Giải quyết tranh chấp Ngoài việc là diễn đàn đàm phán các quy định thương mại, WTO còn hoạt động như một trọng tài giải quyết các tranh chấp giữa các nước thành viên liên quan đến việc á
Trang 1World Trade Organization (tiếng Anh)
Organisation mondiale du commerce (tiếng Pháp)
Organización Mundial del Comercio (tiếng Tây Ban Nha)
Thành viên sáng lập (tháng 1, 1995)
Thành viên gia nhập sau
Ngày thành lập Tháng 1, 1995
Trụ sở Centre William Rappard, Geneva, Thụy Sĩ
Thành viên 155 thành viên
Ngôn ngữ chính
thức Tiếng Anh, Tiếng Pháp, Tiếng Tây Ban Nha
[1]
Director-General
Pascal Lamy
Ngân sách 189 triệu franc Thụy Sĩ (khoảng 182 triệuUSD)
vào năm 2009.[2]
Trang chủ www.wto.int
Đàm phán
Phần lớn các quyết định của WTO đếu dựa trên cơ sở đàm phán và đồng thuận Mỗi thành viên của WTO có một phiếu bầu có giá trị ngang nhau Nguyên tắc đồng thuận có
ưu điểm là nó khuyến khích nỗ lực tìm ra một quyết định khả dĩ nhất được tất cả các thành viên chấp nhận Nhược điểm của nó là tiêu tốn nhiều thời gian và nguồn lực để có được một quyết định đồng thuận Đồng thời, nó dẫn đến xu hướng sử dụng những cách diễn đạt chung chung trong hiệp định đối với những vấn đề có nhiều tranh cãi, khiến cho việc diễn giải các hiệp định gặp nhiều khó khăn
Trang 2Trên thực tế, đàm phán của WTO diễn ra không phải qua sự nhất trí của tất cả các thành viên, mà qua một quá trình đàm phán không chính thức giữa những nhóm nước Những cuộc đàm phán như vậy thường được gọi là "đàm phán trong phòng xanh" (tiếng
Anh: "Green Room" negotiations), lấy theo màu của phòng làm việc của Tổng giám đốc WTO tại Genève, Thụy Sĩ Chúng còn được gọi là "Hội nghị Bộ trưởng thu hẹp" (Mini-Ministerials) khi chúng diễn ra ở các nước khác Quá trình này thường bị nhiều nước
đang phát triển chỉ trích vì họ hoàn toàn phải đứng ngoài các cuộc đàm phán như vậy [1] Richard Steinberg (2002) lập luận rằng mặc dù mô hình đồng thuận của WTO đem lại vị thế đàm phán ban đầu dựa trên nền tảng luật lệ, các vòng đàm phán thương mại kết thúc thông qua vị thế đàm phán dựa trên nền tảng sức mạnh có lợi cho Liên minh châu
Âu và Hoa Kỳ, và có thể không đem đến sự cải thiện Pareto Thất bại nổi tiếng nhất và cũng gần đây nhất trong việc đạt được một sự đồng thuận là tại các Hội nghị Bộ trưởng diễn ra ở Seattle (1999) và Cancún (2003) do một số nước đang phát triển không chấp thuận các đề xuất được đưa ra
WTO bắt đầu tiến hành vòng đàm phán hiện tại, Vòng đàm phán Doha, tại Hội nghị Bộ trưởng lần thứ 4 diễn ra tại Doha, Qatar vào tháng 11 năm 2001 Các cuộc đàm phán diễn
ra căng thẳng và chưa đạt được sự nhất trí, mặc dù đàm phán vẫn đang tiếp diễn qua suốt Hội nghị Bộ trưởng lần thứ 5 tại Cancún, Mexico vào năm 2003 và Hội nghị Bộ trưởng lần thứ 6 tại Hồng Kông từ ngày 13 tháng 12 đến ngày 18 tháng 12 năm 2005
Giải quyết tranh chấp
Ngoài việc là diễn đàn đàm phán các quy định thương mại, WTO còn hoạt động như một trọng tài giải quyết các tranh chấp giữa các nước thành viên liên quan đến việc áp dụng quy định của WTO Không giống như các tổ chức quốc tế khác, WTO có quyền lực đáng
kể trong việc thực thi các quyết định của mình thông qua việc cho phép áp dụng trừng phạt thương mại đối với thành viên không tuân thủ theo phán quyết của WTO Một nước thành viên có thể kiện lên Cơ quan Giải quyết Tranh chấp của WTO nếu như họ tin rằng một nước thành viên khác đã vi phạm quy định của WTO
Hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO bao gồm hai cấp: sơ thẩm và phúc thẩm Ở cấp
sơ thẩm, tranh chấp sẽ được giải quyết bởi một Ban Hội thẩm Giải quyết Tranh chấp Ban hội thẩm này thông thường gồm 3 đên 5 chuyên gia trong lĩnh vực thương mại liên quan Ban hội thẩm sẽ nghe lập luận của của các bên và soạn thảo một báo cáo trình bày những lập luận này, kèm theo là phán quyết của ban hội thẩm Trong trường hợp các bên tranh chấp không đồng ý với nội dung phán quyết của ban hội thẩm thì họ có thể thực hiện thủ tục khiếu nại lênCơ quan phúc thẩm Cơ quan này sẽ xem xét đơn khiếu nại và có phán
Trang 3quyết liên quan trong một bản báo cáo giải quyết tranh chấp của mình Phán quyết của các cơ quan giải quyết tranh chấp nêu trên sẽ được thông qua bởi Hội đồng Giải quyết Tranh chấp Báo cáo của cơ quan giải quyết tranh chấp cấp phúc thẩm sẽ có hiệu lực cuối cùng đối với vấn đề tranh chấp nếu không bị Hội đồng Giải quyết Tranh chấp phủ quyết tuyệt đối (hơn 3/4 các thành viên Hội đồng giải quyết tranh chấp bỏ phiếu phủ quyết phán quyết liên quan)
Trong trường hợp thành viên vi phạm quy định của WTO không có các biện pháp sửa chữa theo như quyết định của Hội đồng Giải quyết Tranh chấp, Hội đồng có thể ủy quyền cho thành viên đi kiện áp dụng các "biện pháp trả đũa" (trừng phạt thương mại) Những biện pháp như vậy có ý nghĩa rất lớn khi chúng được áp dụng bởi một thành viên có tiềm lực kinh tế mạnh như Hoa Kì hay Liên minh châu Âu Ngược lại, ý nghĩa của chúng giảm
đi nhiều khi thành viên đi kiện có tiềm lực kinh tế yếu trong khi thành viên vi phạm có tiềm lực kinh tế mạnh hơn, chẳng hạn như trong tranh chấp mang mã số DS 267 về trợ cấp bông trái phép của Hoa Kỳ
Câu hỏi 1: WTO đã trải qua mấy vòng đàm phán?
GATT đã trải qua 9 vòng đàm phán thương mại với các mốc lịch sử như sau:
Vòng đàm phán thứ nhất từ ngày 10/4 – 30/10/1947 tại Geneva – GATT ra đời và
ngay trong vòng đàm phán đầu tiên 23 nước sáng lập đã thỏa thuận 1 hiệp định cắt giảm thuế quan ( thuế nhập khẩu) 45.000 mặt hàng khi thực hiện thương mại giữa các bên tham gia đàm phán ( chiếm 1/5 lượng giao dịch thương mại toàn cầu) Hiệp định GATT đầu tiên có hiệu lực từ 1/1/1948
Vòng đàm phán 2 diễn ra năm 1949 tại Annecy, Pháp gồm 33 nước tham gia ở
vòng đàm phán này các bên ký hiệp định xác định mức giảm thuế bình quân 35% cho
5000 danh mục mặt hàng
1950, GATT – 3 tại Torquay (Anh) các bên nhất trí trao đổi 8700 nhượng bộ quan
thuế dẫn đến việc cắt bỏ 25% so với mức năm 1948
1965, GATT – 4 tại Geneve nhất trí về các khoản cắt giảm quan thuế trị giá 2,5 tỷ
USD
1958, GATT – 5 ( gọi là vòng Dellon- tên của Ngoại trưởng Mỹ thời đó) Vòng họp
kéo dài đến tháng 1/1962, kết quả đạt 4400 nhượng bộ quan thuế trị giá 4,9 tỷ USD Ở vòng đàm phán này có 45 nước tham gia
1964, GATT – 6 ( còn gọi là vòng Kennedy) dẫn đến việc ký vào năm 1967 một hiệp
định giữa 50 nước tham gia, chiếm 75% mậu dịch thế giới
1973, GATT – 7 tại Tokyo với 99 nước tham dự ( kết thúc vào năm 1979) thỏa thuận
giảm quan thuế trị giá 300 tỷ USD, đạt mức thuế quan trung bình ( từ 0,7 đến 4,7%) đối với các hàng chế tạo của 9 thị trường công nghiệp lớn nhất thế giới
1982, Hội nghị Bộ trưởng GATT tại Geneve khẳng định lại giá trị của các nguyên tắc GATT về cư xử trong thương mại quốc tế, đồng thời đưa ra một chương trình làm cơ
sở để GATT tổ chức một vòng đàm phán thương mại mới
Trang 41986, các Bộ trưởng GATT bắt đầu GATT – 8 tại Punta Del Este ( Uruguay) đàm phán
về thương mại hàng hóa và dịch vụ Vòng đàm phán kéo dài đến tận năm 1993 Ở vòng đàm phán Uruguay có đến 123 nước tham gia, trị giá thương mại tăng lên nhờ kết quả của vòng đàm phán lên đến gần 4 ngành tỷ USD Sau vòng đàm phán mức thuế nhập khẩu bình quân chỉ còn 3,9 % Những nét chính của vòng này là: thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thay thế cho GATT; giảm thuế và các biện pháp trợ cấp xuất khẩu; giảm hạn ngạch và các hạn chế nhập khẩu khác trong vòng 20 năm; ký kết Hiệp định về Bảo hộ Quyền sở hữu Trí tuệ liên quan đến Thương mại (TRIPS); mở rộng phạm vi áp dụng của luật thương mại quốc tế sang lĩnh vực dịch vụ thông qua Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS); dỡ bỏ hạn chế đối với đầu tư nước ngoài
Ngày 15/4/1994 tại Marrakesh ( Maroc) các nước thành viên của GATT đã ký hiệp
định thành lập Tổ chức thương mại thế giới Như vậy WTO đi vào hoạt động từ ngày 1/1/1995 là một tổ chức hoạt động độc lập với hệ thống Liên Hiệp quốc
Vòng đàm phán Doha 11/2001 – 7/2011: Vòng đàm phán Doha được coi là vòng
đàm phán thứ 9 kể từ khi Hiệp định GATT ra đời năm 1947, vòng đàm phán này được phát động tại Hội nghị Bộ trưởng WTO tại Doha của Quarta, Nội dung chính của vòng đàm phán Doha là:
- Đàm phán về nông nghiệp và dịch vụ được định sẵn trong Hiệp định Nông
nghiệp (điều XX) và Hiệp định GATS (điều XIX) của Vòng đàm phán Uruguay,
mà thực chất đòi giảm bảo hộ, giảm trợ cấp đối với nông sản ở các nước công nghiệp phát triển như Mỹ, EU, Nhật…để tạo môi trường thương mại bình đẳng, giúp các nước nghèo có điều kiện cạnh tranh nông sản bình đẳng với các nước giàu có
- Vấn đề tiếp cận thị trường hàng công nghiệp ở các nước đang phát triển ( NAMA) Hiện tại, thuế nhập khẩu đối với hàng công nghiệp bình quân ở các
nước đang phát triển là dưới 5%, còn ở các nước đang phát triển là dưới 15% Ở vòng đàm phán Doha, các nước công nghiệp phát triển muốn các nước đang phát triển giảm thuế nhập khẩu hàng công nghiệp hơn nữa
- Giải quyết các vấn đề tồn đọng nêu ra tại Hội nghị Singapore về: thuận lợi hóa
thương mại và minh bạch hóa sự mua sắm của Chính phủ
Ngoài ra, ở Vòng đàm phán Doha còn giải quyết các vấn đề khác như: quyền của các nước nghèo được nhập khẩu với giá rẻ hoặc được cấp bằng sáng chế sản xuất những loại dược phẩm chữa trị được bệnh như AIDS, sốt rét…
Đến tháng 7/2007, Vòng đàm phán Doha vẫn chưa kết thúc vì các vấn đề mở cửa thị trường nông sản; vấn đề quyền tiếp cận với các loại thuốc giá rẻ của các nước nghèo chưa được giải quyết
Câu hỏi 2: Vòng đàm phán nào chưa kết thúc? Vì sao?
Vòng đàm phán Doha của WTO: Dậm chân tại chỗ
Trang 5Hội nghị Bộ trưởng các nước thành viên Tổ chức Thương mại thế giới WTO lần thứ
8 mới rồi đã kết thúc tại Geneve (Thuỵ Sỹ), song dư âm của nó thì tới nay vẫn còn Ngoài việc thông qua Hiệp định sửa đổi về mua sắm công và kết nạp thêm 4 thành viên mới là Nga, Montenegro, Samoa và Vanuatu, đưa tổng số thành viên WTO lên
157, Hội nghị này vẫn tồn tại những bất đồng sâu sắc giữa các thành viên.
Về phương diện Vòng đàm phán Doha của WTO, Hội nghị này không đạt được kết quả nào, khiến cho toàn bộ tiến trình này cả sau 10 năm vẫn trì trệ Cũng vì sự bất đồng quan điểm giữa các thành viên mà Hội nghị không thông qua được tuyên bố chung, mà chỉ có được một tuyên bố của Chủ tịch Hội nghị
Kết quả rất hạn chế này của Hội nghị thể hiện ở chỗ, một tuyên bố như vậy không có hiệu lực ràng buộc đối với các thành viên, trong đó chỉ bao hàm những tuyên bố ý định mang tính chung chung cho mục tiêu xây dựng hệ thống thương mại đa phương toàn cầu, những cam kết lỏng lẻo về hỗ trợ các nước chậm phát triển nhất tiếp cận thuận lợi hơn thị trường thương mại thế giới Chỉ như vậy thì đâu khác việc các đại biệu đã công nhận cả gián tiếp lẫn trực tiếp là tiến trình kết thúc Vòng đàm phán Doha của WTO vẫn bế tắc và hiện chưa thấy le lói triển vọng sớm có thể thoát được ra khỏi tình trạng đó
Hội nghị Bộ trưởng các nước thành viên Tổ chức Thương mại thế giới WTO lần thứ 8 đánh dấu 10 năm tiến triển rất chậm chạp, thậm chí thất bại của Vòng đàm phán Doha Bất đồng quan điểm giữa các thành viên và xung khắc giữa các nhóm lợi ích trong WTO cũng như khủng hoảng kinh tế và tài chính trong mấy năm gần đây là những nguyên nhân chính Sự trì trệ của quá trình này tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi cho sự trỗi dậy mạnh
mẽ của chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch và sự thắng thế của trào lưu hình thành những khu vực mậu dịch tự do song phương và đa phương ở bình diện khu vực và châu lục Theo số liệu của WTO, cho tới nay trên thế giới đã có hơn 300 thỏa thuận mậu dịch tự do như thế
Cả hai xu hướng ấy đều bất lợi cho tiến trình kết thúc thành công Vòng đàm phán Doha WTO cho rằng, những xu hướng này đang cản trở tăng trưởng kinh tế thế giới nói chung Chỉ riêng bảo hộ mậu dịch có thể gây tổn hại cho thương mại thế giới hằng năm tới 800 tỉ USD
Dự báo trong năm 2012 gần như không có triển vọng đạt được bước khai thông đột phá trong tiến trình này Lý do chính là tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính vẫn còn rất đáng kể và có các cuộc bầu cử tổng thống ở Mỹ, Nga, Pháp, chuyển giao thế hệ lãnh đạo ở Trung Quốc, khủng hoảng nợ công và đồng euro trong EU Rất có thể WTO sẽ phải từ bỏ phương châm đã thực hiện trong 10 năm qua là đàm phán và thông qua cả gói
để chuyển sang phương cách đàm phán thông qua từng vấn đề cụ thể, dễ làm trước, khó làm sau
Dư luận chung đều cho rằng, trường hợp lạc quan nhất thì cũng phải mất ít nhất hai năm
Trang 6nữa, các nhà lãnh đạo mới có thể đạt được những tiến triển đáng kể trong việc kết thúc thành công Vòng đàm phán Doha của WTO./
Ngày 27/7, tại Geneva, Thụy Sĩ, Tổng Giám đốc Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Pascal Lamy đã cảnh báo rằng sự tê liệt của Vòng đàm phán buôn bán tự do Doha đe dọa nghiêm trọng không chỉ buôn bán đa phương quốc tế mà còn cả chính chức năng và vai trò của WTO
Ông Pascal Lamy lưu ý 153 nước thành viên WTO rằng các nước không chỉ liên tục lỡ các hẹn cuối cùng để thỏa thuận và ký kết hiệp ước buôn bán tự do toàn cầu mà còn không thể thỏa thuận được một thỏa ước thu hẹp vào tháng 12 tới
Những gì thế giới đang chứng kiến hiện nay là chức năng thương lượng của WTO bị tê liệt cả về tiếp cận thị trường và hoạch định các chính sách buôn bán quốc tế Các nước cần nhìn nhận nghiêm túc về nguy cơ này
Theo ông, đường lối thực tế và thực tiễn nhất lúc này là tập trung thảo luận các vấn đề ngoài Vòng đàm phán Doha tại hội nghị cấp bộ trưởng WTO hiện nay và thảo luận rộng hơn tiến trình sắp tới của Vòng đàm phán này
Tổng Giám đốc WTO nhấn mạnh nếu Vòng đàm phán Doha thất bại thì đây là thất bại đầu tiên của một vòng đàm phán thương mại quốc tế đa phương kể từ khi tổ chức tiền nhiệm của WTO là Hiệp định chung về thuế quan và buôn bán được thành lập năm 1947
Các nhà thương lượng đang nỗ lực cứu vãn một khía cạnh rất nhỏ của Vòng đàm phán bằng đề nghị thương lượng để đi đến thỏa thuận vào tháng 12 tới gói “thu hoạch sớm”, theo đó sẽ mở rộng quyền tiếp cận thị trường đối với một số nước nghèo nhất và giảm trợ cấp bông, chủ đề được các nước Tây Phi đặc biệt quan tâm
Tuy nhiên, Mỹ cho rằng một thỏa thuận như vậy không thể đạt được vì nhiều nước bác
bỏ các nhân tố khác trong gói thương lượng này
Mỹ đã thúc đẩy giảm trợ cấp ngư nghiệp nhưng đã gặp phải sự chống đối của Liên minh châu Âu (EU) và nhiều nước khác Đề nghị của EU loại bỏ thuế quan nhập khẩu cũng gặp sự chống đối mạnh mẽ của các nền kinh tế thị trường mới nổi
Câu 3: So sánh WTO và GATT:
3.1 Điểm giống nhau cơ bản:
Trang 7WTO là tổ chức kế thừa sự hoạt động của GATT, cho nên 2 tổ chức này có điểm giống nhau:
Giống nhau về mục tiêu hoạt động: nhằm thúc đẩy sự tự do thương mại trên toàn cầu Đều là hệ thống quy định quốc tế chung điều tiết mọi hoạt động thương mại của các nước tham gia ký kết
Đều là diễn đàn thương lượng đa phương lớn nhất để thảo luận việc từng bước tự
do hóa thương mại quốc tế về hàng hóa, dịch vụ
Đều là cơ chế kiểm điểm chính sách thương mại của các nước thành viên, bảo đảm thực hiện mục tiêu thúc đẩy tự do hóa thương mại và tuân thủ các quy định
Đều xây dựng khổ thể chế để tiến hành các vòng đàm phán thương mại đa phương giữa các nước thành viên
Đều có cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các nước thành viên
Đều lấy Nguyên tắc Tối huệ quốc để xây dựng chính sách thương mại giữa các quốc gia thuộc WTO
Đều thực hiện việc hợp tác với các tổ chức kinh tế quốc tế khác như Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) và Ngân hàng Thế Giới trong việc hoạch định những chính sách và dự báo về những xu hướng phát triển tương lai của kinh tế toàn cầu
Cả hai đều đưa ra quy định một số ngoại lệ (exception) và miễn trừ (waiver) quan trọng đối với nguyên tắc MFN khi áp dụng với các nước đang phát triển
3.2 Những điểm khác biệt:
GATT là một loạt các quy định, hiệp định đa biên, không có nền tảng về thể chế Điều hành nó chỉ là một ban thư ký nhỏ gắn bó với mục đích ban đầu là cố gắng thành lập Tổ chức thương mại quốc tế (ITO) vào những năm 40 WTO là một tổ chức thường trú có ban thư ký riêng với 635 nhân viên được lãnh đạo bởi một tổng giám
đốc và 4 phó tổng giám đốc Ngân sách hoạt động 175 triệu Frăng Thụy Sĩ (2006) hoạt động giống như 1 doanh nghiệp
Các hiệp định của GATT mang tính tạm thời được thay đổi bổ sung qua các vòng đàm phán thương mại trong khi đó các hiệp định của WTO mang tính cam kết
cố định và vĩnh viễn
Các quy định của GATT được áp dụng cho thương mại hàng hóa Nhưng WTO còn bao hàm cả thương mại dịch vụ và các khía cạnh liên quan đến thương mại
như vấn đề sở hữu trí tuệ, hoạt động đâu tư…
GATT bao gồm nhiều hiệp định có liên quan đến thương mại, việc áp dụng chúng
ở mỗi nước thành viên mang tính chọn lọc và tự nhiên Các hiệp định của WTO phần lớn mang tính đa biên, các nước gia nhập phải cam kết áp dụng trọn gói, toàn
bộ, tuy nhiên, đối với các nước chậm phát triển có những nhượng bộ riêng
Hệ thống giải quyết các tranh chấp của WTO nhanh hơn, tự động hơn và ít bị tắc nghẽn so với hệ thống cũ của GATT Việc thực hiện các phán quyết về giải quyết
tranh chấp cũng dễ dàng đảm bảo hơn theo quy trình, thời gian biểu chặt chẽ
Trang 8 WTO là tổ chức quốc tế duy nhất quản lý luật lệ giữa các quốc gia trong hoạt
động thương mại quốc tế
Câu 4: Nội dung các hiệp định của WTO?
Hiện nay có trên 50 Hiệp định đa phương đã được kí kết các thành viên cỉa WTO phải cam kết thực hiện hầu hết những hiệp định này, trừ các thỏa thuận tự nguyện Trong
số này thì có 4 Hiệp định quan trọng nhất đó là:
- Hiệp định chung về thuế quan và thương mại
- Hiệp định về thương mại dịch vụ
- Hiệp định liên quan đến thương mại và quyền sở hữu trí tuệ
- Hiệp định các biện pháp thương mại có liên quan đến đầu tư
Ngoài ra, còn có các hiệp định quan trọng khác như:
- Hiệp định về nông nghiệp
- Hiệp định về định giá hải quan
- Hiệp định về dệt may
- Hiệp định về trợ cấp và chống trợ cấp
- Hiệp định về chống bán phá giá
- Hiệp định về các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch
- Hiệp định về các rào cản kĩ thuật đối với thương mại
4.1 Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (General Agreement on Tariffs and Trade – GATT ) bao gồm những nội dung chủ yếu sau:
4.1.1 Nguyên tắc không phân biệt đối xử trong thương mại, hay là đối
xử tối huệ quốc (Most Favored Nation):
Đây là nguyên tắc quan trọng nhất, quy định các nước thành viên dành cho nhau ưu đãi tối huệ quốc về thuế xuất nhập khẩu và đối xử bình đẳng trong thương mại - tức là
không có sự phân biệt đối xử về thuế nội địa, chính sách giá, các loại phí, phương pháp tiếp cận thị trường, vận tải, phân phối hàng hóa và lưu kho….giữa hàng hóa sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu Nguyên tắc này có hai ngoại lệ là:
+ Các nước tham gia các khối mậu dịch tự do hay liên minh thuế quan khu vực như
EU, NAFTA, AFTA… có quyền áp dụng với nhau một biểu thuế, một hàng rào phi quan thuế riêng
+ Các nước đang phát triển được ưu đãi riêng, được các nước phát triển dành cho Hệ thống ưu đãi phổ cập (GSP) với thuế suất thấp hơn thuế suất tối huệ quốc
4.1.2 Thuế quan
- WTO thừa nhận thuế quan (Thuế nhập khẩu) là công cụ hợp pháp duy nhất để bảo hộ
các ngành sản xuất trong nước Các hàng rào bảo hộ phi thuế phải được bãi bỏ Có như vậy thuế quan mới trở thành biện pháp bảo hộ ít bóp méo thương mại nhất và cũng là biện pháp mang tính minh bạch hơn cả
Trang 9- Thuế quan chia làm nhiều loại khác nhau Thuế phần trăm là một số phần trăm nhất
định trên giá trị hàng hóa nhập khẩu (ví dụ 5%) Thuế cụ thể quy định một khoản tiền
cố định phải nộp trên một đơn vị hàng hóa (Ví dụ: 1.000 đồng/kg)
- Thuế quan phải được áp dụng trên nguyên tắc Tối huệ quốc (MFN) cho tất cả các
thành viên WTO
Một số phương thức kỹ thuật áp dụng cho các biện pháp thuế quan của WTO:
- Thuế hóa: Do tính dễ dàng và dễ đàm phán cắt giảm của thuế quan, các thành viên WTO thỏa thuận một cách thức mới cho việc tiếp cận thị trường nông sản là "chỉ sử dụng thuế quan" Các biện pháp hạn chế số lượng tồn tại trước Vòng Uruguay nay phải tiến hành "thuế hóa" tức là chuyển biện pháp phi thuế thành một mức thuế quan
bổ sung có tác dụng tương đương Trong nông nghiệp người ta còn sử dụng hạn ngạch thuế quan Hạn ngạch thuế quan là cơ chế cho phép duy trì mức thuế suất thấp áp dụng với hàng nhập trong phạm vi hạn ngạch và mức thuế suất cao hơn đối với hàng hóa nhập khẩu vượt hạn ngạch Mức thuế đạt được sau khi thuế hóa sẽ tiếp tục được ràng buộc và cắt giảm thông qua đàm phán
- Ràng buộc thuế: Khi một nước thành viên cam kết "ràng buộc" về thuế suất với một dòng thuế, thành viên đó sẽ không được nâng thuế nhập khẩu cao hơn mức ràng buộc đó
Đối với các sản phẩm nông nghiệp các nước thành viên cam kết ràng buộc thuế quan đối với toàn bộ các mặt hàng Trong lĩnh vực công nghiệp, các nước phát triển ràng buộc thuế 99% số mặt hàng Các con số tương ứng của các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi là 73% và 98% Các con số này đảm bảo mức độ tiếp cận thị trường an toàn hơn cho các nhà đầu tư và kinh doanh quốc tế
Các mặt hàng không nằm trong Biểu cam kết sẽ phải chịu mức thuế suất ràng buộc Tuy nhiên, ngay cả đối với các mặt hàng này vẫn phải tuân thủ nguyên tắc MFN
- Sau khi ràng buộc thuế, các nước sẽ phải không ngừng cam kết cắt giảm thuế quan
và không tăng thuế nhập khẩu để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mại
Ví dụ tại Vòng đàm phán Uruguay, trong lĩnh vực nông nghiệp, các nước phát triển cam kết cắt giảm trung bình 36% tính gộp với tất cả các dòng thuế, cắt giảm tối thiểu 15% một dòng, tiến hành trong 6 năm kể từ 1/1995 Trong lĩnh vực công nghiệp, tuy không phải ràng buộc toàn bộ các dòng thuế nhưng xu hướng cắt giảm diễn ra mạnh
mẽ "thuế quan theo ngành" và "hài hòa thuế quan" Thuế quan của tất cả các mặt hàng trong ngành cắt giảm theo các hình thức này có mức thuế suất rất thấp (thậm chí bằng 0%) Đó trước hết là sản phẩm công nghệ thông tin, dược phẩm, một số sản phẩm kim loại, gỗ, bột giấy
4.1.3 Phi thuế quan
WTO thừa nhận thuế quan là công cụ bảo hộ hợp pháp sản xuất trong nước Ngoài thuế quan ra, các hàng rào cản trở thương mại khác phải bị loại bỏ Tuy nhiên, các thành viên khác có thể sử dụng các biện pháp phi thuế để hạn chế nhập khẩu trong những trường hợp cần thiết để đảm bảo an ninh quốc gia, văn hóa truyền thống, môi trường, sức khỏe con người
- Thủ tục cấp phép nhập khẩu: WTO quy định cấp phép nhập khẩu phải đơn giản, rõ
ràng và dễ dự đoán Các chính phủ phải công bố thông tin đầy đủ cho các nhà kinh
Trang 10doanh biết giấy phép được cấp như thế nào và căn cứ để cấp Khi đặt ra các thủ tục cấp phép nhập khẩu mới hay thay đổi các thủ tục hiện tại, các thành viên phải thông báo theo những quy định cụ thể cho WTO Việc xét đơn nhập khẩu cũng phải tuân thủ các quy định chặt chẽ
- WTO quy định giá trị tính thuế hải quan là trị giá giao dịch (Trong giao dịch đơn giản
thông thường là giá trị hợp đồng) Trong trường hợp không áp dụng được giá trị giao dịch thì phải sử dụng các cách tính khác, nhưng không được xác định giá trị tính thuế một cách tùy tiện, chẳng hạn sử dụng giá nhập khẩu tối thiểu để tính thuế Ngoài ra hải quan chỉ được thu các khoản phí và lệ phí tương ứng với các chi phí cần thiết cho thủ tục thông quan WTO không cho phép thu các khoản phí và phụ thu vì các mục đích bảo hộ hay thu ngân sách
- Trợ cấp có thể được sử dụng để hỗ trợ cho một ngành sản xuất non trẻ vươn lên chiếm
lĩnh thị trường hoặc vì các mục đích khác Hầu như ngành nào cũng sử dụng trợ cấp Tuy nhiên một số hình thức trợ cấp bị cấm trong WTO, đặc biệt là trợ cấp xuất khẩu nông sản Khi hàng nhập khẩu được trợ cấp gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho một ngành công nghiệp của một thành viên, thành viên có thể đặt ra thuế đối kháng để hại chế thiệt hại do hành động trợ cấp gây ra
4.1.4 Biện pháp bảo vệ tạm thời:
- Các biện pháp bảo vệ tạm thời: thuế chống bán phá giá, thuế đối kháng và hành
động tự vệ khẩn cấp
+ Phá giá xảy ra khi một công ty xuất khẩu một sản phẩm với giá thấp hơn giá thông thường tại nước sản xuất Không phải khi nào phá giá cũng tạo ra cạnh tranh không công bằng Khi hành động phá giá gây thiệt hại nghiêm trọng cho một ngành sản xuất của một thành viên WTO cho phép thành viên đó dặt ra thuế chống bán phá giá để khắc phục những thiệt hại do phá giá gây nên Tuy nhiên, việc áp dụng thuế chống bán phá giá phải tuân thủ theo những thủ tục chặt chẽ và phức tạp
+ Trợ cấp có thể được sử dụng để hỗ trợ cho một ngành sản xuất non trẻ vươn lên chiếm lĩnh thị trường hoặc vì các mục đích khác Hầu như ngành nào cũng sử dụng trợ cấp Tuy nhiên một số hình thức trợ cấp bị cấm trong WTO, đặc biệt là trợ cấp xuất khẩu nông sản Khi hàng nhập khẩu được trợ cấp gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho một ngành công nghiệp của một thành viên, thành viên có thể đặt ra thuế đối kháng để hại chế thiệt hại do hành động trợ cấp gây ra WTO chỉ cho phép các nước
có GDP đầu người dưới 1000USD/năm được phép duy tgrì các biện pháo trợ cấp bị cấm như: trợ cấp xuất khẩu, trợ cấp nông sản… nhưng không được trợ cấp nhằm thay thế nhập khẩu
+ Khi nhập khẩu một mặt hàng nào đó tăng lên đột biến gây thiệt hại nghiêm trọng cho một ngành sản xuất, WTO cho phép các thành viên bị thiệt hại có thể sử dụng biện pháp tự vệ tạm thời kể cả hạn chế định lượng khác đẻ khắc phục thiệt hại do nhập khẩu gây ra Nước áp dụng tự vệ khẩn cấp phải có nghĩa vụ thông báo về biện pháp mà mình đang áp dụng và tiến hành tham vấn với các nước bị ảnh hưởng các biện pháp tự vệ khẩn cấp không được áp dụng khi sản xuất gặp khó khăn do năng lực quản lý kém, sử dụng công nghệ lạc hậy, giá thành sản phẩm trong nước cao…
4.1.5 Doanh nghiệp có đặc quyền thương mại: