Vàcũng có rất nhiều nguyên nhân đẫn đến trình độ học vấn nhưng bài dưới đây chủyếu bàn về nguyên nhân nghèo đói dẫn đến trình độ học vấn thấp Có thể nói công tác xã hội là một quá trình
Trang 1PHỤ LỤC
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh toàn cầu hóa diễn ra nhanh chóng và xu thế mang tăngtrưởng kinh tế lấy tri thức làm động lực hiện nay Trình độ học vấn của conngười là vô cùng quan trọng nhưng ít ai có thể hiểu ra được điều này Đặc biệt
là những dân tộc vùng sâu vùng xa vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhữngngười nghèo không thể tiếp cận đến với dịch vụ học tập, họ chịu khó lao độnglàm việc nhưng vẫn nghèo và họ cũng không biết cách thoát nghèo thế nào Vàcũng có rất nhiều nguyên nhân đẫn đến trình độ học vấn nhưng bài dưới đây chủyếu bàn về nguyên nhân nghèo đói dẫn đến trình độ học vấn thấp
Có thể nói công tác xã hội là một quá trình tác động tới người đân làm họthay đổi hành vi theo hướng tích cực trong giai đoạn hiện nay, vấn đề nghèođói đang trở thành một vấn đề nóng bỏng, phân hóa giàu nghèo hết sức rõ rệt.Chính vì vậy cần có sự tác động từ bàn tay mầu nhiệm của nhân viên công tác
xã hội Và cũng như là có duyên nên tôi có dịp về xã Thạch Bình- ThạchThành- Thanh Hóa ở đây tỉ lệ nghèo đói và trình độ học vấn rất thấp gần như là
thấp nhất trong huyện nên tôi đã chọn chủ đề: “ Nghèo đói là một trong những nguyên nhân dẫn đến trình độ học vấn thấp tại xã Thạch Bình- Thạch Thành- Thanh Hóa”
Trang 3I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Các kiến thức liên quan tới nghèo đói
I.1. khái niệm
Nghèo: Là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thỏa mãn mộtphần những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơnmức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện Trong hoàn cảnhnghèo thì người nghèo và hộ nghèo cũng chỉ vẫn vật lộn với những mưu sinhhàng ngày và kinh tế vật chất, biểu hiện thực tế nhất đó là ở bữa ăn của họ Họkhông thể vươn tới các nhu cầu về văn hóa- tinh thần hoặc những nhu cầu nàyphải cắt giảm tới mức tối thiểu gần nhất, gần như không có Điều này đặc biệt
rõ ở nông thôn với hiện trạng trẻ em bỏ học, thất học, các hộ nông dân nghèokhông có khả năng để hưởng thụ văn hóa, chữa bệnh khi đau ốm, không đủhoặc không thể mua sắm thêm quần áo cho nhu cầu mặc, sữa chữa nhà cửa chonhu cầu ở… Nghèo là khái niệm chỉ tình trạng mà thu nhập thực tế của ngườidân chỉ dành hầu như toàn bộ cho nhu cầu ăn, thậm chí không đủ chỉ cho ăn,phần tích lũy hầu như không có
Đói: là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tốithiểu và thu nhập không đảm bảo nhu cầu và vật chất để duy trì sự sống hằngngày và không đủ sức để lao động, để tái sản xuất sức lao động Về mặt nănglượng nếu trong một ngày, con người chỉ thỏa mãn mức 1500calo/ ngày thì đó
là thiếu đói, dưới mức đó là đói gay gắt Đó là các hộ dân cư hàng năm thiếu ăn,đứt bữa từ 1 đến 3 tháng thường vay mượn cộng đồng và thiếu khả năng chi trả.Giá trị đồ dùng trong nhà không đáng kể, nhà ở dốt nát, con thất học, bình quânthu nhập dưới 13kg gạo/người/tháng (tương đương 45.000VND) (1998-2000) Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có những điều kiện vềcuộc sống như ăn, mặc, ở, vệ sinh, y tế, giáo dục, đi lại, quyền được tham giavào các quyết định của cộng đồng Nghèo đói thường được phản ánh dưới bakhía cạnh:
+ Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản tối thiểu của con người+ Mức sống thấp dưới mức trung bình của cộng đồng dân cư nơi cư trú
Trang 4+ Không được hưởng cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triểncộng đồng.
Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng vàthỏa mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu để duy trì cuộc sống như nhu cầu về
kỷ, Việt Nam cần phải giải quyết tình trạng nghèo cùng cực Cho đến năm
2009, theo chuẩn nghèo trên, cả nước Việt Nam hiện có khoảng 2 triệu hộnghèo, đạt tỷ lệ 11% dân số Tuy nhiên, trên diễn đàn Quốc hội Việt Nam, rấtnhiều đại biểu cho rằng tỷ lệ hộ nghèo giảm không phản ánh thực chất vì sốngười nghèo trong xã hội không giảm, thậm chí còn tăng do tác động của lạmphát (khoảng 40% kể từ khi ban hành chuẩn nghèo đến nay) và do là suy giảmkinh tế Chuẩn nghèo quốc gia của Việt Nam hiện nay là gồm những hộ có mứcthu nhập bình quân từ 200.000 đến 260.000 đồng/người/tháng Mặc dù vậy,nhiều hộ gia đình vừa thoát nghèo vẫn rất dễ rớt trở lại vào cảnh nghèo đói
Trang 5Trong thập kỷ tới đây nỗ lực của Việt Nam trong việc hội nhập với nền kinh tếtoàn cầu sẽ tạo ra nhiều cơ hội cho sự tăng trưởng, nhưng cũng đặt ra nhiềuthách thức đối với sự nghiệp giảm nghèo
Ở khu vực nông thôn tỷ lệ đói nghèo giảm chậm hơn thành thị nhưngtương đối ổn định từ 45,5% năm 1998 xuống 35,6% năm 2002 còn 27,5% năm
2004 Khu vực đồng bào dân tộc tốc độ giảm nghèo chậm và còn rất cao, từ75,2% xuống 69,3% Sự phân bổ hộ nghèo giữa các vùng, các miền là khôngđều Năm 2005 mặc dù tỷ lệ hộ nghèo trên toàn quốc giảm xuống chỉ còn 7%nhưng sự chênh lệch về số hộ nghèo giữa các vùng là rất lớn, cụ thể là tỷ lệ hộnghèo ở vùng Đông Nam Bộ là 1,7% trong khi số hộ nghèo ở vùng Tây Bắcchiếm đến 12% tổng số hộ nghèo trong cả nước Người dân chịu nhiều rủi rotrong cuộc sống, sản xuất mà chưa có các thiết chế phòng ngừa hữu hiệu, dễ táinghèo trở lại như thiên tai, dịch bệnh, sâu hại, tai nạn giao thông, tai nạn laođộng, thất nghiệp… Theo số liệu thống kê của Bộ Lao Động - Thương Binh và
Xã hội đến cuối năm 2006, cả nước có 61 huyện với số dân 2,4 triệu ngườithuộc 20 tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo trên 50%
1.3. Thực trạng các mô hình
Không đầu tư, hỗ trợ dàn trải, chương trình giảm nghèo bền vững và bảođảm an sinh xã hội đã triển khai có hiệu quả ở các xã có tỷ lệ hộ nghèo cao.Người nghèo được hỗ trợ vốn, đất sản xuất, kỹ thuật và xây dựng trên 110 môhình sản xuất, trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản… phù hợp với tình hình thực tếđịa phương Cán bộ khuyến nông, khuyến lâm luôn sát cánh cùng bà con dânbản để hướng dẫn kỹ thuật thâm canh, tăng vụ, phát triển kinh tế; chuyển giaocác loại giống lúa mới cho năng suất cao, giống ngô cho nhiều hạt đến từng hộgia đình Nhà nước cũng hỗ trợ 50% con giống và 100% phân bón, số còn lạivận động người dân góp công, góp của để cùng giảm nghèo
Điển hình như xã Hồng Thuỷ, Nhâm, Hồng Bắc và A Ngo (A Lưới) đãxây dựng mô hình trồng trên 10 ha chuối hàng hoá Xã A Đớt có mô hình trồngtrên 30 ha cây cao su Hồng Thái, Hồng Hạ xây dựng 15 ha phát triển kinh tếrừng Hồng Thượng, Hồng Trung, Đông Sơn đầu tư gần 30 ha thâm canh lúa
Trang 6nước Mô hình phát triển chăn nuôi lợn thịt, lợn nái, gà, cá rô phi được xâydựng ở các xã Hương Nguyên, Hồng Vân, Hồng Trung, Bắc Sơn…
có nhiều mô hình hay được xây dựng kế hoạch nhân rộng tại các xã, thịtrấn như mô hình “xây dựng cánh đồng cho thu nhập cao”; mô hình “trồng cỏchăn nuôi trâu, bò tại chuồng”; “trồng mướp đắng, bí đỏ, dưa leo”…
1.4. Giải pháp
Đẩy mạnh phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tê Đẩy mạnh pháttriển giáo dục đào tạo nâng cao dân trí Đẩy mạnh mục tiêu xóa đói giảm nghèo,phát triển văn hóa thông tin Giải pháp cơ sở hạ tầng Vận động nhân dân mangsản phẩm của mình trao đổi tại chợ Song song với đầu tư xây dựng cơ sở hạtầng, công tác tu bổ, bảo dưỡng cũng cần được coi trọng
Giải pháp giáo dục và đào tạo nghề Tăng mức độ sẵn có của giáo dụcthông qua chương trình xây dựng trường học Giảm chi phí đến trường cho mỗi
cá nhân các gia đình nghèo Nâng cấp chất lượng giáo dục Khuyến khích các tổchức cá nhân tình nguyện tham gia giúp đỡ người nghèo nâng cao trình độ Giải pháp vốn Ưu tiên hộ chính sách nằm trong diện hộ nghèo đói vaytrước Lãi suất cho vay đây chính là yếu tố mang nội dung kinh tế và tâm lý đốivới người đi vay, đặc biệt là người nghèo Lãi suất cho vay ưu đãi hiện nay là0.87% đối với NHNN&PTNT và 0.65% đối với NHTB&XH
Giải pháp công tác khuyến nông Cần nâng cao các dịch vụ khuyến nôngnhằm tạo điều kiện cho nông dân tiếp cận với thông tin và kỹ thuật sản xuất,tiếp cận thị trường Mở thêm các lớp tập huấn cho người dân, cần phát triểnHTXDV đối với từng thôn xóm
Giải pháp ở hộ gia đình Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Khaithác sử dụng hết các tiềm năng, đặc biệt là đất đai Nguồn lao động cần tham giacác lớp tập huấn khuyến nông, tự hoàn thiện, nâng cao trình độ của mình thôngqua các lớp học xóa mù chữ
Kiến nghị Đối với nhà nước Cần khẳng định một cách mạnh mẽ rằng, xóađói giảm nghèo không dừng lại ở việc thực hiện chính sách xã hội, không phảiviệc riêng của ngành lao động - xã hội hay một số ngành khác, mà là nhiệm vụchính trị, kinh tế, văn hóa, là nhiệm vụ chung của toàn Đảng, toàn dân Muốn
Trang 7thực hiện thành công việc xóa đói giảm nghèo, tất cả mọi cán bộ đảng, chínhquyền đều phải quan tâm cùng giải quyết, thực hiện các giải pháp một cáchđồng bộ và phải có sự tham gia của toàn thể cộng đồng Cần củng cố hoàn thiện
hệ thống tổ chức bộ máy làm công tác xóa đói giảm nghèo từ trung ương đến cơsở.Hoàn thiện các chính sách xã hội nông thôn, khuyến khích các tổ chức, cánhân trong nước và quốc tế phối hợp hành động xóa đói giảm nghèo
Đối với cơ quan địa phương Bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ làm côngtác xóa đói giảm nghèo Quản lý chặt chẽ các nguồn vốn xóa đói giảm nghèo.Củng cố Ban xoá đói giảm nghèo của xã, cử cán bộ chủ chốt trực tiếp làmtrưởng ban, có các đoàn thể tham gia Đánh giá đúng mức thu nhập và đời sốngcủa các hộ gia đình trong xã, thôn Xác định chính xác các hộ đói, nghèo ở địaphương Xác định rõ số lượng hộ đói, hộ nghèo thiếu vốn, thiếu trí tuệ, thiếunhân lực để xây dựng kế hoạch và có biện pháp hỗ trợ cụ thể Dành một lượngvốn cho diện nghèo vay qua chương trình đầu tư vật nuôi (trâu, bò) có kỹ thuậtđơn giản và thu lại vốn bằng sản phẩm để tiếp tục đầu tư mở rộng Kiện toàncác tổ chức khuyến nông, xây dựng các dự án chuyển giao kỹ thuật trồng trọt,chăn nuôi cho các hộ nghèo
Đối với từng hộ gia đình Phải nhận thức đúng đắn xóa đói giảm nghèokhông chỉ là trách nhiệm của cộng đồng mà phải có sự nỗ lực tự giác vươn lêncủa chính bản thân hộ nghèo
2. Các kiến thức liên quan đến nội dung
2.1 Khái niệm
- học vấn:
Học vấn là nguồn kiến thức, kinh nghiệm, là những kỹ năng được tích lũyqua một quá trình học tập và rèn luyện Nguồn kiến thức quý giá ấy có thể đượctiếp thu và học tập từ trường lớp, từ bạn bè, từ sách báo hoặc cũng có thể từnhững điều nhỏ nhặt nhất trong cuộc sống xung quanh ta, có thể qua một trảinghiệm nào đó mà chúng ta tích lũy cho mình những kinh nghiệm quý báu, mộtvốn sống phong phú Hiểu theo một cách khái quát hơn, học vấn là trình độ hiểubiết của mỗi con người
- Trình độ học vấn
Trang 8Theo Tổ chức Văn hoá, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc(UNESCO), trình độ học vấn đã đạt được của một người được định nghĩa là lớphọc cao nhất đã hoàn tất trong hệ thống giáo dục quốc dân mà người đó đã theohọc.
Theo Luật Giáo dục hiện hành của nước ta, Hệ thống giáo dục quốc dânbao gồm Hệ thống giáo dục chính quy và Hệ thống giáo dục thường xuyên, bắtđầu từ bậc giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, dạy nghề cho đến các bậcgiáo dục chuyên nghiệp
2.2. Thực trạng
Theo kết quả của cuộc tổng điều tra dân số năm 1989 và điều tra nhânkhẩu học giữa kì năm 1994 thì tỉ lệ người từ 10 tuổi trở lên đã và đang đi họckhoảng 90% Tuy nhiên tỉ lệ người được đi học lại không tăng mấy trong nhữngnăm 1989-1994 Cụ thể là từ năm 1989 tỉ lệ người đã từng đi học là 87,2%, năm
1994 là 88,2%
Sự chênh lệch về tỉ lệ được đi học của nữ so với nam còn rất lớn theonguồn số liệu ở trên năm 1993 số mù chữ là nữ chiếm trên 70% (1.250.000người), tỉ lệ nữ đã từng được đi học là 85,3%, con số này không phản ánh hếtđược tình trạng dân trí rất thấp ở nông thôn hiện nay đặc biết là nữ, năm 1993
có 43,8% phụ nữ ở nông thôn chưa học hết cấp I
Đời sống kinh tế khó khăn, nhà nghèo việc học hành không được quantâm nữa mà thay vào đó là những nhu cầu về điều kiện đảm bảo cuộc sống vậtchất ngay trước mắt họ, buộc họ phải tìm kiếm việc làm Thực tế cho rằng nếunhư các bậc cha mẹ khi buộc cho con em mình thôi học vì không có khả năngchi phí, thì họ sẽ cho con gái thôi học trước nhiều lí do khiến các bậc cha mẹkhông đầu tư cho con gái học tập vì họ không nhận thấy tầm qua trọng của họctập đối với con gái họ cho rằng con gái cả đời chỉ làm việc nhà và trong nomcon cái Đây là một trong số những sai lầm trầm trọng và nó khiến cho việcnghèo đói càng nghèo đói hơn, trình độ học vấn đã thấp còn thấp hơn
Tại khu vực thành thị hơn một nửa dân số từ 10 tuổi trở lên có trình độ cấp
II trở lên trong khi đó ở khu vực nông thôn có tới 70% dân số từ 10 tuổi trở lên
có trình độ học vấn thấp hơn mức này Với dân số tập chung tới 80% là ở khu
Trang 9vực nông thôn thì đây quả là một vấn đề bức thiết và cần quan tâm sâu sắc ởthành thị tỉ lệ trẻ em được đi học luôn cao hơn ở nông thôn, ở nông thôn sốngười chưa đi học là 13,5% còn ở thành thị là 6,5% ( năm 1994) Số học sinh tốtnghiệp cấp II trể lên ở nông thôn luôn thấp hơn ở thành thị.
Giữa các vùng có sự khác biệt đáng kể, các vùng có đô thị lớn tie lệ ngườitốt nghiệp từ cấp III trở lên thường cao hơn ở vùng khác như: Đồng bằng Bắc
Bộ, Bắc Trung Bộ, Đông Nam Bộ, các tỉ lệ tương ứng là: 15%; 11,9%; 12,7%.Đây cũng là những vùng có truyền thống hiếu học, trong khi đó ở các vùng nhưTây Nguyên tỉ lệ này thấp hơn nhiều chỉ có 8,1%
Theo số liệu thống kê năm 2001 thì Việt Nam có tới hơn 70% dân số trong
độ tuổi mù chữ
Theo báo lao động tỷ lệ dân số 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết năm 2014đạt 94,7%, tỷ lệ này tăng 4,2% giữa khu vực thành thị và nông thôn (97,5% ởthành thị và 93,3% ở nông thôn) Đồng bằng sông Hồng cao nhất ở mức 98,1%;trung du miền núi phía Bắc thấp nhất, mức 89,0% Tỷ trọng dân số từ 5 tuổi trởlên chưa bao giờ đi học chiếm 4,4% Trên phạm vi cả nước, tỷ trọng dân số 5tuổi trở lên chưa học xong tiểu học vẫn ở mức 21,5% và chủ yếu tập trung ở cácvùng núi, vùng sâu vùng xa, dân tộc thiểu số Tỷ lệ này ở các vùng cũng rấtkhác nhau: Đồng bằng sông Hồng 14,3%; đồng bằng sông Cửu Long 32,6%.Chênh lệch thành thị và nông thôn cũng khá rõ ràng với tỷ lệ tương ứng là17,0% và 23,9%
Trình độ học vấn cao nhất đạt được cũng có sự chuyển dịch, hiện tỷ trọngdân số đạt được trình độ cao nhất là tiểu học giảm so với năm 2009 là 1,4%.Tuy nhiên, tỷ lệ đạt được ở các cấp học cao hơn đã tăng lên: THPT đạt 26,5%năm 2014, cao hơn so với 20,8% năm 2009
2.3. Nguyên nhân
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến trình độ học vấn thấp:
Đầu tiên Việt Nam là một nước lạc hậu từ bao đời nay, lại trải qua hai cuộcchiến tranh lớn dành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước chống thực dân pháp
vầ đế quốc Mỹ Với xuất phát thấp nên việc xây dựn và phát triển đất nước còngặp nhiều khó khăn Bên cạnh đó việc đầu tư cho giáo dục còn quá thấp và chưa
Trang 10được chú trọng Do đó tỉ lệ không biết chữ còn nhiều, tỉ lệ tốt nghiệp cấp I, cấp
II, cấp III còn thấp
Thứ hai sự phân hóa giàu nghèo giữa các vùng miền nhiều vùng miền khókhăn tronng việc đi lại, kinh tế kiếm phát triển, thì tỉ lệ người không biết chữcao hơn những nơi phát triển, có điều kiện về kinh tế, cơ sở vật chất
Thứ ba do nhiều gia đình điều kiện kinh tế khó khăn, bố mẹ không đủ điềukiện cho con đến trường buộc các em phải bỏ học Một phần vì bố mẹ phải lokiếm kế sinh nhai, không có thời gian quan tâm chăm sóc, nhắc nhở các em họchành dẫn đến tình trạng lười học, không muốn đến lớp Có trường hợp gia đìnhkhó khăn, các em phải bỏ học để ở nhà phụ việc, để phụ bố mẹ trang trải cuộcsống dẫn đến tình trạng học vấn thấp
Thứ bốn do bản thân họ không có ý chí vươn lên trong học tập, trong cuộcsống, ngại khó…Nhận thức của họ còn hạn chế
Thứ năm do hệ thống giáo dục đào tạo của nước ta Từ trung ương đến địaphương, các tỉnh, huyện, các trường họcđều lộ ra những yếu ké và mục nát.Bệnh thành tích và tiêu cực là hai căn bệnh đã ăn sâu vào nền giáo dục nước ta.Đặc biết là từ bậc mầm non, tiểu học Đây là hai bậc quan trọng đánh dấu mốc
sự trào đời và trưởng thành, tin tưởng cũng như có hứng thú trong việc học.Nhưng lại chưa được nhà nước quan tâm chú trọng
1. Giới thiệu sơ bộ về địa điểm, cơ sở lựa chọn khảo sát
Thạch Bình là một xã thuộc huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa, ViệtNam
Xã Thạch Bình có diện tích 15,07 km², dân số năm 2004 là 6804 người,mật độ dân số đạt 451 người/km² Ở đây, người Mường chiếm tỷ lệ hơn 95%
Đa số làm nghề chăn nuôi, trồng trọt
Phía bắc giáp xã Thạch Sơn, phía nam giáp Cẩm Thủy, Cẩm Long; phíađông giáp Thạch Đồng; phía tây giáp Thành Trực, Thành Tân
Đường đi chưa được bê tông hóa mà nó là những đoạn đường bằng đất, đá,sỏi ngày nắng thì không sao nhưng mỗi khi mưa đến thì đường lầy lộn, rất khó
đi
Trang 11Các nhà cách nhau hàng cây số và còn nhiều ngôi nhà dựng tạm bợ, nhàmái tranh, nhà cũng không có phương tiện đi lại mà chủ yếu vẫn đi bộ Chợcách xa khu dân cư sinh sống, người dân thường đi chợ là mua cho cả ngàyhoặc mua cho cả tuần luôn Mỗi khi lên tới một nhà dân thì phải đi qua 1 condốc khá cao Ở tại quê còn mỗi phụ nữ,trẻ em và người cao tuổi, còn thanh niên,trung niên đã đi xa làm ăn Tôi về đó từ 1 năm trước trong chuyến đi bác ái củanhóm sinh viên Lần gần đây là do cha xứ ở đó mời về chơi nên tôi đã tìm hiểuđược một số thông tin liên quan đến trình độ học vấn và nó xuất phát từ nguyênnhân nghèo.