1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN một số biện pháp rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 5

44 253 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 326 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng pháthuy tính tích cực học tập của học sinh đã được giáo viên tiểu học quan tâm vàthực hiện có hiệu.Trong chương trình giảng dạy ở tiểu học, mô

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Đất nước ta ngày càng phát triển và đang trên đà hội nhập với các nướckhác trên thế giới, đòi hỏi người lao động ở mọi lĩnh vực phải không ngừnghọc hỏi, trau dồi tri thức đủ rộng, đủ sâu, có tầm nhìn xa mang tính chiến lược

để đáp ứng sự đổi thay và phát triển của đất nước Đảng ta luôn khẳng định:Giáo dục là quốc sách hàng đầu, coi con người là mục tiêu và động lực của sựphát triển Chính vì vậy, mục tiêu đặt ra cho ngành giáo dục và đào tạo là phảiđào tạo nên những con người phát triển toàn diện, năng động, sáng tạo và chủđộng trong các công việc mình đảm nhiệm Để đạt được mục tiêu này, ngànhgiáo dục quyết tâm đổi mới phương pháp dạy học

Trong những năm gần đây, ngành giáo dục đào tạo của nước ta đã cónhững bước tiến đáng kể Việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng pháthuy tính tích cực học tập của học sinh đã được giáo viên tiểu học quan tâm vàthực hiện có hiệu.Trong chương trình giảng dạy ở tiểu học, môn Tiếng Việtbao gồm các phân môn khác nhau: Học vần, Tập đọc, Tập viết, Chính tả,Luyện từ và câu, Kể chuyện, trong đó Tập làm văn đóng một vai trò rất quantrọng góp phần hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếngViệt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp Thông qua việc dạy tiếngViệt góp phần rèn luyện các thao tác tư duy, cung cấp cho học sinh nhữngkiến thức sơ giản về xã hội, tự nhiên, con người, về văn hóa, văn học ViệtNam và của nước ngoài Từ đó bồi dưỡng cho học sinh tình yêu tiếng Việt vàhình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phầnhình thành nhân cách con người Việt Nam xã chủ nghĩa

Phân môn Tập làm văn có vị trí đặc biệt trong việc dạy và học tiếngViệt Đó là phân môn tận dụng các hiểu biết và kĩ năng về Tiếng Việt do cácphân môn khác rèn luyện hoặc cung cấp đồng thời góp phần hoàn thiệnchúng Phân môn tập làm văn còn rèn luyện cho học sinh các kĩ năng sản sinhvăn bản (nói và viết) Do đó, phân môn Tập làm văn đã góp phần thực hiệnhóa mục tiêu quan trọng bậc nhất của việc dạy và học tiếng Việt là dạy họcsinh sử dụng tiếng Việt trong đời sống sinh hoạt, trong quả trình lĩnh hội cáctri thức khoa học

Đối với học sinh tiểu học nói chung, học sinh lớp 5 nói riêng các emkhông mấy hứng thú khi học Tập làm văn thậm chí có những em “ sợ” học.Các em rất thụ động thường dựa dẫm, ỉ lại vào các bài văn mẫu, có khi cònsao chép y nguyên bài văn mẫu vào bài làm của mình Cách cảm, cách nghĩ

Trang 2

của em không phong phú mà thường đi theo lối mòn sáo rỗng, tẻ nhạt Vớimỗi giáo viên, khi dạy phân môn này thường cũng chỉ chú ý đến quy trìnhgiảng dạy, cấu tạo của từng kiểu bài văn; để giúp cho học sản sinh ra văn bảnnói và viết quả là việc làm khó Tuy nhiên chính cái khó cũng là cái thôi thúcngười giáo viên mong mỏi đạt được

Vì vậy tôi luôn trăn trở và suy nghĩ: Làm thế nào để học sinh yêu thíchmôn Tập làm văn? Làm thế nào để giúp cho học sinh viết được bài văn đúngvới cách nghĩ, cách cảm của mình, có những nét mới, nét riêng? Đó cũng

chính là lí do tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp rèn kĩ năng viết bài văn miêu tả cho học sinh lớp 5” để nghiên cứu.

2 Mục đích nghiên cứu

Đánh giá thực trạng và đề xuất một số biện pháp giúp học sinh lớp 5viết những bài văn miêu tả hay, chân thật, giàu cảm xúc góp phần bồi dưỡngtình yêu Tiếng Việt; phát triển tâm hồn, cảm xúc thẩm mĩ và hình thành nhâncách cho học sinh

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: Phương pháp dạy học Tập làm văn ở tiểu học

- Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp rèn kĩ năng viết bài văn miêu tả cho học

sinh lớp 5

4 Giả thuyết khoa học

Nếu đưa ra được các biện pháp rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho họcsinh lớp 5 một cách hợp lý thì chất lượng giảng dạy môn Tiếng Việt cho họcsinh trường tiểu học sẽ được nâng cao

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu Cơ sở lí luận của việc dạy học phân môn Tập làm văn, cụ thể làloại văn miêu tả cho học sinh tiểu học

- Nghiên cứu thực trạng của việc rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinhlớp 5

- Đề xuất một số biện pháp rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 5

6 Phạm vi nghiên cứu

- Lĩnh vực nghiên cứu: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học

- Đối tượng điều tra và thực nghiệm: giáo viên và học sinh khối 5 của

trường

Trang 3

- Thời gian nghiên cứu: năm học 2014 – 2015, bắt đầu từ tháng 9 năm 2014

và kết thúc vào tháng 5 năm 2015

7 Phương pháp nghiên cứu

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: nghiên cứu giáo trình, các tài liệu

sách báo, phân tích- tổng hợp thông tin để rút ra các kết luận khoa học cầnthiết

- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

+ Phương pháp quan sát sư phạm

+ Phương pháp điều tra Anket

+ Phương pháp thực hành – đánh giá kết quả.

+ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

- Nhóm phương pháp thử nghiệm sư phạm

Qua nghiên cứu lí luận, thực trạng và đề ra Một số biện pháp rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 5, đề tài tiến hành thử nghiệm và rút

ra kết luận về hiệu quả của các phương pháp trên qua một số tiết dạy cụ thểtrong trường

Trang 4

NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC RÈN KĨ NĂNG VIẾT VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH TIỂU HỌC

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Cơ sở ngôn ngữ học

Phân môn Tập làm văn giúp học sinh mở rộng vốn sống, rèn luyện tưduy, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc, thẩm mĩ, hình thành nhân cách cho họcsinh

Nội dung các bài Tập làm văn gắn với chủ điểm các bài Tập đọc Quátrình hướng dẫn học sinh phân tích đề, quan sát, tìm ý, nói – viết đoạn văn,bài văn là những cơ hội giúp học sinh mở rộng hiểu biết về cuộc sống theocác chủ điểm đang học Việc phân tích dàn bài, lập dàn ý, chia đoạn, quan sátđối tượng, tìm lí lẽ, dẫn chứng để thuyết trình, tranh luận ….sẽ góp phần pháttriển năng lực phân tích, tổng hợp, phân loại của học sinh Tư duy hình tượngcủa học sinh được rèn luyện và phát triển nhờ các biện pháp so sánh, nhânhóa…khi miêu tả Học sinh tiếp cận vẻ đẹp của con người và thiên nhiên quacác bài văn, đoạn văn điển hình làm cho tình cảm yêu mến, gắn bó với thiênnhiên, với con người và sự việc xung quanh nảy nở, tâm hồn của học sinhthêm phong phú Từ đó hình thành và phát triển nhân cách con người ViệtNam

Có năng lực làm văn tốt, học sinh càng hứng thú làm văn và có sự sángtạo; từ đó, các em thêm yêu quí Tiếng Việt và có ý thức giữ gìn sự trong sángcủa Tiếng Việt

Trang 5

1.1.3 Định hướng đổi mới khi dạy phân môn Tập làm văn ở Tiểu học

Phân môn Tập làm văn có vai trò vô cùng quan trọng trong việc trang

bị kiến thức và rèn luyện kĩ năng làm văn Nó góp phần cùng các môn họckhác mở rộng vốn sống, rèn luyện tư duy lô-gic, tư duy trừu tượng; bồi dưỡngtâm hồn, cảm xúc thẩm mĩ Việc phân tích dàn bài, lập dàn ý, chia đoạn gópphần phát triển khả năng phân tích, phân loại của học sinh Tư duy hìnhtượng của học sinh được rèn luyện nhờ vận dụng các biện pháp so sánh, nhânhóa… khi miêu tả Học các tiết Tập làm văn , học sinh có điều kiện tiếp xúcvới vẻ đẹp con người, thiên nhiên qua các đoạn văn, bài văn điển hình Khiquan sát đối tượng miêu tả, học sinh càng thêm yêu quý những cảnh vật, conngười xung quanh từ đó có ý thức, trách nhiệm với thiên nhiên,với môitrường, bạn bè, người thân, … Đó là những nhân tố quan trọng góp phần hìnhthành nhân cách tốt đẹp cho học sinh

1.2 Nội dung dạy văn miêu tả cho học sinh lớp 5

1.2.1 Mục tiêu của phân môn Tập làm văn lớp 5

- Trang bị kiến thức và rèn luyện các kĩ năng làm văn

- Góp phần cùng các môn học khác mở rộngvốn sống, rèn luyện tư duy gích, tư duy hình tượng, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mĩ, hình thànhnhân cách cho học sinh

Trang 6

lô-1.2.2 Cấu trúc chương trình của phân môn Tập làm văn lớp 5

(số tiết)

Học kì 2 (số tiết)

Cả năm

Miêu tả:

 Miêu tả đồ vật (ôn tập)

 Miêu tả cây cối (ôn tập)

 Miêu tả con vật (ôn tập)

 Miêu tả cảnh

 Miêu tả người

1408

0403030407

0403031815Các loại văn bản khác:

 Báo cáo thống kê

0303

020302030303

Như vậy đối với chương trình Tập làm văn lớp 5 , văn miêu tả chiếm hơn2/3 thời lượng học tập (tổng số 42 tiết trên 62 tiết)

1.3 Vai trò của việc rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 5

- Rèn luyện những kĩ năng cơ bản: kĩ năng quan sát, kĩ năng sử dụng cácgiác quan một cách tinh tế, nhạy cảm để tiếp nhận tri thức phong phú từ cuộcsống

- Biết quan sát để rút ra những đặc điểm của đối tượng được miêu tả, từ đóbiết lựa chọn những đặc điểm tiêu biểu của đối tượng miêu tả để tả với cảmxúc tự nhiên

- Rèn luyện kĩ năng lập dàn bài, phát triển ý thành câu văn, đoạn văn, bàivăn

Trang 7

- Giáo dục tình cảm thẩm mĩ, sự phát triển ngôn ngữ cho học sinh đồng thờigiúp các em nắm chắc cấu tạo bài văn miêu tả.Từ đó, các em có điều kiệnphát triển tư duy trừu tượng và tình cảm - góp phần hình thành nhân cách tốtđẹp cho các em.

- Tạo điều kiện cho việc học văn ở các bậc học tiếp theo

Tiểu kết chương 1

Tập làm văn là một phân môn rất quan trọng trong chương trình dạyhọc Tiếng Việt ở Tiểu học Tập làm văn còn là môn học độc lập, nó có hệthống lý thuyết riêng nhằm xây dựng các thể loại văn chương với từng kiểubài cụ thể, ở từng kiểu bài đó lại đòi hỏi phải rèn luyện để có được những kỹnăng cần thiết Chính vì vậy, giáo viên phải là người khơi nguồn “dòng chảyvăn học” cho học sinh để các em phát triển tốt về mặt trí tuệ, tâm hồn và nănglực sáng tạo nhằm nâng cao hứng thú viết văn, đặc biệt là những bài văn miêutả

Trang 8

CHƯƠNG 2THỰC TRẠNG CỦA VIỆC RÈN KĨ NĂNG VIÊT VĂN MIÊU TẢ CHO

HỌC SINH LỚP 5 2.1 Thực trạng của việc dạy kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 5

Hiện nay, trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học nói chung và lớp 5 nóiriêng, các thầy cô giáo rất quan tâm tới việc bồi dưỡng kiến thức và kỹ năngviết văn cho học sinh Trong việc đổi mới phương pháp dạy học, thầy cô giáocũng được các cấp quản lý chuyên môn chỉ đạo sát sao các văn bản hướngdẫn, tiết chuyên đề Vì vậy kết quả bài Tập làm văn của học sinh có nhiềutiến bộ rõ rệt

Giáo viên dạy Tập làm văn theo quy trình đã thống nhất :

+ Đối với loại bài dạy lí thuyết : Giới thiệu bài ; hình thành khái niệm(phân tích ngữ liệu, ghi nhớ kiến thức) ; củng cố, dăn dò

+ Đối với loại bài thực hành : Giới thiệu bài; hướng dẫn thực hành; củng

cố, dăn dò

Tuy nhiên, nhìn lại việc dạy – học làm văn nói chung, việc dạy – họcvăn miêu tả nói riêng ở khối 5, tôi thấy một số tồn tại sau:

- Giáo viên thường sử dụng phương pháp : thuyết trình, vấn đáp, thảo luận

mà ít chú trọng tới các phương pháp khác như dạy học phát hiện và giải quyếtvấn đề hoặc thảo luận, khám phá… Điều này làm tiết học trở nên nặng nề,thiếu hấp dẫn với học sinh

- Trong quá trình dạy học, có những giáo viên đã làm cho học sinh phụthuộc vào văn mẫu Chính vì vậy không rèn được kĩ năng sử dụng ngôn ngữ

để diễn tả hình ảnh, cảm xúc đồng thời làm thui chột khả năng sáng tạo củacác em

Trang 9

2.2 Thực trạng về viết văn miêu tả của học sinh lớp 5

Qua khảo sát thực tế, tôi thấy nhiều em chưa hiểu thế nào là văn miêu

tả nên trong khi hành văn còn nhầm lẫn sang văn kể, hay liệt kê đặc điểm củađối tượng miêu tả một cách sơ sài; chưa biết sử dụng biện pháp nghệ thuậtnhân hoá, so sánh và chọn lọc các chi tiết miêu tả đặc sắc để đưa vào bài văn

Do vốn sống, điều kiện tiếp xúc với đối tượng miêu tả hạn chế, nhiều emthường bắt chước các câu, đoạn văn mẫu nên bài làm của nhiều học sinh cónhững câu văn, đoạn văn giống nhau Thậm chí có những bài văn sắp xếp ýmột cách lôn xộn; câu văn không chau chuốt, mà lủng củng, không có hìnhảnh

Từ thực trạng trên, tôi nhận thấy cần xây dựng nội dung kiến thức vàmức độ yêu cầu về kỹ năng viết văn miêu tả phù hợp với từng đối tượng họcsinh và luôn tuân thủ nguyên tắc dạy học: từ lý thuyết đến thực hành, từ dễđến khó, từ cái chưa biết đến biết rồi, đến thành thạo… Đây là vấn đề cốt lõi

tôi luôn chú trọng trong từng biện pháp mà tôi đưa ra

Tiểu kết chương 2

Với thực tế trên, tôi nhận thấy nhiều học sinh miêu tả hời hợt, chung

chung; câu văn sáo rỗng không có một sắc thái riêng biệt của đối tượng được

miêu tả Với cách làm ấy các em không cần biết đến đối tượng miêu tả, khôngquan sát và không có cảm xúc gì về đối tượng được miêu tả Một bài vănmiêu tả như vậy đọc lên thấy nhợt nhạt, mờ mờ Nguyên nhân chủ yếu vì các

em không biết cách quan sát hoặc không biết cách hồi tưởng lại những hìnhảnh quan sát của mình, vì vậy bài văn không hấp dẫn người đọc Bài văn nàocũng là sự thể hiện các trạng thái tình cảm của học sinh Chỉ có những tìnhcảm trong sáng, đẹp đẽ, hồn nhiên mới tạo ra những đoạn văn, bài văn đángyêu Muốn có bài làm văn miêu tả hay, các em cần bồi dưỡng tâm hồn giàucảm xúc với vốn từ, vốn kiến thức văn học phong phú

Trang 10

CHƯƠNG 3MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG VIẾT VĂN MIÊU TẢ

CHO HỌC SINH LỚP 5 3.1 Một số biện pháp rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 5

3.1.1 Hướng dẫn học sinh quan sát đối tượng miêu tả để tìm ý cho bài văn

Việc đầu tiên học sinh cần làm được khi viết một bài văn miêu tả đó làphải quan sát thực tế đối tượng miêu tả Quan sát đối tượng miêu tả là tìm rađặc điểm riêng biệt của đối tượng để đưa vào bài viết của mình một cách chânthực và sinh động; là sử dụng các giác quan để tìm ra đặc điểm riêng biệt củatừng đồ vật, con vật, cây cối,cảnh vật… và bỏ qua những đặc điểm chung của

sự vật Quan sát để miêu tả còn thể hiện tính sáng tạo của mỗi cá nhân học

sinh như nhà văn Phạm Hổ đã nhận định: “Miêu tả một em bé hoặc một chú

mèo, một cái cây, một dòng sông mà ai cũng miêu tả giống nhau thì không ai thích đọc Vì vậy ngay trong quan sát để miêu tả,người viết phải tìm ra cái mới cái riêng”.

Văn miêu tả ở lớp 5 chủ yếu là tiếp nối của chương trình lớp 4 nhưnglại không có giờ quan sát riêng nên trong một số giờ Hướng dẫn học tôi đãchủ động hướng dẫn cho học sinh phương pháp quan sát Khi các em quan sátđược đặc điểm của các đối tượng miêu tả tức là các em đã tìm được nguyênliệu cho bài văn Vì vậy, tôi chú trọng giúp các em:

3.1.2 Học tập cách quan sát của các nhà văn

Các nhà văn thường phải quan sát tỉ mỉ, chi tiết rất nhiều trong cuộcsống và chủ động trong quá trình quan sát để tìm kiếm, chọn lọc từ hằng hà sa

số những sự vật, sự việc tiêu biểu điển hình mới có thể miêu tả đúng, hay vềđối tượng được quan sát Khi quan sát, họ không chỉ dùng thị giác mà dùng cảcác giác quan còn lại như Nancy Farmer có viết: “ Hãy nhìn xung quanh…Cảm nhận làn gió,ngửi khí trời Lắng nghe tiếng chim và ngắm nhìn bầu trời.Hãy cho tôi biết những gì đang diễn ra ngoài kia.” Tôi hiểu rằng: Nếu họcsinh biết học tập cách quan sát của các nhà văn, các em sẽ trau dồi được kĩnăng quan sát của mình Vì vậy, qua những bài văn “ Cây gạo ngoài bến

sông” , “ Chiếc áo của Ba”, … (Tiếng Việt 5),tôi giúp học sinh thấy được kỹ

năng quan sát tài tình và cách sử dụng từ ngữ để ghi lại những đặc điểm của

sự vật của các nhà văn Các em nhận biết được cách quan sát sự vật, tìm ratrình tự quan sát, lựa chọn chi tiết để miêu tả: cây gạo, hoa gạo, màu sắc củahoa… hay những đường may trên áo, hàng khuy đơm…mà các tác giả đã sử

Trang 11

dụng Từ đó, học sinh ý thức được sự cần thiết, tác dụng và tầm quan trọngcủa việc quan sát trước khi viết bài văn miêu tả

Ví dụ: Khi dạy kiểu bài tả người, tôi cho học sinh tìm hiểu kĩ cách quan

sát bà của nhà văn Mác-xim Go-rki qua bài “Bà tôi” (Tiếng Việt 5 - tập 1)

- Trọng tâm: Quan sát hình dáng, tính tình của người bà (cử chỉ, hànhđộng chỉ là nền)

- Nét đặc sắc nổi bật của người bà mà tác giả đã quan sát và thấy được:+ Mái tóc: Đen, dày kỳ lạ, phủ kín cả hai vai xõa xuống ngực, xuốngđầu gối (nét riêng của bà ít thấy ở người già)

+ Khi bà chải tóc: Một tay khẽ nâng, đưa một cách khó khăn chiếc lượcthưa bằng gỗ vào mớ tóc dày (cử chỉ của người bà chậm chạp,khó khănnhưng biểu lộ tính cẩn thận của bà)

+ Giọng nói: Đặc biệt trầm bổng, cảm thấy như tiếng chuông đồng (nétriêng dặc biệt của bà)

+ Khi mỉm cười: Hai con ngươi đen sẫm nở ra, long lanh dịu hiền khó

tả (vừa có nét chung của, vùa có nét hiền từ riêng của bà)

+ Đôi má: Da ngăm ngăm có nhiều nếp nhăn (tuổi già) nhưng vẫn gợinét đẹp riêng (hình như vẫn còn tươi trẻ)

+ Tấm lưng tuy hơi còng nhưng bà đi lại vẫn nhanh nhẹn…

Tác giả đã mang cả tình yêu thương sâu sắc của mình vào trong quátrình quan sát về người bà đáng kính và miêu tả bà như một bà tiên có nhữngnét riêng biệt bởi: Lời nói, nụ cười dịu dàng như đóa hoa đầy nhựa sống của

bà đã khắc sâu trong trí nhớ của tác giả khó có gì so sánh nổi

Bên cạnh đó, để quan sát tốt đối tượng miêu tả, tôi đã hướng dẫn họcsinh biết cách lựa chọn trình tự quan sát

3.1.3 Hướng dẫn học sinh biết cách quan sát đối tượng miêu tả

a) Lựa chọn trình tự và sử dụng các giác quan khi quan sát:

Muốn sắp xếp ý để miêu tả một đối tượng có logic thì việc lựa chọntrình tự quan sát là rất quan trọng Tùy từng đối tượng miêu tả mà chọn trình

tự quan sát cho phù hợp Tôi hướng dẫn học sinh quan sát theo các trình tự:

- Trình tự không gian: Quan sát toàn bộ đến quan sát bộ phận; quan sát

từ trên xuống dưới,từ ngoài vào trong (hoặc ngược lại)

- Trình tự thời gian: Quan sát từ sang đến tối; từ lúc bắt đầu, đến khi kếtthúc…

Trang 12

- Trình tự tâm lý: Thấy nét gì nổi bật thu hút bản thân, gây cảm xúcnhanh hơn thì quan sát trước (hứng thú hay khó chịu, yêu hay ghét…)

- Kết hợp các trình tự quan sát để phát huy trí tưởng tượng, óc sáng tạotrong quá trình quan sát

Để quan sát được đối tượng miêu tả một cách toàn diện, cần hướng dẫnhọc sinh sử dụng nhiều giác quan khi quan sát như:

- Quan sát bằng mắt (thị giác) để nhận ra màu sắc, hình thể sự vật

- Quan sát bằng tai (thính giác) để nhận ra âm thanh, nhịp điệu gợi cảmxúc

- Quan sát bằng mũi (khứu giác) để nhận ra những mùi vị tác động đếncảm xúc, tình cảm

- Quan sát bằng vị giác, xúc giác; bằng cảm nhận…

Muốn học sinh trở thành người chủ động lựa chọn trình tự quan sát hay

sử dụng giác quan nào để quan sát, người giáo viên phải giúp các em xác địnhđược yêu cầu quan sát của bài văn, phải tìm những nét riêng tiêu biểu của đốitượng quan sát; không cần dàn đủ sự việc mà phải tìm ra trọng tâm quan sátthường là nét chính nêu bật nội dung của đoạn văn, bài văn Có như vậy bàivăn mới tránh khỏi sự dàn trải, nhạt nhẽo, lan man, xa đề Sau khi học sinhbiết lựa chọn trình tự và giác quan để quan sát, giáo viên cần:

b) Tổ chức cho học sinh quan sát

Tổ chức cho học sinh quan sát đối tượng miêu tả là một công việc thuộc về nguyên tắc khi dạy học văn miêu tả.Trên cơ sở sự thu nhập trực tiếp các nhận xét, ấn tượng cảm xúc của mình, học sinh bắt tay vào làm bài Khi quan sát học sinh huy động vốn sống, khả năng về văn miêu tả được hình thành một cách tự giác chủ yếu qua con đường thực hành

Tuỳ theo đề bài, giáo viên tổ chức cho các em quan sát ngay tại địađiểm có đối tượng cần tả Nếu không thể tổ chức quan sát được thì giáo viên

tổ chức hướng dẫn học sinh quan sát đối tượng trước khi đến lớp và ghi chéplại những điều quan sát được Tôi đặt ra yêu cầu :

- Học sinh phải tự làm việc, tự quan sát và ghi chép là chính

- Giáo viên có thể nêu câu hỏi chung cho cả lớp, có những câu hỏi gợi

mở để học sinh trả lời miệng hoặc giáo viên chỉ cần gợi ý với một học sinh để

em đó thực hiện

- Trước khi quan sát, học sinh phải xây dựng kế hoạch cho việc quansát, đó chính là việc trả lời các câu hỏi như:

Trang 13

+ Thể loại của bài văn là gì ?

+ Kiểu bài văn là gì ?

+ Trọng tâm miêu tả là cảnh (vật, con vật, con người…) nào ?

+ Quan sát cảnh (vật, con vật, con người…) đó vào lúc nào ?

+ Quan sát theo thứ tự nào ?

+ Quan sát bằng những giác quan nào ?

+ Khi quan sát nhìn thấy những hình ảnh gì, nghe thấy âm thanh gì, cócảm xúc như thế nào ?

+ Có nhận xét gì qua những quan sát đó ?

- Giáo viên cần giành thời gian tối đa cho hoạt động quan sát của họcsinh Để có vị trí thích hợp khi quan sát, các em có thể ngồi yên một chỗ,hoặc dịch chuyển vị trí, các em có thể thảo luận nhóm để tìm ý Giáo viên cóthể hướng dẫn, gợi ý các em để các em phát hiện ra những nét đặc sắc của bầutrời, cây cối, cảnh vật…

Ví dụ: Hướng dẫn học sinh quan sát để tả một cây cổ thụ

Tôi hỏi học sinh: Con định tả cây cổ thụ nào? Vì sao con lại tả cây đó? Với đề bài này, hầu hết học sinh lớp tôi chọn tả cây đa vì cây rất gần gũi, quen thuộc và có nhiều kỉ niệm với các em.Tôi cùng học sinh:

+ Xác định đối tượng mẫu để quan sát : Cây đa đầu làng

+ Tôi đưa học sinh đến bên cây đa để quan sát,và yêu cầu:

 Học sinh tự chọn vị trí quan sát

 Sờ tay vào lớp vỏ để cảm nhận độ xù xì của vỏ cây

 Vòng tay nhau ôm lấy thân cây để thấy độ rộng của thân cây

 Ngước nhìn để ước lượng chiều cao; ngắm nhìn tán cây, những chiếc lá rời cành chao nghiêng theo chiều gió…

 Ngửi mùi hăng của vỏ cây, nghe gió thổi trong vòm lá

 Nhớ lại những kỉ niệm lúc đi học về cùng các bạn chơi đùa dưới bóng mát của cây…

* Quan sát đến đâu thì ghi chép lại đến đấy, sau đó báo cáo quá trình quan sát và bổ sung thêm các chi tiết để sử dụng trong phần tìm ý lập dàn bài và hoàn chỉnh bài viết

- Quan trọng hơn cả là giáo viên cần tạo hứng thú và cảm xúc cho học sinh khi quan sát vì khi đó các em mới bộc lộ được cảm xúc của bản thân

Trang 14

trước đối tượng quan sát Có cảm xúc, hứng thú học sinh mới dễ dàng tìm từ, chọn ý giúp cho việc diễn tả sinh động và hấp dẫn

Nhờ quan sát tốt, em Phương Linh đã miêu tả cảnh dòng sông trong

đêm trăng đầy cảm xúc và thơ mộng: “….Trăng hiện lên sáng ngời, tròn vành

vạnh Ánh trăng chiếu xuống, lơ lửng trên những ngọn cây, loang lổ trên những ngôi nhà cao thấp mọc san sát nhau và soi bóng xuống dòng sông yêu dấu Nhận được ánh sáng kì diệu của trăng, mặt sông lung linh như được dát vàng Những anh chị gió mát lộng tinh nghịch chạy ngang qua làm mặt nước laoxao, lấp loáng với ánh sáng dìu dịu của trăng Tôi nhớ mãi hình ảnh thơ mộng hữu tình ấy của dòng sông quê hương – “dòng sông bạc” lấp lánh dịu hiền như người mẹ đang vỗ về, ôm ấp làng tôi vào giấc ngủ êm đềm.”

3.1.4 Làm giàu vốn từ, tích lũy vốn kiến thức văn học cho học sinh

Thế giới quanh ta rất phong phú, đa dạng và không ngừng biến đổi Người viết văn không thể “vẽ” được một cảnh, một người nếu bản thân người

ấy thiếu vốn từ, vốn sống Làm giàu vốn từ cho học sinh có nghĩa là giúp cho các em có được nhiều từ gợi tả để có thể dùng trong miêu tả

a) Hướng dẫn học sinh tìm và tích lũy từ ngữ miêu tả.

Muốn viết được một bài văn thì yếu tố quan trọng là sử dụng từ ngữ đúng Học sinh phải sử dụng từ sao cho sát nghĩa và mang tính gợi tả, gợi cảm nhằm viết được những câu văn hay.Vì vậy khi dạy văn miêu tả cho học sinh việc hướng dẫn học sinh sử dụng từ đúng và hay là mục tiêu tôi luôn coi trọng Tôi chú ý tăng cường rèn luyện cho các em biết cách tìm và lựa chọn từ ngữ thông qua các dạng bài tập được tiến hành trong các giờ Hướng dẫn học

Tôi đưa ra yêu cầu của bài để học sinh tự suy nghĩ nhằm phát huy tính tích cực chủ động của mỗi cá nhân Sau đó tôi tổng hợp vốn từ của tất cả học sinh trong lớp, bài của các em lần lượt được gắn lên bảng Trên cơ sở bài của mình và của bạn các em được học hỏi và phát huy tính sáng tạo trong việc tìm

từ ngữ khi miêu tả Qua đó các em sẽ chọn lọc, tổng hợp được một lượng từ tương đối lớn để sử dụng khi viết bài văn của mình cho phù hợp

Ví dụ1: Hãy tìm từ ngữ để miêu tả các đặc điểm sau của một cây cổ

thụ:

- Rễ cây:

- Thân cây:

- Cành lá:

- Hoa, quả:

Trang 15

- Hoạt động của chim chóc, ong bướm:

- Hoạt động của con người:

- Một số từ ngữ tìm được của học sinh:

+ Rễ cây: gồ ghề, loằn ngoằn, gồ lên, như con rắn, to như bắp đùi, rễ

to, rễ nhỏ, như cái ghế ngồi, như con trăn,

+ Thân cây: sần sùi, bạc phếch, ôm không xuể, thân to, nhiều mấu, lồi

lõm, mốc meo,

+ Cành lá: sum suê, um tùm, rậm rạp, khẳng khiu, gầy guộc, xanh

mướt, xanh mát, xanh ngắt, ngả màu vàng, lá vàng, lá già,

+ Hoa, quả: ngọt, màu tím thẫm, chua, chát, như viên bi, hoa tím giống

hoa sim, như quả xoan,

+ Hoạt động của con người: nghỉ chân, vui đùa, gặp gỡ, điểm hẹn, đuổi

bắt, chia sẻ,

Ví dụ 2: Giáo viên yêu cầu học sinh tìm các từ ngữ gợi tả

- Mái tóc: vàng hoe, đen nhánh, bạc phơ, hoe vàng, cháy nắng, óng ả, rễ

tre, xoăn tít….

- Khuôn mặt: bầu bĩnh, vuông chữ điền, trái xoan, khắc khổ…

- Nước da: trắng trẻo, trắng hồng, ngăm ngăm, bánh mật, đen sạm…

- Dáng người: nhỏ nhắn, gầy gò, đẫy đà, to khỏe, cao cao…

- Nụ cười: khanh khách, chúm chím, ha hả, toe toét…

Ngoài việc giúp học sinh tích lũy vốn từ bằng các hình thức như: quansát thực tế, quan sát tranh ảnh, xem phim, đọc sách - truyện, tôi còn giúp họcsinh tích lũy vốn từ thông qua việc học tập các phân môn Tiếng Việt hoặcnhững môn học khác môn học khác

Ví dụ 3: Dạy Luyện từ và câu bài “Từ đồng nghĩa”, giáo viên gợi ý cho

học sinh tìm các từ gợi tả (là từ láy) đồng nghĩa như : Bao la, mênh mông, bát

ngát, nho nhỏ, đủng đỉnh, lung linh, mượt mà, đẫy đà, cứng cáp, thướt tha, mơn mởn, cuồn cuộn, nhanh nhẹn, nũng nịu…

Các bài tập trên phù hợp với mọi đối tượng học sinh, tháo gỡ nhữnglúng túng cho các em có vốn từ chưa phong phú Song song với việc giúp họcsinh tìm từ, tôi tiếp tục hướng dẫn các em biết cách sử dụng từ ngữ gợi tả, gợicảm

b) Hướng dẫn học sinh phát hiện từ ngữ gợi tả, gợi cảm:

Trang 16

Muốn bài văn miêu tả được hay, sinh động và làm người đọc dễ xúccảm thì việc sử dựng từ ngữ sao cho gợi tả, gợi cảm là rất cần thiết và quantrọng Bài văn miêu tả có từ ngữ hay, gợi tả, gợi cảm chính là tạo được “hồn“cho bài văn Từ ngữ miêu tả sát thực giàu biểu cảm sẽ giúp các em miêu tả sựvật chân thực, sống động và dễ gây cảm xúc cho người đọc

Tôi thường sử dụng dạng bài tập yêu cầu học sinh phát hiện từ ngữgợi tả, gợi cảm trong các đoạn văn của một số nhà văn hoặc của học sinh nămtrước

Ví dụ: Khi dạy bài Ôn tập về tả cây cối (Tiếng Việt 5 – tập 2) Trong

tiết Hướng dẫn học ngày hôm trước, tôi sử dụng bài tập sau:

Đọc bài văn sau ( thảo luận nhóm đôi) và ghi lại những từ ngữ trong bài em cho là có giá trị gợi tả, gợi cảm:

Bài: Mùa bàng chín

Thu chạm vào buồng lá, rũa dần màu xanh Nhũng chiếc lá bàng cứ đỏ dần lên theo nhịp bước heo may Thấp thoáng trong vòm lá những chùm hoa quả chín vàng, căng mọng, mùi thơm ngòn ngọt, ngai ngái kích thích nơi đầu lưỡi khiến ai đã một lần nếm thử không thể nào quên.

Mùa xuân, những búp bàng cựa mình chui ra khỏi nhánh cây khô gầy,khẳng khiu sau cả mùa đông dài ấp ủ dòng nhựa nóng Cái màu xanh mượt mà, cái sức sống quyết liệt đã mở một điều gì đó còn rất mơ hồ trong tôi (Tiếng Việt nâng cao, trang 166)

- Học sinh đã thảo luận rất sôi nổi và ghi lại được những từ gợi tả, gợi

cảm như: chạm, buồng lá, nhịp bước heo may, căng mọng, ngòn ngọt,

ngai ngái, cựa mình, dòng nhựa nóng, mượt mà, quyết liệt,

Bài: Cây gạo ngoài bến sông (Tiếng Việt 5 – Tập 2)

- Những từ ngữ gợi tả, gợi cảm học sinh đã ghi lại: đỏ ngút trời, xù xì,

gai góc, mốc meo, xanh mởn, non tươi, dập dờn, đám lửa nhỏ, hừng hực cháy, lạ kỳ,

Qua các bài tập trên, các em đã phát hiện và tích lũy được một số lượng

từ tương đối lớn - làm giàu vốn kiến thức văn học - để ghi vào sổ tay TiếngViệt của mình Từ đó khơi gợi ở các em óc quan sát, trí tưởng tượng và khảnăng sử dụng từ ngữ khi miêu tả; điều đó sẽ giúp các em có lòng yêu thích vàviết được những bài văn miêu tả hay, giàu cảm xúc

c) Giúp học sinh cảm nhận cái hay, cái đẹp trong một đoạn văn, đoạn thơ

Trang 17

Để tích lũy vốn kiến thức văn học cho học sinh, tôi còn hướng dẫn các

em tìm hiểu để cảm nhận cái hay, cái đẹp qua việc đọc một đoạn văn ( tiếnhành qua nhiều tiết học) Cảm nhận được cái hay, cái đẹp, các em sẽ hìnhthành những cảm xúc thẩm mĩ, giúp cho việc học tập làm văn tốt hơn, nhất làvăn miêu tả

Để hướng dẫn tìm hiểu cảm nhận cái hay, cái đẹp của đoạn văn, tôihướng dẫn học sinh hình thành thói quen suy nghĩ, tự đặt và ghi các câu hỏixoay quanh nội dung đoạn văn,các em thường đặt ra các câu hỏi như:

+ Đoạn văn miêu tả đặc điểm gì của cảnh vật (đồ vật, con vật, nhân vật…)?

+ Đoạn văn có những từ láy nào gợi tả?

+ Đoạn văn có những hình ảnh so sánh nào?

+ Nêu suy nghĩ của bản thân sau khi đọc đoạn văn? …

Với thói quen suy nghĩ, tự đặt câu hỏi và ghi lại câu trả như trên, nhiềuhọc sinh lớp tôi đã có năng lực cảm thụ văn học rất tốt Đây chính là tiền đề

để các em viết được bài văn miêu tả hay, giàu cảm xúc:

3.1.5 Hướng dẫn học sinh lập dàn ý và viết câu văn gợi tả gợi cảm

a) Hướng dẫn học sinh lập dàn ý

Như chúng ta đã biết, lập dàn ý là xây dựng phần sườn cho bài văn trước khi viết thành một bài văn hoàn chỉnh với nội dung sinh động Tuy học sinh đã biết lập dàn ý cho bài văn miêu tả ở lớp 4 nhưng việc lập dàn ý cho bài văn miêu tả ở lớp 5 lại không thể bỏ qua Việc làm này rất quan trọng vì

nó giúp bài văn chặt chẽ về bố cục; các câu văn, đoạn văn có sự liên kết theo một trình tự hợp lý, khoa học

Đối với mỗi kiểu bài của văn miêu tả, tôi luôn gợi ý cho học sinh để từ

đó các em có thể xây dựng được dàn bài chi tiết

Ví dụ 1 : Lập dàn ý bài văn tả cảnh một buổi sáng( buổi trưa, buổi chiều)

trong vườn cây, (trong công viên, trên đường phố, trên cánh đồng, nươngrẫy)

- Tôi gợi ý và hướng dẫn học sinh như sau:

Bước 1: Xác định yêu cầu của bài

Bước 2: Phân tích đề, lựa chọn đối tượng để tả.

+ Bài văn thuộc thể loại gì ?

+ Kiểu bài văn ?

Trang 18

+ Đối tượng của bài ?

+ Trọng tâm của bài ?

+ Muốn làm tốt bài cần quan tâm những gì ?

Bước 3: Hướng dẫn học sinh lập dàn ý từ những điều quan sát được theo bố

cục ba phần:

- Mở bài: Em tả cảnh gì? Ở đâu? Vào thời gian nào? Lý do em chọncảnh vật để tả là gì?

- Thân bài: Tả những nét nổi bật của cảnh vật

+ Tả theo thời gian

+ Tả theo trình tự từng bộ phận

- Kết bài: Nêu cảm nghĩ và nhận xét của em về cảnh vật

(Giáo viên nhắc học sinh tả cảnh bao giờ cũng có con người, con vật,phong cảnh thiên nhiên Hoạt động của con người, chim muông làm chocảnh vật thêm đẹp và sinh động)

Bước 4: Làm mẫu bài tập

*Buổi sáng trong công viên.

- Mở bài: Giới thiệu khái quát: Sáng chủ nhật em được mẹ cho đi chơicông viên, cảnh tượng đây thật hấp dẫn

- Thân bài: Tả bộ phận của cảnh vật

+ Ngay từ phía cổng vào đã tấp nập người

+ Làn gió nhè nhẹ mơn man mái tóc em

+ Mặt hồ lăn tăn gợn sóng

+ Những hạt sương đêm còn đọng trên cành cây, kẽ lá

+ Chim chóc nô đùa hót líu lo

+ Những chiếc thuyền đạp nước lặng im như đàn thiên nga đang nằm ngủ.+ Các cụ già đi tập thể dục đã về

+ Tiếng nhạc vang lên từ các khu vui chơi

+ Tiếng trẻ em nô đùa chạy theo người lớn

- Kết bài: Em rất thích đi công viên vào buổi sáng, không khí ở đây rất mát

và trong lành

* Buổi chiều trên cánh đồng.

Trang 19

- Mở bài: Con đường đi học của em uốn quanh làng, men theo đồnglúa.Mỗi chiều đi học về em thả hồn mình trước cánh đồng lúa mênh mông.

- Thân bài: Tả theo trình tự thời gian

+ Ông mặt trời lững thững đạp xe qua ngọn tre

+ Những tia nắng vàng nhạt dần

+ Cánh đồng là một màu vàng

+Những đợt sóng lúa nhấp nhô theo làn gió

+ Dọc hai bên bờ sông là hàng bạch đàn cao vút, soi bóng xuống mặtnước trong veo

+ Những chú chim chiền chiện lúc bay lúc xà xuống ruộng lúa

+ Chim cu gáy bay về từng đàn

+Trên bờ ruộng mấy bác nông dân đang trò chuyện, tay nâng bông lúavàng trĩu hạt Gương mặt ai cũng tràn trề niềm vui, chờ đợi một vụ bội thu

+ Xa xa, mấy bạn nhỏ đang trên đường đi học về

- Kết bài: Trời nhá nhem tối, em về nhà trong tâm trạng vui vui Em ướcsao khoảnh khắc hoàng hôn còn ở mãi trên cánh đồng để ai cũng nhìnthấy một màu vàng của no ấm

Từ những gợi ý về cách lập dàn ý đã nêu trên, đối với tất cả các bài vănmiêu tả trong chương trình, học sinh lớp tôi đã lập được dàn ý tùy thộc vàokhả năng văn học của từng em

Ví dụ 2 : Lập dàn ý tả một đồ vật hoặc món quà có ý nghĩa rất sâu sắc

đối với em (chuẩn bị trong tiết Hướng dẫn học)

Dàn ý của em Mạnh Cường (chỉ là các gạch đầu dòng ngắn gọn)

- Mở bài: Đầu năm học mẹ mua cho em một chiếc hộp bút.

- Thân bài:

+ Hộp bút có màu xanh.

+ Vỏ ngoài có hình logo siêu nhân

+ Chiều cao 3cm, chiều dài chừng 25cm, chiều rộng 9cm

+ Phía trên có một gọt chì

+ Cạnh đó có một lịch xoay

+ Phía dưới là một ngăn đựng tẩy

+ Mặt sau có một nhãn vở

Trang 20

+ Trong ngăn đựng bút có dán hình PICACHU.

+ Ngăn trên em đựng bút mực, ngăn dưới dựng bút chì

+ Một ngăn nhỏ ở góc trái em đựng tẩy và gọt chì

- Kết bài: Em rất yêu quý hộp bút, luôn giữ gìn cẩn thận.

Dàn ý chi tiết viết thành câu của em Khánh Linh.

- Mở bài: Để thưởng cho thành tích học tập của em, Mẹ đã thưởng cho

em một chiếc bút nét hoa rất đẹp

- Thân bài:

+ Chiếc bút dài khoảng 18cm,thân tròn như chiếc đũa

+ Nắp bút có màu trắng bạc,phần thân bút có màu đen

+ Ở phía dưới đáy bút được phun sơn màu vàng

+ Phần nắp bút có một tấm ảnh hình con Kitty rất đáng yêu

+ Chiếc ngòi nhỏ nhắn như mỏ con gà với nét thanh, đậm rất rõ ràng.+ Bên trong vỏ bút là cái “Ruột gà“ dùng để bơm và đựng mực

+ Chiếc bút giúp em viết đẹp hơn và ghi chép được nhiều kiến thức bổích

- Kết bài:

+ Chiếc bút là người bạn thân thiết, là kỉ niệm của Mẹ em

+ Em sẽ giữ gìn chiếc bút như một vật báu

- Nhiều em đã xây dựng được dàn ý cho bài văn miêu tả của mình rất chitiết ( phần phụ lục)

Để viết được bài văn miêu tả hay, các em đã tạo cho mình thói quen lậpdàn ý cho bài văn sau đó dựa vào dàn ý để phát triển ý sao cho sinh động Vìvậy, bài văn của học sinh không còn tình trạng lộn xộn về ý, thiếu ý hay miêu

tả sơ sài, hời hợt đặc điểm của các đối tượng được tả

Trên cơ sở dàn ý đã lập, nhiều học sinh lớp tôi đã chuyển một phần dàn

ý thành đoạn văn chân thật, sinh động và giàu cảm xúc

- Đoạn văn của em Thu Huyền trong bài văn Tả một đồ vật mà em yêu

quý: “Mở nắp ra, hiện lên trước mắt tôi là một chiếc ngòi bút nhỏ

sáng loáng hình thon như lá tre Ngòi bút cắm chặt vào quản rỗng có cái chèn như nụ hoa Tôi xoáy thân bút ra theo chiều kim đồng hồ để bơm mực À, ruột bút đây rồi!Nó làm bằng cao su mềm, bên trong có cái ống nhỏ như que tăm dùng để dẫn mực Sau nhiều ngày nhịn đói,

Trang 21

tôi cho bút uống mực một bữa no nê thoả thích Tôi đã dùng bút của Linh vài lần rồi nhưng khi cầm chiếc bút lần đầu tiên, tôi có một cảm giác rất lạ, ấm áp làm sao ấy! Thấy tôi ngập ngừng, mẹ đứng bên cạnh động viên: “Con hãy cố gắng lên, luyện viết chăm chỉ để chữ viết ngày càng đẹp hơn” Tôi viết từng dòng chữ ngay ngắn, thắng hàng hiện lên trên trang giấy trắng tinh, lúc đầu nét chữ còn xương xương Nhưng chỉ mấy dòng sau mực đã ra đều, ngòi bút viết trơn và dễ dàng hơn rất nhiều Nét chữ mềm mại, nét thanh nét đậm rõ ràng Đôi mắt mẹ ánh lên niềm vui khi nhìn tôi viết.”

b) Hướng dẫn học sinh kỹ năng viết câu văn sinh động, gợi tả

Muốn viết được một bài văn miêu tả sinh động ngoài vốn từ ngữ tích lũy và những chi tiết mà học sinh quan sát được thì việc giúp các em có kĩ năng viết câu văn sinh động, gợi tả là rất cần thiết Để làm được điều đó, học sinh cần có nghệ thuật sử dụng từ ngữ và vận dụng các biện pháp tu từ trong Tiếng Việt

Trước hết tôi giúp học sinh nắm chắc các khái niệm về một số biện pháp tu từ thường gặp đối với học sinh tiểu học như so sánh, nhân hóa, điệp

từ, điệp ngữ, đảo ngữ để các em có vốn kiến thức vận dụng trong bài viết của mình

Từ đó tôi đã sử dụng các dạng bài tập nhận biết, các bài luyện tập theo mức độ từ dễ đến khó, phù hợp với đối tượng học sinh để các em dễ dạng vận dụng vào văn miêu tả

Ví dụ 1 : Hãy thêm vế câu có sử dụng hình ảnh so sánh thích hợp vào

chỗ trống để mỗi dòng sau đây trở thành câu văn có ý mới mẻ sinh động

- Đầu mỗi chùm hoa cúc là một chùm nụ với hàng chục nụ con giống như

- Bé chập chững bước đi mấy bước rồi sà vào lòng mẹ như …

- Ánh mắt dịu hiền của mẹ là

- Một dải mây mỏng, mềm mại như

- Trên nền trời xanh biếc có vài đám mây trắng đủng đỉnh bay

+ Nhiều em đã viết được những vế câu so sánh thật đặc sắc:

Câu viết của em Xuân Trang: Ánh mắt dịu hiền của mẹ như ngọn lửa

sưởi ấm cuộc đời con.

Trang 22

Em Vân Anh viết: Ánh mắt dịu hiền của mẹ là ngôi sao dẫn đường cho

con băng lên phía trước.

Em Dương Linh lại viết: Ánh mắt dịu hiền của mẹ là nguồn sinh lực vô

tận theo con mỗi bước đường đời.

Hay dạng bài

Ví dụ 2: Viết lại những câu văn dưới đây cho sinh động gợi tả bằng

cách sử dụng biện pháp so sánh

- Bé có đôi mắt đen tròn, hai má đỏ ửng

- Nhị hoa loa kèn có màu vàng tươi

- Cây phượng vĩ ở cổng trường đã nở hoa đỏ

- Những ruộng hoa nhiều màu sắc đẹp

+ Nhiều em viết được những câu văn rất giàu hình ảnh và sinh động:

Em Thùy Vân viết: Nhị hoa loa kèn có màu vàng tươi như màu của

những tia nắng tinh nghịch luôn thu hút lũ ong bướm đến vui đùa.

Em Nguyễn Khánh Linh viết: Những ruộng hoa nhiều màu sắc: cam,

vàng, đỏ như những mảng màu chấm phá trên bức thảm xanh của cánh đồng.

Đối với các em việc viết câu văn có hình ảnh so sánh không còn là việckhó nữa, các em rất hứng thú với dạng bài tập này

Ví dụ 3: Tìm từ ngữ chỉ đặc điểm dấu hiệu của con người, điền vào chỗ

trống cho thích hợp nhằm diễn tả sự vật bằng cách nhân hóa

- Hoa hướng dương

- Chiếc đồng hồ báo thức

- Ông mặt trời

- Quyển sách Tiếng Việt

- Chiếc bút nét hoa

+ Các em đã biết viết những câu có hình ảnh nhân hóa như :

Em Kim Ngân đã vận dụng khi tả một ngày mới bắt đầu ở quê em:

“Ông mặt trời đạp xe lên núi để tia nắng ghé thăm mọi người.”

Em Yến Nhi viết khi tả chiếc đồng hồ báo thức: “Cứ đến giờ hẹn đồng

hồ lại ngân nga khúc nhạc như báo với em: Cô chủ ơi, đến giờ dậy rồi, dậy đi học kẻo muộn!”.

Ví dụ 4: Hãy sử dụng biện pháp nhân hóa để diễn đạt những câu dưới

đây cho sinh động, gợi tả:

Ngày đăng: 05/06/2020, 14:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Minh Thuyết ( chủ biên) Sách giáo khoa Tiếng Việt 5 tập 1; 2, NXB Giáo dục, năm 2008 Khác
2. Nguyễn Minh Thuyết ( chủ biên) Sách giáo viên Tiếng Việt 5 tập 1; 2, NXB Giáo dục, năm 2006 Khác
3. Lê A, Lê phương Nga – Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học, NXB Giáo dục năm 1996 Khác
4. Lê Phương Nga – Nguyễn Trí - Phương pháp dạy Tiếng Việt ở Tiểu học NXB Đại học quốc gia Khác
5. Hoàng Hòa Bình - Dạy văn cho học sinh Tiểu học, NXB Giáo dục Khác
6. Trần Mạnh Hưởng - Chuyên đề dạy Tập làm văn lớp 4 - 5, NXB Giáo dục Khác
7. Trần Mạnh Hưởng - Luyện Tập làm văn 5, NXB Giáo dục Khác
8. Trần Mạnh Hưởng – Luyện tập về cảm thụ văn học ở Tiểu học – NXB Giáo dục Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w