1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN Rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 5.

20 727 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 182,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SKKN Rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 5.SKKN Rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 5.SKKN Rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 5.SKKN Rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 5.SKKN Rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 5.SKKN Rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 5.SKKN Rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 5.SKKN Rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 5.SKKN Rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 5.SKKN Rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 5.SKKN Rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 5.SKKN Rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 5.SKKN Rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 5.

Trang 1

A MỞ ĐẦU

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Tập làm văn có vai trò quan trọng trong việc trau dồi ngôn ngữ cho học sinh Làm công cụ tư duy, giao tiếp, học tập và trong cuộc sống Góp phần làm giàu cho học sinh về cách nhìn nhận thế giới xung quanh các em, giúp các em phát triển ngôn ngữ, phát triển tư duy, năng lực liên tưởng và sáng tạo Qua đó bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mỹ và nhân cách cho các em

Tập làm văn là môn học có yêu cầu tổng hợp, mức độ cao nhất trong quá trình học của học sinh Nó mang tính thực hành toàn diện, đòi hỏi học sinh phải

có kiến thức tổng hợp và sáng tạo Môn Tập làm văn là tổng hợp kiến thức của các phân môn Tập đọc, Luyện từ và câu, Chính tả, Kể chuyện trong môn Tiếng Việt Do đó môn Tập làm văn được xem là môn học khó đối với học sinh Tiểu học nói chung và đặc biệt rất khó khăn đối với học sinh dân tộc thiểu số nói riêng

Trên thực tế, dạy học Tập làm văn ở trường Tiểu học Tình Thương là môn học rất khó đối với các em và giáo viên Thông thường, rèn cho các em các kĩ năng đọc thông, viết đúng chính tả đã là một điều vất vả đối với giáo viên ở đây Khả năng tiếp nhận kiến thức của các em quá yếu so với mặt bằng chung, đặc biệt là việc dạy học môn Tiếng Việt Học sinh phần lớn là học sinh dân tộc thiểu

số tại chỗ chiếm 98% (gồm dân tộc Ê – đê, dân tộc Mnông) Trong phân môn Tập làm văn phần lớn các em chưa biết viết, vốn từ để diễn đạt hết sức hạn chế Hiện nay có rất nhiều loại sách “Những bài văn mẫu” dùng cho học sinh tham khảo Song những bài văn mẫu đôi khi không sát với thực tế, từ ngữ sử dụng quá

xa vời với các em Thế nhưng, vì vấp phải nhiều khó khăn trong dạy học của phân môn này, đôi lúc giáo viên quá dựa dẫm, ỉ lại vào những cuốn sách văn mẫu, cho học sinh học thuộc các bài văn mẫu, sao chép y nguyên bài văn mẫu vào bài làm của mình Vô tình chúng ta đã đánh mất rèn kĩ năng diễn đạt cho các em, làm cho các em lười tư duy, không có tính sáng tạo Cách cảm, cách nghĩ của các em không phong phú mà còn đi theo lối mòn khuôn sáo, tẻ nhạt Đôi khi có những câu văn trong bài văn mẫu, các em cứ chép nhưng không hiểu nội dung

Kế thừa từ những kinh nghiệm dạy học sinh dân tộc thiểu số tại chỗ trong những năm công tác và trước thực trạng trên, bản thân tôi luôn suy nghĩ phải làm gì để khắc phục những hạn chế trong việc dạy Tập làm văn, góp phần nâng

cao chất lượng dạy học trong nhà trường, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: “Rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 5.”

II MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ ĐỀ TÀI:

Trang 2

1 Mục tiêu:

Tìm ra biện pháp, giải pháp phù hợp trong quá trình dạy học nhằm giúp học sinh dân tộc thiểu số lớp 5 có kĩ năng:

+ Có thói quen quan sát, biết phát hiện những điều mới mẻ, thú vị về thế giới xung quanh

+ Biết chọn lọc từ ngữ (đặc biệt là từ ngữ giàu hình ảnh, có biểu cảm), trình bày suy nghĩ của mình một cách mạch lạc (sống động), thành những câu văn sáng rõ về nội dung, có tình cảm chân thực

+ Bồi dưỡng cho các em tình yêu quê hương đất nước, con người; bồi dưỡng vốn sống, vốn ngôn ngữ và khả năng giao tiếp cho các em

2 Nhiệm vụ:

Tìm hiểu thực trạng và đưa ra những giải pháp, biện pháp thiết thực để rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 5 trường Tiểu học Tình Thương nói riêng và học sinh lớp 5 dân tộc thiểu ở các trường Tiểu học vùng khó khăn ở Tây Nguyên nói chung

III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

- Văn miêu tả trong chương trình lớp 5

- SGK Tiếng Việt lớp 5

- Một số bài văn miêu tả lớp 5 của học sinh trường Tình Thương

IV GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI:

Nghiên cứu và đưa ra các biện pháp, giải pháp dạy văn miêu tả cho học sinh thiểu số vùng khó khăn lớp 5 trường Tiểu học Tình Thương

V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp nhận định, khái quát hoá

2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp điều tra, khảo sát

- Phương pháp làm mẫu

- Phương pháp nghiên cứu, phân tích các sản phẩm của học sinh

- Phương pháp nêu gương

3 Nhóm phương pháp thống kê toán học:

- Phương phápphân tích số liệu

- Phương pháp thống kê

-Phương pháp tổng hợp, đánh giá

Trang 3

B NỘI DUNG

I CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐỂ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI :

- Tiếng Việt ngôn ngữ chính thức trong nhà trường (Điều 5, chương 1, Luật Giáo dục)

- Giáo dục Tiểu học được thực hiện bằng tiếng Việt (Điều 4 chương I Luật Phổ cập Giáo dục Tiểu học)

Tiếng Việt là ngôn ngữ phổ thông trong giao tiếp Dạy tiếng Việt nhằm bảo tồn, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, giữ gìn nền văn hóa cao đẹp của đất nước và con người Việt Nam Thứ trưởng Bộ GD& ĐT Nguyễn Vinh Hiển

đã khẳng định: “Tiếng Việt là khâu quan trọng nhất trong quyết định giáo dục học sinh dân tộc thiểu số Do vậy, nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số cấp Tiểu học là một nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số.”

Văn miêu tả giúp học sinh phát triển khả năng ngôn ngữ nhiều nhất Chính ngôn ngữ mới là công cụ vàng, vạn năng giúp thành công trong các hoạt động và giao tiếp và đời sống Dạy tốt văn miêu tả giúp các em phát triển tư duy, năng lực liên tưởng, sáng tạo Các em bộc lộ được những cảm nhận về cái hay, cái đẹp, bồi dưỡng cho các em về đạo đức và thẩm mĩ, tình yêu với sự vật, quê hương, đất nước Do đó, chúng ta cần phải nâng cao chất lượng viết văn miêu tả cho các em ở Tiểu học và làm tiền đề cho các em học tốt môn văn ở cấp học trên Chính vì lẽ đó mà điểm phân môn Tập làm văn lớp 5, theo thông tư 22 mới ban hành về đánh giá học sinh,chiếm 80% số điểm trong bài kiểm tra viết

II THỰC TRẠNG:

Phần lớn học sinh là người dân tộc thiểu số Học sinh có thói quen sử dụng tiếng mẹ đẻ, ít có thói quen sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp Mặt bằng kinh tế, trình độ dân trí của phụ huynh ở đây còn thấp, cho nên khả năng phát triển ngôn ngữ của các em còn kém do ảnh hưởng lối sống, sinh hoạt, giao tiếp của gia đình, các em ít có dịp đi đây đi đó, tiếp xúc với thế giới xung quanh, có

em chưa một lần được ra khỏi thôn buôn Tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai của các

em, vốn tiếng Việt của các em hết sức hạn chế.Học sinh hay nghỉ học, nhiều học sinh thuộc gia đình khó khăn, con đông, các em phải ở nhà trông em, đi làm rẫy Phụ huynh chưa ý thức được tầm quan trọng của việc học tập của con em mình và hầu như không quan tâm đến việc học của con em Các em chưa có động cơ học tập Vốn từ của các em quá ít ỏi, trong giao tiếp các em chỉ dùng được những từ thông thường Khả năng hiểu từ của các em còn nhiều hạn chế Khả năng sử dụng từ và diễn đạt của các em gặp rất nhiều khó khăn, hay sử

Trang 4

dụng sai từ Đa số các em không biết diễn đạt điều mình muốn viết vì nghèo vốn

từ

Đứng trước thực trạng trên, giáo viên gặp rất khó khăn trong việc dạy văn miêu tả Một số giáo viên ngại khai thác, hướng dẫn kèm cặp học sinh mà lạm dụng phương pháp làm mẫu, dẫn đến HS nhìn bài mẫu chép hoặc nhìn bài bạn chép Đôi khi giáo viên dạy không đúng trình tự, chưa liên kết các tiết dạy TLV

để đi đến hoàn chỉnh một bài văn theo cấu trúc chương trình biên soạn của SGK hoặc quá dựa dẫm vào SGK, quá cứng nhắc dựa vào gợi ý trong SGK, chưa dám thoát ly SGK Một vài giáo viên chưa chú ý đến dạy tích hợp Tập làm văn vào các phân môn Tập đọc, Luyện từ và câu, Kể chuyện, hay bồi dưỡng kĩ năng viết văn, làm giàu vốn từ, sử dụng vốn từ, cảm thụ thơ văn, trong các tiết học này để hỗ trợ dạy tốt phân môn Tập làm văn Việc sử dụng đồ dụng dạy học của giáo viên đôi khi chưa khai thác triệt để kênh hình giúp HS quan sát tìm ý hoặc

bỏ qua bước quan sát tìm ý hay lập dàn ý vì nghĩ học sinh không làm được hoặc mất thời gian nên giáo viên hay đốt cháy giai đoạn Do đó tỉ lệ học sinh biết viết văn miêu tả rất hạn chế

III NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC CỦA GIẢI PHÁP:

1 Mục tiêu: Giúp học sinh

+ Có thói quen quan sát, biết phát hiện những điều mới mẻ, thú vị về thế giới xung quanh

+ Biết chọn lọc từ ngữ (đặc biệt là từ ngữ có biểu cảm), trình bày suy nghĩ của mình một cách mạch lạc (sống động), thành những câu văn sáng rõ về nội dung, có tình cảm chân thực

+ Bồi dưỡng tình yêu quê hương đất nước, con người; bồi dưỡng vốn sống, vốn ngôn ngữ và khả năng giao tiếp cho các em

2 Nội dung và cách thức thực hiện:

Chất lượng học sinh là một vấn đề được tất cả giáo viên quan tâm hàng đầu Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy và làm công tác chủ nhiệm Tôi rất quan tâm và lo lắng về chất lượng học sinh của lớp mình phụ trách Xác định rõ Tập làm văn là môn học hết sức quan trọng nhưng lại rất khó khăn đối với các

em Điều đó làm tôi suy nghĩ, mày mò tìm các giải pháp để cải thiện chất lượng

học phân môn Tập làm văn, đặc biệt là văn miêu tả cho học sinh Với một số

kinh nghiệm của tôi trong những năm dạy học, tôi đã tìm ra những giải pháp, biện pháp sau:

2.1 Bồi dưỡng khả năng cảm thụ văn, thơ của giáo viên:

Để học sinh biết viết một bài văn miêu tả hay thì trước hết người giáo viên phải có khả năng cảm thụ, viết văn miêu tả có cảm xúc, giàu trí liên tưởng,

Trang 5

khả năng biểu đạt, Có như vậy mới giúp học sinh cảm thụ và viết ra được những câu văn hay, giàu hình ảnh và cảm xúc Giáo viên phải thổi được hồn của các sự vật vào trong tâm hồn của các em và truyền cảm hứng cho các em viết văn qua các tiết dạy Giáo viên phải làm chủ được kiến thức, ngôn từ để diễn đạt trong mọi tình huống ở trong các tiết Tập đọc, và trong các bài văn của các em viết ra, từ đó mới định hướng, hướng dẫn các em cách tìm ý, dùng từ, đặt câu hay nhận xét, hướng dẫn các em chỉnh sửa trong các tiết trả bài Để thực hiện được điều đó, giáo viên phải thường xuyên tự bồi dưỡng, tìm tòi, sưu tầm những bài văn hay, tìm hiểu cách viết văn ở các bài văn hay, đọc sách báo nhiều,

2.2 Hướng dẫn học sinh nắm cấu tạo từng dạng văn miêu tả:

Với mỗi dạng văn miêu tả, để giúp học sinh biết cách viết, điều kiện cần đầu tiên là học sinh phải biết được cấu tạo của từng dạng văn miêu tả Bởi văn

tả đồ vật, khác với văn tả con vật, cây cối, tả cảnh, Thông thường trước khi vào mỗi dạng văn miêu tả thì theo chương trình trong SGK sẽ có một bài tập đọc hay bài chính tả có nội dung viết về văn miêu tả ở dạng này, đây là ngụ ý của SGK, giáo viên cần linh động tích hợp giới thiệu cho học sinh làm quen dần, sẽ giúp các em bớt bỡ ngỡ khi vào tìm hiểu dạng văn này và giúp các em học bài tốt

hơn Ví dụ: Trước khi vào bài “Cấu tạo bài văn tả cảnh”, đầu tuần GSK đã giới

thiệu bài: “Quang cảnh làng mạc ngày mùa”,

Để học sinh viết được bài văn miêu tả đảm bảo về cấu trúc và nội dung, giáo viên cần hình thành và giúp học sinh nắm được cấu tạo của từng dạng văn miêu tả Khi dạy từng dạng cấu tạo của bài văn miêu tả của mỗi bài, ở phần nhận xét đều có một bài văn tả tương ứng Giáo viên cần cho học sình tìm hiểu kĩ và đưa ra nhận xét về cấu tạo của từng dạng văn Sau đó cho học sinh nêu cấu tạo của dạng văn miêu tả Nội dung này đối với học dân tộc thiểu số phải được nhắc

đi nhắc lại nhiều lần và được củng cố liên tục ở các tiết sau đó

Ví dụ: Cấu tạo của bài văn miêu tả cảnh

Bài văn miêu tả cảnh thường có ba phần:

1 Mở bài: Giới thiệu cảnh sẽ tả

2 Thân bâì:

- Tả bao quát (Nhìn từ xa, trông cảnh đó như thế nào?)

- Tả chi tiết từng phần của cảnh (Ví dụ: Tả dòng sông thì chọn tả hình dáng: dài, uốn khúc, thẳng tắp, Màu sắc sông: màu đỏ nặng phù sa Cảnh hai bên bờ sông : những lũy tre xanh, những rặng dừa trĩu nặng, nhà cửa ven sông

…Cảnh trên dòng sông: thuyền, ghe, bạn nhỏ tắm sông, lục bình trôi, Hoạt động của con người trên dòng sông…) hoặc sự thay đổi của cảnh theo thời gian

3 Kết bài: Nêu nhận xét hoặc cảm nghĩ của người viết.

Trang 6

3 Chọn đề tài gần gũi và có nhiều lựa chọn đối với học sinh.

Là đối tượng học sinh dân tộc thiểu số vùng khó khăn nên khả năng tư duy liên tưởng của các em gặp nhiều hạn chế Vì đời sống sinh hoạt của các em chưa phong phú, khả năng diễn đạt bằng tiếng Việt cũng vậy Do đó, giáo viên cần phải cân nhắc, lựa chọn đề tài gần gũi với các em thường ngày mà các em hay tiếp xúc và nên đưa ra nhiều dạng đề để các em có nhiều lựa chọn

Ví dụ:

- Tả cảnh: Cảnh trên sân trường, cảnh nơi em ở,

- Tả người : Nên yêu cầu các em tả người thân, bạn bè, thầy cô,

Có lẽ khó khăn nhất đối với học sinh là viết văn tả cảnh Chẳng hạn, với

đề bài sau: Lập dàn ý bài văn tả cảnh một buổi sáng (trưa, chiều) trong vườn cây (trong công viên, trên đường phố, trên cánh đồng, nương rẫy)

Đối với đề bài này, giáo viên cần xem xét, định hướng cho các em lựa chọn Đối với trường tôi, tôi sẽ lựa chọn một trong hai cách: trên cánh đồng hoặc trên nương rẫy Sau đó tôi tập trung hướng dẫn học sinh cách lập dàn ý: Tả cánh một buổi sáng trên cánh đồng (vì trường tôi nằn gần cánh đồng, học sinh được tiếp xúc nhiều và học sinh cũng vừa được làm quen với bài “Buổi sớm trên cánh đồng” trong SGK) Sau đó tôi mới khuyến khích học sinh có thể chọn và lập dàn ý tả cảnh trên nương rẫy, tùy vào ý thích và sự hiểu biết của mình Hay với dạng đề bài tả cảnh sông nước, tôi sẽ hướng dẫn học sinh chọn và tả cảnh bờ

hồ nằm ngay cạnh trường,

Lúc đầu, để giúp cho mọi đối tượng học sinh có nhiều cơ hội lựa chọn bài viết và viết được bài tránh để giấy trắng, tôi thường đưa ra dạng đề có nhiều lựa chọn và gần gũi với học sinh Mức độ đi từ dễ đến khó

Ví dụ: Dạy văn tả người, ban đầu cần đưa ra đề “Tả một người mà em

yêu quý” Sau đó mới nâng dần lên Tả người bạn, tả thầy cô,…

2.4 Hướng dẫn quan sát, bồi dưỡng vốn từ và cách dùng từ đặt câu, dùng dấu câu cho học sinh:

a Hướng dẫn quan sát:

Trong dạy học học sinh dân tộc thiểu số, muốn học sinh nắm được bài, hiểu được bài thì trực quan là yêu cầu đầu tiên cần phải có Bởi các em phần lớn chỉ biết tư duy trực quan, chỉ cần lắt léo, trừu tượng một tí là rất khó khăn đối với các em Các em có quan sát, có nhìn thấy thì mới tìm ra được từ và hiểu đúng nghĩa từ đó Mặt khác, điều đặc trưng của văn miêu tả là phải trực tiếp quan sát sự vật thì mới viết được bài văn mang sắc thái riêng, gắn với sự vật đó Nếu không quan sát sự vật theo yêu cầu đề bài mà các em viết thì phần lớn là chép theo văn mẫu hoặc bắt chước người khác viết một cách máy móc

Trang 7

Ví dụ: Tả về mẹ, có em viết: “Mẹ em dong dỏng cao, có nước da ngăm

ngăm đen và khuôn mặt hình trái xoan” nhưng trên thực tế thì mẹ em đó nước

da trắng và chiều cao khiêm tốn Hay tả bạn thì bạn nào cũng khuôn mặt trái xoan,

Do đó chúng ta cần hướng dẫn trẻ quan sát và hình thành thói quen quan sát vì muốn miêu tả tốt thì quan sát phải tốt và có được những nhận xét đúng để tìm ra được sự khác biệt, nét đặc trưng của sự vật, hiện tượng để có thể phân biệt

sự vật, hiện tượng đó với sự vật, hiện tượng khác Vai trò người giáo viên đối với hoạt động này hết sức quan trọng, các em không biết quan sát từ đâu, tìm ý như thế nào? Là người tổ chức hướng dẫn các em cần hướng dẫn các em dựa vào cấu tạo của từng dạng văn miêu tả để quan sát, tìm ý

a Bồi dưỡng vốn từ:

Biết quan sát, cần phải dùng từ như thế nào để miêu tả là rất khó đối với các em Các em ở đây vốn từ nghèo nàn, thế nên trong dạy học nhiều khi học sinh hiểu bài nhưng khi đứng lên trả lời, không thể nào diễn đạt được Trong Tập làm văn, khi diễn đạt các em thường dùng sai từ, nhầm lẫn từ do không hiểu nghĩa của từ nên đặt sai chỗ hoặc đôi khi các em dùng từ đặt câu quá thật

Ví dụ: Các câu văn tả bạn, có những em sử dụng từ sai: “ Khuôn mặt tròn

giống như hai hòn bi xanh.”; “ Mũi bạn ấy giống như hình trái xoan.”; “Răng to như sữa bò.”;

“Bạn rất kính yêu chúng em.” Hay chỉ liệt kê, dùng từ quá thật “Mũi bạn dài

và nhỏ.”; “Cái mũi rất tẹt.”; “ Miệng rất nhỏ.”

Do những tồn tại trên, mỗi đề bài tôi thường gợi ý, hướng dẫn học sinh cách tìm từ ngữ để miêu tả dựa vào sự hiểu biết của mình hoặc giáo viên cung cấp từ mới cho các em Hướng dẫn các em tìm từ bằng nhiều hình thức như: quan sát thực tế, qua tranh ảnh, xem phim, nhất là qua các phân môn khác của môn Tiếng Việt, đặc biệt là phân môn Luyện từ và câu, môn Tập đọc để giúp các em hiểu từ Khi viết câu, tôi lại hướng dẫn các em cách dùng từ, hiểu từ mình đang dùng, bày cách liên tưởng, tìm hình ảnh so sánh, nhân hóa để viết câu văn cho hay hơn Chẳng hạn:

b Hướng dẫn học sinh biết cách lựa chọn chi tiết để tả và dùng từ đặt câu:

Khi dạy văn miêu tả, giáo viên cần định hướng và hướng dẫn học sinh lựa chọn chi tiết để tả Ví dụ: Tả một dòng sông, cần hướng dẫn học sinh chọn các chi tiết như tả cảnh trên sông, tả cảnh hai bên bờ sông,… khi tả người cần lựa chọn tả những nét tiêu biểu của người đó Tả hình dáng không nhất thiết tả tất cả các bộ phận mà biết lự chọn nét tiêu biểu về hàm răng hay mái tóc,… để tả

Trang 8

Giáo viên lưu ý học sinh khi tả: Tùy vào từng đối tượng mình tả, quan sát kĩ và lựa chọn từ phù hợp để miêu tả, không thể tả em bé như người lớn được hay tả người lớn lại dùng những từ ngứ tả em bé Ví dụ, khi tả đôi mắt của cô giáo có

em viết: Đôi mắt cô đen lay láy, tròn như hai hòn bi ve Trong trường hợp này giáo viên cần định hướng cho các em cách dùng từ đặt câu như: Đôi mắt cô to tròn, nhìn chúng em đầy trìu mến, yêu thương hay “Đôi mát cô như biết nói, biết cười,…”

- Trong quá trình dạy học, trong các tiết trả bài hoặc hướng dấn viết văn, tôi thường yêu cầu học sinh đặt câu với những từ vừa tìm được và đưa ra các trường hợp sử dụng từ chưa đúng để cả lớp phân tích nhận xét, sửa sai

Ví dụ: Trong bài tả em bé chập chững biết đi, có em viết: “ Khi em đi học

về, em bay ra đón em, ôm chầm lấy chân em.”

Khi phát hiện học sinh viết chưa phù hợp, tôi thường đưa ra cho cả lớp nhận xét, sửa sai và rút kinh nghiệm theo các bước:

+ Câu văn của bạn viết, có chỗ nào chưa phù hợp, các em cần phải sửa? (Bạn sử dụng từ “bay” để miêu tả hoạt động “chạy” của em bé là không phù hợp)

+ Chúng ta cần thay từ “bay” bằng từ nào? (thay từ “bay” bằng từ “chạy lon ton”)

Học sinh sửa và viết đọc lại câu văn

- Trong khi viết, học sinh thường viết những câu chưa đủ hai thành phần chính, dùng dấu chấm, phẩy chưa đúng hay những câu văn khô khan, thiếu hình ảnh cảm xúc, tôi lại hướng dẫn học sinh cách viết để câu văn hoàn chỉnh và hay hơn

Ví dụ: Trong bài văn tả bạn H Kim, có em viêt: “Cái trán cao, tóc dài

ngang vai.”

Tôi chép câu văn lên bảng và hỏi:

+ Câu văn bạn viết đã giàu tính gợi tả chưa hay còn mang tính liệt kê?

+ Dựa vào đặc điểm của bạn H Kim là một bạn thông minh, nhanh nhẹn, tóc ngang vai hay buộc cao, vầng trán cao Vậy ta cần thay đổi câu văn này như thế nào, để miêu tả bạn H Kim toát lên được những đặc điểm đó?

Sau khi gợi ý cho học sinh nêu, tôi giúp học sinh chỉnh sửa và hoàn chỉnh câu văn có hình ảnh cảm xúc hơn, làm nổi bật đặc điểm của bạn H Kim: “Mái tóc dài chấm ngang vai, luôn được bạn buộc cao như tóc đuôi gà, để lộ vầng trán cao, toát lên vẻ thông minh, nhanh nhẹn vốn có của bạn.”

Giáo viên hướng dẫn học sinh cách lựa chọn từ khi tả Ví dụ từ thường dùng khi làm bài văn tả người:

Trang 9

- Tả thân hình, dáng người: Cao, lùn, gầy gò, ốm yếu, nho nhỏ, nhỏ thó,

tầm thước, xương xương, mảnh khảnh, dong dỏng, thon thả, đẫy đà, yểu điệu, béo phệ, mập mạp, lực lưỡng, vạm vỡ, trẻ trung, quắc thước,cân đối, gầy guộc, mảnh mai, cường tráng, tiều tuỵ, lụ khụ, uể oải, bụ bẫm…

- Tả khuôn mặt, diện mạo: Bầu bĩnh, trẻ măng, hồng hào, đen sạm, rám

nắng, xanh xao, tái mét, xanh tái như chàm, không còn chút máu, vuông vắn, vuông chữ điền, trái xoan, hốc hác, vô tư, đần độn, thông minh sáng sủa, khôi ngô, khả ái, xấu xí, rỗ như tổ ong, tươi tỉnh, niềm nở, hớn hở, ủ rũ, cau có, bơ phờ, hung tợn, ngờ nghệch khờ khạo, lầm lì, là lạ, đạo mạo, thơ ngây, nhăn nheo, thờ thẫn, đăm chiêu, thiểu não, hiền hậu, dễ thương,…

- Tả làn da: Nhăn nheo, xanh như tàu lá, bạch tạng, trắng nõn, trắng trẻo,

nõn nà, mịn màng, chai cứng, nứt nẻ, rám nắng, sần sùi, tái mét, xanh xao, xanh lét, hồng hào, đỏ thắm, mốc thếch, đen sạm, da bánh mật, ngăm ngăm, ngăm đen, đen đủi, trắng như trứng gà bóc…

- Tả mắt: Đen huyền, đen láy, trong sáng, u buồn, lung linh, ươn ướt, sắc

sảo, đượm buồn, thâm quầng, trắng đục, đỏ ngầu, sáng, lồi, tròn vo, xếch, một

mí, mất ốc bươu, trao tráo, ti hí, mắt bồ câu,…

- Tả cái nhìn của đôi mắt: Đăm đắm, mơ mộng, đắm đuối, dáo dác, trìu

mến, mơ màng, chòng chọc, chăm chú, ngơ ngác, hằn học,…

- Diễn tả tính cách: Nóng nảy, bạo dạn, vị tha, hời hợt,lười nhác, lì lợm,

trầm tính, đứng đắn, thật thà, ôn hoà, hiền hậu, vui vẻ, nhút nhát, nghiêm nghị,

dè dặt, siêng năng, thận trọng, lỗ mãng, bao dung, nhân hậu, khoác lác, ba hoa, nham hiểm, xảo quyệt, tham lam, ích kỉ, ưa giễu cợt, cau có, gắt gỏng, hấp tấp, khắt khe, láu táu, ít nói, nhã nhặn,

- Diễn tả thái độ: Vui sướng, hớn hở, hân hoan, hả hê, thoả thích, sảng

khoái, khoái chí, vui nhộn, vui đáo để, vui mừng, đắc chí,…

*Giúp các emm biết cách dùng từ miêu tả, liên tưởng, so sánh:

- Giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách dùng từ miêu tả để giúp các em viết được câu văn sinh động hơn Ví dụ: Khi tả hoa "nở", từ “nở” chỉ mang tính chất thông báo, mà cần phải sử dụng từ miêu tả như: bung nở, hé nở, xòe nở, bung cánh, hé cánh, xòe cánh, Từ "xanh" chỉ miêu tả nhưng không gợi tả, cần hướng dẫn học sinh dùng từ gợi tả cho màu xanh: xanh biếc, xanh lam, xanh ngọc, xanh mướt, Nếu giáo viên chú ý dạy tích hợp Tập làm văn vào trong Tập đọc, Luyện từ và câu thì sẽ giảm bớt được nhiều thời gian trong cung đoạn này

Ví dụ: Màu “vàng” được dùng từ gợi tả rất cụ thể trong bài: “Quang

cảnh làng mạc ngày mùa”- Tiếng Việt 5, tập 1, trang 10

Trang 10

- Để câu văn sinh động hơn, giáo viên không chỉ hướng dẫn học sinh cách dùng từ miêu tả mà còn phải hướng dẫn học sinh cách dùng các biện pháp nhân hóa, so sánh mà các em đã được học, đưa vào bài để miêu tả sự vật được sinh động hơn Rất khó đối với các em là cách liên tưởng để tìm hình ảnh so sánh sự vật

Ví dụ: Tìm từ so sánh với mặt trời thì cần hướng dẫn học sinh:

+ Mặt trời có hình gì? Giống cái gì? (hình tròn giống như quả cầu)

+ Mặt trời có màu gì? Giống hình ảnh nào? (đỏ rực, giống như lửa)

Dẫn dắt học sinh đặt câu: "Mặt trời thì đỏ rực như quả cầu lửa",

Tương tự để có câu: "Mảnh trăng cong cong như lưỡi liềm"

- Đối với những học sinh khá, giỏi, giáo viên cần hướng dẫn học sinh

cách sáng tạo câu văn bằng cách liên tưởng, so sánh sự vật nâng cao hơn Ví dụ:

Khi miêu tả “Hồ nước lặng yên” thì cho học sinh so sánh với trạng thái "lặng yên" của con người Giáo viên có thể hỏi: Khi nào con người lặng yên? và học sinh có thể tìm ra được các từ " khi ngủ, khi nhớ, khi buồn, khi mơ mộng, " Như vậy, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh viết được rất nhiều câu: Hồ nước lặng im như chìm vào giấc ngủ./Hồ nước lặng im như đang mơ mộng với những đám mây trắng./Hồ nước lặng im như đang buồn bã điều gì./ Hồ nước lặng im như đang nhớ những vì sao lấp lánh buổi đêm

- Giáo viên cần tổng quát được cách dùng từ ở từng dạng văn miêu tả, để định hướng tốt cho các em khi viết văn:

+ Tả cảnh thường dùng nhiều từ ngữ gợi tả hình dạng, đặc điểm, có thể so sánh, nhân hoá làm cho cảnh vật được miêu tả thêm sinh động; cần bộc lộ cảm xúc trước sự vật được miêu tả trong cảnh

+ Tả người thường dùng nhiều từ ngữ gợi tả hình dáng, màu sắc, âm thanh; từ ngữ chỉ hoạt động, đặc điểm, trạng thái của người; có thể sử dụng biện pháp liên tưởng, so sánh để miêu tả cho sinh động và bộc lộ mối quan hệ tình cảm với người được tả

2.5 Hướng dẫn học sinh lập dàn ý và xây dựng đoạn văn phần thân bài:

Đây là một hoạt động hết sức quan trong làm văn miêu tả Thế nhưng một

số giáo viên thường bỏ qua giai đoạn này vì bước đầu thì đây cũng là một hoạt động khó đối với học sinh nói chung và đặc biệt là đối với học sinh dân tộc thiểu

số vùng khó khăn lại càng khó hơn Song nếu giáo viên hướng dẫn cụ thể thì các

em sẽ làm được, việc này lặp đi lặp lại nhiều sẽ tạo thành thói quen có lợi trong viết văn cho học sinh Nếu một bài văn mà các em biết cách lập dàn ý trước khi làm bài thì các em đã có định hướng tốt cho bài văn của mình Bài văn có đầy

Ngày đăng: 14/05/2017, 12:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w