ý kiến hay quan
điểm của Ban Biên tập cũng như
của Viện CLNH Người đọc chỉ
nên sử dụng Bản tin nội bộ như là
thông tin tham khảo
CHỊU TRÁCH NHIỆM
XUẤT BẢN
Nghiên cứu này nhằm mục đích đưa ra góc nhìn tổng quan về những cơ chế cơ bản của hệ thống hành chính và tài chính công địa phương của Nhật Bản, và phân tích cách thức chính quyền các thành phố của Nhật khôi phục cân đối tài khóa của họ sau một cú sốc tài chính Chi tiết
ADB
Các chương trình bình đẳng hóa tài chính
và vấn đề vay mượn của các chính quyền
địa phương
Nghiên cứu này phân tích hơn 10.000 quỹ tương hỗ để đưa ra bằng chứng về sự góp phần vào rủi ro hệ thống của các quỹ này từ năm
2000 đến năm 2011. Chi tiết
và sự tăng trưởng kinh tế này lại làm tăng đầu
tư trực tiếp của Trung Quốc vào ASEAN
ADB
Đẩy mạnh chương trình tài chính toàn diện tại khu vực châu Á Thái Bình Dương hạn chế, khả năng áp dụng, bài học rút ra
từ dịch vụ tài chính được số hóa
Nghiên cứu này xem xét tác động của kiềm chế lãi suất lên hoạt động của các tổ chức tài chính
vi mô Chi tiết
ADB
Tác động của chính sách hạn chế lãi suất lên hoạt động của các tổ chức tài chính vi
mô
Trang 2Trung Quốc đang dịch chuyển sang nền
kinh tế xanh hơn, toàn diện hơn, và tăng
trưởng dựa trên dịch vụ và người tiêu dùng
nhiều hơn là dựa vào tín dụng Chi tiết
Việc quản lý PPP hiệu quả là chìa khóa để
vừa mang lại lợi ích của PPP vừa ngăn
chặn những rủi ro tài chính tiềm ẩn của nó
Chi tiết
Nghiên cứu này sẽ đánh giá xem tác động
truyền dẫn của tỷ giá tới lạm phát đã thay
đổi như thế nào kể từ sau cuộc khủng
hoảng tài chính toàn cầu Chi tiết
hoảng lạm phát của khu vực tư nhân: Bằng
chứng tại Nhật Bản
Nghiên cứu này nhằm đánh giá xem việc phát hành các dự báo của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) đã tác động tới kỳ vọng lạm phát của khu vực tư nhân như thế nào; và liệu mức độ tác động có phụ thuộc vào việc áp dụng khuôn khổ lạm phát mục tiêu hay không Chi tiết
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã nêu bật những hạn chế của tỷ lệ vốn ngân hàng nhạy cảm với rủi ro (risk-sensitive bank capital ratio) Chi tiết
IMF
Chính trị phân mảnh và Nợ công
Các tác giả nghiên cứu tác động của tình trạng phân mảnh chính trị lên nợ công – cụ thể, là giữa 2 cuộc bầu cử lập pháp liên tiếp Chi tiết
IMF
Quản lý các công cụ tài chính chính
quyền địa phương và quan hệ đối tác
công-tư ở Trung Quốc
Bài viết này nghiên cứu tác động của diễn biến lãi suất trên thị trường Mỹ lên lãi suất tại các quốc gia khác.Chi tiết
Nghiên cứu xem xét đánh giá thành tựu các
nước châu Mỹ La tinh trong việc tạo ra một
môi trường giá cả ổn định và thảo luận
những thách thức mà các ngân hàng trung
ương trong khu vực này còn phải đối mặt
Chi tiết
IMF
Ngân hàng Trung ương tại Châu Mỹ
La tinh: Con đường phía trước
WB
Liên bang Nga: Làm thế nào các dịch
vụ của nước này giúp làm tăng khả năng cạnh tranh quốc gia
Nghiên cứu sử dụng một loạt các chỉ số để phân tích khả năng cạnh tranh thương mại của lĩnh vực dịch vụ tại Liên bang Nga
Chi tiết
WB
Những khoản đầu tư hiệu quả của các
hộ nghèo từ chương trình hỗ trợ tiền mặt: bằng chứng thực nghiệm từ
Niger
Chương trình hỗ trợ tiền mặt đã được phổ biến rộng khắp như một công cụ để nâng mức tiêu dùng của hộ gia đình và xóa đói giảm nghèo Chi tiết
Bài nghiên cứu này đánh giá hiệu quả sử dụng các công cụ trực tiếp và gián tiếp của CSTT tại các quốc gia Barbados, Jamaica, Trinidad và Tobago Chi tiết
Bình thường hóa chính sách tiền tệ
Mỹ và lãi suất quốc tế
Trang 3ẤN PHẨM KHOA HỌC TRONG THÁNG 09
CÁC CUỘC CHIẾN TRANH TIỀN TỆ (CHI TIẾT)
QUỐC GIA KHỞI NGHIỆP (CHI TIẾT)
TỪ NHÀ NƯỚC ĐIỀU HÀNH SANG NHÀ NƯỚC
HỘI THẢO KHOA HỌC TRONG THÁNG 09
HỘI THẢO: “ĐIỀU TRA THỐNG KÊ TIỀN TỆ -
NGÂN HÀNG” (CHI TIẾT)
HỘI THẢO QUỐC GIA “HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH
QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HỘI
NHẬP MỚI” Chi tiết
NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC THÁNG 09
ĐỀ TÀI: XỬ LÝ VÀ CỦNG CỐ CÁC CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH TẠI VIỆT NAM (CHI TIẾT)
ĐỀ TÀI: QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM SAU SÁP NHẬP (CHI TIẾT)
ĐỀ TÀI: ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ
(CHI TIẾT)
Chủ nhiệm: TS Hoàng Thị Thanh Hằng - Giảng viên, Trường Đại học ngân hàng TP.HCM
Mã số: DTNH.18/2015
Chủ nhiệm: TS.Phạm Tiến Đạt - Phó chủ nhiệm khoa Tài chính, Học viện Ngân hàng
Do vậy, nghiên cứu này sẽ hệ thống lại tất cả những kinh nghiệm thực thi chính sách an toàn vĩ mô trên thế giới, đồng thời chỉ ra các yếu tố để xây dựng một khuôn khổ chính sách an toàn vĩ mô hiệu quả Nghiên cứu được thực hiện dựa trên cơ sở kế thừa báo cáo tiến độ chung năm 2011 cho hội nghị G20 về khuôn khổ và công
cụ thực thi chính sách an toàn vĩ mô (FSB / IMF / BIS 2011) cũng như các nghiên cứu khác của IMF, FSB và BIS, đồng thời cập nhật những kinh nghiệm gần đây của một số quốc gia và các bằng chứng thực nghiệm từ các học giả khác
Mặc dù các công cụ chính sách an toàn vĩ mô đã được sử dụng tại một số quốc gia mới nổi trước cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nhưng các công cụ này chỉ được sử dụng rộng rãi hơn trong thời gian gần đây, đồng thời việc thiết lập các khuôn khổ chính sách an toàn vĩ mô cũng chỉ mới được thúc đẩy bởi những kinh nghiệm từ sau cuộc khủng hoảng tài chính Theo đó, những kinh nghiệm có được ở nhiều nước chưa trải rộng trên một chu kỳ tài chính đầy đủ, và những bài học và bằng chứng thực nghiệm dựa trên những kinh nghiệm đó còn chưa được kiểm chứng Sự đa dạng của các khuôn khổ chính sách đã được áp dụng ở các nước cho thấy rằng không có phương pháp tiếp cận duy nhất để phù hợp cho tất cả Tuy nhiên, những kinh nghiệm đã được tích lũy tới nay đã chỉ ra một số yếu tố cần thiết để xây dựng chính sách an toàn vĩ mô Chi tiết
NGHIÊN CỨU
CHUYÊN SÂU
THÁNG 09
Trang 4Viện Chiến Lược Ngân Hàng SỐ 09 - 09.2016
BẢN TIN NGHIÊN CỨU QUỐC TẾ
1 Đẩy mạnh chương trình tài chính toàn diện tại Châu Á và khu vực Thái Bình Dương: Những hạn chế, khả năng áp dụng và bài học rút ra từ các dịch vụ tài chính được số hóa (Improving Financial Inclusion in Asia and the Pacific: Constraints, Applicability, and Lessons from Digital Financial Services)
Nguồn: ADB Tác giả: N/A Ngày xuất bản: 01/09/2016
Bài viết này trình bày các kết quả nghiên cứu về những hạn chế, khả năng áp dụng và các bài học từ việc sử dụng các dịch vụ tài chính đã được số hóa (DFS) cho việc đẩy mạnh chương trình tài chính toàn diện Nghiên cứu tập trung vào những thách thức đối với nhận thức về các rủi ro của người tiêu dùng mới phát sinh khi sử dụng DFS và cách thức các khung khổ bảo vệ người tiêu dùng có thể được củng cố và giải quyết các rủi ro này Bài viết cũng nghiên cứu về các trường hợp cụ thể về các hướng tiếp cận của các quốc gia đối với việc bảo
vệ người tiêu dùng tài chính và DFS tại Châu Á và khu vực Thái Bình Dương Các quốc gia được nghiên cứu bao gồm Philipin, Malaysia, Papua New Guine và Fiji Những trường hợp thực nghiệm này đều có chung một khuynh hướng tại các quốc gia: các khung khổ bảo vệ người tiêu dùng tài chính được xem như một cấu thành của các chiến lược tài chính toàn diện
mở rộng của quốc gia Các khung khổ này đang được củng cố như một phần quan trọng của giáo dục tài chính và bằng cách kết hợp các nghiên cứu mới nhất về tài chính toàn diện và các nghiên cứu về cách thức tốt nhất để người dân tiếp cận được các dịch vụ tài chính
Tải về toàn văn tại đây Trở lại trang đầu
2 Tác động của chính sách hạn chế lãi suất lên hoạt động của các tổ chức tài chính vi
mô (Impact of Restrictions on Interest Rates in Microfinance)
Nguồn: ADB Tác giả: N/A Ngày xuất bản: 15/09/2016
Vấn đề mà chính sách hạn chế lãi suất đang cố gắng giải quyết là một trong các vấn đề về phúc lợi xã hội: làm thế nào để các gia đình có thu nhập thấp có thể tiếp cận các nguồn tài trợ tại mức giá mà xã hội chấp nhận được Nghiên cứu này xem xét tác động của kiềm chế lãi suất lên hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô Nếu việc áp đặt các giới hạn lãi suất lên các tổ chức tài chính vi mô không phải là biện pháp hiệu quả nhát để nâng cao phúc lợi xã hội bằng cách cho phép các hộ gia đình thu nhập thấp có thể tiếp cận các nguồn tài trợ với một mức giá phải chăng, vậy đâu là biện pháp tốt nhất? Câu trả lời đơn giản nhất của nhà kinh tế cho vấn đề này có liên quan đến tính kinh tế của quy mô – vấn đề đạt hiệu quả theo một trong
ba cách Đầu tiên, bằng cách tăng cường cung cấp các khoản cho vay, có thể làm hạ mức giá trung bình của các khoản cho vay Thứ hai, lý thuyết kinh tế cho rằng bằng cách mở rộng các hoạt động này, có thể làm giảm chi phí trung bình Cuối cùng, đẩy mạnh cạnh tranh là một con đường khác giúp làm giảm chi phí và/hoặc tăng thu lợi nhuận của các tổ chức tài chính vi
Trang 5(Case Study of Central and Local Government Finance in Japan)
Tải về toàn văn tại đây
Trở lại trang đầu
4 Các chương trình bình đẳng hóa tài chính và vấn đề vay mượn của các chính quyền địa phương (Fiscal Equalization Schemes and Subcentral Government Borrowing)
Tải về toàn văn tại đây
Trở lại trang đầu
Trang 65 Đánh giá khả năng đóng góp vào rủi ro hệ thống của các quỹ tương hỗ quốc tế (Measuring Systemic Risk Contribution of International Mutual Funds)
Tải về toàn văn tại đây
Trở lại trang đầu
6 Tổng quan về tài chính toàn diện, các quy chế và giáo dục tài chính (Tổng quan về tài chính toàn diện, các quy chế và giáo dục tài chính)
Nguồn: ADB
Tác giả: Yoshino, Naoyuki, Morgan & Peter
Ngày xuất bản: 15/09/2016
Hơn một nửa dân số thế giới không được tiếp cận với hệ thống ngân hàng sống tại Châu
Á Làm thế nào những công dân này có thể tiếp cận nhiều hơn với các nguồn tài trợ? Chính phủ tại các nước Châu Á mới nổi cần phải tiếp cận vấn đề này một cách thực tế và toàn diện Vấn đề tài chính toàn diện đang nhận được sự quan tâm ngày một nhiều và có tiềm năng đóng góp vào sự phát triển kinh tế và tài chính trong khi cùng lúc thúc đẩy tăng trưởng toàn diện và bình đẳng thu nhập hơn Tuy nhiên, mặc dù đã có những tiến bộ đáng kể, vẫn còn nhiều việc cần phải làm Đông Á, khu vực Thái Bình Dương và Nam Á chiếm 55% cư dân trưởng thành không tiếp cận được với hệ thống ngân hàng của thế giới, chủ yếu tại Ấn Độ và Trung Quốc Nghiên cứu này khảo sát kinh nghiệm của một số nền kinh tế Châu Á mới nổi và phát triển để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng của các hộ gia đình có thu nhập thấp và các doanh nghiệp nhỏ trong việc tiếp cận các dịch vụ tài chính, bao gồm cả hiểu biết về tài chính, các chương trình giáo dục tài chính và các khung khổ quản lý tài chính, và xác định các chính sách có thể cải thiện khả năng tiếp cận tài chính của họ trong khi vẫn duy trì ổn định tài chính Phân tích này nhằm mục tiêu xác định rõ những quốc gia thành công và những bài học quan trọng có thể áp dụng được từ những nền kinh tế mới nổi khác Phân tích này được dựa trên nghiên cứu về kinh nghiệm của các nước Đức, Anh, Bangladesh, Ấn Độ, Indonesia, Philippin, Sri Lanka và Thái Lan Nghiên cứu nhằm mục tiêu hướng đến một góc nhìn thực tế và toàn diện tới các vấn đề có liên quan đến tài chính toàn diện Ví dụ, phương pháp sáng tạo của việc thúc đẩy tiếp cận dịch vụ tài chính như dịch vụ ngân hàng điện tử và tài chính vi mô, yêu cầu những đổi mới tương ứng trong khung pháp lý Hơn nữa, cần có các chương trình giáo dục tài chính và bảo vệ người tiêu dùng tài chính để đảm bảo các hộ gia đình và các doanh nghiệp nhỏ tận dụng toàn bộ những lợi ích của việc tiếp cận các dịch vụ tài chính
Tải về toàn văn tại đây
Trở lại trang đầu
7 Mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp của Trung Quốc và tăng trưởng của khu vực
Trang 7ASEAN (Spatial Estimation of the Nexus between the PRC’s Foreign Direct Investment and ASEAN’s Growth)
1995 đến năm 2013 Nghiên cứu sử dụng mô hình tự hồi quy véc tơ dữ liệu bảng không gian
và mối quan hệ nhân quả Granger không gian cho ước lượng bảng không gian Các kết quả thực nghiệm thu được cho thấy đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào ASEAN đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khu vực này, và tăng trưởng kinh tế khu vực ASEAN lại dẫn đến đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào ASEAN Phát hiện này gợi mở cho các hàm ý chính sách khá thú vị
về đầu tư nước ngoài
Tải về toàn văn tại đây
Trở lại trang đầu
8 Ảnh hưởng của Mỹ và Trung Quốc tới thị trường tài chính khu vực Châu Á-Thái Bình Dương (Regional pull vs global push factors: China and US influence on Asia-Pacific financial markets)
kỳ khủng hoảng Tuy nhiên, tác động từ thị trường trái phiếu của Trung Quốc vẫn ở mức không đáng kể Tác động của Trung Quốc có thể được giải thích như là một yếu tố "kéo" mang tầm khu vực (regional pull factor), trong khi đó Mỹ vẫn đóng vai trò là một yếu tố
"đẩy" mang tính toàn cầu (global push factor)
Tải về toàn văn tại đây
Trở lại trang đầu
9 Tác động truyền dẫn của tỷ giá: Điều gì đã thay đổi từ sau cuộc khủng hoảng (Exchange rate pass-through: What has changed since the crisis?)
Trang 8chính Thứ nhất, tác động truyền dẫn của tỷ giá tại các nền kinh tế mới nổi đã giảm sau cuộc khủng hoảng tài chính, trong khi tác động truyền dẫn của tỷ giá tại các nền kinh tế phát triển vẫn tương đối thấp và ổn định qua thời gian Thứ hai, việc tác động truyền dẫn của tỷ giá đã yếu đi tại các thị trường mới nổi có liên quan tới việc lạm phát suy giảm Thứ ba, các tác giả
đã chỉ ra việc cần kiểm soát hiện tượng phi tuyến khi ước lượng tác động truyền dẫn của tỷ giá Những kết quả này không đổi trong cả ngắn hạn và dài hạn, đồng thời vẫn vững ngay cả khi thay đổi cấu trúc mô hình
Tải về toàn văn tại đây
Trở lại trang đầu
10 Tác động của dự báo lạm phát từ Ngân hàng Trung ương tới dự báo lạm phát của khu vực tư nhân: Bằng chứng tại Nhật Bản (The effects of a central bank's inflation forecasts on private sector forecasts: Recent evidence from Japanw)
Tải về toàn văn tại đây
Trở lại trang đầu
11 Tỷ lệ đòn bẩy và yêu cầu vốn có trọng số rủi ro (Leverage and risk weighted capital requirements)
Trang 9lệ này mang tính ràng buộc chặt trong thời kỳ bùng nổ và ràng buộc mềm trong thời kỳ suy thoái; 2) Những lợi ích ròng của việc sử dụng tỷ lệ đòn bẩy là đáng kể; 3) Giá trị ổn định của hai tỷ lệ trên phụ thuộc nhiều vào mức độ rủi ro và cấu trúc của danh mục cho vay của ngân hàng
Tải về toàn văn tại đây
Trở lại trang đầu
12 Tái cân bằng ở Trung Quốc - tiến độ và triển vọng (Rebalancing in China— Progress and Prospects)
dự kiến cũng sẽ giảm tương tự, với sự gia tăng cạnh tranh và bình thường hóa lợi nhuận khi tăng trưởng chậm lại Các ngành dịch vụ sẽ tiếp tục gia tăng tầm quan trọng , giúp giảm cường độ các bon trong sản xuất và tăng tỷ lệ chi cho lao động trong thu nhập quốc gia và tiêu dùng hộ gia đình Việc giảm hàm lượng tín dụng trong tăng trưởng chắc chắn sẽ diễn tiến chậm trừ khi việc cải cách cơ cấu lại doanh nghiệp và doanh nghiệp nhà nước một cách quyết liệt được thực hiện
Tải về toàn văn tại đây
Trở lại trang đầu
13 Giám sát trong hệ thốngngân hàng (Supervisory Incentives in a Banking Union)
Trang 10Tải về toàn văn tại đây
Trở lại trang đầu
14 Đánh giá hiệu quả của chính sách tiền tệ (CSTT) ở các nền kinh tế mở và nhỏ (The Effectiveness of Monetary Policy in Small Open Economies : An Empirical Investigation
tư nhân và dự trữ dư thừa, đồng thời giảm bớt áp lực lên tỷ giá Do đó, kết quả gợi ý các ngân hàng trung ương thuộc nền kinh tế mở nhỏ nên xem xét sử dụng dự trữ bắt buộc bổ sung cho chính sách lãi suất, để đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô
Tải về toàn văn tại đây
Trở lại trang đầu
15 Quản lý các công cụ tài chính chính quyền địa phương và quan hệ đối tác công-tư
ở Trung Quốc (Regulating Local Government Financing Vehicles and Public-Private Partnerships in China)
mà có thể được thực hiện dần dần trong ba giai đoạn
Tải về toàn văn tại đây
Trở lại trang đầu
16 Chính trị phân mảnh và Nợ công (Fragmented Politics and Public Debt)
Trang 11là giữa 2 cuộc bầu cử lập pháp liên tiếp Sử dụng dữ liệu từ 92 quốc gia tiên tiến và đang phát triển trong giai đoạn 1975 – 2015, nghiên cứu tìm thấy mối quan hệ thuận chiều giữa tình trạng phân mảnh về chính trị với thay đổi trong nợ công Tham nhũng là một nhân tố làm gia tăng các hiệu ứng; trong đó tham nhũng càng nhiều, sự phân mảnh chính trị càng có ảnh hưởng lớn tới sự gia tăng nợ công Ảnh hưởng của sự phân mảnh chính trị lên diễn biến nợ công có thể coi là không cân xứng, với các tác động của nó lên nợ công sẽ lớn hơn và mạnh hơn trong thời kỳ nợ công suy giảm Nghiên cứu cũng cho thấy việc thiết lập các hội đồng tài khóa sẽ giúp làm giảm các tác động bất lợi của tình trạng phân mảnh chính trị lên diễn biến
nợ công
Tải về toàn văn tại đây
Trở lại trang đầu
17 Bình thường hóa chính sách tiền tệ Mỹ và lãi suất quốc tế (U.S Monetary Policy Normalization and Global Interest Rates)
ở một mức độ tương đối lớn này cho thấy sự trùng khớp trong chu kỳ kinh doanh của các nước Tuy nhiên, có sự khác biệt lớn giữa các quốc gia, và các tác giả đã tìm thấy bằng chứng cho thấy sự hạn chế trong quyền tự chủ tiền tệ ở một số trường hợp Nghiên cứu tách biệt giữa những biến động lãi suất bất ngờ và những biến động lãi suất được lường trước của Mỹ, và nhận thấy hầu hết các nước chịu tác động lớn hơn đối với những biến động lãi suất được lường trước Nghiên cứu cũng phân biệt những biến động trong phần bù rủi ro và những biến động trong lãi suất phi rủi ro, và kết luận rằng các nước có phản ứng khác nhau trước hai kiểu biến động này Cuối cùng, các tác giả tìm hiểu các nhân tố quyết định sự tự chủ về tiền tệ, và tìm thấy bằng chứng mạnh mẽ cho thấy vai trò của mức độ linh hoạt của tỷ giá, mức độ mở cửa tài khoản vốn trong đó, tuy nhiên bên cạnh đó cũng có sự đóng góp của cả các nhân tố khác như mức độ đô la hóa của tài sản nợ của hệ thống tài chính và sự tín nhiệm đối với chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ
Tải về toàn văn tại đây
Trở lại trang đầu
18 Ngân hàng Trung ương tại Châu Mỹ La tinh: Con đường phía trước (Central Banking in Latin America : The Way Forward)
Trang 12xoay quanh việc đánh giá mức độ khả dụng của nền kinh tế, công tác truyền thông chính sách tiền tệ, và làm rõ vai trò của tỷ giá Cuối cùng, các chính sách an toàn vĩ mô cần phải được phối hợp với các mục tiêu hiện tại và thực hiện thận trọng để đảm bảo ưu tiên tối cao cho ổn định giá
Tải về toàn văn tại đây
Trở lại trang đầu
19 Liên bang Nga: Làm thế nào các dịch vụ của nước này giúp làm tăng khả năng cạnh tranh quốc gia (Russian Federation : how services contribute to competitiveness)
có thể được nâng cao đáng kể Quy mô xuất khẩu dịch vụ kinh doanh của Nga hiện đang tương đối thấp, mặc dù hoạt động xuất khẩu các dịch vụ truyền thống như vận tải và du lịch vẫn đang tiến triển tốt Mặc dù hoạt động xuất khẩu các dịch vụ hiện đại có tầm quan trọng tương đối nhỏ, các dịch vụ kinh doanh này đang phát triển khá nhanh trong những năm gần đây, và nâng cao lợi thế so sánh của nước Nga Tuy vậy, Liên bang Nga vẫn còn nhiều tiềm năng để mở rộng thương mại các dịch vụ kinh doanh hiện đại Còn rất nhiều dư địa để đa dạng hóa dịch vụ xuất khẩu tới các thị trường khác như Pháp, Đức, Nhật Bản và các nước Châu Á Cuối cùng, mặc dù việc xuất khẩu các dịch vụ trực tiếp vẫn chưa nhiều, các dịch vụ như vận tải, phân phối, tài chính và các dịch vụ kinh doanh khác đang đóng những vai trò đáng kể cho các hoạt động xuất khẩu khác, cụ thể là năng lượng
Tải về toàn văn tại đây
Trở lại trang đầu
20 Những khoản đầu tư hiệu quả của các hộ nghèo từ chương trình hỗ trợ tiền mặt: bằng chứng thực nghiệm từ Niger (Poor households' productive investments of cash transfers : quasi-experimental evidence from Niger)
có thể đẩy mạnh đầu tư có hiệu quả trong khi ngay lập tức nâng cao mức chi tiêu của những
hộ gia đình nghèo Nghiên cứu này đưa ra những bằng chứng cho thấy dự án hỗ trợ tiền mặt
Trang 13cho người nghèo tại khu vực nông thôn của Niger đã cho kết quả là những khoản đầu tư vào tài sản và những hoạt động sản xuất có hiệu quả được duy trì trong 18 tháng sau khi hoàn thành dự án Các kết quả cho thấy đã có một sự gia tăng bền vững trong các tài sản gia súc của hộ gia đình và các hộ gia đình đã tham gia hiệu quả vào các nhóm tiết kiệm Việc hỗ trợ tiền mặt cũng giúp nâng cao năng suất nông nghiệp, nhưng không có tác động trong việc đa dạng hóa sản xuất của các hộ gia đình là doanh nghiệp sản xuất Những tài sản có hiệu suất cao thu được từ dự án lại xuất phát từ những hộ gia đình nghèo nhất trong các hộ nghèo, cho thấy việc thường xuyên hỗ trợ những khoản tiền mặt nhỏ kết hợp với một cơ chế tiết kiệm tiên tiến có thể giúp làm giảm áp lực tích lũy tài sản của những hộ nghèo nhất
Tải về toàn văn tại đây
Trở lại trang đầu
Trang 14NGHIÊN CỨU CHUYÊN SÂU
CÁC YẾU TỐ ĐỂ XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH AN TOÀN VĨ MÔ HIỆU QUẢ - BÀI
HỌC TỪ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
IMF-FSB-BIS
Kinh nghiệm thực thi chính sách an toàn vĩ mô đang ngày một nhiều hơn trong bối cảnh đã có nhiều quốc gia trên thế giới xây dựng thể chế cùng khuôn khổ cho chính sách này Đồng thời, các công cụ của chính sách an toàn vĩ mô cũng đang tiếp tục được phát triển, số lượng các nghiên cứu thực nghiệm về tính hiệu quả của chính sách cũng tăng nhanh
Do vậy, nghiên cứu này sẽ hệ thống lại tất cả những kinh nghiệm thực thi chính sách
an toàn vĩ mô trên thế giới, đồng thời chỉ ra các yếu tố để xây dựng một khuôn khổ chính sách
an toàn vĩ mô hiệu quả Nghiên cứu được thực hiện dựa trên cơ sở kế thừa báo cáo tiến độ chung năm 2011 cho hội nghị G20 về khuôn khổ và công cụ thực thi chính sách an toàn vĩ mô (FSB / IMF / BIS 2011) cũng như các nghiên cứu khác của IMF, FSB và BIS, đồng thời cập nhật những kinh nghiệm gần đây của một số quốc gia và các bằng chứng thực nghiệm từ các học giả khác
Mặc dù các công cụ chính sách an toàn vĩ mô đã được sử dụng tại một số quốc gia mới nổi trước cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nhưng các công cụ này chỉ được sử dụng rộng rãi hơn trong thời gian gần đây, đồng thời việc thiết lập các khuôn khổ chính sách an toàn vĩ mô cũng chỉ mới được thúc đẩy bởi những kinh nghiệm từ sau cuộc khủng hoảng tài chính Theo đó, những kinh nghiệm có được ở nhiều nước chưa trải rộng trên một chu kỳ tài chính đầy đủ, và những bài học và bằng chứng thực nghiệm dựa trên những kinh nghiệm đó còn chưa được kiểm chứng Sự đa dạng của các khuôn khổ chính sách đã được áp dụng ở các nước cho thấy rằng không có phương pháp tiếp cận duy nhất để phù hợp cho tất cả Tuy nhiên, những kinh nghiệm đã được tích lũy tới nay đã chỉ ra một số yếu tố cần thiết để xây dựng chính sách an toàn vĩ mô
1 Định nghĩa, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
Chính sách an toàn vĩ mô được định nghĩa là việc sử dụng các công cụ an toàn chủ yếu để hạn chế rủi ro hệ thống (Crockett 2000, FSB/IMF/BIS 2011, IMF 2013) Từ khóa
trọng tâm trong định nghĩa này là khái niệm về rủi ro hệ thống, cụ thể là, rủi ro đổ vỡ lan rộng trong việc cung cấp các dịch vụ tài chính do sự suy yếu của tất cả hoặc một phần hệ thống tài chính, và điều này có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế thực (IMF/BIS/FSB 2009) Hàm ý cơ bản của khái niệm này là quan niệm về những tác động tiêu cực ra bên ngoài từ một sự đổ vỡ hay thất bại trong một tổ chức tài chính, một thị trường hay một công cụ tài chính Rủi ro hệ thống thường được nhận dạng dưới hai khía cạnh: những lỗ hổng liên quan đến tích tụ rủi ro qua thời gian (khía cạnh thời gian), và những lỗ hổng từ sự liên thông và phân phối rủi ro trong hệ thống tài chính tại bất kỳ thời điểm nào (khía cạnh “cắt ngang” hay “cấu trúc’) Trong quá trình xử lý những lỗ hổng này, định hướng chính sách an toàn vĩ mô bổ sung trọng tâm của chính sách an toàn vi mô trên khía cạnh an toàn và lành mạnh của từng tổ chức tài chính riêng biệt (Ủy ban về Hệ thống Tài chính Toàn cầu (CGFS)
2010.1 Bằng việc giảm thiểu rủi ro hệ thống, các biện pháp vĩ mô cuối cùng cùng nhằm mục đích làm giảm tần suất và mức độ nghiêm trọng của các cuộc khủng hoảng tài chính
1 Có nhiều quan điểm khác nhau xoay quanh việc liệu các chính sách an toàn vĩ mô có là một lĩnh vực chính sách trong quyền hạn riêng của nó hay là một định hướng của chính sách an toàn kêu gọi một sự hiệu chuẩn các quy
Trang 15Chính sách an toàn vĩ mô theo đuổi các mục tiêu trung gian đan xen lẫn nhau (FSB
2009, CGF 2010, IMF 2013): (1) tăng cường khả năng chống đỡ của hệ thống tài chính trước tập hợp những cú sốc bằng cách xây dựng và giải phóng các vùng đệm giúp duy trì khả năng hoạt động hiệu quả của hệ thống tài chính, thậm chí ngay cả trong những điều kiện bất lợi; (2) ngăn chặn sự tích tụ của những bất ổn của hệ thống qua thời gian bằng cách làm giảm sự tác động thuận chu kỳ giữa giá cả tài sản và tín dụng và ngăn chặn sự gia tăng đòn bẩy tài chính không bền vững, những khoản nợ và nguồn tài trợ không ổn định; và (3) kiểm soát những lỗ hổng về cấu trúc trong hệ thống tài chính phát sinh từ việc gắn kết lẫn nhau, những rủi ro chung, và vai trò quan trọng của tổ chức trung gian riêng lẻ trong các thị trường quan trọng
mà có thể khiến các tổ chức riêng lẻ này “quá lớn để sụp đổ”
Chính sách an toàn vĩ mô nhằm kiềm chế rủi ro trên toàn hệ thống tài chính nói chung (Knight 2006, IMF 2011a, FSB/IMF/BIS 2011)2 Do các ngân hàng là nhà cung cấp tín dụng chính cho nền kinh tế, chính sách an toàn vĩ mô thường áp dụng các đòn bẩy chính sách của mình với hệ thống ngân hàng Tuy nhiên, khi các hoạt động trên thị trường vốn và việc tài trợ trên cơ sở thị trường được mở rộng, các nhà hoạch định chính sách an toàn vĩ mô cũng cần giám sát rủi ro hệ thống đối với các hoạt động bên ngoài hệ thống ngân hàng, cũng như phát triển và thực thi các chính sách phản hồi để kiềm chế những rủi ro này (FSB 2011a, CGFS
Các chính sách an toàn vĩ mô có thể dễ dàng bị quá tải với những mục tiêu theo đuổi không phù hợp (CGFS 2012, IMF 2013) Thay vì quản lý các mức độ và cấu thành của
tổng cầu hay chu kỳ kinh doanh, chính sách an toàn vĩ mô nhằm mục tiêu tăng cường sự phòng thủ của hệ thống tài chính trước các cú sốc tài chính và kinh tế, qua đó góp phần cung cấp tín dụng và các dịch vụ tài chính một cách liên tục trong bối cảnh các điều kiện kinh tế bất lợi Bằng cách xây dựng và giải phóng các vùng đệm phù hợp, chính sách an toàn vĩ mô có thể qua đó giúp làm giảm mức độ thường xuyên của các cuộc khủng hoảng tài chính hoặc giúp làm giảm nhẹ sự sụt giảm nghiêm trọng của sản lượng nền kinh tế nói chung đi cùng với các cuộc khủng hoảng
Các chính sách an toàn vĩ mô và các biện pháp quản trị dòng vốn (CFMs) có những mục tiêu khác biệt, nhưng có khả năng chồng chéo với nhau (FSB/IMF/BIS 2011,
IMF 2013, OECD 2015) CFMs được thiết kế để giới hạn các dòng vốn bằng cách tác động lên kích thước và cấu thành của các dòng vốn Các biện pháp an toàn vĩ mô được thiết kế để định và giám sát từ góc độ toàn hệ thống (Crockett 2000 và Borio 2003) Sự khác biệt giữa hai quan điểm này, tuy vậy, phần lớn là về mặt ngữ nghĩa với điều kiện là các khung khổ chính sách an toàn hiện hành giải quyết được vấn đề rủi ro hệ thống một cách rõ ràng, theo một quan điểm phân tích trên phạm vi toàn hệ thống và hướng tới các công cụ trong rủi ro hệ thống
2 Báo cáo tiến độ năm 2011 đã chỉ ra đặc trưng của chinh sách an toàn vĩ mô là những mục tiêu của nó, phạm vi chính sách, các công cụ mà chính sách sử dụng và hoạt động quản trị liên quan Để hội đủ điều kiện như vậy, các công cụ an toàn vĩ mô cần có một định hướng mang tính hệ thống về các mục tiêu, cách thức đo lường và quản trị
Trang 16giảm thiểu rủi ro hệ thống (xem bên trên) Rủi ro hệ thống có thể bao gồm, nhưng không bị giới hạn trong các lỗ hổng liên quan đến các dòng vốn và rủi ro của hệ thống tài chính trước các cú sốc tỷ giá Do đó, nếu các biện pháp an toàn vĩ mô được thiết kế để giảm thiểu các rủi
ro hệ thống bằng cách giảm thiểu các dòng vốn, các nhà hoạch định chính sách cũng cân nhắc đến các biện pháp quản trị dòng vốn CFMs và áp dụng những quy tắc chung (như đã thảo luận cụ thể hơn tại nghiên cứu của IMF 2012, IMF 2015).3 Cả chính sách an toàn vĩ mô và CFMs đều không nên thay thế cho việc điều chỉnh kinh tế vĩ mô được đảm bảo hoặc các quy tắc an toàn vĩ mô và giám sát vĩ mô phù hợp
2 Cấu trúc thể chế
Việc xây dựng những nền móng thể chế thích hợp cho các khung khổ chính sách
an toàn vĩ mô là điều rất cần thiết Cấu trúc thể chế cần phải phù hợp với những hoàn cảnh
quốc gia cụ thể và nền móng thể chế Những khác biệt đáng kể tại các quốc gia cho thấy không có một cấu trúc chung phù hợp cho tất cả các nước Mặc dù vậy, nhiều quốc gia vẫn kết luận rằng chính sách an toàn vĩ mô hiệu quả nhờ có sự đóng góp đáng kể của các cơ quan hữu quan với những nhiệm vụ được đặt ra rõ ràng, chỉ ra những mục tiêu được xác định chính xác cũng như những quyền hạn đầy đủ, phù hợp với trách nhiệm lớn lao (BIS 2011, CGFS
2012, IMF 2013) Chính sách an toàn vĩ mô có thể bị thiên lệch về hướng không hành động hoặc hành động không đầy đủ kịp thời khi những lợi ích có được là không chắc chắn trong khi chi phí thường cấp bách hơn (Knight 2006, IMF 2011a) Như đã được đề cập dưới đây, nhiều cấu trúc thể chế do đó đã được thiết kế để đẩy mạnh quyết tâm sẵn sàng hành động khi đối mặt với những định kiến và để hợp pháp hóa hành động của chính sách an toàn vĩ mô Cấu trúc thể chế tìm cách để đảm bảo khả năng phản ứng trước những mối đe dọa hệ thống của các nhà hoạch định chính sách, bằng cách ấn định một phạm vi phù hợp và mức độ quyền hạn thích hợp, đồng thời đẩy mạnh sự phối hợp hiệu quả trong công tác đánh giá rủi ro và giảm thiểu rủi ro theo cách bảo vệ quyền tự chủ của các chức năng chính sách riêng biệt (BIS
2011, IMF 2011a, CGFS 2012, IMF 2013)
2.1 Chức năng, quản trị và trách nhiệm
Cấu trúc thể chế hiện tại cho thấy rằng một nhiệm vụ rõ ràng là cơ sở của việc phân công trách nhiệm cho các quyết định chính sách an toàn vĩ mô Rất nhiều cấu trúc
thể chế được quan sát cho thấy đã đề ra trách nhiệm chính cho một cơ quan trung tâm có tầm ảnh hưởng với quyền lực triệu tập đáng kể và khả năng quan sát rộng lớn đối với toàn bộ hệ thống tài chính Một nhiệm vụ như vây có thể được giao phó cho một cơ quan hiện hành, hoặc một ủy ban gồm các nhà hoạch định chính sách hoặc một hội đồng liên ngành, như đã được nghiên cứu trong IMF 2011b (xem thêm Phụ lục 1)
- Ở nhiều quốc gia, ngân hàng trung ương đóng một vai trò quan trọng, mục đích là
khai thác chuyên môn của cơ quan này, khuyến khích hành động, và độc lập Để đạt được điều này có nhiều cách khác nhau, ví dụ như để hội đồng quản trị ngân hàng trung ương (hay Thống đốc) là bộ phận ra quyết định (như trường hợp của Ai-len, và New Zealand), Thống đốc ngân hàng thuộc ủy ban hoạch định chính sách (như ở Malaysia, Nam Phi và Anh), đặt
3 CFMs là một phần công việc riêng biệt của G20, do đó, không phải là chủ đề thảo luận trong nghiên cứu này Ngoài ra, OECD đang xem xét khả nwang xử lý của các công cụ đối với các mục tiêu an toàn vĩ mô đã đề ra trong Bộ Luật Tự do hóa các biến động vốn (OECD 2016)
Trang 17vai trò cụ thể, rõ ràng cho ngân hàng trung ương để ngân hàng trung ương cung cấp các phân tích về rủi ro hệ thống và các đề xuất của mình đối với các chính sách hành động cho cơ quan
ra quyết sách (như trường hợp của Pháp và Đức), hoặc giao cho ngân hàng trung ương vai trò dẫn đầu trong việc giám sát và ra các quy định đối với các tổ chức tài chính được coi là quan trọng đối với hệ thống (sau đây gọi là các tổ chức SIFIs) (như trường hợp của Mỹ)
- Các cấu trúc thể chế hiện tại thường có liên quan đến các cơ quan giám sát và quản
lý có liên quan để sử dụng chuyên môn và thông tin của các cơ quan này và bởi việc thực thi
các biện pháp chính sách thường phụ thuộc vào những cơ quan đó Nhiều cơ quan giám sát cũng đang áp dụng quan điểm giám sát an toàn vĩ mô trong việc giám sát các công ty riêng lẻ (ví dụ như trong trường hợp giám sát tăng cường đối với SIFIs) Khả năng xung đột có thể xảy ra khi quan điểm an toàn vĩ mô và an toàn vi mô trong quá trình thực thi chính sách không thống nhất, cả trong thời kỳ hưng thịnh và thời kỳ suy thoái (BIS 2011, IMF 2013, Alessandri và Panetta 2015) Tại các quốc gia mà cơ quan giám sát đóng vai trò là nhà hoạch định chính sách an toàn vĩ mô, việc phối hợp với các cơ quan hữu quan khác có thể được hỗ trợ tốt hơn thông qua việc thành lập một cơ quan đầu mối hoặc cơ quan tư vấn (như trường hợp của Úc và Thụy Điển), hoặc bằng cách để ngân hàng trung ương giữ vai trò quan trọng trong hội đồng ra quyết định chính sách (như trường hợp của Phần Lan)
- Bộ Tài chính cũng tham gia vào việc giám sát an toàn vĩ mô tại một số quốc gia
Trong thiết lập cơ cấu ủy ban, Bộ này có thể là một thành viên không được biểu quyết (như trường hợp của Anh), hoặc một thành viên biểu quyết (như trường hợp của Ba Lan), hoặc là chủ tịch ủy ban (như tại Pháp, Đức, và Mỹ) Việc tham gia như vậy có thể có lợi trong việc tạo ra tính hợp pháp về mặt chính trị của chính sách an toàn vĩ mô, và cho phép Ủy ban thảo luận về các lựa chọn chính sách trong các lĩnh vực khác Tại một số quốc gia, các thể chế được thiết lập để giảm thiểu các rủi ro kinh tế, chính trị (như việc trì hoãn hành động) và để bảo vệ sự độc lập của các cơ quan tham gia khác, trong đó có ngân hàng trung ương Các thể chế này bao gồm việc cho phép các ngân hàng trung ương có tiếng nói quan trọng (Mexico,
Hà Lan) hoặc quyền phủ quyết (Đức) trong các Ủy ban này
- Một số thể chế cho phép các chuyên gia độc lập bên ngoài là thành viên có quyền
biểu quyết trong cơ cấu ra quyết định chính sách (Pháp, Anh), hoặc là ủy ban tư vấn cho cơ quan chủ chốt (Ban Rủi ro Hệ thống Châu Âu (ESRB)) Một hình thức khác là mời những chuyên gia này với vai trò tác động lên truyền thông để chia sẻ quan điểm của họ khi cần thiết (Đức, Hà Lan) Các chuyên gia bên ngoài có thể đề xuất những quan điểm độc lập và làm giảm mức độ “suy nghĩ theo nhóm” của ủy ban ra quyết sách (BIS 2011, IMF 2011b, IMF 2013)
Các mục tiêu chính sách cụ thể có thể đẩy mạnh cả khả năng hành động và mức
độ sẵn sàng hành động ( BIS 2011, CGFS 2012, IMF 2013, IMF 2014) Thiết lập ra những
mục tiêu rõ ràng có thể cho phép các nhà hoạch định chính sách sử dụng những công cụ của mình để theo đuổi mục tiêu ổn định tài chính, và lập ra nền tảng ban đầu cho một khung khổ
để đảm bảo các cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm trong việc đạt được mục tiêu của mình, qua đó làm giảm rủi ro các cơ quan này không thực thi nhiệm vụ Những mục tiêu được xác định rõ ràng có thể giúp làm giảm áp lực sử dụng chính sách an toàn vĩ mô như một công
cụ thay thế cho hành động chính sách trong các lĩnh vực khác (IMF 2011a, Vinals 2011) Mục tiêu thứ cấp cũng được đề ra để đảm bảo rằng các nhà hoạch định chính sách nhận ra sự cần thiết phải xem xét các chi phí cũng như các khoản đền bù (ví dụ như ESBR, Anh)
Trang 18Ngoài việc đặt ra các mục tiêu cụ thể, sự minh bạch và cơ chế trách nhiệm có thể tạo ra tính hợp pháp và tạo ra cam kết hành động (BIS 2011, CGFS 2012, IMF 2014,
ESRB 2014) Trách nhiệm của các cơ quan hữu quan thường là với cơ quan lập pháp và công chúng nói chung Một loạt các công cụ truyền thông (như báo cáo ổn định tài chính và các báo cáo định kỳ khác, tuyên bố chính sách và biên bản cuộc họp) có thể giúp thông báo cho công chúng về lập trường chính trị và tạo ra cam kết hành động, qua đó thúc đẩy và việc theo đuổi hiệu quả mục tiêu đặt ra Trong một số trường hợp, các công cụ này được luật pháp yêu cầu như một “thiết bị” để thực thi trách nhiệm (Pháp, Đức và Anh) Mục đích của các chiến lược truyền thông về chính sách an toàn vĩ mô là để truyền tải các đánh giá về mức độ ổn định tài chính một cách rõ ràng, liên kết chúng một cách hợp lý với bất kỳ hành động chính sách nào được thực hiện, và quản lý kỳ vọng của công chúng về những thành quả có thể đạt được
Một đơn vị chuyên môn có thể hỗ trợ cho quá trình thực thi chính sách an toàn vĩ
mô và đang dần trở nên phổ biến tại các quốc gia Một đơn vị chuyên biệt về ổn định tài
chính nằm trong ngân hàng trung ương (hoặc nằm trong các tiểu ban hoặc cơ quan khác) có thể được giao nhiệm vụ phân tích các rủi ro hệ thống, phát triển và giám sát các chỉ số của rủi
ro hệ thống phù hợp với từng quốc gia, và chuẩn bị cho các phân tích và đề xuất các biện pháp chính sách để các nhà hoạch định chính sách an toàn vĩ mô xem xét (Đức, Ấn Độ, Hà Lan, Anh, Mỹ) Trong một vài trường hợp, những đơn vị này cũng có chức năng như là thư
ký cho cơ quan giám sát an toàn vĩ mô
2.2 Quyền lực
Thực tiễn chỉ ra rằng chính sách an toàn vĩ mô đòi hỏi những các cơ quan hoạch định và thực thi chính sách có đầy đủ quyền lực để đảm bảo khả năng thực thi Đây là
yếu tố rất quan trọng nhằm đảm bảo các nhà hoạch định chính sách có thể có được thông tin
từ các cơ quan khác và lấp đầy những khoảng trống dữ liệu (quyền thông tin); ảnh hưởng tới việc kích hoạt và hiệu chuẩn các ràng buộc pháp lý (quyền hiệu chuẩn); ảnh hưởng đến chỉ định các tổ chức cá nhân thành hệ thống quan trọng (quyền chỉ định); và bắt đầu những thay đổi trong phạm vi quản lý để phát hiện ra các tổ chức tài chính có các hoạt động có thể làm tăng rủi ro ổn định tài chính hay không (IMF 2011a, CGFS 2012, FSB 2013a, 2013b FSB)
Quyền lực của các cơ quan hoạch định chính sách có thể có nhiều dạng khác nhau, có thể mang tính “trực tiếp” (mệnh lệnh), qua đó giúp các nhà hoạch định chính sách
kiểm soát trực tiếp các công cụ an toàn vĩ mô hay khả năng chỉ đạo cơ quan quản lý khác; có thể mang tính “bán trực tiếp”, cho phép nhà hoạch định chính sách khuyến nghị chính thức cho các cơ quan quản lý, cùng với cơ chế “tuân thủ hoặc giải thích tại sao không tuân thủ”; hoặc mang tính “mềm mỏng”, cho phép nhà hoạch định chính sách đưa ra ý kiến, hoặc cảnh báo và khuyến nghị mà không mang tính bắt buộc tuân thủ hoặc giải thích tại sao không tuân thủ (IMF 2013) Mỗi loại quyền hạn đều có thể hữu ích trong những trường hợp khác nhau và hiệu quả của các khuôn khổ chính sách có thể đạt được nhờ vào sự kết hợp của những dạng quyền hạn trên (như ở Anh và Mỹ), với việc quyền lực mềm mỏng một mình là không đủ để đảm bảo tính hiệu quả (CGFS 2010, IMF 2013)
Trang 19Trường hợp nhà hoạch định chính sách an toàn vĩ mô có quyền hạn “trực tiếp”,
họ thường được cung cấp với bộ công cụ được xác định rõ Những công cụ này có thể
được sử dụng để giúp kiểm soát rủi ro tích tụ theo thời gian (như tại New Zealand và các quốc gia thành viên EU thông qua chỉ thị và quy định yêu cầu vốn CRD/CRR và pháp luật quốc gia), cũng như thực hiện việc chỉ định các tổ chức có tính quan trọng hệ thống (như tại Mỹ) Quyền hạn cứng tránh việc chậm chễ và mâu thuẫn có thể phát sinh khi thực hiện do các nhà hoạch định chính sách khác Quyền hạn trực tiếp cũng có thể tăng hiệu quả của các chính sách khác do chúng cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách “cây gậy” mang tính răn đe Quyền hạn trực tiếp cũng có lợi như là một phương án dự phòng trong trường hợp các cơ quan quản lý khác không sẵn sàng hoặc không thể thực hiện (ví dụ như quyền bổ sung (top-up) của ECB), và có thể nới rộng tới quyền thu thập thông tin trực tiếp từ các doanh nghiệp (ví dụ Đức, Anh, Mỹ)
Lợi ích của quyền lực “bán trực tiếp” (có quyền đề xuất chính sách, cùng với cơ chế “tuân thủ hoặc giải thích”) là việc nó có thể bao quát một phạm vi rộng hơn (BIS
2011, IMF 2013) Quyền hạn như vây đang trở nên rất phổ biển (ví dụ ESRB, Đức, Anh, Mỹ), bao gồm cả công khai đề xuất hành động đối với cơ quan giám sát và quản lý (và những đơn
vị có thể được trao quyền lực cứng) Cơ chế tuân thủ hoặc giải thích có thể làm tăng khả năng hành động được thực hiện và đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của các bên liên quan, trong khi đồng thời duy trì hoạt động độc lập của đơn vị tiếp nhận Kiến nghị của
cơ quan giám sát an toàn vĩ mô giúp các nhà chức trách vượt qua những phản đối trong nội bộ ngành và áp lực chính trị Ngay cả khi không phải chịu “tuân thủ hoặc giải thích”, khuyến nghị có thể có thêm sức mạnh khi các cơ quan giám sát an toàn vĩ mô được pháp luật ủy thác
để công khai ban hành khuyến nghị định kỳ (ví dụ Na Uy)
Quyền lực mềm có thể bổ trợ cho quyền hạn mạnh hơn, và có thể hữu ích trong việc mở rộng ảnh hưởng của cơ quan giám sát an toàn vĩ mô ra khỏi phạm vi của các công cụ đảm bảo an toàn hoặc phạm vi chính sách hiện hành Khuyến nghị mềm có thể
phù hợp khi các cơ quan giám sát an toàn vĩ mô muốn bắt đầu thiết lập các công cụ an toàn vĩ
mô mới hoặc thay đổi khuôn khổ pháp lý để mở rộng phạm vi quy định (ví dụ Anh) Quyền lực mềm cũng thích hợp với khi công tác giảm thiểu các rủi ro hệ thống đòi hỏi sự hợp tác ngoài các cơ quan quản lý, ví dụ trong trường hợp biến dạng thuế làm gia tăng nợ (IMF 2013) Cuối cùng, truyền thông có thể nhắm trực tiếp vào ngành công nghiệp tài chính để tác động tới hành vi hoặc giảm bất định chính sách và dẫn dắt kỳ vọng với con đường chính sách (CGFS 2012, IMF 2014, ESRB 2014)
2.3 Hợp tác trong nước
Cơ chế rõ ràng cho sự hợp tác và chia sẻ thông tin giữa các cơ quan trong nước
có thể giúp đạt được các mục tiêu chính sách (BIS 2011, IMF 2011a) Một loạt các cơ chế
như vậy sẽ rất hữu ích trong việc chỉ ra một cách rõ ràng vai trò và trách nhiệm của các cơ quan chức năng và đảm bảo hợp tác trong đánh giá và giảm nhẹ rủi ro toàn hệ thống, trong khi vẫn giữ quyền tự chủ hoạt động của các chức năng chính sách riêng biệt Chúng bao gồm: nghĩa vụ pháp lý (như tại Đức và Thổ Nhĩ Kỹ) hoặc biên bản ghi nhớ (như tại Úc, Ireland và Thụy Sỹ) để chia sẻ thông tin giữa các cơ quan giám sát và quản lý với mục đích ổn định tài chính; tiểu ban và nhóm làm việc chuyên biệt để thúc đẩy hợp tác cấp độ nhân viên (như tại
Ấn Độ); và thành viên kiêm nhiệm của của ban giám đốc của các cơ quan quản lý của các cơ quan vĩ mô (ví dụ tại Pháp và Ba Lan) Việc đưa ổn định tài chính thành một trong những mục tiêu của các cơ quan thành viên cũng có thể góp phần thúc đẩy hợp tác, và cho phép các
cơ quan này sử dụng quyền hạn của mình trong việc theo đuổi ổn định tài chính (như tại Úc
và Anh)
3 Các bước tiến hành
3.1 Phân tích và giám sát rủi ro hệ thống
Trang 20Một khuôn khổ toàn diện để giám sát rủi ro hệ thống là cần thiết trong việc thực hiện chính sách an toàn vĩ mô Để đánh giá quá trình tích tụ rủi ro theo thời gian (“chiều
thời gian”), chính quyền thường kiểm tra một số lĩnh vực bao gồm: (1) các lỗ hổng kinh tế từ việc tăng trưởng tổng mức tín dụng hoặc giá tài sản quá mức; (2) các lỗ hổng phát sinh, ví dụ,
từ tăng trưởng tín dụng các hộ gia đình hay từ tăng mức độ rủi ro với khu vực doanh nghiệp;
và (3) lỗ hổng từ việc gia tính mất cân đối kỳ hạn và ngoại tệ trong lĩnh vực tài chính Để đánh giá những điểm yếu liên quan đến phân phối rủi ro trong hệ thống tài chính tại bất kỳ thời điểm nào, rủi ro từ các mối liên kết trong nội bộ từng tổ chức tín dụng giữa các tổ chức tín dụng và cơ sở hạ tầng thị trường cần theo dõi thường xuyên, cũng như tác động của sự sụp
đổ của bất kỳ tổ chức nào tới toàn hệ thống
Một số chỉ số cảnh báo sớm được coi là hữu ích để đánh giá những điểm yếu trước khi xuất hiện tình trạng bất ổn (stress) Ví dụ, dựa trên nghiên cứu của BIS
(Drehmann và đồng sự 2011), Ủy ban Basel đã xác định khoảng cách tín dụng trên GDP là một chỉ số cảnh báo sớm hữu ích cho sự phát triển quá mức trong tổng tín dụng (BCBS 2010) Tương tự như vậy, sự gia tăng mạnh mẽ nợ thế chấp, kết hợp với việc giá nhà tăng có thể là tín hiệu của rủi ro tích tụ theo chu kỳ của thị trường nhà ở (Borio và Drehmann 2009, IMF năm 2014), và một số chỉ số khác phản ánh rủi ro từ khu vực doanh nghiệp cũng như rủi ro thanh khoản và ngoại hối (CGFS 2012, ESRB 2014, IMF 2014) Do dấu hiệu từ một chỉ số duy nhất là không hoàn hảo, nhiều chỉ số thường được sử dụng kết hợp để đánh giá mức độ rủi ro hệ thống
Chỉ số cảnh báo sớm có thể kết hợp với các chỉ số bổ sung giúp đo lường khả năng phục hồi Nó có thể bao gồm hệ số đòn bẩy tài chính, cũng chi phí chi trả nợ của hộ gia
đình và hệ số khả năng thanh toán lãi vay của công ty (Drehmann và Juselius 2012), cũng như diễn biến của các chỉ số này trong bối cảnh thị trường có bất ổn (chẳng hạn như tăng lãi suất hoặc suy giảm doanh thu của công ty) Các đánh giá về kiểm tra khả năng chịu đưng (stress test) có thể giúp đánh giá khả năng tiếp tục hoạt động của hệ thống dưới một loạt các điều kiện kinh tế và tài chính bất lợi, do đó bổ sung cho những chỉ số cảnh báo sớm (như trong khu vực đồng euro, Anh và Mỹ)
Thông tin giám sát, như thay đổi tiêu chuẩn bảo đảm tiền vay cũng có thể cung cấp thông tin cho các phân tích Tuy nhiên, những số liệu này, bao gồm cả chỉ số cảnh báo sớm, không thể được sử dụng một cách máy móc, chúng chỉ là một phần của công tác đánh giá rủi
ro, qua đó giúp các cơ quan quản lý biết được khi nào cần can thiệp vào thị trường, từ đó dẫn đến cách tiếp cận “tùy nghi có định hướng”
3.2 Xác định và thiết lập các công cụ chính sách vĩ mô
Kinh nghiệm cho thấy cần sử dụng rất nhiều các công cụ để đạt được mục tiêu an toàn vĩ mô (xem phần I), các công cụ này có thể giải quyết một loạt các lỗ hổng tiềm tàng về
cả thời gian và cấu trúc đặt ra ở trên (phần III.A) (CGFS 2010, CGFS 2012, IMF năm 2013, IMF năm 2014, IMF 2014a) Trong chiều thời gian, các công cụ này thường dẫn tới việc xây dựng lượng vốn đệm khi rủi ro hệ thống tích lũy để sử dụng trong thời kỳ căng thẳng, vì vậy hạn chế sự bùng nổ và giảm tình trạng phá sản Về khía cạnh cơ cấu, đến lượt nó, các công cụ bảo đảm an toàn khác nhau có thể hiệu chỉnh để giải quyết các yếu tố bên ngoài mà SIFIS đặt lên hệ thống tài chính, bằng cách tăng cường khả năng phục hồi với các cú sốc, và giảm khả năng lây lan, bằng cách cải thiện khả năng phục hồi và giảm mối liên hệ trong hệ thống tài chính (Borio 2010, FSB / IMF / BIS 2011, FSB 2011, IMF 2013)
Việc được trang bị trước một bộ công cụ an toàn vĩ mô đầy đủ giúp các cơ quan giám sát có thể sử dụng chúng kịp thời trong trường hợp cần thiết Kinh nghiệm chỉ ra
thiết lập cơ sở pháp lý và hoạt động cho các công cụ an toàn vĩ mô có thể mất thời gian, và có thế đòi hỏi các cuộc tranh luận và sự đồng thuận chính trị trước Do đó, sẽ rất hữu ích nếu các
cơ quan giám sát an toàn vĩ mô hướng tới việc thành lập một bộ công cụ toàn diện, trước khi các lỗ hổng hệ thống trở nên nghiêm trọng Trên thực tế, đây thường là sáng kiến của các cơ
Trang 21quan quản lý vĩ mô có liên quan (ví dụ Đức, Ireland và Anh) Ngoài ra, các công cụ giám sát
vi mô có thể được điều chính để sử dụng cho an toàn vĩ mô
Một loạt các công cụ có thể được sử dụng để giải quyết các rủi ro hệ thống trong chiều thời gian bằng cách tăng khả năng phục hồi với các cú sốc và giảm thiểu các lỗ hổng tích tụ theo chu kỳ (CGFS 2012, ESRB năm 2014, IMF 2014a) Chúng bao gồm: (1)
các công cụ vốn, (2) công cụ tài sản/hạn chế cho vay; và (3) các công cụ liên quan tới thanh khoản Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, nhiều công cụ đã được tăng cường sử dụng (Hình 1)
Các công cụ vốn trên diện rộng Rủi ro từ sự bùng nổ tín dụng trên diện rộng có thể được giải quyết bằng một loạt các công cụ vốn, bao gồm yêu cầu trích lập dự phòng lưu động, đệm vốn phản chu kỳ (CCyB) và tỷ lệ đòn bẩy thay đổi theo thời gian Các kiểm tra khả năng chịu đựng, với từng mức độ chịu đựng và các kịch bản khác nhau
đã giúp đặt ra những ràng buộc cho các tổ chức tín dụng Những công cụ này chủ yếu nhằm mục đích tăng khả năng phục hồi và do đó, giúp duy trì việc cung cấp tín dụng trong các điều kiện bất lợi, nhưng một số trong đó cũng có thể có tác dụng tiết chế tín dụng trong thời kỳ tăng trưởng nóng (Phụ lục 2)
Công cụ vốn theo ngành và công cụ tài sản Trường hợp các lỗ hổng phát sinh từ việc cho vay tới các khu vực cụ thể và việc giảm tiêu chuẩn cho vay đối với các khoản vay như vậy, các công cụ vốn, chẳng hạn như yêu cầu vốn và sàn rủi ro (risk-weight floors) có thể giúp duy trì khả năng phục hồi của người cho vay Áp trần đối với rủi ro của từng lĩnh vực cụ thể, chẳng hạn như các khoản vay ngoại tệ cho các doanh nghiệp,
có thể hướng tới giảm phơi nhiễm chung trong những lĩnh vực rủi ro như vậy Hạn chế cho vay, ví dụ trần đối với tỷ lệ cho vay trên giá trị thế chấp (LTV) , tỷ số trả nợ trên thu nhập (DSTI) hay tỷ suất nợ trên thu nhập (LTI), nhằm mục đích chủ yếu là để tăng khả năng phục hồi của người cho vay với cú sốc về giá tài sản và thu nhập, và qua đó gián tiếp tăng khả năng phục hồi của người vay Các công cụ này thường nhắm vào các khoản vay thế chấp, nhưng cũng có thể được áp dụng cho các phân khúc khác bao gồm thẻ tín dụng, tài sản thương mại hoặc cho vay đòn bẩy với khu vực doanh nghiệp Những công cụ này có tác động tương đối mạnh tới khối lượng tín dụng, qua đó, giúp tiết chế tác động thuận chu kỳ giữa giá tài sản và tín dụng (Phụ lục 2)
Công cụ liên quan tới thanh khoản chủ yếu hướng tới giải quyết rủi ro thanh khoản và ngoại hối tích tụ liên quan tới sự bùng nổ cho vay, nhưng một số công cụ thuộc dạng này cũng có thể ảnh hưởng tới tăng trưởng tín dụng Chúng bao gồm các công cụ giúp tích lũy các tài sản có tính thanh khoản cao, chẳng hạn như công cụ dự trữ bắt buộc và
tỷ lệ đảm bảo khả năng thanh khoản Basel III (LCR) (đối với các loại tiền khác nhau) cũng như các công cụ giảm thiểu mất cân đối kỳ hạn (như tỷ lệ vốn lõi), các công cụ
về giá cùng các thiết lập đơn giản (như áp trần với tỷ lệ Dư nợ tín dụng/Vốn huy động (LTD))
Rủi ro cấu trúc của sự lây lan trong hệ thống tài chính cũng có thể được giải quyết bằng một loạt các công cụ chính sách (IMF 2013, IMF 2014a) Để cải thiện khả năng hồi phục của các
tổ chức mà sự sụp đổ của chúng có thể dẫn đến rủi ro cho hệ thống, các yêu cầu bảo đảm an toàn như phụ phí vốn đối với những ngân hàng quốc tế và ngân hàng lớn trong nước (G-SIB và D-SIB)
và công ty bảo hiểm (G-SIIs) đã được áp dụng (BCBS 2013 , IAIS 2013) Ngoài ra, để giảm thiểu tác động lan truyền từ sự sụp đổ của các tổ chức như vậy, yêu cầu hấp thụ tổn thất được đưa ra để đơn giản hóa quá trình phục hồi của các G-SIBs (FSB 2015) Biện pháp đảm bảo an toàn khác để giảm sự lây lan bao gồm tăng trọng số rủi ro và mức trần rủi ro, có thể sử dụng để ngăn chặn rủi
ro lây lan lớn với những tổ chức này hoặc trong hệ thống tài chính nói chung (UK, BCBS 2014,
Trang 22ESRB 2014)
Chính sách cũng đang được thiết kế để giải quyết các rủi ro tới ổn định tài chính phát sinh
từ những hoạt động phi ngân hàng và mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau trong cơ sở hạ tầng thị trường Sáng kiến G20 về trung tâm thanh toán bù trừ (FBS 2010) bây giờ được bổ sung bằng kế hoạch toàn diện để thúc đẩy khả năng phục hồi các trung tâm này, kế hoạch phục hồi và giải pháp (FSB / BCBS / CPMI / IOSCO 2015) Phát triển chính sách để kiểm soát rủi ro từ hoạt động phi ngân hàng và thị trường chứng khoán cho vay cũng đang tiếp tục (FSB 2015b, ESRB 2016)
3.3 Phương thức vận hành và sử dụng các công cụ
Công tác thực thi chính sách an toàn đòi hỏi việc đánh giá rủi ro hệ thống, từ đó đưa
ra các chính sách ngăn ngừa những rủi ro đó Dựa trên kinh nghiệm của nhiều quốc gia, các
yếu tố chính của quy trình này bao gồm: (i) Thiết kế và hiệu chỉnh các phản ứng chính sách nhắm đến các rủi ro đã được xác định, đồng thời tránh các chi phí không cần thiết; (ii) Đánh giá, dự báo
và giải quyết trước (ex ante) những kẽ hở của các công cụ chính sách; (iii) Đánh giá hậu nghiệm tác động của chính sách và cân nhắc lại việc lựa chọn cũng như hiệu chỉnh công cụ chính sách; (iv) Đánh giá khả năng nới lỏng các công cu an toàn vĩ mô và (v) Cải thiện hệ thống thông tin cho các công cụ an toàn vĩ mô trong tất cả các khu vực Trong thực tế, tất cả các bước trên có thể được thực hiện đồng thời, thay vì thực hiện theo thứ tự
Hiệu chỉnh các phản ứng chính sách
Cách tiếp cận chính sách phải phù hợp với hồ sơ rủi ro (risk profile) Điều này đòi
hỏi cách tiếp cận theo những phương pháp sau (CGFS 2012, IMF 2013)
Cách tiếp cận từng bước và cách tiếp cận trực tiếp: Khi có nhiều chỉ báo cho thấy
rủi ro đang ở mức cao, hoặc đang tăng mạnh, điều này sẽ đòi hỏi cách tiếp cận mạnh
và trực tiếp, qua đó thắt chặt các công cụ chính sách để giảm thiểu rủi ro Ngược lại, nếu các chỉ báo cho thấy rủi ro chỉ ở mức trung bình, cách tiếp cận từng bước có thể được sử dụng và có thể truyền thông về chính sách trước khi ban hành và thực hiện Khi sử dụng 1 công cụ để nhắm tới những rủi ro thay đổi theo thời gian (time-varying risk) thì công cụ đó có thể được kích hoạt một phần (partial activation) (chẳng hạn như
ở Hồng Kông, Thụy Điển) Một cách tổng quát, các hành động sớm và được thực hiện
từ từ, từng bước có thể được áp dụng để hạn chế những tác động khó lường của các công cụ chính sách Chẳng hạn, một số quốc gia hiệu chỉnh tỷ lệ cho vay trên giá trị tài sản đảm bảo (LTV) và tỷ lệ cho vay trên thu nhập để những công cụ này không có tính ràng buộc ngay lập tức với phần lớn người đi vay, mà với kỳ vọng là các công cụ trên sẽ làm chậm quá trình mất cân bằng (VD: Ireland, vương quốc Anh)
Các công cụ tổng quát và các công cụ nhắm đến mục tiêu cụ thể: Khi rủi ro đã tích tụ
trên diện rộng, cần sử dụng và thắt chặt các công cụ tổng quát, có khả năng tác động đến tất cả các loại rủi ro, trong đó có thể thắt chặt vốn dự trữ (capital buffer) và thanh khoản
dự trữ (liquidity buffer) Khi những lỗ hổng cụ thể xuất hiện nhưng không có hiện tượng bùng nổ tín dụng, cách tiếp cận cụ thể, trên phạm vi hẹp có thể mang lại hiệu quả cao hơn Chẳng hạn, khi rủi ro hệ thống phát sinh từ việc các hộ gia đình vay quá nhiều ngoại tệ, các mức trần cho LTV và DSTI cho các khoản vay đo có thể được sử dụng để ngăn ngừa rủi ro (VD: Ba Lan)
Sử dụng một công cụ hay nhiều công cụ: Lợi ích cận biên của việc sử dụng duy nhất
một công cụ sẽ giảm xuống vì nó khuyến khích các chủ thể tăng cường hoạt động lách luật Việc sử dụng các công cụ phụ trợ sẽ giảm thiểu hiệu ứng trên, thông qua việc
Trang 23ngăn ngừa rủi ro từ nhiều góc độ khác (CGFS 2012, IMF 2013) Chẳng hạn, các công
cụ LTV, LTI, và DSTI có thể tác động lên lượng cầu tín dụng và hỗ trợ cho những công cụ vốn (các công cụ này tác động lên cung tín dụng và cải thiện khả năng chịu đựng của hệ thống ngân hàng) Thật vậy, nhờ những ưu điểm này, rất nhiều quốc gia
đã sử dụng kết hợp cả 2 công cụ trên Bên cạnh đó, công cụ DSTI có thể giúp nâng cao hiệu quả của công cụ LTV, thông qua việc gắn chặt gánh nặng trả nợ lên thu nhập
và chỉ cung cấp những khoản vay không có đảm bảo khi đáp ứng được điều kiện về lượng tiền đặt cọc/trả trước (IMF 2014a)
Các tiếp cận theo quy tắc hay tùy nghi Ưu điểm của các quy tắc là, một khi các quy
tắc đã được thiết lập thì sẽ không cần đưa ra các giải trình một cách thường xuyên hoặc định kỳ (CGFS 2010) Nếu được thiết kế tốt, các quy tắc này có thể đóng vai trò như một công cụ ổn đinh tự động (automatic stabiliser) hiệu quả Tuy vậy, các quy tắc lại dễ bị lợi dụng, việc cố gắng nhắm vào một số những chỉ báo được xác định trước nào đó có thể khiến rủi ro thay đổi theo hướng ngoài ý muốn (Borio 2010) Việc thiết kế các quy tắc cũng có thể bị cản trở bởi việc thiếu những chỉ báo đủ tin cậy để có thể được sử dụng một cách tự động Cách tiếp cận tùy nghi sẽ không vấp phải những khó khăn từ việc thiết kế những quy tắc hiệu quả và có thể hiệu chỉnh chính sách dễ dàng hơn cho phù hợp với hồ sơ rủi ro tại từng thời điểm Trên thực tế, hầu hết các quốc gia đều sử dụng cách tiếp cận “tùy nghi có định hướng” (guided discretion), kết hợp sử dụng các chỉ báo và đánh giá Một số quốc gia khác sử dụng các công cụ được hiệu chỉnh dựa trên một quy tắc xác định trước, chẳng hạn như quy định trích lập dự phòng động (Peru, Tây Ban Nha, Uruguay)
Đánh giá chi phí và lợi ích
Việc đánh giá trước các chi phí và lợi ích có thể đem lại nhiều gợi mở cho công tác thiết kế và hiệu chỉnh các công cụ chính sách an toàn vĩ mô; tuy nhiên việc đánh giá định lượng là rất khó khăn Các phân tích lý thuyết về chi phí-lợi ích tuy rất quan trọng,
nhưng lại khó tiến hành trên thực tế, bởi chi phí và lợi ích của các chính sách/biện pháp an toàn vĩ mô khó có thể định lượng được; trong khi các mô hình phân tích phúc lợi lại chưa được phát triển đầy đủ (CGFS 2016) Do vậy, ngoài những mục tiêu/lợi ích cần đạt được, chính sách cần đánh giá trước một số chi phí tiềm tàng, chẳng hạn như: (i) Chi phí điều chỉnh cho ngành tài chính; (ii) Chi phí hiệu quả; (iii) Chi phí đối với tăng trưởng kinh tế (IMF
2014)
• Chi phí hiệu chỉnh Các công cụ về vốn và thanh khoản sẽ áp đặt một tỉ lệ tối thiểu
lên bảng cân đối của các tổ chức tài chính, từ đó tạo ra chi phí hiệu chỉnh đối với các
tổ chức này Những chi phí này có thể được giảm nhẹ bằng cách thắt chặt từng phần Chẳng hạn, BCBS khuyến cáo rằng chính quyền cần đưa ra thông báo trước (có thể lên tới 12 tháng) để tạo điều kiện cho các ngân hàng có thời gian chuẩn bị và đáp ứng các tiêu chuẩn CCyB Hàn Quốc công bố mức trần về tỷ lệ cho vay trên huy động vào tháng 12/2009, nhưng các ngân hàng được dự kiến sẽ chỉ đáp ứng đủ tiêu chuẩn này vào cuối năm 2013 Trong khi đó, New Zealand cũng chỉ áp dụng tỉ lệ vốn lõi sau một
số bước Tuy vậy, khi các biện pháp chỉ ảnh hưởng đến hoạt động cho vay hoặc tài trợ mới (như công cụ LTV hay yêu cầu dự trữ biên) thì không cần thiết phải thực thi từng bước Trên thực tế, nếu các biện pháp này được công bố trước quá lâu sẽ có thể dẫn tới hiện tượng là cả người đi vay và ngân hàng sẽ chỉ vội vàng thực hiện ngay trước
Trang 24khi các biện pháp có hiệu lực (IMF 2014)
Chi phí hiệu quả Để hạn chế các tác động méo mó, các cơ quan thực thi chính sách
có thể giới thiệu các công cụ tác động lên hành vi của người cho vay trước, chẳng hạn như các công cụ vốn, trước khi áp dụng những ràng buộc tới người đi vay, chẳng hạn như công cụ LTV, LTI và DSTI (VD: tại Israel) Tuy vậy, có những trường hợp, khi rủi ro đang tăng mạnh, cả 2 dạng công cụ trên có thể được sử dụng đồng thời, hoặc có thể ưu tiên cho các công cụ tác động lên mảng tài sản (IMF 2014a) Các công cụ LTV, LTI, DSTI có thể được thiết kể để làm giảm chi phí hiệu quả Chẳng hạn, trần về mức
độ rủi ro đối với một số dạng cho vay cụ thể (như áp đặt trần về tỷ lệ tín dụng có LTV cao ở New Zealand hay LTI cao ở Vương quốc Anh) sẽ chỉ hạn chế việc cấp tín dụng
ở phạm vi hẹp Để giảm thiểu chi phí hiệu quả, các quốc gia có thể áp dụng các ràng buộc ít chặt hơn đối với người mua đầu tiên (Phần Lan, Ireland, Israel và Singapore) hoặc phân biệt theo loại hình tài sản và khu vực (Malaysia, Hàn Quốc và New Zealand)
động ngắn hạn tới tăng trưởng kinh tế Các bằng chứng thực nghiệm đã chỉ ra rằng những ràng buộc trong bảng cân đối (chẳng hạn như các công cụ vốn và thanh khoản) có thể tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn Tuy vậy, những tác động này thường yếu và được bù đắp bởi những hiệu ứng tích cực trong dài hạn từ việc giảm xác suất và chi phí khủng hoảng (BIS 2010, IMF 2013d) Tác động ngắn hạn này có thể mạnh hơn nếu các biện pháp thắt chặt quá mức khiến các tổ chức tài chính cắt giảm tín dụng; hoặc các biện pháp thắt chặt được thực thi trong giai đoạn khó khăn về tài chính, trong bối cảnh các tổ chức tài chính khó thực hiện các biện pháp tăng vốn Để giảm thiểu những tác động không mong muốn tới tăng trưởng kinh tế, các ràng buộc trong bảng cân đối cần được thắt chặt trước đó một khoảng thời gian khá dài Do các công cụ tác động tới dòng vốn tín dụng mới (như LTV, DSTI) thường có ảnh hưởng mạnh hơn tới tăng trưởng kinh
tế (IMF 2013d) nên cần thực hiện thắt chặt từng bước, đặc biệt khi nền kinh tế đang trong giai đoạn tăng trưởng yếu (chẳng hạn như tại Hà Lan giai đoạn sau khủng hoảng)
Đánh giá và xử lý vấn đề lách (rò rỉ) chính sách
Khả năng lách chính sách đặt ra thách thức cho việc triển khai hiệu quả các công
cụ chính sách an toàn vĩ mô Vấn đề lách chính sách đề cập tới sự dịch chuyển của các hoạt
động tài chính ra khỏi phạm vi áp dụng và thực thi công cụ chính sách vĩ mô, dẫn đến nguy cơ suy giảm hiệu quả của công cụ này Việc lách chính sách có thể diễn ra trong nội bộ quốc gia, khi các hoạt động chuyển sang những nhà cung cấp dịch vụ tài chính trong nước không chịu
sự áp dụng của các công cụ an toàn vĩ mô Chúng cũng có thể diễn ra xuyên biên giới, khi các hoạt động dịch chuyển sang các nhà cung cấp dịch vụ tài chính nước ngoài không nằm trong phạm vi thực chi các biện pháp an toàn vĩ mô trong nước Các chiến lược để xử lý vấn đề lách chính sách sẽ có xu hướng mở rộng phạm vi áp dụng các công cụ chính sách an toàn vĩ mô ra các tổ chức phi ngân hàng và các nhà cung cấp tín dụng nước ngoài, chẳng hạn như thông qua các thỏa thuận pháp lý đôi bên (BSBC 2010) hoặc mở rộng quyền kiểm soát của nước chủ nhà đối với các chi nhánh nước ngoài (CGFS 2014, IMF 2014) Mặc dù bị giới hạn cho tới nay, kinh nghiệm cho thấy phạm vi và những khó khăn thực tế khi giải quyết quyết các vấn đề lách chính sách là khác nhau giữa các công cụ an toàn vĩ mô
Các công cụ dựa trên vốn Kinh nghiệm và bằng chứng cho thấy các công cụ vốn
(nghĩa rộng) có thể bị ảnh hưởng bới các trường hợp lách chính sách nội địa (Phụ lục 2) Chẳng hạn, công cụ vốn có thể dẫn tới tình trạng gia tăng cưng ứng tín dụng thông
Trang 25qua các tổ chức phi ngân hàng, trong đó có cả các đơn vị liên kết với ngân hàng (chính
là các công ty cho thuê tài chính liên kết với ngân hàng, như ở Croatia) nếu giám sát hợp nhất không có hiệu lực, hoặc chỉ đơn giản với cung ứng tín dụng bởi các tổ chức phi ngân hàng như các công ty tài chính Tương tự, sự rò rỉ xuyên biên giới có thể đặt
ra những thách thức lớn cho các công cụ dựa trên vốn, đặc biệt là khi các công ty liên kết nước ngoài được thành lập dưới dạng chi nhánh thay vì công ty con, và đối với các biện pháp nhằm vào xử lý vấn đề cho vay quá nhiều đối với khu vực doanh nghiệp, khi các doanh nghiệp địa phương có thể đi vay trực tiếp ở nước ngoài và trên thị trường quốc tế Trong những trường hợp như vậy, các biện pháp bổ sung nhằm vào chính bản thân các doanh nghiệp đi vạy, chẳng hạn như có thể cân nhắc những khuyến nghị dành cho cơ quan tài khóa để xử lý những méo mó trong việc đánh thuế dẫn đến việc khuyến khích các doanh nghiệp đi vay
Hạn chế cho vay khu vực hộ gia đình Đối với các công cụ giới hạn mức tín dụng
dành cho hộ gia đình, như tỷ lệ LTV là DSTI, kinh nghiệm cho thấy việc rò rì chính sách co thể dễ dàng được kiểm soát (Phụ lục 2) Đó là do, về nguyên tắc (nhưng phụ thuộc vào mức độ hiệu lực của hoạt động thanh tra giám sát), những biện pháp hạn chế cho vay như trên có thể được thực thi ở tất cả các tổ chức tài chính bị điều tiết, bao gồm tổ chức phi ngân hàng và các chi nhánh nước ngoài (BoE 2011) Các ví dụ của
Hà Lan, Hung – ga – ri và Hàn Quốc cho thấy các giới hạn LTV và DSTI có thể mở rộng ra áp dụng cho các nhà cung cấp tín dụng phi ngân hàng, đặc biệt là khi các đơn
vị này đã nằm trong khuôn khổ quản lý, và chúng có thể cũng được áp dụng cho các chi nhánh nước ngoài (như ở Estonia, Ireland, Romania và Anh) Tuy nhiên, cũng có thể tồn tại việc cung ứng tín dụng thế chấp xuyên quốc gia tại các khu vực có sự hội nhập chặt chẽ, điều này sẽ thúc đẩy chính quyền các nước tìm kiếm sự tương hỗ trong các biện pháp liên quan đến cho vay thế chấp trong một số trường hợp (như Bỉ và Hà Lan)
Các công cụ liên quan đến thanh khoản Khi các công cụ thanh khoản được áp dụng
cho hệ thống ngân hàng, việc chuyển đổi kỳ hạn có thể dịch chuyển sang các tổ chức phi ngân hàng Nếu sự dịch chuyển đó là lớn và xuất hiện tại các bộ phận của hệ thống
có mối quan hệ với hệ thống ngân hàng, cần phải có động thái để hợp nhất các hoạt động đó trên bảng cân đối của hệ thống lõi, theo đó đưa chúng vào điều chỉnh theo quy định (như Trung Quốc) Các công cụ thanh khoản cũng có thể được mở rộng ra áp dụng trực tiếp cho các đơn vị cung ứng việc chuyển đổi kỳ hạn, thậm chí việc này có thể cần sự sự hợp tác của các cơ quan giám sát liên quan Một ví dụ là các quỹ tương
hỗ trên thị trường tiền tệ Mỹ, khi các yêu cầu về thanh khoản đã được thắt chặt đáng
kể kể từ sau khủng hoảng
Đánh giá hiệu quả (sau hành động chính sách)
Đánh giá tác động sau khi can thiệp chính sách là một việc làm hữu ích để thấy được sự cần thiết của việc cải tổ hoặc bổ sung các biện pháp (CGFS 2012, ESRB 2014,
IMF 2014) Sự rõ ràng về mục tiêu chính sách là điều kiện chủ chốt để xây dựng và truyền thông hiệu quả các biện pháp an toàn vĩ mô Việc triển khai chính sách theo đó có thể lặp đi lặp lại quy trình giữa hành động chính sách, quan sát, đánh giá tác động và thực hiện các biện pháp bổ sung hoặc điều chỉnh chính sách nếu cần thiết Cụ thể, ngoài việc đánh đánh giá mức
độ rò rỉ chính sách và các tác động phù không mong muốn khác (nói trên), đánh giá hậu chính
Trang 26sách sẽ hướng tới đánh giá: (i) mức độ mà các biện pháp có tác động như mong muốn lên khả năng phục hồi của hệ thống; và (ii) ảnh hưởng lên hành vi và tác động lên diễn biến tín dụng
và giá cả tài sản Những đánh giá như vậy có thể hữu ích cho việc việc nâng cấp mô hình và
sự hình thành các công cụ tương lai, mặc dù việc đo lường lợi ích của các công cụ an toàn vĩ đối với mục tiêu cuối cùng – giảm rủi ro hệ thống – rõ ràng là rất khó khăn
Đánh giá ảnh hưởng lên khả năng phục hồi Nếu việc nâng cao khả năng phục
hồi là mục tiêu chính sách chính, việc đánh giá xem các công cụ an toàn vĩ mô được sử dụng đã có hiệu quả mong muốn hay chưa có thể sẽ rất có ích, bằng cách xác định 1 hoặc nhiều hơn các biện pháp phục hồi và đánh giá liệu khả năng năng phục hồi có được cải thiện sau khi áp đặt công cụ (phương pháp nghiên cứu sự kiện) Chẳng hạn, hoàn toàn khả thi khi đánh giá xem liệu việc áp dụng các giới hạn LTV và LTI có dẫn đến sự thay đổi trong việc phân bổ các tỷ lệ LTV và LTI thực tế đói với những người đi vay cũ và tập hợp những khách hàng vay cũ hay không, cũng như mức độ giảm khả năng vỡ nợ và tổn thất khi vỡ nợ mà hành động này đem lại (như ở khu vực Châu Âu, và đặc khu kinh tế Hồng Kong) Các bài kiểm tra sức chịu đựng của hệ thống được lặp đi lặp lại cũng là một cách để đánh giá sự gia tăng khả năng chịu đựng, và được sử dụng ngày càng càng nhiều bởi các ngân hàng trung ương và các cơ quan giám sát quốc gia tại một số nước (xem ở trên)
Đánh giá ảnh hưởng lên hành vi và diễn biến tín dụng Việc đánh giá xem thay
đổi chính sách có tác động lên các chỉ số tín dụng và rủi ro dẫn tới quyết định can thiệp chính sách, hoặc, rộng hơn, liệu chính sách có tạo ra phản ứng mong muốn của thị trường hay không cũng có thể rất hữu ích Tuy nhiên, nói chung không dễ
để xác định được mức độ mà những thay đổi quan sát được trong hành vi của người tham gia thị trường là do chính sách hay là do các tác động khác Một cách
để giải quyết vấn đề này là xây dựng một đường đối chứng/cơ sở cho các chỉ số liên quan, dựa trên các mối quan hệ trong quá khứ và khi không có sự can thiệp chinh sách, và so sánh kết quả thực tế với đường cơ sở (như Canada, Hàn Quốc và New Zealand)
Xem xét khả năng nới lỏng công cụ:
Triển khai chính sách hiệu quả đòi hỏi việc hậu xem xét các điều kiện mà theo đó các công cụ an toàn vĩ mô sẽ được nới lỏng (CGFS 2012, IMF 2013, IMF 2014) Mặc dù
một số công cụ có thể được thiết kế để cho phép việc nới lỏng tự động (chẳng hạn như dự trữ linh hoạt), các nhà tạo lập chính sách sẽ cần phải có các quyết định chủ động về sự phù hợp, thời điểm và tốc độ nới lỏng tương ứng với từng trường hợp
Việc này có thể thực hiện dựa theo mục tiêu của các chính sách an toàn vĩ mô:
nhằm ngăn chặn tình trạng đứt quãng trong cung ứng tín dụng gây tổn hại cho nền kinh tế thực Cụ thể, khi các rủi ro hệ thống giảm đi theo thời gian, một số giới hạn an toàn vĩ mô được phép nới lỏng dần dần Tuy nhiên, các yêu cầu an toàn vĩ mô có thể được nới lỏng khi các rủi ro hiện thực hóa, nói cách khác, là trong thời kỳ căng thẳng tài chính Trong trường hợp này, một hành động nới lỏng kịp thời và quyết đoán có thể đáp ứng tốt nhất mục tiêu an toàn vĩ mô, đặc biệt là khi các biện pháp an toàn vĩ mô gắn với việc cung ứng tín dụng cho nền kinh tế (CGFS 2012, IMF 2014) Tuy nhiên, các quyết định nới lỏng các giới hạn an toàn
vĩ mô cần phải duy trì niềm tin và đảm bảo mức độ phục hồi phù hợp trước các cú sốc trong tương lai Thêm vào đó, thực tiễn về việc nới lỏng các công cụ an toàn vĩ mô vẫn còn ít và
Trang 27hiệu quả của các biện pháp nới lỏng trong thời gian căng thẳng vẫn còn chưa chắc chắn (CGFS 2012, IMF 2014)
Các chỉ tiêu dẫn đến quyết định nới lỏng giới hạn an toàn vĩ mô có thể khác với những chỉ tiêu sử dụng để bắt đầu kích hoạt thời kỳ thắt chặt Mặc dù các biến và tỷ lệ
trữ lượng (stock) với tốc độ biến đổi chậm, như chênh lệch tín dụng trên GDP, là những công
cụ hữu hiệu để phát hiện việc tập trung rủi ro, các biến lưu lượng và các chỉ số dựa trên thị trường (như tăng trưởng tín dụng và những thay đổi trong tỷ lệ vỡ nợ) sẽ làm tốt hơn trong việc nhận biết các thời điểm chuyển đổi trong chu kỳ tài chính và dự đoán khi nào các rủi ro
hệ thống sắp trở thành thực tế (Drehmann và cộng sự 2010, IMF 2013) Tập hợp các chỉ tiêu hữu hiệu có thể khác nhau đối với các căng thẳng khác nhau và với tập hợp các công cụ tương ứng Chẳng hạn, các chỉ tiêu căng thẳng trên thị trường liên ngân hàng có thể đưa ra những tín hiệu hữu ích cho việc nới lỏng các công cụ thanh khoản an toàn vĩ mô (CGFS 2012, IMF 2014)
Cải thiện cơ sở thông tin của chính sách an toàn vĩ mô
Hiệu quả của các chính sách an toàn vĩ mô sẽ được cải thiện nhờ các nỗ lực bền
bỉ trong việc thu hẹp khoảng cách thông tin (FSB/IMF/BIS 2011, IMF 2013) Khoảng cách
thông tin có thể cản trở việc đánh giá các rủi ro, gây khó khăn cho việc xây dựng các công cụ, hoặc gây trở ngại cho việc đánh giá tác động của các biện pháp sau khi triển khai Nhu cầu thông tin có thể khác nhau trong cả 3 lĩnh vực này và trong các giai đoạn thắt chặt và nới lỏng các công cụ an toàn vĩ mô Chẳng hạn, các dữ liệu vi mô về việc phân bổ các tỷ lệ LTV và DSTI thực tế đối với các khách hàng đi vay hiện tại có thể rất hữu ích cho việc định hình tác động của các giới hạn lên các tỷ lệ này (như ở Ireland, Singapore, Thụy Điển, Anh), và dữ liệu này được thu thập một cách hữu hiệu trước khi áp dụng các công cụ Áp dụng tương tự như vậy đối với các dữ liệu về mức độ tương tác song phương giữa các tổ chức tài chính và đối với các dữ liệu để đánh giá mức độ tổn thương hệ thống của các tổ chức phi ngân hàng, việc này không hẳn là luôn sẵn có ở mọi quốc gia Các hợp đồng chia sẻ thông tin đầy đủ và quyền thu thập thông tin là rất quan trọng cho việc việc xử lý vấn đề khoảng cách thông tin (IMF 2013)
Việc thu thập dữ liệu có thể được nâng cấp thông qua tận dụng nguồn dữ liệu hiện tại, nhưng có thể cần phải kêu gọi đầu tư mới Trong cả hai trường hợp, một phân tích
tốt về chi phí và lợi ích của việc nâng cấp việc thu thập thông tin là rất quan trọng Khoảng cách về dữ liệu có thể được lấp đầy thông qua việc tăng cường chia sẻ nguồn dữ liệu giám sát
và thống kê hiện tại, và thông qua việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng (thiết lập các đơn vị đăng ký tín dụng, khởi tạo hệ thống dữ liệu khảo sát thống kê mới) tạo điều kiện cho việc thu thập hệ thống và chia sẻ các thông tin phù hợp Việc thu hẹp các khoảng cách dữ liệu cũng có thể được hỗ trợ thông qua các sáng kiến quốc tế, chẳng hạn như Sáng kiến khoảng cách dữ liệu FSB – IMF – BIS và nhiệm vụ của FSB trong việc kiểm soát các rủi ro của khu vực ngân hàng ngầm (FSB 2015d và FSB 2016) Chẳng hạn, các dữ liệu về sự tương tác và tài trợ song phương giữa các ngân hàng có tầm quan trọng hệ thống thế giới (G-SIBs) hiện nay đang được thu thập và chia sẻ giữa các cơ quan giám sát quốc gia chủ nhà của các tổ chức này Nhiệm vụ cũng bắt đầu kiểm tra khả năng đưa ra một mẫu dữ liệu chung cho các tổ chức tài chính phi ngân hàng có tầm quan trọng hệ thống quốc tế, bắt đầu với các công ty bảo hiểm (FSB/IMF 2015)