DIEU TRI VA CHAM SOC SO SINH DIEU TRI VA CHAM SOC SO SINH DIEU TRI VA CHAM SOC SO SINH DIEU TRI VA CHAM SOC SO SINH DIEU TRI VA CHAM SOC SO SINH DIEU TRI VA CHAM SOC SO SINH DIEU TRI VA CHAM SOC SO SINH DIEU TRI VA CHAM SOC SO SINH DIEU TRI VA CHAM SOC SO SINH DIEU TRI VA CHAM SOC SO SINH DIEU TRI VA CHAM SOC SO SINH DIEU TRI VA CHAM SOC SO SINH DIEU TRI VA CHAM SOC SO SINH DIEU TRI VA CHAM SOC SO SINH DIEU TRI VA CHAM SOC SO SINH DIEU TRI VA CHAM SOC SO SINH DIEU TRI VA CHAM SOC SO SINH DIEU TRI VA CHAM SOC SO SINH DIEU TRI VA CHAM SOC SO SINH DIEU TRI VA CHAM SOC SO SINH DIEU TRI VA CHAM SOC SO SINH DIEU TRI VA CHAM SOC SO SINH DIEU TRI VA CHAM SOC SO SINH DIEU TRI VA CHAM SOC SO SINH DIEU TRI VA CHAM SOC SO SINH DIEU TRI VA CHAM SOC SO SINH DIEU TRI VA CHAM SOC SO SINH DIEU TRI VA CHAM SOC SO SINH DIEU TRI VA CHAM SOC SO SINH
Trang 3
NI NHÀ XUẤT BẢN Y HỌC - 2014
Trang 5LOI NOI DAU
Trong những năm gần đây, ngành Nhi khoa của nước ta đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ trong công tác chăm sóc sức khỏe trẻ em Một trong những thành tựu quan trọng đó là giảm rõ rệt tỉ lệ tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi và đặc biệt là tử vong của trẻ dưới 1 tuổi Tuy nhiên
công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe ở trẻ sơ sinh vẫn còn nhiều điều
chưa theo kịp được với nhu cầu của xã hội Tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh vẫn còn cao và chưa giảm rõ rệt Một số bệnh viện đa khoa tỉnh đã bắt
đầu xây dựng các phòng điều trị riêng cho trẻ sơ sinh nhưng một số bệnh
viện khác các trẻ sơ sinh vẫn còn phải nằm chung phòng với với các trẻ lớn hoặc thậm chí nằm chung phòng với cả người lớn Để chăm sóc trẻ
sơ sinh ngày một tốt hơn, bên cạnh việc phát triển các đơn vị chăm sóc
sơ sinh riêng biệt, cần phải có một đội ngũ cán bộ Nhi khoa chuyên sâu
hoặc có một trình độ nhất định về bệnh lý sơ sinh Hơn thế nữa, theo
quan điểm chăm sóc sơ sinh hiện đại ngày nay thì các chuyên khoa mới
đã được ra đời đó là các chuyên khoa về chu sinh học, bà mẹ và thai nhi
học Việc phối hợp giữa các khoa Sản — Sơ sinh là việc làm cần thiết đã được thực hiện ở nhiều nước tiên tiến trên thế giới
Mô hình này đã cho thấy có những lợi ích rất lớn trong công tác chăm
sóc trẻ sơ sinh và hạ thấp tỉ lệ tử vong ở nhóm tuổi này, đặc biệt là tử vong
trong 1 tuần sau đẻ
Cuốn sách được biên soạn với tinh thần phối kết hợp giữa Sản và Sơ
sinh nhằm nâng cao hơn nữa công tác điều trị và chăm sóc trẻ sơ sinh
theo mô hình tiên tiến của thế giới Cuốn sách sẽ là tài liệu cơ bản về
sơ sinh học và chu sinh học với những kiến thức cập nhật nhất hiện nay
được đưa vào áp dụng tại Khoa Nhi và Khoa Sản Bệnh viện Bạch Mai
Sách được chia làm 3 phần:
- Phần I: Bệnh lý thường gặp
- Phần II: Các kỹ thuật và chăm sóc sơ sinh
- Phan Ill: Mét số chỉ số bình thường ở trẻ sơ sinh
Trang 6Thay mặt nhóm biên soạn tôi xin giới thiệu cuốn sách nhỏ này với bạn đọc cả nước quan tâm đến sơ sinh học Nhân dịp này tôi xin gửi lời
cảm ơn chân thành tới Ban giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, Tổ chức JICA,
Dự án BSP của Bệnh viện Bạch Mai, Khoa Sản Bệnh viện Bạch Mai, Nhà
Xuất bản Y học và đặc biệt là Trung tâm bà mẹ, thai nhi và trẻ sơ sinh thuộc Trung tâm Y tế Saitama Nhật Bản và GS Masanori Tamura — Giám đốc trung tâm, BS Tomoo lto chuyên gia sơ sinh đã giúp đỡ và khích lệ
chúng tôi rất nhiều trong quá trình biên soạn
Sơ sinh học đặc biệt là chu sinh học là những vấn đề còn mới mẻ và
trình độ còn hạn chế nên cuốn sách không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong ban doc gan xa có những đóng góp và ý kiến bỗổ sung để cuốn sách
sẽ hoàn chỉnh hơn trong lần xuất bản sau
Thay mặt tác giả Chủ biên
PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng
Trưởng Khoa Nhi Bệnh viện Bạch Mai
Trang 7LỜI GIỚI THIỆU
(Cho lần xuất bản thứ 2)
Cuốn sách “Điều trị và chăm sóc sơ sinh” được xuất bản lần đầu
tiên vào năm 2010 đã được bạn đọc cả nước hoan nghênh và đón nhận
Sau một thời gian dài các kiến thức cũng như kinh nghiệm điều trị và chăm sóc trẻ sơ sinh đã có nhiều tiến bộ Hiện nay nhiều bệnh viện tỉnh
đã có phòng điều trị sơ sinh khang trang, hiện đại Do vậy nhu cầu được cung cấp thêm một số kiến thức hiện đại vào công tác điều trị và chăm sóc chuẩn là hết sức cần thiết Vì vậy cuốn sách xuất bản lần này đã cập
nhật thêm một số bài mới về tim mạch, hô hấp, dị tật và nhiễm trùng nặng
trong sơ sinh Ngoài ra, sách cũng lược bỏ một số bài không còn phù hợp
Trang 9LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm gần đây, ngành Nhi khoa của nước ta đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ trong công tác chăm sóc sức khỏe trẻ em Một trong những thành tựu quan trọng đó là giảm rõ rệt tỉ lệ tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi và đặc biệt là tử vong của trẻ dưới 1 tuổi Tuy nhiên công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe ở trẻ sơ sinh vẫn còn nhiều điều chưa theo kịp được với nhu cầu của xã hội Tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh
vẫn còn cao và chưa giảm rõ rệt Một số bệnh viện đa khoa tỉnh đã bắt đầu xây dựng các phòng điều trị riêng cho trẻ sơ sinh nhưng một số bệnh
viện khác các trẻ sơ sinh vẫn còn phải nằm chung phòng với với các trẻ lớn hoặc thậm chí nằm chung phòng với cả người lớn Để chăm sóc trẻ
sơ sinh ngày một tốt hơn, bên cạnh việc phát triển các đơn vị chăm sóc
sơ sinh riêng biệt, cần phải có một đội ngũ cán bộ Nhi khoa chuyên sâu
hoặc có một trình độ nhất định về bệnh lý sơ sinh Hơn thế nữa, theo
quan điểm chăm sóc sơ sinh hiện đại ngày nay thì các chuyên khoa mới
đã được ra đời đó là các chuyên khoa về chu sinh học, bà mẹ và thai nhi
học Việc phối hợp giữa các khoa Sản — Sơ sinh là việc làm cần thiết đã được thực hiện ở nhiều nước tiên tiến trên thế giới
Mô hình này đã cho thấy có những lợi ích rất lớn trong công tác chăm
sóc trẻ sơ sinh và hạ thấp tỉ lệ tử vong ở nhóm tuổi này, đặc biệt là tử vong
trong 1 tuần sau đẻ
Cuốn sách được biên soạn với tỉnh thần phối kết hợp giữa Sản và Sơ
sinh nhằm nâng cao hơn nữa công tác điều trị và chăm sóc trẻ sơ sinh theo mô hình tiên tiến của thế giới Cuốn sách sẽ là tài liệu cơ bản về
sơ sinh học và chu sinh học với những kiến thức cập nhật nhất hiện nay được đưa vào áp dụng tại Khoa Nhi và Khoa Sản Bệnh viện Bạch Mai
Sách được chia làm 3 phần:
- Phần I: Bệnh lý thường gặp
- Phần II: Các kỹ thuật và chăm sóc sơ sinh
- Phần II: Một số chỉ số bình thường ở trẻ sơ sinh
Trang 10Thay mặt nhóm biên soạn tôi xin giới thiệu cuốn sách nhỏ này với
bạn đọc cả nước quan tâm đến sơ sinh học Nhân địp này tôi xin gửi lời
cảm ơn chân thành tới Ban giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, Tổ chức JICA,
Dự án BSP của Bệnh viện Bạch Mai, Khoa Sản Bệnh viện Bạch Mai, Nhà
Xuất bản Y học và đặc biệt là Trung tâm bà mẹ, thai nhi và trẻ sơ sinh
thuộc Trung tâm Y tế Saitama Nhat Ban va GS Masanori Tamura — Giam
đốc trung tâm, BS Tomoo lto chuyên gia sơ sinh đã giúp đỡ và khích lệ
chúng tôi rất nhiều trong quá trình biên soạn
Sơ sinh học đặc biệt là chu sinh học là những vấn đề còn mới mẻ và
trình độ còn hạn chế nên cuốn sách không tránh khỏi những thiếu sói Rất
mong ban đọc gần xa có những đóng góp và ý kiến bỗ sung dé cuốn sách
sẽ hoàn chỉnh hơn trong lần xuất bản sau:
Thay mat tac gia
Chu bién
PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng Trưởng Khoa Nhi Bệnh viện Bạch Mai
Trang 11PREFACE
Our study group “Effectiveness and Impact of international collaboratuin in maternal and child health” started to work with Bach Mai hospital and JICA (Japan International Cooperation Agency) in neonatal care from 2008 In these two years, we sometimes visit Bach Mai hospital and other hospitals around Hanoi to support training programs to develop hunman resources for neonatal care
In Vietnam, the infant mortality rate already became 18 in 2006 It is relatively very low even comparing with surrounding nations We are sure that you achieved that by your own great effort In fact, Vietnam’s systems for primary health care are working well at the present day However, we also think that if you can improve more, you can achieve infant mortaliyty
rate
People sometimes misunderstand that high technological devices are necessary when we treat sick neonates, However, as the history of Japanese neonatal care has already shown, it is not always true
So we think that now it is time for Vietnam pediatricians to introduce further advanced care in neonatal field We know that some hospital in Vietnam have used mechanical ventilators and surfactants to treat neonate with RDS We can understand medical workers eager to introduce higher level of technologies But it is also important to practice and improve your basic skill as neonatal resuscitation at the same time What is more important, as we mention later, is to build up systematic structure to care pregnant mothers and babies Therefore, we would like to focus on following point in neonatal care
First, you have to handle asphyxiated babies adequately In this meonatal handbook, we focus on the neonatal resuscitation program Through this program, all health care providers who attend the delivery like pediatriccians, obstetricians, and midwifes are expecred to, perform adequate resuscitation The difficulty of the neonatal resuscitation
is that sometimes we can not prospect the asphyxia It means that in
every delivery room, you have to prepare some people who have been
well trained for neonatal resuscitation Therefore, we are sure that more delivery attendants master the skill of neonatal resuscitation.
Trang 12And one more thing what we would like to add is the importance of collaboration between pediatrics and obstetrics Without the exchange of information and making a clear strategy for both mothers and babies, we can not prepare for high -risk delivery and achieve better result with what
we have now Through the practice of the neonatal resuscitation program, you can learm not only the knowledge and skills but also the importance
of the —collaboration between medical teams
Finally, we would like to express our sincere respect for Department
of Pediatric of Bach Mai Hospital and Prof Nguyen Tien Dung Without their efforts you cannot get this excellent handbook, which help you save many sick babies and children who are otherwise dead
Effectivenness and Impact of international collaboration in maternal and child health
Principal Investigator: Yasuhide Nakamura, MD, PhD;
In Charge Investigator: Masanori Tamura, MD, PhD and Tomoo ito, MD
Trang 13MUCLUC
Tén bai Trang
Lời nói đầu
Preface
-Ths Lé Thi Thanh Ha
2 Một số bệnh lây truyền từ mẹ Sang con thường gặp :ap
_- PGS TS Nguyén Van Bang
3 | Bénhly so sinh do hit ph4n su - PGS TS Nguyễn Văn n Bảng 34
4 Một số đặc điểm về sinh lý hô hấp: trẻ Sơ sinh: 42
-PGS TS Nguyễn: Văn Bàng os
5 | Hdi strc so’ sinh sau đẻ - PGS TS Nguyén Tién Dang! 51
6 | Nhiém khuẩn ở trẻ sơ sinh - PGS TS Nguyễn Tiến Dũng | 68
7 Hội chứng suy hô hấp sơsinh - PGS TS Nguyễn Tiến Dũng | T7
3 Sử dụng áp lực đường thở dương liền tục (CPAP) cho trẻ SƠ - se
sinh và trẻ nhỏ - PGS TS Nguyễn Tién Dang |”
9_ Thông khí tần số cao ˆ - PS TS Nguyễn Tiến Dũng 101
40 Thong khí nhân tao ap lực dương cho trẻ sơ sinh - : | 1 42
- PGS TS Nguyễn Tiến Dũng fos
12 | Khám trẻ sơ sinh đủ tháng —_-Ths Lê Thị Thanh Hà 139
13 ¡ Hạ đường máu -Ths Lê Thị Thanh Hà“ 150
14 | Vàng da sơ sinh - Ths Lê Thị Thanh Hà | _ 154
15 ! Hạ canxi máu -Ths Lê Thị Thanh Hà 163
16 | Nguyên tắc chăm sóc trẻ sơ sinh - Ths Lương Thị Thúy Hiên 166
Trang 14
17 Thăm khám trẻ sơ sinh -Ths Lương Thị Thúy Hiễn ' 174
18 ¡ Bệnh phổi mãn tính ở trẻ sơ sinh - PGS TS Nguyễn Tiến Dũng ` 180
-_ 19 ; Sinh lý tuần hoàn thai nhí - BSCKII Nguyễn Đông Hải ` 194
20 Xử trí bệnh tim bẩm sinh ở trẻ sơ sinh Si | 499
- BSCKII Nguyễn Đông Hiải
21 _ Nhiễm khuẩn huyết sơ sinh - Th.S Nguyễn Thành Nam L 218
22 ¡ Một số dị tật bam sinh - Th.S Nguyễn Thành Nam _ 229
PHAN Il: KY THUAT DIEU TRI VA CHAM SOC
PGS.TS Nguyén Tién Dũng
ThS Nguyễn Thành Nam ` 237
ThS Lê Thị Thanh Hà
8S Đồ Tuân Anh
Cùng tập thê Khoa Nhi Bạch Mai
24 Kỹ thuật chọc dò ống sống thắt lưng 241
27.| Chăm sóc bệnh nhân vàng da đang điều trị chiếu đèn - 250
29 | Kỹ thuật hút đờm dãi qua mũi miệng - 256
32 | Kỹ thuật lấy máu tĩnh mạch làm xét nghiệm 262
34 | Kỹ thuật tắm và chăm sóc rốn trẻ sơ sinh 266
-35_| Quy trình kỹ thuật tắm và chăm sóc rồn cho trẻ sơ sinh ' 268
Trang 15| 40 Ky thuat dat Catheter tinh mach ngoại biên 277
a Thủ thuật đặt ống thông dạ dày ở trẻ sơ sinh 279
| 44 Phòng chống nhiễm khuẩn tại phòng tích cực sơ sinh 283
ị 45 ¡ Sử dụng máy theo dõi Monitoring Life Scopeb 285
, 48 | Chuan bi dung cu phy gilip bac si dat NKQ 298
49 ¡ Kỹ thuật thở oxy qua Mask 300
56 | Kỹ thuật phụ giúp bác sĩ chọc dịch màng phổi 315
57 | KY thuật tiêm truyền tĩnh mạch bằng bơm tiêm điện 317
PHAN Ill: TOM TAT PHAC ĐỒ VÀ CHỈ SÓ SINH LÝ BÌNH
PGS.TS Nguyễn Tiên Dũng
58 | Tóm tắt một số phác đồ điều trị cho trễ sơ sinh 321
59 | Một số chỉ số bình thường ở trẻ sơ sinh 335
Trang 17
PHẦN I: BỆNH LÝ SƠ SINH Tham gia biên soạn: PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng
PGS.TS Nguyễn Văn Bàng BSCKII Nguyễn Đông Hải
ThS Lê Thị Thanh Hà
ThS Lương Thị Thúy Hiền ThS Nguyễn Thành Nam
Trang 19PGS TS Nguyén Tiến Dũng
TỔ CHỨC XÂY DỰNG PHÒNG SƠ SINH
4 TỎ CHỨC PHÒNG SƠ SINH
Những bệnh viện có khoa sản nhất thiết phải có một đơn vị cấp cứu
sơ sinh bên cạnh Dựa vào khả năng phục vụ của từng tuyến y tế, người
ta thường chia ra ba mức độ phục vụ đáp ứng được yêu cầu khác nhau
của từng loại bệnh nhân từ đơn giản tới phức tạp:
1 Đơn vị phục vụ sơ sinh tuyến 1 (tuyến bệnh viện huyện): cung
cấp các dịch vụ chăm sóc đặc biệt và hồi sức cấp cứu sơ sinh ban đầu
Những bệnh nhân cần chăm sóc tích cực phải được chuyển lên tuyến 2
2 Đơn vị sơ sinh tuyến 2 (tuyến bệnh viện tỉnh) cần cung cấp được
các dịch vụ chăm sóc cấp cứu trong thời gian ngắn, ví dụ, thông khí nhân
tạo cho các bệnh nhân 30 tuần tuổi cần thở máy nhân tạo trong vài ngày,
những ca chăm sóc phức tạp, trẻ đẻ non và trẻ đẻ yếu
3 Đơn vị sơ sinh tuyến 3 (tuyến trung ương): Là đơn vị cung cấp
toàn bộ mọi dịch vụ và kĩ thuật chăm sóc tích cực, phức tạp bao gồm cả
kĩ thuật mỗ sơ sinh
2 MÔ HÌNH ĐƠN VỊ CHĂM SÓC SƠ SINH |
2.1 Địa điểm thiết kế phòng sơ sinh
- Phòng sơ sinh cần được thiết kế nằm ngay cạnh khoa sản, phòng
mỗ, khoa nhi hoặc nên có liên hệ mật thiết với một bệnh viện nhi gần đó
- Phòng phải đảm bảo đủ ánh sáng, có điều hòa nóng tới 30°C, có hệ
thống áp suất dương (không khí từ trong được hút ra ngoài, chứ không từ
ngoài vào được), có hệ thống cung cấp oxy trung tâm và được khử trùng
dễ dàng hàng tuần giống như phòng mổ
- Có hệ thống cách li dành riêng cho trẻ sơ sinh bị bệnh lây nhiễm
hoặc chuyển từ ngoài vào
- Phòng được thiết kế theo kiểu một chiều, có không gian phía ngoài
để nhân viên và người nhà bệnh nhân rửa tay và thay quần áo trước khi
Trang 20DIEU TRI VA CHAM SÓC SƠ SINH
vào phòng bệnh nhân, rồi sau khi thăm trẻ sẽ ra về bằng cửa khác
- Có bồn tắm cho trẻ với nước ấm ở nhiệt độ thích hợp
- Phòng phải đảm bảo đủ rộng để dễ dàng cấp cứu khí cần thiết Mỗi
giường phải được đặt cách nhau ít nhất 1m và cách tường 1.5-2m
- Số lượng giường bệnh tùy thuộc vào số lượng ca sinh trong một
năm của bệnh viện Cứ trung bình 1000 ca đẻ cần có 4-6 giường bệnh
Một phòng sơ sinh có khoảng 10 tới 20 giường bệnh là hợp lí
2.2 Nhân lực
- Phải có đủ bác sĩ, y tá nhi khoa được huấn luyện kĩ càng, đồng bộ và
có kinh nghiệm trong việc chăm sóc và cấp cứu trẻ sơ sinh ở môi trường điều trị tích cực
- Thường mỗi giường bệnh cần ít nhất là một y tá Số lượng nhân viên
được chia ra làm ca để đảm bảo trẻ được chăm sóc đầy đủ trong 24 giờ 2.3 Dụng cụ và trang thiết bị
Cần phải có sẵn sàng các thiết bị sau cho mỗi trẻ sơ sinh:
- Lồng ấp hoặc giường có kiểm soát được nhiệt độ
- Quần áo, tã lót, khăn mềm, gối chăn sẵn sảng đã được tiệt trùng
-_ Máy hút sữa mẹ, dụng cụ pha và làm ấm sữa, tủ lạnh để giữ sữa
- Cân tới don vi gram dé can trẻ và tã khi cần theo dõi phân và
nước tiểu
— Dụng cụ báo động ngừng thở
~ May hut dom
— Máy theo dõi nhịp tim và SaO2
— Máy truyền dịch `
- Bơm tiêm điện, kim tiêm, catherter TM rốn
- _ Ống nghe loại dành cho trẻ sơ sinh
t Bộ đèn đặt NK@Q, sonde hut, sonde ăn, bóng và mask các lứa tuổi
sơ sinh
— Máy chiếu đèn vàng da
-_ Máy thở cho những trường hợp thở máy trong thời gian ngắn
Trang 21PGS TS Nguyén Tién Ding
- C6 thiét bi riéng loại mini để đo khí máu, đo đường mau, Bilirubin,
điện giải đồ
- _ Có hệ thống chụp X quang tại giường cho trẻ sơ sinh
- Có tủ để các thuốc cấp cứu cần thiết cho trẻ sơ sinh với cơ số
thuốc nhất định
Các thiết bị cần được sắp xếp hợp lí để tiện cho việc cấp cứu, dễ lầy
và nhân viên cần thuộc lòng chỗ để các dụng cụ
Các máy móc cần được bảo dưỡng theo dõi thường xuyên và phải có
chuyên viên kĩ thuật giám sát và luôn đảm bảo các dụng cụ đã sẵn sàng
Trang 22DIEU TRI VA CHAM SÓC SƠ SINH
MOT SO BENH LAY TRUYEN TU ME SANG CON
THƯỜNG GẶP
4 MỞ ĐẦU
Nhiễm khuẩn sơ sinh là một lĩnh vực quan trọng trong nhỉ khoa và
ngày càng được quan tâm Không những ở các nước phát triển, mà cả
ở các nước đang phát triển, nhằm góp phần hạ thấp tỉ lệ tử vong chung
ở trẻ em đang đặc biệt cao, nhất là tử vong chu sinh (trong vòng 7 ngày
đầu) Nguyên nhân tử vong của trên 70% tử vong sơ sinh và tử vong
quanh sơ sinh (trong 2 tháng đầu) đang là nguyên nhân tử vong của trên
50% trẻ em dưới 5 tuổi Bộ Y tế Việt Nam đang tập trung giải quyết vấn
đề săn sóc sơ sinh để hạ thấp tỉ lệ tử vong ở trẻ em nói chung và trẻ sơ
sinh nói riêng Để làm được việc đó, bên cạnh chính sách về tổ chức (cơ
sở, nhân lực, kinh phi), van dé co’ ban cần được quan tâm hàng đầu là
cập nhật kiến thức thông thường cho cán bộ nhỉ làm nhiệm vụ săn sóc
sơ sinh Trong các nguyên nhân gây tử vong chu sinh và quanh sơ sinh,
nhiễm khuẩn sơ sinh là nguyên nhân đứng thứ 2 sau nguyên nhân đẻ non, nhưng đòi hỏi kiến thức và điều kiện chuyên môn cao nhất Trong bài này chúng tôi xin đề cập đến những bệnh lý nhiễm khuẩn phỗ biến mà các nhân viên y tế làm công tác săn sóc trẻ sơ sinh hay phải đối diện nhất
trong 2 tháng đầu sau sinh ở bệnh nhân
2 SINH LY BENH VA CAC YEU TO NGUY CO’
(xem bài “Nhiễm khuẩn sơ sinh” và bài “Trẻ sơ sinh nguy cơ cao” trong
tài liệu này)
3 NGUYÊN NHAN, BIEU HIEN LAM SÀNG CHÍNH VÀ HƯỚNG XỬ TRÍ
Đa số trường hợp 90%) nhiễm khuẩn sơ sinh là do lây truyền từ mẹ sang con Chỉ một số nhỏ mắc phải do không đảm bảo vô khuẩn trong khi làm thủ thuật sản khoa, săn sóc rốn hay nhiễm khuẩn chéo khi trẻ nằm viện lâu ngày Nhiễm khuẩn do mẹ truyền sang có thể gặp trong quá trình sinh con (vỡ ối sớm, nhiễm khuẩn đường sinh dục ở mẹ) mà đường lây truyền chủ yếu do tiếp xúc trực tiếp Tuy nhiên, đại đa số trường hợp là
Trang 23
PGS TS Nguyén Tiến Dũng
do mẹ nhiễm khuẩn trước khi chuyển dạ và đường lây truyền là đường
qua rau thai
3.1 Các bệnh nhiễm khuẩn lây từ mẹ sang con trong quá trình sinh
con, từ đường lây truyền do tiếp xúc (tham khảo bài “Nhiễm khuẩn
Liên cầu B - Có thể gây NKTN hay
sốt không rõ nguyên nhân
ở mẹ trước khi chuyển dạ,
nhưng đa số không gây
triệu chứng ở mẹ
- Có thể có điều kiện
thuận lợi gây bệnh cho con
là vỡ ối sớm, nhưng đa số
không có dấu hiệu nguy cơ
chỉ điểm
- Thường gây bệnh sớm
trong những tuần đầu sau sinh,
nhưng có thể gặp 4-6 tuần sau
đầu với nhóm bêta-lactam
(ampicillin, cefotaxim) va kéo
- Điều trị tại chỗ bằng săn sóc vệ sinh và thuốc sát khuẩn
Nếu trẻ có biểu hiện nhiễm
khuẩn toàn thân, cần dùng 2
KS chống tụ cầu nhóm penicillin
M (cloxacilin, bristopen ) với aminoside đường TM
Trang 24kg Frost rep eS 4 sd weet Oy i ẹ ¬ th Ec tế = w © YO œ Q œ peed la Sai
H influenza Thường không gây - Có thể gây nhiễm khuẩn
dấu hiệu nhiễm khuẩn ở | máu trong bào thai gây thai
- Đa số trường hợp gây nhiễm khuẩn máu trong bệnh
cảnh “nhiễm khuẩn sơ sinh”
- Chân đoán: cây máu và các dịch từ các khoang cơ thể (tai, mũi, dạ dày, nước tiểu)
Các trực Gây nhiễm khuẩn tiết - Thường gây nhiễm khuẩn
khuẩn đường niệu, sốt trước hay trong | máu trong bệnh cảnh “nhiễm
tiêu hóa khi chuyển dạ khuẩn sơ sinh”
(E coli, Đa số không gây triệu - Chẩn đoán: cấy máu và
Trang 25cả 2 người để tránh lây
sang con
- Đa số không có triệu
chứng
- Thường gây viêm màng
ối có thể dẫn tới thai chết lưu
- Chẩn đoán khó, dựa vào
bệnh cảnh phối hợp viêm phổi
(LS, X-quang) có viêm kết mạc, viêm mũi, viêm tai Huyết thanh chan đoán và nuôi cấy VK nội
bào chưa thực hiện ở VN
- Điều trị: nhỏ mắt cho tất cả trẻ sơ sinh bằng dung dịch nhỏ
mắt tetracyclin hay rifamicin
trong 1-2 tuần Nếu viêm kết mạc kéo hoặc viêm phổi dài, cần cho uống erythromycin 40-
50 mg/kg/ngày chia 2 lần trong 2-3 tuần
- Đôi khi gây biểu
hiện nhiễm khuẩn đường niệu ở mẹ và bố
- Thường gây viêm
màng ối và vỡ ối sớm ở
sinh
- Có thể gây bệnh cảnh nhiễm khuẩn huyết hoặc viêm
màng não mủ,
- Chân đoán phân biệt với
các nguyên nhân khác trên
lâm sàng khó khăn Chẵn đoán huyết thanh và nuôi cấy VK nội
bào chưa có ở VN
- Điều trị: như đối với
Mycoplasma
Trang 26
DIEU TRI VA CHAM SÓC SƠ SINH
viêm họng, nhưng đa
số chỉ gây hội chứng giả cúm trong những tuần
cuối trước sinh
- Là nguyên nhân của
- Sẩy thai, thai chết lưu, đẻ
non Gay nhiễm khuẩn huyết
(hội chứng “nhiễm khuẩn sơ
sinh”) nếu mẹ có nhiễm khuẩn
huyết hoặc màng não mủ từ tuần thứ 2
- Điều trị: Phối hợp ngắn
ngày giữa 1 aminoside với ampicillin vi chi nhay cam voi ampicilin nhưng kháng với cephalosporin (cefotaxim)
3.1.2 Ki sinh trùng
3.1.2.1 Candida
Có thể gây viêm âm
đạo mẹ, nhưng đa số
không triệu chứng
- Thường gây nhiễm tại chỗ
như tưa miệng, viêm kẽ vùng
Sinh dục và/hoặc hậu môn, tiêu
chảy, đôi khi viêm phổi
chống nắm bệnh khỏi nhanh
- Đôi khi gây nhiễm nấm
huyết: chủ yếu ở trẻ đẻ non,
điều trị KS liều cao nhiều ngày,
thở máy
Trang 27
PGS TS Nguyễn Tiến Dũng
- Điều trị: Tưa miệng: đánh tưa bằng dd bicarbonat 1,4%
hoặc kem nysftatin hay fongizon,
có thể phải uống mycostatin
(1-2.00.000 dv/kg/ngày) hoặc Fongizon (50 mg/kg/ngay) chia
3 lần trong 5-10 ngày Trường
đặc tại rau thai, gây tổn
thương rau, giảm nuôi dưỡng thai nhỉ
Điều trị bằng
chloroquin 10mg/kg/
ngay trong 5 ngay hoac
néu nang can truyén TM
quinin 25mg/kg/ngay
chia 3 lần chết lưu, đẻ non, tử vong cao - Có thể gây: sây thai, thai
Sau sinh
- Suy dinh dưỡng trong bào
thai (nhẹ cân) hoặc sốt rét bằm sinh: gan lách to, thiếu máu
nặng
- Chẩn đoán: tim thấy KST
sốt rét trong máu trẻ sơ sinh
- Điều trị: trong sốt rét bắm
sinh, chỉ chioroguin có tác dụng
(10mg/kg/ngay trong 5 ngày)
Trang 28DIEU TRI VA CHAM SOC SO SINH
Truyền qua máu và
qua rau thai sang con
suốt thai kỳ
Gay: say thai, thai
chết lưu do phù thai và
rau thai, dé non
Chan đoán: huyết
thanh không đặc hiệu
phát hiện reagine (VDRL)
hoặc đặc hiệu miễn dịch
huỳnh quang loại FTA-
ABS hay ngưng kết thụ
- Mụn phỏng kiểu papigus ở lòng bàn tay bàn
chân, xuất hiện ngay sau đẻ, rất dễ lây bệnh vì chứa nhiều vị khuẩn
- Chay nước mũi mủ nhầy từ ngày thứ 5 đến
ngày 30 sau đẻ
- Tổn thương đặc hiệu ở xương (gối, khuỷu):
đường sụn liên hợp dày, giãn rộng, mắp mô; có
giải ngang thân xương; viêm quanh xương
Tổn thương đa phủi tạng: gan to, lách to,
thiếu máu, giảm tiểu cầu
Cũng có thể ở thể tiềm tàng chỉ biểu hiện sau
nhiều năm: viêm da sừng hóa, răng nhỏ và thưa (Hutchinson)
- Chân đoán: khi nồng độ lgM kháng
treponema (+) lúc mới sinh hoặc tồn tại quá 3
tháng sau sinh, kết hợp với XN (+) ở mẹ
ngày Phối hợp với prednison 1-2 mg/kg/ngày
trong 5-7 ngày đầu
26
Trang 29
Phòng bệnh: không để người có nghi mang hoặc nhiễm
VK ho gà tiếp xúc với thai phụ trong tháng cuối hoặc với trẻ
<3 tháng chưa tiêm phòng
Điều trị: lgG TB trong 3 ngày đầu nếu có điều kiện
Erythromycin 100mg/kg/ngày trong 10 ngày Theo dõi sát tại phòng sơ sinh có đủ điều kiện chống cơn ngừng thở
các thể như lao sinh
dục, lao màng phổi, lao
kê
Có thể gay say thai,
thai chết lưu
Chan đoán dựa vào
soi dom phat hién BK,
nuôi cấy hoặc PCR
Gan lách to, sốt, suy hô hấp, hạch to, tổn thương
trên da, viêm màng não (gặp thường xuyên)
- Chân đoán: Phối hợp các triệu chứng sau:
(1) Hình ảnh lao kê trên Xq phổi (50%), hạch
trung thất to;
(2) Tìm thấy BK trong các dịch cơ thể, trong
phân, trong hạch hoặc trong gan (chọc sinh thiết);
(3) Tổn thương lao tại rau thai;
(4) Tiền sử mẹ bị lao điều trị không triệt đề
- Điều trị: Phối hợp 3 thuốc:
INH 10-15mg/kg/ngay, rifampicin 10-20mg/kg/
ngay va pyrazinamide 15mg/kg/ngay trong 2 thang
sau d6 bé pyrazinamide điều trị tiếp 2 thuốc trong
4-6 tháng
Khi có viêm màng não lao, cần phối hợp 4 thuốc
(thêm streptomycin 15mg/kg/ngày trong giái đoạn
Trang 30từng bị nhiễm rubella ở các nước
không có điều kiện tiêm phòng
vac-xin MRM
Chủ yếu truyền cho con trong
16 tuần đầu mang thai
Phòng bệnh cho trẻ bằng cách
tiêm chủng cho nữ thiếu niên vào
tuổi dậy thì và các thai phụ chưa
có lgM kháng rubella (chưa có ở
VN)
Nạo phá thai nếu có biểu hiện
hội chứng giả cúm và phát ban
trong 3 tháng đầu thai kỳ
Có thể bị: (1) say thai sớm; (2) bệnh |
lý cho bào thai ở mắt (đục thủy tinh thể,_ bệnh võng mạc có thể gây mù), ở tim
(các loai tim bam sinh khác nhau) và ở
tai (điếc bẩm sinh); (3) bệnh lý cho hài nhi gan lách to, vàng da kiểu viêm gan,
viêm phỗi, xuất huyết giảm tiểu cầu, viêm
não-màng não, vệt ngang thân xương
(X-quang), đầu bé, suy dinh dưỡng Chan đoán: phát hiện kháng thể lgM
trong máu và định lượng interferon (chưa
hoặc mạn tính nhiễm kí sinh trùng
(toxoplasma), nhưng đại đa số là do
virus, đứng đầu là virus viêm gan B,
đặc biệt là ở các nước vùng Đông-
Nam Á như VN
HBSAg (+) chứng tỏ có mang virus
trong cơ thể HBeAg (+) và ADN HBV
(+) chứng tỏ virus đang nhân lên trong
cơ thé me
Viêm gan B lây từ mẹ sang con
chủ yếu trong 3 tháng cuối thai kỳ và
mạnh nhất trong giai đoạn chu sinh
(chuyển dạ) và khi cho bú Mẹ bị viêm
gan trong 3 tháng cuối là mối nguy cơ
lớn cho trẻ Nếu mẹ bị bệnh trong 6
tháng đầu nhưng được điều trị hoàn
toàn khỏi bệnh (HBsSAg âm tính) thì
không có nguy cơ lây sang bào thai
Mẹ mang HBsAg mạn tính truyền
cho con ở mọi thời điểm mang thai
Đối với bào thai: sây thai, đẻ non,
suy dinh dưỡng bào thai, viêm gan ứ
mật
Đối với sơ sinh: đa số trường hợp
mang HBsAg không triệu chứng Một
số nhỏ có thể bị viêm gan cấp rồi chuyển sang mang virus mạn tính -
Chan đoán: chỉ có HBsAg (+) là
dấu hiệu duy nhất Các markers khác đều do mẹ truyền sang nên không có
giá trị
Xử trí: (1) tránh mọi thủ thuật gây
nhiễm virus sang trẻ trong quá trình
sinh, nhưng không cần chỉ định mỗ
đẻ
Khi me HBsAg (+) va HBeAg (+):
tiêm bắp ngay sau sinh 200 dv IgG
kháng HBs và tiêm phòng vac-xin viêm gan mũi 1, các mũi tiêm phòng
còn lại vào lúc 1 và 2 tháng tuổi Nếu
mẹ HBsAg (+) nhưng HBeAg (-) cũng tương tự, chỉ khác là tiêm 100 dv IgG kháng HBs lúc sinh
Trang 31
Nhiễm HIV ở mẹ không gây say
thai, chết thai hoặc các bệnh lý bào
thai khác
Nhưng nếu thai phụ trong giai
đoạn suy giảm miễn dịch nặng
(CD4<500/mm)) thì bào thai có thể bị
nhiễm các nguyên nhân nhiễm khuẩn
cơ hội từ mẹ, đặc biệt là toxoplasma,
cytomegalovurus, herpes virus, thiếu
ôxy do mẹ nhiễm pneumocystis
carinii, xuất huyết do mẹ giảm tiểu cầu
nặng
Lây truyền từ mẹ sang con chủ yếu
xảy ra trong 2 tháng cuối thai kỳ và
nhất là trong khi sinh (15-20% ở Âu-
Mỹ và 30-35% ở Á-Phi, nếu mẹ không
được điều trị)
Phòng lây sang con áp dụng tại
các nước đang phát triển:
Phác đồ ngắn AZT 200mg x 2/
ngày trong 1-4 tuần trước sinh; 500-
1.000 mg ngay trước sinh; không điều
trị cho trẻ sơ sinh
Chống chỉ định cho bú
- Chủ yếu lây từ mẹ sang con
trong giai đoạn chu sinh và do nuôi
- Sau đó tiến triển dưới 2 thé:
+ Thể tiến triển nhanh và nặng
(20%): có triệu chứng ngay trong
những tháng đầu, nhanh chóng có biểu hiện nhiễm khuẩn cơ hội, tiêu chảy kéo dài, suy mòn, <10% sống
quá 5 năm
+ Thể tiến triển chậm (80%): các triệu chứng ban đầu biến mất trong khoảng 5-10 năm, rồi dần dần xuất
hiện biểu hiện như ở người lớn
- Điều trị theo phác đồ của
chương trình phòng chống HIV Trung
ương
Phân loại quốc tế (CDC, 1994) các giai đoạn trong nhiễm HIV ở
trẻ em
- Độ 0: LS không triệu chứng, CD4 bình thường
- Độ A (1): LS nhẹ kín đáo nhiều hạch, gan + lách to, NKHH tái phát,
CD4> 1 500/ mm°
- Độ B (Il): LS vừa phải: viêm phổi, zona, nam; CD4 = 750-1 499/mm?
- Độ C (III): LS nặng với các biểu hiện giai đoạn cuối, nhiễm khuẩn bội
phụ nặng, suy mòn, DC4<750/mmẻ
Trang 32
chia 3 lần trong 10 ngày
- Herpes sinh dục thứ phát sau
herpes miệng và trong máu đã có
Nên mỗ đẻ trong các thể này
Herpes ngoài sinh dục: miệng,
da, nửa dưới cơ thê
- Không có triệu chứng
Cac thé này không cần điều trị
Tất cả các thể này đều có thế lây
sang trẻ theo 3 đường: đường máu,
đường tiếp xúc trong khi sinh (90%),
tiếp xúc sau sinh
Cần đảm bảo vệ sinh khi mẹ
hoặc nhân viên y tế có nghỉ ngờ bị
herpes tiếp xúc trẻ sơ sinh
- NKSS: hay gặp và gây nhiều hậu quả nhát Ủ bệnh 2-30 ngày, bao gồm;
(1) NK toàn thân, gây tình trạng nhiễm khuẩn máu, tử vong >50%; herpres thần kinh gây tử vong 20% và di chứng
do hoai tle nado (DNB, scanner) >50%;
herpes khu trú, nguy hiểm nhất là thể
mắt gây mù hoặc đau tái phat
- Yếu tố nguy cơ: đẻ non, vỡ ối >6h, mụn loét cỗ tử cung-âm đạo mẹ lan rộng, thể sơ nhiễm ở mẹ trong vòng 1
Trang 33PGS TS Nguvén Tién Ding
Đa số phụ nữ mang thai đều
đã nhiễm virus này, nhưng chỉ trở
nên lây nhiễm sang thai nhi trong
các đợt tái phát Có thể truyền qua
đường máu hoặc qua tiếp xúc hay
cho bú sau sinh
nếu cấy được CMV trong dịch cơ
thê hoặc trong máu mẹ
Nếu thai phụ có huyết thanh
chẵn đoán CMV(-), cần tránh tiếp
xúc với trẻ em đi nhà trẻ (nguồn
lây chính) Nếu trong khi có thai
Có thể tìm thấy CMV khi nuôi cấy
nước bọt hoặc DNT trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ
Ít khi thể hiện bệnh lý bào thai, tiến triển bất thường, chủ yếu thể hiện sau đẻ
Chỉ 15% trẻ nhiễm khuẩn bẩm sinh
có biểu hiện bệnh Nhiều loại triệu chứng
có thể gặp: từ suy DD bào thai, thiểu ối, phù thai, dãn não thất, vôi hóa trong sọ, đầu bé, tràn dịch màng tim, vôi hóa trong
gan, cổ chướng đến thể nhiễm khuẩn
huyết: viêm gan, gan lách to, vàng da,
xuất huyết (70-80%) cùng với tổn thương não rất hay gặp trên CT (>90%) như mắt các đường rãnh ở não (não bóng), tổn
thương quanh não thất, thiểu sản tiểu
não, chậm myelin hóa, viêm võng mạc,
với hậu quả nặng nề: não bé, bại não
nặng, điếc, mù, bệnh thần kinh-cơ
Hiện nay chưa có biện pháp hữu hiệu
điều trị, dù thử nghiệm về ganciclovir
đang được nghiên cứu
Trang 34
DIEU TRI VA CHAM SOC SO SINH
ban, đau đầu, mệt mỏi,
nổi hạch, tăng bạch cầu
don nhân và lympho
Lây qua đường rau thai, chủ yếu sau 30 tuần
thai và nhất là trong khi sinh
Nhiễm toxoplasma bẩm sinh it khi gay say thai
hay chết lưu
Chủ yếu gây tình trạng sau:
- Tổn thương đa tạng, ít gặp nhưng tiên lượng
xấu: vàng da, gan lách to, giảm tiêu cầu, tốn thương
phổi, thận, mắt
- Thể khu trú não-mắt (10%): mắt bé và não bé
bẩm sinh phối hợp với vôi hóa não và viêm màng
bồ đào Các thể nhẹ như viêm màng bồ đào đơn
thuần (30%), thể không triệu chứng (70%) do
nhiễm muộn vào nửa sau thai kỳ
Xử trí:
- Nếu chọc ối xác định nhiễm trước 16 tuần thai thì cần theo dõi bằng hình ảnh để có thể chỉ định
phá thai khi có nhiều biểu hiện thần kinh thai nhi
- Nếu nhiễm sau 16 tuần, SA BT: điều trị mẹ
bằng Malocide (pyrimethamine 50mg/kg/ng) phối
hop voi sulffadiazine 3g/ng va folic 25-50mg/ng xen kẽ với spiramyocine 3g (9 triệu đv)/ngày trong 2
tuần cho đến khi sinh
- Sau dé: kiém tra ki rau thai, XN IgM đặc hiệu, khám mắt, SA qua thóp tìm vôi hóa và dãn não thắt,
CT não, khám tai Có thể tiếp tục điều trị cho con
bằng Malocide + Sulffadiazine+ acide folic 3 đợt x
Trang 35
PGS TS Nguyén Tiến Dũng
4 KET LUAN
Việc phát hiện, chân đoán, xử trí các bệnh nhiễm phổ biến lây truyền
từ mẹ sang con đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các nhà sản-phụ khoa
và các thầy thuốc nhi khoa cũng như nhiều chuyên khoa liên quan khác
(thần kinh nhi, huyết học, sinh hóa) Các phương tiện chẩn đoán trước
và ngay sau khi sinh chỉ mới bắt đầu đề cập đến gần đây ở nước ta Việc phổ biến các kiến thức phổ thông cho những người làm việc trực tiếp ở 2
chuyên khoa sản và nhi, cũng như tổ chức tốt các điều kiện làm việc của các phòng sơ sinh và phối hợp chặt chẽ với các khoa sản-phụ cho phép dần dần đây mạnh lĩnh vực này, để có thể giảm bớt tỉ lệ tử vong và mắc bệnh gây tàn phế do di chứng suốt đời ở những trẻ sơ sinh, giảm gánh nặng cho gia đình và xã hội
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH
Behrman R.E, Kliegman R.M, Jenson H.B Nelson Textbook Pediatrics, 16" edition, W.B Saunders Compagny Philadelphia,
Trang 36DIEU TRI VA CHAM SOC SO SINH
2 DỊCH TẾ HỌC
Ở thời điểm thai nhi đủ tháng, 8-15% trường hợp dịch ối có chứa phân su Có đến 30% sơ sinh hít phải dịch ối, nhưng chỉ có khoảng 2-6%
có triệu chứng suy hô hắp do hít phải dịch ối có chứa phân su và một nửa
số đó cần hô hấp viện trợ Tỉ lệ tử vong ở trẻ cần hô hấp viện trợ lên đến 50% Người ta thấy cứ 1000 trẻ sơ sinh thì có từ 2 đến 9 trẻ suy hô hấp do hít phải phân su, 0,5-5,0% cần hô hấp viện trợ và 0,1 đến 0,5% tử vong
do hít phân su
3 SINH LÝ BỆNH HỌC
Nhiều hiện tượng bệnh lý nối tiếp nhau góp phần làm cho trẻ sơ sinh
hít phải phân su:
- Xuất hiện phân su trong dịch ối do nhiều nguyên nhân, đặc biệt là suy thai
- Thiêu ối hoặc rỉ ối, làm dây rốn bị chèn ép gây thiếu ô-xy máu thai
nhỉ
- Thai nhi thở khi còn trong bụng mẹ
Mức độ nặng phụ thuộc vào khoảng thời gian từ khi hít phải phân su
đến lúc sinh (phân su ức chế và phá hủy surfactant), lượng dịch ối hít phải
và nồng độ phân su trong dịch ối, các yếu tố khác (nhiễm khuẩn, suy thai)
và cách điều trị
3.1 Tiết phân su
Có thể chỉ là hiện tượng sinh lý chứng tỏ thai đã trưởng thành, vì thế
Trang 37PGS TS Nguyễn Tiến Dũng
không phải bao giờ dịch ối có phân su cũng là bệnh lý Nhưng thường là
bệnh lý, khi có phối hợp với suy thai, đặc biệt là khi thiểu ối trước chuyển
da
3.2 Giam 6-xy mau thai nhi
Thiéu 6i rất hay gặp, nhất là khi thai già tháng hoặc do bị rỉ hay vỡ ối
sớm, làm giảm hay mắt khả năng đệm, dẫn đến chèn ép dây rốn, thiếu
máu, thiếu ô-xy máu thai nhi, gây suy thai, khởi động nhịp thở bào thai
trong bụng mẹ Nhiều nghiên cứu thấy có hậu quả dày lớp cơ động mạch
phổi ở trẻ tử vong do hít phân su, chứng tỏ thai nhi đã hit phan su trong
bụng mẹ tối thiểu là 3-7 ngày trong những thể nặng
3.3 Thanh môn mở do thai nhi thở sâu
Trong bụng mẹ, thai nhi có thể thở từng lúc sinh lý, nhưng thanh môn
không mở nên không hít phải dịch ối Chỉ khi sâu su do thiếu ô-xy máu
mới làm mở thanh môn và do đó hít phải dịch ối có chứa phân su khi suy
thai Đôi khi phân su xuất hiện trong đường thở là hậu quả hô hấp nhân
tạo trẻ ngạt làm tống phân su xuống sâu qua thanh môn
3.4 Bất hoạt surfactant
Trên súc vật thí nghiệm, người ta thấy con vật sơ sinh hít phải phân
su bị bệnh màng trong điển hình 6 đến 16h sau sinh với hậu quả giảm
nặng độ căng giãn của phổi Người ta cũng thầy trường hợp cho động vật
sơ sinh hít hỗn hợp có phân su và surfactant có áp lực phổi tăng cao hơn
khi cho hít dung dịch surfactant đơn thuần
3.5 Bản chất dịch ối
Ngoài gây tổn thương phổi và ức chế hoạt tính surfactant, dich ối đặc
do có chứa phân su còn làm tắc nghẽn trao đổi khí do làm cản trở lưu
thông khí đến phế nang
3.6 Nhiễm khuẩn phối hợp
Nhiễm khuẩn sơ sinh, đặc biệt nếu do liên cầu B, làm nặng thêm
bệnh do hít dịch ối có phân su, do tác động của độc tố các vi khuẩn làm
co mạch phổi, phản ứng viêm
Phân su cũng làm giảm hoạt tính kìm khuẩn của dịch ối bình thường
Trang 384 TRIEU CHUNG
4.1 Lam sang
Bệnh cảnh lâm sàng rất thay đổi (chết bào thai, suy hô hấp sơ sinh,
suy hô hấp thoáng qua ) tùy theo nồng độ phân su hít phải, thời gian hít
phân su sớm hay muộn, mức độ thiểu ối, nhiễm khuẩn kèm theo, cách
xử trí
Triệu chứng lâm sàng thường thấy là:
- Tiền sử sản khoa: thiểu ối, rỉ ối, vỡ ối sớm, dịch ối lẫn phân su, suy
thai cấp trước hoặc trong khi chuyển dạ
- Biểu hiện thai già tháng: gầy, bong da, móng dài, dây rốn mảnh và
màu vàng hoặc xanh do nhuốm phân su Những trẻ này rất dễ biểu hiện
- Thở nhanh, thở ngáp hoặc ngừng thở hoàn toàn
- Co kéo lồng ngực và cơ hô hấp phụ nặng, lồng ngực dãn căng
- Nước tiểu ít và có màu phân su do phân su ngắm từ phổi vào máu
và thải qua thận
- Có thể tìm thấy những biểu hiện nhiễm khuẩn và các biểu hiện rối
loạn khí máu, đường máu kèm theo
4.2 Cận lâm sàng
4.2.1 X-quang phối
Hình ảnh thường gặp là những đám mờ không đều, những chấm
thâm nhiễm nhu mô phổi, xen kẽ với những vùng tăng sáng do ứ khí Có thể thấy có hình ảnh tràn khí màng phổi hay trung thất, nhưng giảm và
biến mất sau 48 giờ nếu điều trị kịp thời Tuy nhiên, không có sự tương
ứng chặt chẽ giữa lâm sàng và điện quang, vì có đến 70% trẻ sơ sinh hit phải phân su có hình ảnh X-quang như trên, những chỉ 50% số đó có biểu
hiện lâm sàng và ngược lại trong thể nặng trên lâm sàng, có thể thấy hình
ảnh X-quang phổi rất kín đáo, vì chủ yếu là do co mạch phổi
Trang 394.2.2 Hình ảnh mô bệnh học
Có thể thấy có phân su cùng với chất gây làm tắc đường thở ở các
mức độ nặng và các vị trí khác nhau trên đường hô hấp Có biểu hiện
viêm thâm nhiễm bạch cầu đa nhân trung tính và đại thực bào, màng
trong, xuất huyết, dày thành động mạch phổi, hoại tử, cục đông gây tắc
mạch tại đường hô hắp và nhu mô phổi
5 PHÒNG BỆNH
Vì thường là tiên lượng bệnh rất nặng, điều trị khó khăn và tốn kém,
ít kết quả, nên việc phòng bệnh là hết sức quan trọng, nhưng đòi hỏi sự
phối hợp chặt chẽ giữa các thầy thuốc sản và nhi khoa và nỗ lực sớm từ
trong phòng đẻ Ở các nước phát triển, tỉ lệ hit phi phân su đã giảm di rAt
rõ rệt nhờ sự phối hợp này
5.1 Đề phòng và xử trí kịp thời các nguyên nhân suy thai gây thở
sâu trong bào thai
5.2 Truyền pha loãng dich ối
- Kĩ thuật này tiến hành trong buồng đẻ hoặc tại khoa sản, nhằm tránh
sự chèn ép cuống rau do thiểu ối và pha loãng phân su trong dịch ối, nên
hạn chế được suy thai, đẻ non hay mổ lay thai sớm và nhất là tình trạng
suy hô hắp nặng ở trẻ sơ sinh do hít phải dịch ối chứa nhiều phân su
- Tuy vậy, cũng cần phải chú ý các tai biến như: tắc mạch ối, quá tải
dịch mẹ, nhiễm khuẩn, nhất là nhiễm HIV
5.3 Hút khí quản ngay tại phòng đẻ
- Trước đây, tỈ lệ tử vong sơ sinh do hít phân su ở các nước phát triển
có thể lên đến 25% Từ khi phỗổ cập kĩ thuật hút quản ở những trẻ sơ sinh
hít phân su, tỉ lệ tử vong hạ thấp rõ rệt
- Cần đặc biệt chú ý là không được làm động tác thông khí nhân tạo
bằng bóp bóng ở trẻ sơ sinh nghỉ ngờ có hít phân su, vì sẽ day sau phân
suống đường hô hắp dưới và phế nang, gây tình trạng nặng thêm hoặc
gây tử vong nhanh chóng
- Cần hút kĩ miệng họng, đặt nội khí quản và hút kĩ lưỡng qua ống nội
khí quản trước khi hô hắp nhân tạo bằng bóng hay thở máy Đây là điểm
cơ bản cần đặc biệt nhắn mạnh trong hồi sức sơ sinh hít phải phân su
Trang 4038
DIEU TRI VA CHAM SOC SƠ SINH
- Tuy nhiên, đối với những thể bệnh hít phân su trong bào thai, nhất là
thể kéo dài nhiều ngày trước sinh, thì việc hồi sinh tại phòng đẻ phải phối hợp chặt chẽ với hồi sức tại khoa sơ sinh mới có thể cứu sống bệnh nhì
6 ĐIÊU TRỊ
6.1 Các biện pháp điều trị thường dùng
Các biện pháp này cần được áp dụng tùy theo từng thể bệnh, với các biện pháp chính sau đây:
- Hút mũi họng và dạ dày kĩ càng ngay sau sinh
- Đặt nội khí quản để hút và thở máy khi: ngạt nặng, suy hô hấp rõ, ứ
đọng đường hô hắp nặng
- Vật lý trị liệu bằng vỗ rung lồng ngực thường xuyên để tạo điều kiện đào thải phân su
as
- Tuyệt đối tránh các động tác “cd điển” sai lầm trước đây:
+ Rửa khí-phế quản-phế nang bằng dung dịch sinh lý
+ Ngăn cản động tác thở bằng ép bụng hay bịt đường thở
- Đối với trẻ suy hô hắp vừa và nhẹ: cần cho thở O2 và thở áp lực
đường thở dương tính thường xuyên (PPC hay CPAP)
- Thở máy cho những trường hợp suy hô hấp nặng, ngạt không hồi
vong Có thể kết hợp 2 hay nhiều thuốc sau:
+ Morphine (Fentanyl: 1-3 mcg/kg/h truyền TM liên tục)
+ Benzodiazepine (Hypnovel, 50-70 meg/kg/h; hoac Valium, Seduxen,
100-200 mcg/kg/h, truyền TM liên tục)
+ Cura (chỉ trong trường hợp vẫn còn kích thích nhiều khi đã tăng liều