Đặc biệt là việc giải toán có lời văn, bởi lẽ để giải các bài toán có lờivăn thì sẽ có tác dụng to lớn và toàn diện như: Củng cố, vận dụng và hiểu sâu sắcthêm tất cả các kiến thức về số
Trang 1I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
1.1 Lý do chọn đề tài
Trong các môn học ở chương trình bậc tiểu học, môn Toán là một môn học có vịtrí quan trọng Đặc biệt là việc giải toán có lời văn, bởi lẽ để giải các bài toán có lờivăn thì sẽ có tác dụng to lớn và toàn diện như: Củng cố, vận dụng và hiểu sâu sắcthêm tất cả các kiến thức về số học, đo lường, yếu tố đại số, các yếu tố hình học đãđược học trong môn Toán tiểu học Hơn thế nữa phần lớn các biểu tượng, kháiniệm, quy tắc, tính chất toán học ở tiểu học đều được học sinh tiếp thu qua conđường giải toán kết hợp với con đường lý luận lô- gíc Ở tiểu học nói chung và các
em học sinh lớp 4, 5 nói riêng, phần lớn thời gian của học sinh dành cho việc họcbốn phép tính và giải các bài toán có lời văn Việc học bốn phép tính thường khôngkhó đối với học sinh, còn việc học giải toán có lời văn lại không dễ đối với cácem.Vì sao vậy? Đó là vì trong các bài toán có lời văn, không giống với bốn phéptính cộng trừ nhân chia thể hiện rõ ràng, mà chúng ẩn náu đằng sau các câu chữ,
mô tả những tình huống trong đời sống sinh hoạt vốn có, lao động và học tậpthường ngày Vì thế học sinh cần phải có kiến thức về Tiếng Việt và cách sử dụngTiếng Việt, lại phải có tư duy lô -gíc có phương pháp suy nghĩ: trừu tượng hoá,khái quát hoá, phân tích tổng hợp, so sánh dự đoán, chứng minh và bác bỏ có nhưvậy mới phát hiện ra cách giải
Trong sự đổi mới này không phải chúng ta loại bỏ phương pháp truyền thống
mà cần tìm ra những yếu tố tích cực, sáng tạo trong từng phương pháp để thừa kế
và phát triển nhưng phương pháp đó cần sử dụng sáng tạo các phương pháp dạyhọc phù hợp, thuyết trình nêu vấn đề, đàm thoại, giảng giải, trò chơi toán trongdạy học toán việc tăng cường sử dụng các phương pháp dạy học kết hợp với thínghiệm toán và hình ảnh trực quan cũng là phương hướng đổi mới phương phápdạy học theo hướng tích cực Đó là những biện pháp để nâng cao chất lượng dạymôn toán lớp 4, 5
Xuất phát từ yêu cầu của việc đổi mới phương pháp và qua 3 năm trực tiếpgiảng dạy thí điểm tôi chọn đề tài: Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạygiải toán có lời văn lớp 4, 5 nhằm thực hiện tốt việc đổi mới phương pháp dạy học,đáp ứng yêu cầu giáo dục trong giai đoạn hiện nay
Trang 21.2 Mục đích nghiên cứu:
-Nghiên cứu đề tài, tôi không có nhiều tham vọng mà chỉ nhằm mục đích đónggóp một phần công sức của mình vào công tác giáo dục của nhà trường Với việcnghiên cứu đề tài, tôi mong muốn sẽ có được bài học kinh nghiệm để có thể ápdụng vào thực tiễn giảng dạy giải toán có lời văn lớp 4, 5 trong trường Tiểu học.Điều này càng có ý nghĩa nếu đề tài thành công, đồng thời là chất lượng học tậpcủa các em học sinh cũng sẽ được nâng lên một cách đáng kể và khắc phục được-Chỉ tiêu: Cuối năm học, 100% học sinh có thể nắm được nội dung cơ bản củacác bài học trong môn toán với những bài toán có lời văn và các em ham hiểu biếtkhoa học về sự logic trong môn toán với tự nhiên, có ý thức vận dụng những kiếnthức đã học vào đời sống, các em vận dụng tốt ở các môn học lớp trên
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh lớp 4, 5 Trường Tiểu học Trong quá trình áp dụng sáng kiến kinhnghiệm, tôi có chú ý phân loại đối tượng học sinh theo trình độ hoàn thành và chưahoàn thành; với thang điểm đánh giá Hoàn thành là 9-10, 7-8, 5-6 và chưa hoànthành là dưới 5
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Trong quá trình nghiên cứu tôi kết hợp sử dụng các phương pháp sau :
+ Phương pháp điều tra : Tôi đã điều tra bàng phiếu điều tra để thăm dò tìnhhình học tập môn toán : Bài toán có lời văn
+ Phương pháp trao đổi và lấy ý kiến đồng nghiệp và học sinh : Tôi đã trao đổi
và lấy ý kiến của đồng nghiệp, học sinh ở trường bạn, đồng nghiệp và học sinhtrường mình, lớp mình để thu thập thêm về tình hình học tập các môn học nói trêncủa học sinh lớp 4, lớp 5
Trang 31.5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
Chọn đề tài này để nghiên cứu, tôi đề ra những nhiệm vụ cho từng giai đoạn nhưsau:
a) Giai đoạn 1: (Năm học 2015- 2016)
Điều tra phân loại đối tượng học sinh lớp 4, 5 của trường Từ đó mạnh dạn ápdụng những biện pháp nhằm giúp học sinh yêu thích và học tốt môn toán lớp 4, 5trong chương trình lớp 4, 5
b) Giai đoạn 2: (Năm học 2016- 2017)
Phát triển sáng kiến kinh nghiệm thành đề tài nghiên cứu Tiếp tục áp dụngnhững biện pháp nhằm giúp học sinh lớp 4, 5 nhất là học sinh chưa hoàn thành yêuthích và học tốt các bài toán, biết áp dụng các kiến thức vào thực tế cuộc sống
II NỘI DUNG
1 Cơ sở lý luận:
Ở lớp 4, 5, giải các bài toán có lời văn có vị trí quan trọng Thời lượng dànhcho giải toán có lời văn khá nhiều với các dạng toán hợp:
- Tìm số trung bình cộng của hai số hoặc nhiều số
- Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó
- Tìm hai số khi biết tổng ( hoặc hiệu ) và tỉ số
- Giải toán về tỉ số phần trăm
- Bài toán cơ bản về chuyển động đều cùng chiều( hoặc ngược chiều )
- Giải toán có nội dung hình học
- Giải toán có dạng điển hình
Việc giải toán có lời văn ở lớp 4, 5 giúp học sinh bồi dưỡng và phát triển cácthao tác trí tuệ rất cần thiết để nhận biết thế giới hiện thực, tác dụng trong việc pháttriển trí thông minh, tư duy độc lập, linh hoạt, sáng tạo trong việc hình thành và rènluyện trong mọi hoạt động của con người, góp phần giáo dục ý chí và những đứctính tốt như cần cù, nhẫn nại và ý chí vượt khó, học sinh sẽ tiếp nhận những kiếnthức phong phú về cuộc sống, làm tốt điều Bác Hồ căn dặn “Học đi đôi với hành”
Vì vậy mà mỗi học sinh lớp 4, 5 đều phải rèn luyện để giải toán cho tốt Điều đókhông những giúp các em giỏi toán mà còn giỏi các môn học khác
Trang 4Như chúng ta đã biết, học sinh tiểu học là lứa tuổi học tập theo hứng thú và chủyếu là cảm tính Đồng thời lứa tuổi này còn mang các đặc điểm tâm lý hồn nhiên,ngộ nghĩnh và hiếu động các em thích vui chơi, thích các trò chơi vui nhộn "Vừachơi, vừa học" Mặt khác đối với học sinh tiểu học việc ghi nhớ thì rất nhanh nhưng
để nhớ một nội dung, một vấn đề nào đó thì lại rất khó cho nên các nhà toán đãnhận định rằng lứa tuổi học sinh tiểu học là lứa tuổi "Chóng nhớ, mau quên" Muốnhọc sinh nhớ được vấn đề nào đó thì ngoài việc thường xuyên phải củng cố, ôn tập
về nội dung cần như thì việc tạo cho các em cảm giác hứng thú và say mê với nộidung cần ghi nhớ, chắc chắn rằng các em sẽ dể tiếp thu, dễ nhớ và nhớ lâu hơn.Đồng thời lứa tuổi học sinh tiểu học là lứa tuổi mang đặc điểm nhận thức, tư duy
trực quan và cụ thể Các em không những nhận thức tốt các vấn đề mang tính cụ
thể mà còn rất có hứng thú khi khai thác, tìm hiểu các vấn đề mang tính cụ thể,đồng thời các em cũng rất ưa thích các vấn đề trực quan mang tính bắt mắt mà các
em có thể quan sát một cách dễ dàng
2 Cơ sở thực tiễn
Ngành Giáo dục và Đào tạo trong những năm vừa qua đã đẩy mạnh đổi mớiphương pháp giảng dạy môn Toán nói chung và giảng dạy toán có lời văn nói riêngnhưng phương pháp truyền thống vẫn được sử dụng nhiều Đó là cách dạy thôngbáo kiến thức có sẵn, giáo viên lên lớp truyền thụ kiến thức bằng phương phápthuyết trình giảng giải Học sinh thụ động tiếp thu theo cách: “ Thầy dạy- trò nghe
và ghi nhớ” sau đó trò làm bài theo cách dập khuôn máy móc không tư duy linhđộng trong cách làm bài Giáo viên là người duy nhất có quyền đánh giá kết quảhọc tập của học sinh, học sinh ít có khả năng đánh giá và đánh giá lẫn nhau
Trong thực tế giảng dạy, tôi thấy trong môn toán các em rất hứng thú làm cácbài toán thông thường tính toán cộng trừ nhân chia xong đối với những bài toán cólời các em rất ngại làm, nhiều khi rất loay hoay không hiểu đầu bài thế nào, có khitìm được cách giải rồi không biết trình bày thế nào cho đúng nhất là những bài toán
có lời lớp 4, 5 Bởi trình độ, khả năng tiếp thu, óc tưởng tượng tư duy, sáng tạo củacác em còn thấp, dẫn tới khả năng nhận thức bị hạn chế bài học tại lớp các em làmđúng song ngày mai đến lớp lại quên, khả năng ghi nhớ các công thức toán học gặpnhiều khó khăn Qua thực trạng lớp tôi phụ trách tôi nhận thấy các em giải toán có
Trang 5- Học sinh chưa phân biệt được các dạng toán do không đọc kỹ đầu bài.Không phân biết được các yếu tố cơ bản của bài toán, khó nhận thức được cái đãcho, dễ nhầm lẫn giữa cái cần tìm với cái đã cho do không nhận thức được vai tròcủa câu hỏi trong bài toán hay do vốn từ Tiếng việt còn hạn chế nên không hiểuđược nội dung của bài.
- Khả năng phân tích còn kém Chưa tìm ra mối liên hệ giữa các dữ kiện trongbài toán
- Kỹ năng trình bày bài giải chưa tốt: Câu trả lời thừa ( hoặc thiếu) không phùhợp với phép tính làm tính còn nhầm lẫn, sai tên đơn vị
- Chưa có thói quen kiểm tra lại đáp số
Giữa học kì I năm học 2014- 2015 tôi đã tiến hành khảo sát bài tập toán có lờivăn ở lớp 53 với đề bài lấy trong sách giáo khoa Kết quả thu được như sau:
Bảng 1:
Số HS
50
HS đạt điểm 9->10
HS đạt điểm 7->8
HS đạt điểm 5->6
HS đạt điểm dưới 5
Ghi tên đơn vịsai
Trước thực tế đó, tôi đã tìm hiểu nguyên nhân để từ đó tìm cách khắc phục chocác em
* Nguyên nhân về phía giáo viên:
- Giáo viên coi nhẹ kỹ năng giải toán có lời văn, coi nặng việc sử dụng bàitoán mẫu điển hình Các em chỉ cần dựa vào bài tập mẫu để làm bài đã đạt điểmtrung bình nên không cần dạy học sinh theo tiến trình quy định học sinh vẫn có thểlàm bài được
- Giáo viên chưa phát huy được ưu điểm của phương pháp dạy
- Giáo viên chưa thực sự chú ý đến việc hình thành cho các em thói quen tíchlũy những hiểu biết về thế giới tự nhiên, sinh hoạt trong cuộc sống hàng ngày vàocác dạng bài toán có lời văn Giáo viên chưa giúp các em hiểu được ý nghĩa của cácthuật toán dùng trong các bài toán có lời văn
Trang 6-Việc giúp học sinh hệ thống kiến thức đã học và biết vận dụng vào trong cáchgiải các bài toán còn hạn chế
*Nguyên nhân về phía học sinh:
- Các em khi tìm hiểu đầu bài thường bị phân tán vào nội dung cụ thể của đạilượng hơn vào các số (trừu tượng) cần thiết diễn tả điều kiện của bài toán theo yêucầu của câu hỏi Không có thói quen tóm tắt bài toán vì vậy không có cái nhìn tổngquát nên không tìm ra kế hoạch giải toán
- Các em ngại học dạng toán có lời văn vì ngại đọc và hiểu các từ trong bàitoán để tóm tắt bài, phải sử dụng nhiều kiến thức cơ bản đã học Trong khi đó các
em không hệ thống kiến thức vì thế hay sử dụng nhầm công thức, hoặc không biết
sử dụng công thức nào trước công thức nào sau, sinh ra tính ỷ lại trông chờ vàogiáo viên
- Vốn sống, thói quen và khả năng tích lũy những hiểu biết về thế giới tựnhiên, trong cuộc sống vào việc nghiên cứu các bài toán có lời văn gắn với thực tếcác em thường lúng túng không hiểu Vốn hiểu biết các từ thuật ngữ toán học như:gấp rưỡi, gấp đôi, một nửa, chia đôi còn hạn chế
- Các em thường không chú ý đến đơn vị khi thực hiện bài toán vì vậy dẫn đếnviệc bài toán giải đúng phương pháp xong vẫn sai
- Các em chưa biết cách trả lời câu hỏi cho hợp lý thường có thói quen lấyluôn câu hỏi cuối bài làm câu trả lời trong khi đó còn hai ba phép tính nữa mới đếncâu hỏi chốt
* Nguyên nhân về phía gia đình:
- Phụ huynh chưa thật sự quan tâm tới việc học của con cái Có khi các emchưa biết phương pháp giải muốn có sự giúp đỡ của gia đình thì gia đình không cókhả kèm cặp vì còn lo mưu sinh; mặt khác ngày trước bố mẹ các em học theochương trình chưa cải cách
- Phụ huynh chưa mua đủ sách Toán và những tài liệu liên quan đến việc họctoán cho các em tham khảo
Xuất phát từ cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn trên, tôi muốn đưa ra sáng kiến: để
các đồng nghiệp cùng tham khảo “Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy
giải toán có lời văn cho học sinh lớp 4,5” để các bạn đồng nghiệp cùng tham khảo.
3 Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề.
1 Những giải pháp, biện pháp đã thực hiện
2 Hướng dẫn học sinh nắm chắc quy trình giải toán có lời văn
Trang 73.1- Một số biện pháp, giải pháp đã thực hiện:
Chuẩn bị chu đáo bài dạy của giáo viên và bài học học sinh
Để có giờ dạy giải toán theo phương pháp mới đạt kết quả tốt, phát huy đượctính tích cực sáng tạo của học sinh thì giáo viên phải có thiết kế cụ thể rõ ràng, nóquyết định đến chất lượng giờ dạy giúp cho người dạy- người học đều cảm thấyhứng thú thoải mái chủ động phát huy tính sáng tạo trong dạy- học của giáo viên vàhọc sinh vì thế sẽ xoá đi sự khô khan cứng nhắc khó học của môn toán có lời văn
để được như vậy thì đòi hỏi cả thầy và trò đều phải có sự chuẩn bị chu đáo
* Về phía giáo viên
Trước khi dạy bất cứ nội dung nào tôi đều nghiên cứu kỹ yêu cầu của bài họctrong kế hoạch cả năm, nghiên cứu kỹ SGK, sách hướng dẫn giảng dạy, sách bàitập và các tài liệu liên quan đến nội dung dạy Trên cơ sở đó:
+ Xác định cụ thể vị trí và mối liên quan của bài học trước và sau bài học sauqua đó hệ thống kiến thức để học sinh có liên hệ dễ học
+ Xác định cụ thể mục tiêu bài học, mức độ chuẩn kiến thức, kỹ năng (tốithiểu, tối đa) 3 mặt: Kiến thức mới, phát triển tư duy và khả năng suy luận, rènluyện kỹ năng
+ Xác định kiến thức trọng tâm của bài
+ Lựa chọn phương pháp dạy học cụ thể và chuẩn bị các phương tiện tươngứng Đặc biệt cần lựa chọn các bài tập ở lớp và các bài tập làm ở nhà Xác định sốbài tập bắt buộc và bài tập làm thêm (Chia làm hai loại: học sinh khá, giỏi và họcsinh trung bình) Tự giải và soạn phần hướng dẫn cho các bài tập khó hoặc các gợi
ý về phương pháp tìm lời giải
+ Soạn các câu hỏi hay hướng dẫn học sinh học ở nhà phải luôn chú ý tính vừasức với mỗi loại học sinh ở trên lớp vì vậy cần phải có sự khó dần
+ Nắm chắc các dạng toán điển hình
+ Nắm chắc phương pháp giải các dạng toán
+ Khi dạy giải toán có lời văn phải dạy đúng quy trình
+ Phải nắm chắc được nội dung chương trình dạy toán có lời văn ở tất cả cáckhối 1,2,3
+ Tôi cũng thường xuyên kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh qua đó nắm đượctình hình học tập của học sinh để uốn nắn
Trang 8Tất cả sự chuẩn bị trên của giáo viên đều được thể hiện cụ thể trên bài soạn đủcác bước, đủ các yêu cầu và thể hiện được các công việc cụ thể của thầy- trò tronggiờ giải toán Từ đó mới định hướng được cách dạy cho riêng mình phù hợp vớinhận thức thực tế của học sinh; có thế mới phát huy được hiệu quả của việc đổi mớiphương pháp thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng ở môn toán; đồng thời cũng tạocho học sinh tự làm được bài toán cũng như tạo ra sự hứng thú khi học toán.
* Về phía học sinh:
- Tôi yêu cầu các em phải chuẩn bị bài học ở nhà trước khi thầy dạy bài mới cóthế các em mới có các ý kiến phát biểu xây dựng bài trong quá trình học, cũng nhưviệc nêu nên các câu hỏi thắc mắc không hiểu vì vậy tạo ra không khí học sôi nổilôi cuốn các em tạo cho các em yêu thích môn toán, hào hứng trong hoạt động họcmôn toán
- Các em phải có đầy đủ sách giáo khoa, sách bài tập, các dụng cụ phục vụ họctoán và chuẩn bị đầy đủ phù hợp với từng tiết học
- Đối với học sinh khá giỏi, trong những buổi bồi dưỡng riêng biệt cần có thêmsách giáo khoa về luyện giải, sách giáo khoa nâng cao… song không thể thiếu đượcnhững kiến thức cơ bản về toán có hệ thống lo- gíc từ lớp dưới, từ bài học trướcphải chắc chắn làm cơ sở, nền tảng giúp học sinh tự tin trong hoạt động thực hành,trong việc tiếp thu kiến thức
- Để hệ thống các kiến thức đã học với kiến thức mới nên yêu cầu học phải làmhết, có chất lượng các bài tập, học thuộc các quy tắc công thức toán
- Để học sinh có thói quen học bài, làm bài đầy đủ, tôi thống nhất với các tổtrưởng trong lớp và bầu ra mỗi bàn có bàn trưởng là học sinh học tốt môn toánthường xuyên kiểm tra bài học, bài làm của các bạn trong bàn vào giờ ôn bài, soátbài để chỉ ra chỗ đúng sai trong bài tập, cũng như giải thích các thắc mắc chưa hiểucủa bạn từ đó giúp nhau cùng tiến bộ
3.2- Hướng dẫn học sinh nắm chắc quy trình giải toán có lời văn
Giải toán đối với học sinh là một hoạt động trí tuệ khó khăn, phức tạp Việc hìnhthành kỹ năng giải toán nhiều hơn kỹ năng tính vì bài toán giải là sự kết hợp đadạng hoá các khái niệm các quan hệ toán học, chính vì vậy mà giáo viên phải nắmchắc kiến thức và nắm vững các dạng bài, phương pháp giải từng dạng, từng bài; cóthế giáo viên mới hướng dẫn được cho học sinh các thao tác cơ bản trong quá trìnhgiải toán có lời văn như sau:
Trang 93.2.1 Tìm hiểu phân tích đề bài
Việc tìm hiểu, nghiên cứu phân tích đề bài thông qua việc đọc bài toán là rất quantrọng (dù bài toán đã cho dưới dạng bài văn hoàn chỉnh hoặc dưới dạng tóm tắt sơ
đồ ) giáo viên cần hướng dẫn học sinh tóm tắt đề bài, hiểu được một số thuật ngữquan trọng, chỉ ra tình huống quan trọng thường được diễn đạt theo ngôn ngữ thôngthường nhưng chính là các dấu hiệu phân biệt các dạng toán cơ bản khác nhau như
“gấp đôi, gấp rưỡi, hơn kém, tỉ số”, nếu trong bài toán có thuật ngữ nào học sinhchưa hiểu rõ giáo viên cần hướng dẫn để học sinh hiểu được nội dung ý nghĩa của
từ đó Chẳng hạn “năng suất”, “ tiết kiệm”, “ số lượng”…hoặc các ký hiệu trên sơ
đồ tóm tắt, nắm được cái đã cho cái cần tìm của bài, sau đó học sinh đọc vắn tắt bàitoán theo sơ đồ hoặc ký hiệu mà không cần đọc nguyên văn đề bài
Ví dụ 1: Bài toán số 3- trang 176 SGK toán 4
Hai kho chứa 1350 tấn thóc.Tìm số thóc của mỗi kho, biết rằng số thóc của khothứ nhất bằng 4
5 số thóc của kho thứ hai
*Giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích đề toán như sau:
+ 2-3 HS đọc đề bài ra
+ Bài toán cho ta biết gì? (Tổng số thóc của hai kho là: 1350 tấn, tỉ số thóc củakho thứ nhất và kho thứ hai là4
5)+ Bài toán hỏi gì? (Tìm số thóc kho thứ nhất, số thóc kho thứ hai)
+ Bài toán thuộc dạng toán nào đã học? (Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai
số đó )
+ Tổng là bao nhiêu? Tỉ số là bao nhiêu?
+ Với dạng này ta có thể tóm tắt như thế nào? Đã tóm tắt được ngay chưa? vìsao?
+ Sau đó GV cho HS tóm tắt bài toán
+ 2-3 HS dựa vào tóm tắt nêu lại đầu bài toán theo ý hiểu của em?
Ví dụ 2: Bài số 2- trang 170 SGK toán 5
Một mảnh đất hình chữ nhật có chu vi 120 m Chiều dài hơn chiều rộng 10 m.Tính diện tích mảnh đất đó
*Giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích đề toán như sau:
+ 2-3 HS đọc đề bài
Trang 10+ Bài toán cho ta biết gì? ( chu vi hình chữ nhật là 120 m, chiều dài hơn chiềurộng 10 m))
+ Bài toán hỏi gì? ( Tính diện tích hình chữ nhật)
+ Bài toán thuộc dạng toán nào đã học? (Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai
số đó.)
+ Với dạng này ta có thể tóm tắt như thế nào? Đã tóm tắt được ngay chưa? vìsao?
+ Sau đó GV cho HS tóm tắt bài toán
+ 2-3 HS dựa vào tóm tắt nêu lại đầu bài toán theo ý hiểu của em
3.2 2-Hướng dẫn học sinh lập kế hoạch giải (phân tích)
Bước tìm dữ liệu gắn liền với việc phân tích các dữ liệu và câu hỏi nhằm xáclập mối quan hệ giữa chúng với phép tính, nhớ lại các công thức lập kế hoạch chophù hợp, có thể đi từ dữ kiện đến câu hỏi hoặc đi từ câu hỏi đến dữ kiện (Dùngphương pháp gợi mở so sánh)
Ví dụ 1: Bài toán số 3- trang 176 SGK toán 4
Hai kho chứa 1350 tấn thóc.Tìm số thóc của mỗi kho, biết rằng số thóc của khothứ nhất bằng 4
5 số thóc của kho thứ hai
*Giáo viên hướng dẫn học sinh giải đề toán như sau:
+ 2-3 HS đọc lại đề bài ra dựa vào tóm tắt
+ Đọc xong bài toán trong đầu các em suy nghĩ muốn giải bài này thì ta phải sửdụng những kiến thức nào đã học? Bài toán đã cho thuộc dạng toán gì?(Tìm hai sốkhi biết tổng và tỉ số của hai số đó)
+ Muốn tìm số thóc của từng kho ta cần biết gì? (Tổng số thóc của hai kho và tỉ
số thóc của hai kho)
+ Tổng và tỉ số đã biết rõ chưa có cần phải tìm không? (Tổng: 1350 tấn thóc, tỉ số
là 4
5)
+ Hãy nêu các bước tổng quát khi giải bài toán “ Tìm hai số khi biết tổng và tỉ sốcủa hai số đó”
+ Khi đã tìm được hai số ta đã thực hiện xong bài toán chưa?
Ví dụ 2: Bài số 2- trang 170 SGK toán 5
Trang 11Một mảnh đất hình chữ nhật có chu vi 120 m Chiều dài hơn chiều rộng 10 m.Tính diện tích mảnh đất đó.
*Giáo viên hướng dẫn học sinh giải đề toán như sau:
+ 2-3 HS đọc lại đề bài ra dựa vào tóm tắt
+ Đọc xong bài toán trong đầu các em suy nghĩ muốn giải bài này thì ta phải sửdụng những kiến thức nào đã học?
+ Muốn tính được diện tích mảnh đất đó thì ta cần phải biết gì? (chiều dài, chiềurộng của mảnh đất)
+ Tìm chiều dài, chiều rộng của mảnh đất thì dựa vào yếu tố nào? (Tìm tổng củachiều dài và chiều rộng- chính là nửa chu vi của mảnh đất)
+ Khi biết được tổng của chiều dài và chiều rộng mảnh đất thì bài toán trở vềdạng toán điển hình nào? (Tìm hai số khi biết tổng và hiệu hai số đó)
+ Hãy nêu các bước tổng quát khi giải bài toán “ Tìm hai số khi biết tổng và hiệucủa hai số đó”
Ví dụ 3: Bài số 2- trang 21 SGK toán 5
Một gia đình có gồm ba người (bố, mẹ và một con) Bình quân thu nhập hàngtháng là 800000 đồng mỗi người Nếu gia đình có thêm một con nữa mà tổng thunhập của gia đình không thay đổi thì bình quân thu nhập hàng tháng của mỗi người
bị giảm đi bao nhiêu tiền?
a Xuất phát từ câu hỏi của bài toán đến dữ kiện:
+ Bài toán hỏi gì? (Nếu gia đình có thêm một con nữa mà tổng thu nhập của giađình không thay đổi thì bình quân thu nhập hàng tháng của mỗi người bị giảm đibao nhiêu tiền?)
+ Muốn giải được bài toán ta cần tìm số tiền giảm đi, ta đã tìm được ngay chưa? (Chưa- vì chưa biết số tiền bình quân của gia đình đó khi có thêm một con)
+ Vậy muốn giải được bài toán ta phải làm gì?
* Đầu tiên ta phải tìm gì? (Tổng số tiền thu nhập của gia đình đó)
* Tiếp theo ta phải tìm gì? (Tìm tổng số người của gia đình đó)
* Khi đã tìm được tổng số tiền thu nhập của gia đình đó, tìm được tổng số ngườicủa gia đình đó ta sẽ tìm được gì? (Tìm được số tiền bình quân của mỗi người tronggia đình khi thêm một con )
* Đến đây ta đã giải được bài toán chưa, bằng cách nào?
b Xuất phát từ dữ kiện đến câu hỏi của bài toán:
Trang 12+ Gia đình có 3 người, thu nhập bình quân 800000 đồng trên một người/ thángqua dữ kiện này có thể cho ta tìm được gì? ( Biết được tổng thu nhập của gia đìnhđó)
+ Khi gia đình đó có thêm một người nhưng tổng thu nhập vẫn không thay đổi,qua dữ kiện này có thể cho ta tìm được gì? (Tìm được thu nhập bình quân của mỗingười khi gia đình đó có thêm một con)
+ Khi đã biết gia đình đó có 3 người và bình quân thu nhập mỗi người là 800000đồng một tháng, tìm được thu nhập bình quân của mỗi người khi đã có thêm mộtcon ta có thể biết được điều gì?(Tìm được số tiền thu nhập bình quân của mỗingười khi gia đình đó có thêm một con bị giảm đi bao nhiêu?)
+ Vậy bài toán đã giải được chưa? (Đã giải được)
Giáo viên cần định hướng cho học sinh khi tìm cách giải các bài toán trước hếtđọc kỹ đầu bài sau đó xem xét bài toán này thuộc dạng toán điển hình nào hoặc bàitoán này tương tự với bài toán nào mà mình đã biết cách giải
Ví dụ 4: Tìm một số có 2 chữ số biết rằng tổng của các chữ số và hiệu của chúng
đều bằng 5
Khi giải bài toán, nếu qua phân tích 3 điều kiện của bài toán ( Số có hai chữ số,tổng của chúng bằng 5 và hiệu của chúng cũng bằng 5) các em dẫn tới những bàitoán mà các em đã nhiều lần giải ở lớp 1, 2 (Về số 0, chẳng hạn: 2 + 0 = ?; 2– 0 = ?thì các em có thể nêu giả định là 2 chữ số là 5 và 0 Sau đó sử dụng điều kiện thứnhất để loại bỏ trường hợp chữ số 0 đứng ở hàng chục, các em tìm ra đáp số là 50.Giáo viên cần hướng dẫn các em biết chuyển đổi các đơn vị về cùng một đơn vị(Như đơn vị đo độ dài, diện tích, thể tích), giúp các em củng cố về đo lường và mốiquan hệ giữa các đơn vị đo, nhằm giúp các em ghi đúng danh số ở mỗi phép tínhcủa bài toán
Ví dụ 5: Bài toán 4- trang 30 SGK toán 5:
Diện tích của một trường đại học là 12ha Toà nhà chính được xây trên diện tíchbằng 1
40 diện tích của trường Hỏi diện tích mảnh đất dùng để xây toà nhà đó làbao nhiêu mét vuông
Như vậy với bài toán này cần hướng dẫn học sinh lập kế hoạch như sau:
Trang 13+ Muốn biết diện tích xây toà nhà này là bao nhiêu mét vuông ta cần biết gì? (Biếtdiện tích của trường đại học và tỉ lệ diện tích đất dùng để xây toà nhà)
+ Em hiểu câu diện tích dùng để xây toà nhà chính bằng 1
40 diện tích của trường cónghĩa như thế nào? (Diện tích của nhà trường được chia làm 40 phần bằng nhau thìtoà nhà chính chiếm 1 phần)
+ Để giải bài toán này thì các em dựa vào dạng toán nào đã học? (Tìm một phầnmấy của một số)
+ Muốn tìm một phần mấy của một số ta làm như thế nào? (Lấy số đó nhân với sốphần)
+ Ở bài này đã tìm được diện tích toà nhà ngay chưa? Vì sao? (Chưa vì đề bài hỏidiện tích toà nhà chính đơn vị là bao nhiêu mét vuông mà bài ra đơn vị là ha do vậychưa cùng đơn vị đo diện tích)
+ Vậy ta cần phải làm gì? (Đổi đơn vị đo diện tích từ ha thành đơn vị mét vuông)+ Như vậy ta đã thực hiện được yêu cầu của bài tập chưa?
- Giáo viên hướng dẫn học sinh cách biến đổi bài toán: Trong sách giáo khoa bêncạch những bài toán cho học sinh trung bình còn có một số bài toán mà các dữkiện, điều kiện thường nhiều hơn, phức tạp hơn, nhiều khi không đưa ra trực tiếphoặc tường minh Vì vậy giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách biến đổi bài toán
để tìm kế hoạch giải
Ví dụ 6: Bài 4- trang 177 SGK Toán 4:
Một thửa ruộng hình chữ nhật có chiều dài 120m, chiều rộng bắng 32 chiều dài.Người ta cấy lúa ở đó, tính ra cứ 100m2 thu hoạch được 50 kg thóc Hỏi đã thuhoạch được ở thửa ruộng đó bao nhiêu tạ thóc?
* Để giải bài toán này học sinh phải biết vận dụng tổng hợp các kiến thức sau:
+ Cách giải bài toán hợp
+ Cách tính diện tích
+ Tính sản lượng thóc thu được trên thửa ruộng
* Giáo viên hướng dẫn cho học sinh suy nghĩ để phân tích bài toán như sau:
- Bài toán hỏi gì? ( sản lượng thóc)
- Muốn tính sản lượng thóc ta làm thế nào? ( lấy diện tích thửa ruộng nhân vớinăng suất)
Trang 14- Năng suất biết chưa? ( biết rồi, 50kg thóc trên 100m2)
- Diện tích biết chưa? ( chưa biết)
- Muốn tính diện tích thửa ruộng hình chữ nhật ta làm thế nào? ( lấy số đo chiềudài nhân với số đo chiều rộng cùng đơn vị đo)
- Chiều dài biết chưa? ( biết rồi, 120m)
- Chiều rộng biết chưa? ( chưa biết)
- Muốn tìm chiều rộng thửa ruộng ta làm thế nào? ( bài toán tìm phân số của một
số Tức là lấy chiều dài nhân với
- Tính chiều rộng thửa ruộng
- Tính diện tích thửa ruộng
- Tính sản lượng thóc thu được trên thửa ruộng
Ví dụ 7: Bài 4- trang 46 SGK Toán 4:
Một xã có 5256 người Sau một năm số dân tăng thêm 79 người Sau một nămnữa số dân lại tăng thêm 71 người Hỏi:
a) Sau 2 năm số dân của xã đó tăng thêm bao nhiêu người?
b) Sau 2 năm số dân của xã đó có bao nhiêu người?
Ở bài này để học sinh dễ giải ta nên xây dựng thành hai bài toán đơn giản:
Bài toán 1: Sau một năm dân số xã tăng thêm 79 người, Sau một năm nữa dân số xãlại tăng thêm 71 người Vậy sau hai năm dân số xã tăng bao nhiêu?
Lúc này học sinh phải hiểu rằng: dân số tăng năm thứ nhất là 79 người, dân số tăngnăm thứ hai là 71 người vậy hai năm sẽ là bao nhiêu?
Bài toán 2: Sau khi tìm được kết quả bài một ta đem cộng với dân số của xã ta sẽtìm được tổng dân số của xã sau hai năm?
3.2.3- Thể hiện lời giải (Tổng hợp)
Bước này bao gồm thể hiện các phép tính đã nêu trong kế hoạch giải, trong bướcnày các em thể hiện chưa toán thiếu chính xác, nhiều em làm phép tính đúng songlời giải lại sai hoặc ghi danh số chưa chính xác Do vậy trong quá trình giải, tôihướng dẫn các em hiểu rõ bài toán, phân tích từ câu hỏi chính đến các dữ kiện khi
Trang 15trình bày lời giải và ngược lại nghĩa là câu hỏi cuối cùng là phép tính đầu của bàitoán Còn dạng phân tích từ dữ kiện đến câu hỏi chính thì trình bày lần lượt theo sựphân tích (Từ những dạng dữ kiện đến câu hỏi) Ngoài ra tôi còn yêu cầu các em sửdụng lời văn ngắn gọn, dễ hiểu tìm cái gì thì trả lời thẳng vào cái cần tìm không dàidòng, trình bày bài toán cân đối toán trên trang giấy, không lệch sang bên Cụ thểbài giải viết ở giữa trang giấy, lời giải viết lùi sang bên trái, phép tính viết dưới lờigiải lùi vào một chữ, danh số ghi trong ngoặc đơn còn đáp số ghi ở dưới và bênphải của bài toán Bài giải cần yêu cầu các em viết đúng sạch đẹp, tôi yêu cầu các
em viết đúng luật chính tả như tất cả các chữ cái đầu câu của mỗi dòng trả lời đềuphải viết hoa
Ví dụ 1: Bài 5- trang 175 SGK Toán 4:
Tìm hai số biết tổng của chúng bằng số lớn nhất có 3 chữ số và hiệu của hai số
Ví dụ 2: Bài 4 trang 148 Toán 4
Một hình chữ nhật có chu vi là 350 m, chiều rộng bằng 43 chiều dài.Tìm chiềudài, chiều rộng của hình chữ nhật đó?
Trong thực tế đã có học sinh trình bày bài giải như sau:
Bài giải Chiều dài