- Phát triển tâm lí là một quá trình bao gồm từ sự phát sinh, hình thành, phát triển của nhu cầu, động cơ, hoạt động, hành động, những quá trình, những thuộc tính, những trạng thái tâm l
Trang 1TÂM LÍ HỌC PHÁT TRIỂN
TÀI LIỆU BÀI GIẢNG TÂM LÍ HỌC PHÁT TRIỂN
(Tài liệu dùng cho học viên khoa GIÁO DỤC ĐẶC BIỆT)
Tác giả: TS Lê Thị Minh Hà
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÂM LÍ HỌC PHÁT TRIỂN
Bài 1: ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ CỦA TÂM LÝ HỌC PHÁT TRIỂN
* Khái niệm về sự phát triển tâm lí
- Tăng trưởng: Là khái niệm đề cập đến sự gia tăng về số lượng
(chiều dài, dung tích, khối lượng ) Ví dụ sự gia tăng về chiều cao, cân nặng,
sự tăng lên của tế bào thần kinh, sự gia tăng về vốn từ mà không thay đổichức năng ngôn ngữ
- Phát triển: Phát triển đặc trưng bởi sự biến đổi về chất, bởi sự xuất
hiện những tổ chức mới, những cơ chế mới, quá trình mới và cấu trúc mới.Bao gồm không chỉ tích luỹ về lượng (điều kiện cần), mà cả sự thay đổi vềchất (điều kiện đủ) của hiện tượng tâm lí Ví dụ sự phát triển ngôn ngữ khôngchỉ tăng về vốn từ, trẻ hiểu và nói, mà tư duy cũng phát triển, sự phát triển trítuệ bước sang giai đoạn mới Nói đến phát triển là nói đến sự chuyển hóa vềmặt chất lượng, nói đến một trình độ mới khác về chất so với cái cũ Hoặc sựphát triển của quá trình nhận thức từ cảm giác đến tri giác, từ tri giác đến tưduy (tri giác là trình độ khác về chất so với cảm giác, tư duy là trình độ khác
về chất so với tri giác)
- Phát triển tâm lí là một quá trình bao gồm từ sự phát sinh, hình
thành, phát triển của nhu cầu, động cơ, hoạt động, hành động, những quá trình, những thuộc tính, những trạng thái tâm lí của cá thể, từ đơn giản đến
Trang 2phức tạp, từ chỗ chưa bị phân hóa đến chỗ bị phân hóa theo những quy luật
có liên quan, tác động phụ thuộc lẫn nhau tạo thành những đặc điểm tâm lí khác nhau theo giai đoạn Đó là một hoạt động có tính hệ thống, được sắp xếp có tính thứ bậc và ngày càng tinh tế tạo ra đặc điểm đặc trưng cho mỗi thời kỳ, mỗi lứa tuổi khác nhau, đảm bảo cho con người sống và hoạt động với tư cách là chủ thể có ý thức của xã hội.
1 Đối tượng nghiên cứu của tâm lý học phát triển
Nghiên cứu sự phát triển tâm lí và nhân cách con người từ khi sinh racho đến lúc trưởng thành với tư cách là một thành viên của xã hội Nghiêncứu các quy luật, những điều kiện, động lực, nguồn gốc phát triển tâm lý cáthể
2 Nhiệm vụ của tâm lý học phát triển:
- Làm sáng tỏ các quy luật phát triển tâm lí cá thể
- Tìm ra cơ chế của sự phát triển tâm lí (nguyên nhân, quá trình pháttriển và điều kiện của sự phát triển)
- Nghiên cứu quá trình phát triển tâm lí, các hoạt động và sự hình thànhnhân cách diễn ra như thế nào qua các thời kì, các giai đoạn phát triển cá thể
3 Mối liên hệ giữa tâm lí học phát triển với các ngành khoa học khác
3.1 Tâm lí học phát triển và tâm lí học đại cương:
Tâm lí học đại cương cung cấp những khái niệm cơ bản về các hiệntượng tâm lí, vạch ra những quy luật về sự phát triển tâm lí người Nó là cơ
sở cho các nghiên cứu từng mặt trong tâm lí học phát triển
Ví dụ: Theo dõi một cách liên tục xem trẻ nhỏ bắt đầu phân biệt màusắc và âm thanh như thế nào, hoặc xem ở trẻ bắt đầu xuất hiện những biểutượng đơn giản, riêng lẻ, phức tạp, khái niệm sơ đẳng như thế nào, các nhàtâm lí đã mở ra con đường giải quyết vấn đề phức tạp của lý luận nhận thức
là sự chuyển từ cảm giác tới tư duy Sự chuyển đó ở người lớn xảy ra trongnháy mắt, nhưng ở trẻ em quá trình đó diễn ra trong một thời gian
Trang 33.2 Tâm lí học phát triển và sinh lí học tứa tuổi:
Tâm lí học phát triển sử dụng những thành tựu của giải phẫu và sinh líhọc lứa tuổi, nhất là những số liệu về sự phát triển hệ thần kinh cấp cao ở trẻ
Sự trưởng thành và hoạt động bình thường của hệ thần kinh là điều kiệnquan trọng của sự phát triển tâm lí
Ví dụ: Trẻ bị rối loạn chú ý - tăng động (ADHD), khi sử dụng kỹ thuậtchụp ảnh não thấy có giảm chuyển hoá ở thùy trán phải so với người bìnhthường, sự mất cân bằng của các hoá chất trong hệ thần kinh (hai loại hoáchất dopamine và norepinephrine có vai trò quan trọng trong việc hình thànhchú ý và sự tập trung chú ý)
3.3 Tâm lí học phát triển và giáo dục học:
Tâm lí học phát triển là cơ sở của giáo dục học Theo Usinxki, muốngiáo dục con người về mọi mặt, trước hết phải hiểu biết con người về mọimặt Sự phát triển tâm lí, ý thức và tình cảm của trẻ được thể hiện trong nộidung và sự tổ chức giáo dục chúng Không có giáo dục học thì tâm lí pháttriển không có đối tượng nghiên cứu của mình
3.4 Tâm lí học phát triển và triết học Mác - Lênin:
- Những thành tựu của tâm lí học phát triển là một bộ phận cấu thànhcủa nhận thức và phép biện chứng trong triết học duy vật biện chứng
- Sự phát triển là quá trình tích lũy từ lượng dẫn đến sự thay đổi về chất(các tuyến nội tiết chín muồi dẫn đến sự dạy thì ở tuổi thiếu niên)
- Sự phát triển tâm lí có nguồn gốc, động lực bên trong: Việc nảy sinh
và giải quyết các mâu thuẫn giữa mong muốn và khả năng, giữa cái đã biết
và cái chưa biết, giữa cái làm được và chưa làm được dẫn đến sụ phát triển
- Sự phát triển tâm lí cũng có những bước nhảy vọt, là kết quả của sựtích lũy linh nghiệm, hiểu biết trên cơ sở hoạt động và giao tiếp Sự phát triểntâm lí chuyển sang một giai đoạn mới chỉ có được do sự kế thừa những trình
độ phát triển đã có
Trang 44 Quy luật phát triển tâm lí
4.1 Phát triển theo chuẩn mực
Phát triển theo chuẩn mực là những biến đổi và tổ chức lại hành vi màmọi trẻ đều trải qua trong quá trình trưởng thành (chuẩn mực có nghĩa là điểnhình hoặc ở mức trung bình)
4.2 Phát triển cá nhân:
Đề cập đến sự phát triển của mỗi cá nhân so với người khác Sự pháttriển của cá nhân có hai loại:
- Loại thứ nhất: Bao gồm những nét khác biệt của từng cá nhân so với
quá trình phát triển theo chuẩn mực (chúng ta xác định thời điểm xuất hiệncác khả năng theo độ tuổi trung bình) Nếu vẽ biểu đồ phát triển của 100 đứatrẻ từ khi sinh ra tới khi trưởng thành thì có rất nhiều sự khác biệt về thời gian
và cách trẻ đạt được những mốc phát triển nhất định như trẻ biết đi, biết nói,biết đếm, biết chơi phối hợp với những đứa trẻ khác Ví dụ ta nói trẻ 22tháng có thể nhận ra mình trong gương, thì đó chi là độ tuổi trung bình, vì đôikhi khả năng này xuất hiện chậm hơn ở trẻ này và sớm hơn ở trẻ khác Biểuhiện này lại càng chậm hơn ở đứa trẻ có rối loạn nhiễm sắc thể trong hộichứng Down (30 tháng), loại trẻ này phát triển theo cùng một hướng như trẻbình thường, nhưng với tốc độ chậm hơn
- Loại thứ hai: Dạng phát triển cá nhân theo chiều hướng khác nhau.
Do các đặc điểm bẩm sinh, do những trải nghiệm đặc thù của trẻ hoặc donhững phương pháp nuôi dạy dẫn đến sự phát triển theo những chiều hướngkhác nhau tạo nên sự khác biệt về nhân cách hoặc khả năng ở trẻ Ví dụ cótrẻ cởi mở, có trẻ lại nhút nhát, một số thích những hoạt động phiên lưu nguyhiểm, số khác lại thích những hoạt động an toàn hơn
4.3 Tính không đồng đều của sự phát triển:
4.3.1 Xét trong tiến trình phát triển cá thể:
Trang 5Sự phát triển tâm lí của mỗi cá thể mang tính không đồng đều Cónhững giai đoạn sự phát triển diễn ra với tốc độ rất nhanh, có giai đoạn pháttriển chậm chạp hơn Ví dụ ở lứa tuổi mầm non tốc độ phát triển nhanh có thểtính từng tháng, tuần Tốc độ phát triển đó về sau khó tìm thấy ở giai đoạnkhác.
Trong tiến trình phát triển còn có những giai đoạn phát cảm phát triểnmột vài chức năng tâm lí Đó là giai đoạn có nhiều điều kiện thuận lợi nhất,đặc biệt sự chín muồi của hệ thần kinh khiến cho một chức năng tâm lí nào
đó phát triển rất nhanh Ví dụ sự phát triển ngôn ngữ của trẻ diễn ra rất nhanh
ở trẻ 2 - 5 tuổi (thời kỳ phát cảm phát triển ngôn ngữ), hoặc những cử độngtinh tế của ngón tay thường diễn ra ở trẻ 7 - 8 tuổi, mà trước đó trẻ khó cóđược, ở tuổi mẫu giáo xúc cảm thẩm mỹ phát triển mạnh, trẻ thích hát múa,
vẽ và học hát, múa, vẽ rất nhanh Phát hiện thời kỳ phát câm phát triển, nhàgiáo dục tìm mọi cách phát triển các chức năng tâm lí của trẻ đúng lúc Nếu
để chậm quá hoặc quá sớm thì sự phát triển sẽ khó thực hiện (trẻ 8 thángtuổi mà đã bắt đầu tập đi, ép trẻ tập đọc, tập viết làm tính trước 6 tuổi chẳngnhững không kết quả mà còn có hại cho trẻ sau này
4.3.2 Xét sự phát triển giữa trẻ này và trẻ khác:
Sự phát triển tâm lí của trẻ theo một trình tự các giai đoạn nhất định.Những giai đoạn này như những bậc thang, muốn trèo lên bậc thang trêncùng, đứa trẻ phải trèo lần lượt từng bậc một Tuy nhiên, mỗi trẻ trải qua conđường phát triển theo cách riêng của mình, với tốc độ, nhịp độ, khuynhhướng riêng
Sự phát triển không đồng đều về tốc độ và nhịp độ thể hiện có nhữngtrẻ phát triển sớm hơn hoặc chậm hơn so với trẻ khác, hoặc trẻ này phát triểnnhận thức năng lực hơn trẻ khác Ví dụ trong cùng một nhóm trẻ, cháu thì
vẽ được những bức tranh có ý nghĩa, cháu thì lại hoàn toàn chưa có kỹ năng
vẽ Có trẻ tỏ ra ham hiểu biết, có trẻ tỏ ra thờ ơ với mọi sự vật hiện tượng
Trang 6Bên cạnh sự khác biệt về tốc độ và nhịp độ phát trên, ở trẻ còn bộc lộnhững khác biệt về tính cách, năng lực, hứng thú tạo ra khuynh hướng khácnhau trong sự phát triển của trẻ.
Nguyên nhân của sự phát triển không đồng đều
- Do điều kiện sinh học của trẻ khác nhau
- Do môi trường sống và giáo dục khác nhau
- Hoàn cảnh phát triển riêng khác nhau
- Sự lựa chọn, khuynh hướng của trẻ khi tiếp nhận ấn tượng từ môitrường sống Trẻ càng lớn tính lựa chọn càng tăng dần và sự khác biệt tâm lícàng lớn
- Mức độ tích cực của trẻ khi tham gia vào hoạt động Nhu cầu, động
cơ, kỹ năng và kết quả hoạt động của trẻ là khác nhau, dẫn tới mức độ pháttriển tâm lí khác nhau
4.4 Tính mềm dẻo và khả năng bù trừ trong sự phát triển tâm lí
Tính mềm dẻo của hệ thần kinh phát triển tạo ra khả năng bù trừ Khimột chức năng tâm lí nào đó bị thiếu hoặc yếu thì những chức năng tâm líkhác được tăng cường, phát triển mạnh để bù đắp hoạt động của chức năng
bị thiếu hoặc yếu Vd: sự khuyết tật của thị giác được bù đắp bằng sự pháttriển mạnh mẽ của thính giác, xúc giác
Tóm lại: Sự phát triển tâm lý diễn ra rất phức tạp, bởi các điều kiện quy
định sự phát triển luôn thay đổi, không ổn định Bản thân trẻ cũng luôn thayđổi, không bao giờ lặp lại chính nó Điều này làm cho quá trình giáo dục trẻgặp nhiều khó khăn Tuy nhiên, sự phát triển tâm lí cho thấy nhân cách conngười vô cùng phong phú, có một không hai, tạo ta sự phong phú của xã hội.Công tác giáo dục tránh rập khuôn máy móc, áp đặt mà phải tôn trọng cá tínhriêng của trẻ Nhà giáo dục phải tìm ra con đường riêng cho mỗi trẻ và cónhững biện pháp phù hợp để mỗi trẻ trở thành chính nó
5 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lí:
Trang 75.1 Điều kiện sinh học
- Khi sinh ra, con người đã có hình thái cần thiết cho quá trình phát triểnmang tính lịch sử - xã hội sau này của con người Mức độ phát triển thể chấtcủa trẻ ở mỗi thời kỳ và những đặc điểm của hoạt động thần kinh cấp cao của
nó là điều kiện cần thiết cho trẻ phát triển với tư cách là thành viên xã hội
- Mức độ phát triển thể chất và những đặc điểm hoạt động hệ thần kinhcấp cao của trẻ là điều kiện cần thiết cho sự phát triển tâm lí của trẻ Đặcđiểm bẩm sinh và di truyền có thể bất lợi đối với sự phát triển trí tuệ của trẻ(con cái của những người nghiện rượu và bệnh tâm thần có sự uể oải, yếukém của các tế bào vỏ bán cầu đại não) hoặc sự tổn thương của cơ quanthính giác ảnh hướng đến khả năng âm nhạc
5.2 Môi trường sống:
Văn hoá gia đình có vai trò đặc biệt quan trọng Gia đình là nơi đứa trẻđược tiếp cận sớm nhất, là môi trường xã hội đầu tiên của mỗi người Conngười tiếp thu văn hoá gia đình và mang theo trong suốt cuộc đời
- Các chức năng tâm lí người được phát triển trong quá trình lĩnh hộikinh nghiệm xã hội - lịch sử của loài người ghi giữ lại trong nền văn hoá.Trong nền văn hoá chứa đựng toàn bộ kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người,của dân tộc, của địa phương, nó tạo thành môi trường văn hoá nuôi dưỡngđời sống tinh thần và vật chất cho trẻ, tạo ra những chuẩn mực đạo đức, giátrị thẩm mĩ và nhân cách trẻ Không được sống trong xã hội loài người thì đứatrẻ không thể trở thành Người (những đứa trẻ bị chó sói và khỉ nuôi - chúngkhông thể trở thành Người)
- Sự khác biệt giữa nền văn hoá tạo ra sự khác biệt tâm lí giữa trẻ vớinhau Song ở một nền văn hoá như nhau mỗi đứa trẻ cũng khác nhau, vìchúng tiếp nhận nền văn hoá ấy theo cách riêng của mình
- Dạy học và giáo dục có vai trò chủ đạo đối với sự phát triển tâm lí,nhân cách trẻ em Tuy nhiên, dạy học phải hướng vào "vùng phát triển gầnnhất của đứa trẻ" (theo L.X Vưgotxki) Độ chênh lệch giữa những cái đứa trẻ
Trang 8có thể làm được với sự giúp đỡ của người lớn và những cái trẻ có thể tự làmmột mình được gọi là vùng phát triển gần nhất của đứa trẻ Có nghĩa là, dạyhọc phải tính đến trình độ phát triển trẻ đã đạt được ở hiện tại, nhưng khôngphải dừng lại, mà phải biết sẽ đưa sự phát triển của trẻ đi tới đâu và bướctiếp theo như thế nào Ví dụ khi quan sát những nét vẽ nguệch ngoạc của trẻ
2 tuổi, bắt đầu nhận ra những nét đồ vật quen thuộc (quả bóng), bước tiếpphải dạy trẻ vẽ một cách có chủ định (hình quả bóng) Như vậy, hướng dẫntrẻ đặt trước cho mình một mục đích (vẽ quả bóng)
- Dạy học phải hướng vào giai đoạn phát cảm phát triển Có những giaiđoạn lứa tuổi mà những tác động dạy học nhất định có ảnh hướng mạnh nhấtđến quá trình phát triển tâm lí - những giai đoạn đó gọi là giai đoạn phát cảmphát triển Sở dĩ có giai đoạn phát cảm phát triển là do sự chín mùi của hệthần kinh và các giác quan của trẻ kết hợp với vốn kinh nghiệm trẻ đã tích lũyđược Ví dụ giai đoạn phát cảm phát triển đối với những hình thức dạy họctác động đến sự phát triển tri giác hình ảnh, óc tưởng tượng và tư duy hìnhtượng là giai đoạn mẫu giáo
- Dạy học chú trọng đặc biệt đến việc hình thành ở trẻ những hànhđộng định hướng (hành động định hướng bên ngoài, hành động định hướngbên trong)
- Giáo dục có thể làm thay đổi điều kiện sinh học không có lợi cho sựphát triển tâm lí của trẻ (các dị tật) Não người (đặc biệt phát triển khi hệ thầnkinh còn mềm dẻo), có khả năng cải tổ lại hoặc từng phần, hoặc khả năng bùtrừ cao Ví dụ người mù phát triển mạnh chức năng thính giác và xúc giác, trẻđiếc phát triển khẩu hình Giáo dục phát triển chức năng cho trẻ bị khiếmkhuyết Giáo dục tạo ra hoàn cảnh đặc biệt, tổ chức hoạt động cho trẻ để thựchiện mục đích của giáo dục và phát triển những mầm mống năng khiếu đặcbiệt của trẻ
5.3 Hoạt động cá nhân
- Sự phát triển tâm lí chỉ có thể diễn ra trong hoạt động, vì trong quátrình hoạt động, con người phản ánh đối tượng hoạt động một cách đầy đủ
Trang 9nhất Đặc điểm của đối tượng, công dụng, cách sử dụng đối tượng theo kiểungười (lãnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người).
- Hoạt động giao tiếp làm phát triển ngôn ngữ của trẻ Trẻ học nói bằngcách bắt trước ngôn ngữ của người lớn, trẻ phải giao tiếp với người lớn Trẻhọc cách biểu lộ xúc cảm, tình cảm của người lớn trong giao tiếp
- Hoạt động tâm lí được hình thành theo quy luật chuyển từ ngoài vàotrong (quá trình nhập tâm) Hành động bên ngoài là hành động thực hành(hành động diễn ra ở các thao tác tay chân) Hành động bên trong là hànhđộng tâm lí (hành động diễn ra trong óc: Tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởngtượng) Hành động bên ngoài được tiến hành bởi công cụ (công cụ chính lànăng lực của loài người kết tinh lại, vật thể hoá) Hành động bên trong đượcthực hiện nhờ phương tiện trung gian là ngôn ngữ, hệ thống tín hiệu và dấuhiệu (đặc biệt là âm thanh) Cơ chế chuyển từ ngoài vào trong là con đường
cơ bản để trẻ tiếp thu kinh nghiệm của loài người
Mỗi giai đoạn lứa tuổi có một loại hoạt động đặc trưng - Hoạt động chủđạo Hoạt động chủ đạo là hoạt động mà sự phát triển của nó quy định nhữngbiến đổi chủ yếu nhất trong quá trình tâm lí và nhân cách ở giai đoạn pháttriển nhất định của nó
Đặc điểm hoạt động chủ đạo:
- Là hoạt động có đối tượng mới, chính đối tượng mới tạo ra những cái mới trong tâm lí, tức là tạo ra sự phát triển.
- Là hoạt động đặc trưng của lứa tuổi, nó quyết định sự phát triển tâm lí của lứa tuổi Những quá trình tâm lí được cải tổ, được tổ chức lại bằng hoạt động này
- Là hoạt động có khả năng chi phối các hoạt động khác cùng diễn ra đồng thời Do vậy tạo ra những nét đặc trưng trong tâm lí cá thể ở mỗi giai đoạn phát triển.
Mỗi giai đoạn phát triển tâm lí đặc trưng bởi một quan hệ nhất định củađứa trẻ với thực tế, bởi một kiểu hoạt động chủ đạo của nó Dấu hiệu chuyển
Trang 10từ giai đoạn này sang giai đoạn khác chính là sự thay đổi kiểu hoạt động chủđạo, quan hệ chủ đạo của trẻ với hiện thực.
Tìm hiểu quá trình biến đổi bên trong các giai đoạn phát triển của trẻ,A.N.Leonchiep đưa ra hai hướng: Hướng thứ nhất (cơ bản và quyết định), từbiến đổi bước đầu trong phạm vi các quan hệ đời sống và hoạt động đến sựphát triển hành động, thao tác, chức năng Hướng thứ hai, từ sự sắp xếp lạicác chức năng, các thao tác vào sự phát triển hoạt động của trẻ Vì vậy, mỗihoạt động của trẻ biểu hiện không chỉ quan hệ của nó đối với chính đối tượng
mà còn thể hiện những quan hệ xã hội hiện tại
Tóm lại: Về nguồn gốc của sự phát triển tâm lí trẻ em, Enconhin cho
rằng bẩm sinh di truyền là những điều kiện cần thiết bên trong giúp cho cáccấu tạo tâm lí có thể xuất hiện, nhưng nó không quy định cả thành phần lẫnchất lượng chuyên biệt của các cấu tạo mới ấy Giáo dục và người lớn có vaitrò quan trọng Chỉ có thông qua người lớn và nhờ có người lớn trẻ mới nắmđược sự phong phú của hiện thực Trong quan hệ của trẻ với thế giới đồ vật,bao giờ cũng phải lấy quan hệ giữa trẻ với người lớn làm khâu trung gian.Nhưng chỉ có hoạt động của bản thân trẻ nắm lấy thực tại mới là động lực làmcho trẻ - thành viên của xã hội phát triển được tâm lí và ý thức của mình Hoạtđộng đó thông qua quan hệ với người lớn
Bài 2: CÁC THUYẾT PHÁT TRIỂN TÂM LÍ
1 Thuyết tâm lí động học (lí thuyết phát triển động)
Thuyết Tâm lí động học cho rằng hành vi của con người phần lớn dođộng cơ chi phối, động cơ này ở bên trong và thường vô thức Những tácđộng ẩn này ảnh hướng đến hành vi, suy nghĩ và nhân cách con người.Thuyết Tâm lí động học cho rằng chúng ta được định hướng bằng động cơ vàcảm xúc tiềm thức, bằng kinh nghiệm đầu đời
Singmund Freud và Erik Enkson đại diện của thuyết Tâm lí động học
Trang 111.1 Thuyết Phân tâm của Freud (1856 - 1939)
Theo Freud, mỗi nhân cách cá nhân được hình thành bằng kinh nghiệmtrong bối cảnh xã hội, kinh nghiệm đầu đời hình thành các mẫu kéo dài trongsuốt cả cuộc đời
THUYẾT PHÂN TÂM VỀ NHÂN CÁCH
Xung động bản năng là nguồn năng lượng cung cấp xu thế phát triểntâm lí của con người Nó có từ lúc đứa trẻ mới sinh, quy định trực tiếp nhucầu cơ thể Bản ngã là thành phần nhân cách thực tế, duy lý, xuất hiện trongnăm đầu cuộc đời đáp ứng nhu cầu của trẻ (trẻ thông báo cho người khácbiết nhu cầu của nó qua tiếng khóc) Siêu ngã hay "Tác nhân đạo đức" pháttriển trong nhân cách trẻ 3 - 4 tuổi, khi trẻ bắt đầu kết hợp tiêu chuẩn đúng saicủa người lớn
CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN TÂM LÍ TÌNH DỤC CỦA FREUD
1 Miệng 0 - 1 Nhu cầu tâm lí tình dục bằng đường miệng (bú) hình
thành sự quyến luyến với mẹ
2 Hậu môn 1 - 3
Trẻ con được thúc hối phải kiểm soát bàng quan vàruột, tạo sự xung đột giữa thôi thúc sinh học và sựkiểm soát xã hội
3 Tượng
dương
3 - 6 Năng lượng tâm lí tình dục được hướng về cơ quan
sinh dục, thúc dục sự ham muốn bố mẹ khác giới Sợ
Nhan cach
Ban nga (cai toi y thuc)
Sieu nga (y thuc xa hoi)Xung dong ban nang
(cai no- cai vo thuc)
Trang 12bố mẹ cùng giới với mình trả thù là nguyên nhân làmcho trẻ đồng nhất bố mẹ ấy và thỏa mãn sự hấp dẫnvới bố mẹ khác giới
4 Tiềm ẩn 6
-12
"Thời gian yên tĩnh" trong đó năng lượng tình dụcđược định hướng thành hoạt động có thể được xã hộichấp nhận (học ở trường, làm việc và nô đùa với bạnđồng tuổi cùng giới)
5 Cơ quan
sinh dục
12trởlên
Giai đoạn trưởng thành giới tính, nhu cầu tâm lí tìnhdục được định hướng sang mối quan hệ tình dục khácgiới
Sự phát triển tâm lí của trẻ diễn ra qua các giai đoạn phát triển phổ biếnkhông thay đổi về chuỗi Những giai đoạn này phần lớn do khuynh hướngbẩm sinh quyết định Theo Freud, mỗi giai đoạn đều mang tính độc đáo bằng
sự phát triển khả năng nhận cảm trong bộ phận cơ thể cụ thể (vùng nhạy cảmtình dục), ông gọi mỗi giai đoạn là tình dục tâm lí Sự phát triển tâm lí là dotập trung liên tục và giảm bớt căng thẳng ở vùng nhạy cảm tình dục trong cácgiai đoạn khác nhau Nghĩa là trong từng giai đoạn trẻ được đáp ứng tốt nhucầu tâm lí tình dục nhưng không thái quá Nếu không được đáp ứng đủ trẻ sẽthất vọng và do dự khi quan hệ với người khác Quan hệ với người khácchính là nguồn kích thích trẻ phát triển tâm lí Sự phát triển tâm lí đạt mứchoàn chỉnh khi trẻ ở lứa tuổi thanh niên
Nhận xét: Cách phân chia này dựa trên sự chín muồi cơ thể, Freud bỏqua bản chất xã hội của sự phát triển tâm lí, bỏ qua vai trò của hoạt động vàgiáo dục Ông cho rằng sự phát triển tâm lí là quá trình phát triển của cơ chếthích nghi của cá nhân Các cơ chế kiểm duyệt, thay thế được xem nhưnhững cơ chế thích nghi của đứa trẻ với thế giới người lớn
1.2 Thuyết của Erikson (1902 - 1994)
Erikson là học trò của Freud, ông cho rằng sự phát triển tâm lí diễn ratrong suốt cuộc đời Trong lí thuyết tâm lí xã hội của mình, Erikson cho rằng
Trang 13sự phát triển nhân cách được quyết định bằng sự tương tác giữa kế hoạchtrưởng thành bên trong và nhu cầu xã hội bên ngoài.
CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN TÂM LÍ XÃ HỘI CỦA ERIKSON
1 Tin cậy cơ bản so
với hoài nghi 0 - 1
Phát triển ý thức cho rằng thế giới lànơi an toàn, tốt đẹp
Ràng buộc với người khác trong mốiquan hệ yêu đương
Góp phần với người nhỏ tuổi hơn,thông qua việc nuôi con, chăm sóc concái hoặc công việc sản xuất khác
8 Kết hợp so với
thất vọng Về già Xem cuộc sống đáng giá và hài lòng
Thứ tự 8 giai đoạn trong lí thuyết của Erikson dựa trên nguyên tắc biểusinh Nghĩa là mỗi giai đoạn đều thể hiện sức mạnh tâm lí xã hội của mình
Trang 14Tên của mỗi giai đoạn phản ánh thử thách mà con người phải đối mặt
ở một độ tuổi cụ thể Chẳng hạn thử thách đối với giai đoạn thanh niên làquan tâm đến mối quan hệ yêu đương Thử thách được đáp ứng thông qua
sự kết hợp các tác động tâm lí bên trong với tác động xã hội bên ngoài Khiđáp ứng thành công con người đã chuẩn bị tốt đáp ứng thử thách trong giaiđoạn tiếp theo sau 8 giai đoạn phát triển tâm lí kéo dài trong suốt quãng đờicon người, vì vậy cần cả đời mới có được sức mạnh tâm lí xã hội Hành vihiện tại và tương lai đều có nguồn gốc từ quá khứ các giai đoạn sau đượchình thành trên nền tảng của giai đoạn trước
Chuỗi 8 giai đoạn phát triển tâm lí xã hội của Erikson gồm các chu kỳlặp lại: Chu kỳ đầu tiên từ tin cậy so với hoài nghi đen đồng nhất so với nhầmlẫn đồng nhất Chu kỳ thứ hai từ mật thiết so với cô lập qua nguyên vẹn sovới tuyệt vọng
Diễn tiến phát triển của hai chu kỳ: Tin cậy -> đạt được -> trọn vẹn Tóm lại: Tâm lí động học nhấn mạnh sự chuyển qua tuổi trưởng thành
là rất khó vì con đường đầy rẫy vật cản Kết quả phát triển tâm lí phản ánhthái độ và sự dễ chịu mà trẻ dùng để vượt qua rào cản Khi trẻ vượt qua ràocản ba đầu dễ dàng, thì trẻ có khả năng giải quyết các rào cản sau này tốthơn
2 Thuyết Tập quen:
Thuyết Tập quen nhấn mạnh việc tập quen ảnh hướng đến hành vi củacon người và con người tập quen từ việc quan sát người khác quanh mình
2.1 Thuyết hành vi (John Watson 1878 - 1958)
- John Locke (triết gia người Anh) cho rằng đầu óc đứa trẻ như mộttrang giấy trắng để viết kinh nghiệm vào John Watson nhấn mạnh vai trò củakinh nghiệm, ông cho rằng tập quen quyết định sự phát triển của đứa trẻ saunày sẽ ra sao, nếu áp dụng đúng kỹ thuật trẻ có thể học được mọi thứ
- B.F.Skiner (1904 - 1990) nghiên cứu thực nghiệm sự biến đổi ngoạicảnh ở động vật, sau đó mở rộng sang người Hành vi sẽ được lặp lại hay
Trang 15mất đi dựa vào sự củng cố hoặc dập tắt hành vi bằng liệu pháp khen thưởng(củng cố) và trách phạt (kiềm chế hành vi, ngăn chặn hứng thú).
2.2 Thuyết tập quen xã hội
- Alber Bandura (1918) đưa ra thuyết tập quen xã hội trên cơ sở phầnthưởng, hình phạt và sự bắt chước phức tạp Ông cho rằng hành vi củangười khác cũng là nguồn thông tin về thế giới xung quanh Tập quen quaquan sát người khác được gọi là sự bắt chước
Bắt chước một cách máy móc (mô phỏng tuyệt đối hành vi của ngườikhác, không phê phán) hoặc bắt chước có nhận thức (nhận thức khả năngcủa bản thân có thể và khi nào cần bắt chước và đánh giá hành vi của ngườikhác khi bắt chước)
Tóm lại: Thuyết tập quen nhấn mạnh vai trò của kinh nghiệm trong sự
phát triển tâm lí của con người
3 Thuyết phát triển nhận thức:
Thuyết phát triển nhận thức đề cập đến con người suy nghĩ ra sao và
sự suy nghĩ thay đổi như thế nào Có ba cách tiếp cận trong thuyết phát triểnnhận thức Cách thứ nhất, theo Jean Piaget (1896 - 1980) sự phát triển nhậnthức trải qua các giai đoạn phổ biến Cách thứ hai, Kohlberg mở rộng khíacạnh đạo đức trong phát triển nhận thức Cách thứ ba, con người xử lí thôngtin giống như máy vi tính, càng ngày càng sử lí có hiệu quả hơn khi tuổi đờicao
3.1 Thuyết nhận thức của Piaget:
Piaget tập trung xem xét trẻ em hình thành kiến thức ra sao và sự pháttriển kiến thức của trẻ thay đổi theo thời gian như thế nào
Ông cho rằng đứa trẻ cố gắng tìm hiểu thế giới từ khi còn là đứa bé ẵmngửa, trong suốt thời kỳ ấu thơ cho đến tuổi thanh niên, trẻ luôn tìm hiểu hoạtđộng của cả thế giới tự nhiên và xã hội Trong nỗ lực tìm hiểu thế giới xungquanh mình, đứa trẻ hành động giống như các nhà khoa học Chúng cố liên
Trang 16kết tất cả những gì về sự vật và hiện tượng, về thế giới đồ vật, thực vật, độngvật và con người Thành một bức tranh đa dạng Trẻ cũng quan sát, thửnghiệm, dự đoán các sự kiện xảy ra xung quanh chúng Chẳng hạn trẻ suynghĩ và quan sát: "Chuyện gì xảy ra khi mình đẩy đồ chơi ra khỏi bàn", sau đótrẻ đẩy đồ chơi rớt xuống đất, nó lại đẩy tiếp quần áo, ly, chén rớt khỏi bàn.
Từ đó hình thành lí thuyết: "Đồ vật đẩy khỏi bàn sẽ rơi xuống đất"
Piaget cho rằng có một số thời điểm là mốc quan trọng trong sự pháttriển nhận thức của trẻ Tại những thời điểm này diễn ra sự thay đổi cơ bản
về nhận thức của trẻ Có ba mốc quan trọng nhất: Lần thứ nhất - trẻ 2 tuổi,lần thứ hai - trẻ 7 tuổi và lần thứ ba - trong tuổi thanh niên
Piaget cố gắng kết hợp sự trưởng thành và kinh nghiệm với nhận thức
và xã hội trong sự phát triển tâm lí của con người
CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC CỦA PIAGET
1 Vận động
nhận cảm 0 - 2
Hiểu biết thế giới của trẻ dựa trên giác quan và kỹnăng vận động Cuối giai đoạn sử dụng miêu tảsuy nghĩ
Trẻ học cách sử dụng biểu tượng: Từ ngữ và con
số để mô tả các khía cạnh thế giới Nhưng liên kếtvới thế giới chỉ bằng quan điểm của mình
Thanh niên hoặc người lớn suy nghĩ trừu tượng,giải quyết tình huống giả thuyết và suy đoán vềnhững gì có thể
Mỗi giai đoạn phát triển nhận thức tượng trưng cho sự thay đổi cơ bảntrong cách trẻ tìm hiểu và sắp xếp thế giới xung quanh vào vốn hiểu biết củamình
Trang 17Mỗi giai đoạn cũng thể hiện phương thức lãnh hội thế giới xung quanhngày càng tinh vi hơn.
3.2 Thuyết Lập luận đạo đức của Lawrence Kohlberg (1984, 1987):
Kohlberg dùng thuyết nhận thức của Piaget làm xuất phát điểm, ông mô
tả một chuỗi các giai đoạn phổ biến, phản ánh nhiều cách suy nghĩ khác nhaucủa con người về tình huống đạo đức khó xử Kohlberg khảo sát các nguyêntắc mà con người áp dụng để quyết định đạo đức hơn là chính các quyết địnhấy
CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN
LẬP LUẬN ĐẠO ĐỨC CỦA KOHLBERG
2
Hành vi tử tế để sau này được trả ơn Cá nhân tìm kiếm nhucầu của chính mình (họ nghĩ họ tử tế với người khác, saunày người khác sẽ trả ơn)
Trang 186 giai đoạn phát triển tập luận đạo đức của Kohlberg là một chuỗi cốđịnh, nghĩa là cá nhân đi qua 6 giai đoạn theo thứ tự liệt kê và chỉ đi qua thứ
tự ấy Cấp độ lập luận đạo đức phải kết hợp với độ tuổi và sự phát triển nhậnthức
3.3 Thuyết xử lí thông tin:
Các nhà tâm lí học xử lý thông tin dựa vào hoạt động của máy tính đểgiải thích tư duy và sự phát triển của tư duy từ thời thơ ấu cho đến tuổi thanhniên
Cũng như máy tính, phần cứng (ổ đĩa, bộ nhớ truy cập và thiết bị xử lýtrung tâm) và phần mềm (chương trình sử dụng) Nhận thức con người baogồm phần cứng trí tuệ (cấu trúc nhận thức gồm các bộ nhớ khác nhau lưu trữthông tin) và phần mềm trí tuệ (các tập hợp quá trình nhận thức giúp trẻ thựchiện nhiệm vụ cụ thể) Chẳng hạn khi học bài, trẻ phải mã hóa thông tin, lưutrữ thông tin trong bộ nhớ, sau đó truy cập thông tin cần thiết để làm bài thi
Các nhà tâm lí học xử lý thông tin giải thích sự phát triển tư duy nhưquá trình thay đổi phần cứng (nhiều bộ nhớ và thiết bị xử lí trung tâm nhanhhơn) và phần mềm (tinh vi và đa dạng hơn) máy tính Thanh niên có phầncứng và phần mềm trí tuệ tốt hơn trẻ nhỏ, họ có dung lượng bộ nhớ nhiềuhơn và nội dung kiến thức nhớ nhiều hơn nên giải quyết các tình huống tốthơn Sự lão hóa là quá trình sa sút phần mềm trí tuệ dẫn đến giảm khả năngkhả năng xử lí thông tin
4 Tiếp cận sinh thái học và hệ thống
Trang 19Thuyết sinh thái học tập trung nghiên cứu tính phức tạp của môi trường
và sự liên kết của chúng với sự phát triển Theo các nhà sinh thái học, sựphát triển của con người không thể tách rời các bối cảnh môi trường mà trong
đó con người phát triển Trong bối cảnh môi trường phát triển, các yếu tố pháttriển đều kết nối với nhau Chẳng hạn muốn hiểu sự hành xử của một thanhniên như thế nào, cần tìm hiểu nhiều hệ thống khác nhau (bố mẹ, bạn bè,thầy cô giáo, truyền hình, xã hội ) ảnh hướng đến họ
4.1 Thuyết của Urie Bronfenbrenner (1979, 1989, 1995)
Bronfenbrenner cho rằng trẻ con phát triển được gắn kết với một loạt
hệ thống phức tạp và tương tác Ông chia môi trường sống thành 4 cấp độ:
- Hệ thống vi mô gồm những người gần gũi với cá nhân nhất trong giađình: cha mẹ, ông bà, anh chị em ruột
- Hệ thống giữa gồm bạn bè thân trường học
- Hệ thống ngoại gồm đồng nghiệp nơi làm việc, hệ thống XH của bố
mẹ, chính sách XH và chính phủ
- Hệ thống vĩ mô gồm nhóm dân tộc, cộng đồng văn hóa, sự kiện lịchsử
Trang 20Bốn cấp bậc hệ thống kết nối chặt chẽ với nhau và ảnh hướng lẫnnhau Hệ thống vi mô ảnh hưởng nhiều nhất đến sự phát triển tâm lí cá nhân,
nó kết nối để hình thành hệ thống giữa, hệ thống giữa gây ảnh hướng trong
hệ thống vi mô Hệ thống ngoài là bối cảnh xã hội gần gũi với cá nhân Hệthống vi mô là nền văn hóa xã hội, nó thay đổi theo thời gian, vì vậy mỗi thế
hệ trẻ có thể sống trong bối cảnh xã hội và nền văn hóa khác nhau
4.2 Thuyết cạnh tranh áp lực môi trường của Lawton và Nahemov (1973)
Thuyết cạnh tranh áp lực môi trường nhấn mạnh sự tương của cá nhânvới môi trường Lawton cho rằng, con người thích nghi tốt như thế nào tùyvào sự kết hợp giữa khả năng cạnh tranh với áp lực môi trường hoặc mộttrường áp đặt yêu cầu với họ Khái niệm "phù hợp nhất" hoặc "thích hợpnhất" dẫn đến sự thích nghi mở rộng của cá nhân với môi trường (chẳng hạn
kỹ năng xã hội của đứa trẻ với bạn cùng tuổi có phù hợp hay không giải thíchcho việc nhóm bạn có chấp nhận đứa trẻ hay không) Vì vậy, để tìm hiểuchức năng hoạt động của con người cần phải tìm hiểu một loạt hệ thống phứctạp con người đang sống
HT vi mo
HT giữa
HT ngoai
HT vi mo
Trang 21Tóm lại: Thuyết tiếp cận sinh thái học và hệ thống nhấn mạnh mức độ
khác nhau trong ảnh hướng của đối với sự phát triển tâm lí cá nhân
5 Thuyết cuộc đời và chu kỳ sống:
Thuyết cuộc đời và chu kỳ sống đặc biệt chú ý đến giai đoạn trưởangthành và tuổi già trong sự phát triển của con người
5.1 Quan điểm quãng đời của Matilda Rilay:
Theo quan điểm quãng đời, sự phát triển con người không được hiểutrong khuôn khổ duy nhất, mà được xét đến trong khuôn khổ tâm sinh học xãhội Con người tiếp tục phát triển và thay đổi trong suốt cuộc đời, vì vậy cầntạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển toàn diện của con người về hình thể, khảnăng trí tuệ và kỹ năng xã hội Ở người già trong một giai đoạn nhất định nào
đó có thể thấy một số khía cạnh hành vi sẽ không thay đổi, một số khía cạnhkhác sẽ là mới, điều đó phản ánh sự gián đoạn trong phát triển của tuổi già.Tuổi già được xét đến trong bối cảnh sau:
- Tuổi già là một tiến trình trưởng thành và già trong suốt cuộc đời, bắtđầu với khái niệm đã định hình và kết thúc bằng cái chết Để tìm hiểu một giaiđoạn cụ thể, chúng ta phải biết trước đó điều gì đã đến và sau đó điều gì sẽđến
- Cuộc sống của con người chịu tác động của xã hội, vì thế kinh nghiệmcủa mỗi thế hệ khác nhau
- Các chuẩn mực đạo đức (các mẫu phát triển) cũng ảnh hưởng đến sựphát triển của con người
5.2 Chu kỳ đời sống gia đình của Duvall (1997):
Thuyết này cho rằng gia đình trải qua một loạt thay đổi có thể dự đoán,cấu thành chu kỳ đời sống gia đình liên quan đến độ tuổi của trẻ Ở mỗi giaiđoạn phát triển của trẻ đều có những đặc điểm riêng, nhưng có những đặcđiểm nhất quán trong cách giải quyết tình huống gia đình gia đình của cha
Trang 22mẹ Theo Duvall, có sự di truyền về tương tác gia đình để tạo nên kinhnghiệm sống của đứa trẻ.
Trang 231 Các cặp vợ chồng đã kết hôn chưa có con
2 GĐ nuôi con, con lớn nhất 30 tháng
3 GĐ có con được độ tuổi đến trường
4 GĐ có con độ tuổi đến trường
5 GĐ có con tuổi vị thành niên (con lớn nhất 13 - 20 tuổi)
6 GĐ có con trưởng thành ra ở riêng (con đầu lòng đến con út rời khỏinhà)
7 Bố mẹ tuổi trung niên (trống ổ rồi nghỉ hưu)
8 Thành viên trong GĐ lớn tuổi (nghỉ hưu đến khi hai vợ chồng mất)
Nhận xét: Các mô hình chu kỳ đời sống gia đình giúp chúng ta tìm hiểu
những thay đổi mà gia đình trải qua khi con cái trưởng thành Tuy nhiên,thuyết mô hình chỉ dựa trên hôn nhân lần đầu, theo truyền thống có con, mốiquan hệ không con, cũng như ảnh hưởng của những yếu tố nghề nghiệp, bạn
bè, gia đình và vợ chồng bị bỏ qua
Tóm lại: Thuyết quãng đời và chu kỳ đời sống hướng sự chú ý vào vai
trò của tuổi trưởng thành và tuổi già trong quá trình phát triển của con người
6 Lí thuyết hoạt động của các nhà Tâm lí học Nga:
5
1 23467
8
Trang 246.1 Sự phân kỳ lứa tuổi trong sự phát triển tâm lí của trẻ:
Theo các các nhà Tâm lí học Nga, hoạt động tích cực của cá nhân làđộng lực của sự phát triển tâm lí Dựa vào nội dung, đặc điểm và đối tượngcủa hoạt động, Đ.B.Enconin đã chia các loại hình hoạt động thành hai nhómlớn:
- Nhóm 1: Gồm những hoạt động trong hệ thống "chủ thể - cá thể khác
- xã hội" Trong hoạt động, trẻ tích cực tìm hiểu ý nghĩa hoạt động của conngười, trẻ tiếp thu nhiệm vụ, động cơ và chuẩn mực quan hệ giữa người vớingười - Giao tiếp Hoạt động giao tiếp là bậc thang đặc biệt trong quá trìnhphát triển của trẻ, trong quá trình giao tiếp nhu cầu, động cơ, tình cảm ở trẻphát triển mạnh (Giao lưu cảm xúc trực tiếp của trẻ hài nhi, trò chơi đóng vaicủa trẻ mẫu giáo và giao tiếp cá nhân thân tình của thiếu niên)
- Nhóm 2: Gồm những hoạt động, trong đó trẻ tiếp thu các phương
thức hành động đối với đồ vật do xã hội tạo ra Trong quá trình đó trẻ tiếp thutri thức chứa trong đồ vật và kỹ năng sử dụng đồ vật (hoạt động với đồ vậtcủa trẻ ấu nhi và hoạt động học tập của học sinh) Nội dung của những hoạtđộng này khác nhau, nhưng chúng đều chứa nền văn minh nhân loại Trên cơ
sở những hoạt động này, hình thành năng lực trí tuệ của trẻ và quá trình trẻtrưởng thành như một thành viên trong lực lượng sản xuất của xã hội
PHÂN CHIA THỜI KỲ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ Thời kỳ ấu thơ Thời kỳ thiếu nhi Thời kỳ thanh niên
Giai đoạnmẫu giáo(3 - 6 tuổi)
Giai đoạntiểu học (6 - 12tuổi)
Giai đoạnthiếu niên(12 - 15tuổi)
Giai đoạnthanh niên(15 - 18tuổi)Khủng
hoảng sơ
sinh
Khủnghoảng 1tuổi
Khủnghoảng 3tuổi
Khủnghoảng 7tuổi
Khủnghoảng 11 -
12 tuổi
Khủnghoảng 15tuổiLĩnh vực
động cơ
Lĩnh vựcthao tác kỹ
Lĩnh vựcđộng cơ
Lĩnh vựcthao tác kỹ
Lĩnh vựcđộng cơ
Lĩnh vựcthao tác kỹ
Trang 25nhu cầu
của nhân
cách
thuật củanhân cách
nhu cầucủa nhâncách
thuật củanhân cách
nhu cầucủa nhâncách
thuật củanhân cách
Giao tiếp
tình cảm
trực tiếp
Hoạt độngvới đồ vật
Hoạt độngvui chơi
Hoạt độnghọc tập
Hoạt độnggiao tiếpnhân cách
Hoạt độnghọc tập -hướngnghiệp Cách chia này có ý nghĩa lớn trong việc hình thành các biện pháp giáodục thích hợp cho từng giai đoạn tuổi, từng thời kỳ và sự liên hệ giữa chúng.Trong mỗi giai đoạn phát triển tâm lí có hoạt động chủ đạo, nhà giáo dục cầntập trung hình thành hoạt động ấy và tổ chức tốt hoạt động để nó thúc đẩy sựphát triển tâm lí trẻ
Tuy nhiên, sự phân định giai đoạn ở đây chỉ là tương đối, vì các giaiđoạn phát triển tâm lí của trẻ không cố định, không bất biến Giới hạn lứa tuổi
ở mỗi giai đoạn có thể thay đổi tùy theo trình độ phát triển kinh tế, xã hội, đặcđiểm hệ thống giáo dục ở mỗi nước, mỗi vùng, miền, tùy theo phong tục tậpquán Những nét tâm lí cơ bản chung cho sự phát triển ở cùng một giaiđoạn phát triển, phụ thuộc vào đặc điểm và những nét tâm lí riêng của từngem
6.2 Lí thuyết về sự phát triển hành động trí tuệ của P.Ia Galperin:
1 - Thực hiện các hành động vật chất với các đối tượng cần tìm hiểu Thực hiện hành động vật chất với các vật thật (hoặc là hành động vậtchất hóa đối với các vật thay thế)
2 - Thực hiện các hành động với mô hình hay sơ đồ của đối tượng.Hành động với mô hình hay sơ đồ của đối tượng chính là hành độngvới các hình vẽ, sơ đồ, mô hình, hình mẫu, chữ viết)
3 - Nói to lên về trình tự và nội dung các hành động đã tiến hành
Trang 26Hành động được thực hiện bằng ngôn ngữ ở dạng nói to Muốn bứt rakhỏi điểm tựa vật chất, trước hết phải có điểm tựa ngôn ngữ, cần luyện tậphành động mới bằng ngôn ngữ Nội dung công việc tương ứng với bước hìnhthành hành động nói to là việc tạo ra ngôn ngữ với chức năng mới Khi trẻhành động vật chất, ngôn ngữ dùng làm hệ thống các chỉ dẫn về hiện tượngtrực tiếp diễn ra trong trường tri giác, giúp trẻ hiểu được hiện tượng đó Khiluyện tập hành động nói to, ngôn ngữ vừa là hệ thống ký hiệu, vừa là mộtthực tại đặc biệt - thực tại ngôn ngữ, có quy tắc Không chỉ hành động, mà cả
sự phản ánh của nó trong ngôn ngữ cũng trở thành đối tượng nhận thức củatrẻ Hành động bằng ngôn ngữ được cấu tạo như là sự phản ánh hành độngvật chất Muốn vậy, phải từng bước triển khai hành động vật chất và từngbước chuyển nó sang dạng ngôn ngữ
4 - Nói thầm về những điều đó
Mức độ thứ tư của hành động là hành động trí não - ý nghĩ Ở đâyphương tiện của ý nghĩ là ngôn ngữ "Quan hệ giữa ý nghĩa và ngôn ngữ làquan hệ sống động, trong đó ý nghĩ nảy sinh trong từ ngữ Từ ngữ mà không
có ý nghĩ trước hết là từ ngữ chết Ngay cả ý nghĩ cũng vậy, một khi khôngđược vật chất hóa trong từ ngữ thì cũng chỉ là một bóng mờ, một âm thanh
hư vô" (L X Vưgotxki) Ngôn ngữ chứa đựng ý nghĩ, Vưgotxki gọi là ngônngữ bên trong Ngôn ngữ bên trong không hình thành ngay lập tức, nghĩa là,
ý nghĩ không có ngay cái vỏ ngôn ngữ hoàn chỉnh ngay từ đầu và lúc đầungôn ngữ bên trong có một tầng bậc sơ khai, đó là "ngôn ngữ tự kỷ trungtâm" (cách gọi của Vưgotxki) hoặc "ngôn ngữ thầm", sau đó ngôn ngữ chuyểnthành ý nghĩ
5 - Nghĩ thầm trong óc - hành động được rút gọn và biến thành tư duylogic
Về thực chất, 5 giai đoạn của hành động đã giúp trẻ chuyển từ nhữnghành động định hướng bên ngoài thành những hành động định hướng bêntrong bằng cách dùng những phương tiện đặc biệt (sơ đồ, mô hình, từ, kýhiệu, các chuẩn thước đo) để cuối cùng làm xuất hiện kiểu tư duy logic
Trang 27CÂU HỎI
1 Thuyết tâm lí động học giải thích sự phát triển tâm lí như thế nào?
2 Tiêu điểm của thuyết tập quen là gì?
3 Thuyết phát triển nhận thức giải thích sự thay đổi trong tư duy rasao?
4 Điểm chính trong thuyết tiếp cận sinh thái học và hệ thống là gì?
5 Trong thuyết quãng đời và chu kỳ đời sống có những điểm chính gì?
6 Vai trò của tí thuyết hoạt động trong giáo dục sự phát triển tâm lí?
BÀI TẬP
Học viên lập bảng so sánh và đánh giá các thuyết về sự phát triển tâmlí
Bài 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÍ
1 Các phương pháp nghiên cứu sự phát triển tâm lí
1.1 Phương pháp quan sát:
- Nhiệm vụ của phương pháp quan sát là tích lũy dữ liệu và sắp xếpchúng một cách hệ thống theo trật tự thời gian (quan sát có hệ thống) Nhànghiên cứu quan sát tuyến phát triển thực của đứa trẻ trong điều kiện diễn ra
sự phát triển đó, tích lũy dữ liệu, hệ thống hóa, xác định các mức độ và cácgiai đoạn phát triển của trẻ, trên cơ sở đó làm rõ các xu hướng cơ bản,nguyên nhân và các quy luật của quá trình phát triển
- Hai hình thức quan sát thường gặp: Quan sát tự nhiên và quan sáttrong điều kiện đặc biệt
Trang 28Trong quan sát tự nhiên, nhà nghiên cứu quan sát hành vi của nghiệmthể trong đời sống thường ngày của họ, quan trọng là chọn thời điểm quansát và chọn biến số nào để quan sát.
Quan sát trong điều kiện đặc biệt, nhà nghiên cứu tạo ra một bối cảnhcần thiết có khả năng suy luận hành vi mình cần quan tâm Chẳng hạn quansát sự tương tác giữa bạn bè của trẻ vị thành niên, nhà nghiên cứu tạo tìnhhuống đặc biệt trong đó diễn ra hành vi của bọn trẻ ở một căn phòng và cóthể quan sát trẻ ở một phòng khác bằng hệ thống gương một chiều Nhànghiên cứu cần chú ý khi tạo bối cảnh cần thiết mà không làm xáo trộn hành
vi tự nhiên của trẻ
- Khi quan sát nhà tâm lí cần đảm bảo nguyên tắc khách quan, bảođảm tính tự nhiên và tính bình thường trong điều kiện quan sát Kết quả quansát phải đáng tin cậy và có giá trị
- Quan sát có hệ thống lâu dài và theo dõi hành vi hàng ngày của mộtđứa trẻ, hiểu biết lịch sử phát triển, gần gũi và quan hệ tốt với nó là nhữngkhía cạnh xúc cảm cần thiết đối với quá trình quan sát của nhà tâm lý học
Các nhà tâm lý học nổi tiếng như V Steme từ kết quả quan sát con gáicủa mình đã viết sách về sự phát triển ngôn ngữ của trẻ J Piaget đã mô tả
sự phát triển cảm giác - vận động (trí tuệ giác - động) trên cơ sở quan sát bađứa con của ông Đ B Encônhin quan sát trẻ mới lớn trong ba năm, đã địnhđược đặc điểm tâm lý của tuổi mới lớn
Trang 29- Phương pháp này không cho phép tác động vào quá trình phát triểncủa trẻ, do đó quá trình nghiên cứu thụ động, không làm sáng tỏ động lựcphát triển tâm lí
1.2.2 Thực nghiệm hình thành:
- Thực nghiệm hình thành được dùng để hình thành những phẩm chấthay thuộc tính tâm lý nào đó ở trẻ trong những điều kiện nhất định Trong đó,người nghiên cứu tạo rà và làm biến đổi có chủ định các điều kiện diễn ra cáchoạt động của trẻ đặt cho trẻ nhiệm vụ cần thiết, trên cơ sở cách giải quyếtnhiệm vụ của trẻ, sớm hiểu đặc điểm tâm lí của nó
1.3 Trắc nghiệm tâm lý (test):
Là phép thử tâm lí gồm những bài toán, những câu hỏi được chuẩn hoádưới hình thức lời nói, hình ảnh Thông qua việc trả lời những bài toán, câuhỏi đó người nghiên cứu phán đoán trình độ phát triển tâm lí, nhân cách củatrẻ em
- Đầu thế kỷ XX (1905) ở Pháp xuất hiện bộ trắc nghiệm đầu tiên A.Bin (Alfed Binet 1857 - 1911) soạn thảo phương pháp lựa chọn trẻ vào cáctrường chuyên nghiệp, ông xây dựng thang đo sự phát triển trí tuệ với các bàitập chuẩn hóa cho từng lứa tuổi Sau đó, các nhà tâm lý học người Mỹ đềxuất các trắc nghiệm tính hệ số thông minh (IQ) Trong một thời gian dài, họcho rằng hệ số IQ là chỉ số năng khiếu bẩm sinh, không hề thay đổi trong suốt
cả cuộc đời
1.4 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động của trẻ
Sản phẩm hoạt động của trẻ bao gồm: Tranh vẽ, sản phẩm nặn, cắt,dán qua đó có thể biết được năng lực, tính cách của trẻ và biện pháp dạyhọc, giáo dục phù hợp (trong tranh vẽ của trẻ có những điều trẻ nhìn thấy,những điều trẻ biết được khi hoạt động với đối tượng, tranh vẽ phản ảnh trítuệ của trẻ (tri giác), phản ảnh cả thái độ tình cảm, ví dụ: tranh vẽ về gia đìnhcủa mình)
Trang 30Trong tâm lý học phát triển, còn sử dụng các phương pháp hỗ trợ như:Phương pháp nghiên cứu trẻ sinh đôi, phương pháp nghiên cứu quan hệ giữacác nhân cách
2 Các thiết kế chung cho nghiên cứu:
2.1 Nghiên cứu tương quan:
Trong nghiên cứu tương quan, nhà nghiên cứu xét mối quan hệ giữacác biến số khi chúng tồn tại một cách tự nhiên Chẳng hạn nhà nghiên cứumuốn kiểm tra một phán đoán cho rằng người thông minh hơn có nhiều bạnhơn Trong trường hợp này, người nghiên cứu xét một tương quan của haibiến số cho từng người trong mẫu nghiên cứu: Một biến số là số lượng bạn
bè của từng người và biến số còn lại là sự thông minh Ký hiệu hệ số tươngquan viết tắt là r, thể hiện sức mạnh và chiều hướng quan hệ giữa hai biến
số, hệ số tương quan dao động từ -1,0 đến 1,0 và phản ánh ba quan hệ khácnhau giữa trí thông minh và số lượng bạn:
- Khi r = 0, hai biến số hoàn toàn không liên quan với nhau - Trí thôngminh không liên quan đến số lượng bạn bè của người đó
- Khi r > 0, điểm số liên quan tích cực - Người thông minh thường cónhiều bạn hơn người không thông minh, nghĩa là càng thông minh càng cónhiều bạn
- Khi r < 0, điểm số liên quan nhau nhưng nghịch đảo - Người thôngminh thường có ít bạn hơn người không thông minh, nghĩa là càng thôngminh càng có ít bạn
Ba cách giải thích hệ số tương quan:
1) Biến số đầu tiên là nguyên nhân sinh ra biến số thứ hai (thông minh
-> có nhiều bạn)
2) Biến số thứ hai là nguyên nhân sinh ra biến số đầu tiên (có nhiềubạn -> thông minh)
Trang 313) Không có biến số nào do biến số kia tạo ra, cả hai do biến số thứ batạo ra nhưng không được đánh giá trong nghiên cứu (bố mẹ quan tâm giúp
đỡ -> trẻ thông minh và có nhiều bạn hơn)
Từ ba cách giải thích trên đây cho thấy, bất kỳ giải thích nào trong sốnày cũng có thể đúng Để tìm ra nguyên nhân chính xác, nhà nghiên cứukhông thể phân biệt được trong một nghiên cứu tương quan
2.2 Lựa chọn biến số
Cách lựa chọn các yếu tố quan trọng theo hệ thống: Yếu tố được vậndụng gọi là biến số độc lập, hành vi đang được quan sát gọi là biến số phụthuộc Trong nghiên cứu sự phát triển tâm lí, một thử nghiệm đòi hỏi nhànghiên cứu bắt đầu bằng cách sử lí tình huống hoặc sự kiện (biến số độc lập)ảnh hưởng đến hành vi cần nghiên cứu Sau đó, nhà nghiên cứu chọn đặcđiểm cần thiết (biến số phụ thuộc)
Chẳng hạn nhà nghiên cứu giả thuyết rằng tần số giao tiếp và khả năngphát triển ngôn ngữ (biến số phụ thuộc) của trẻ mẫu giáo sẽ tăng cao hơntrong giờ chơi ở các lớp không cùng độ tuổi (biến số độc lập) so với các lớpcùng độ tuổi
Trang 322.3 Thiết kế nghiên cứu theo chiều dọc và cắt ngang:
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu theo chiều dọc:
- Trong nghiên cứu theo chiều dọc, cùng một cá nhân được quan sáthoặc kiểm tra lặp đi lặp lại vào các thời điểm khác nhau trong đời sống củamình Đây là cách tiếp cận trực tiếp để quan sát bất kỳ khía cạnh nào trong
sự phát triển đang diễn ra Quan trọng hơn, nó là cách duy nhất để trả lời một
số câu hỏi về tính ổn định hoặc không ổn định của hành vi Chẳng hạn tính ưagây hấn, tính lệ thuộc hoặc tính hoài nghi được quan sát thấy ở trẻ tuổi hàinhi và ấu thơ có kéo dài đến tuổi trưởng thành không? Hoặc chương tập thểdục bắt đầu ở tuổi trung niên có lợi khí về già không? Có thể tìm hiểu chỉbằng cách kiểm tra con người ở đỉnh điểm trong quá trình phát triển, sau đó,tái kiểm tra họ vào cuối sự phát triển
- Tuy nhiên, nghiên cứu dọc tốn kém, mất thời gian ghi chép, dễ mấtmẫu do nghiệm thể khó kiên trì (họ thường rút lui) vì kéo dài thời gian nghiêncứu (vài năm đến vài chục năm), kiểm tra lặp đi lặp lại làm sai lệch hành viqua thời gian (gia nghiệm thể thuộc bài kiểm tra)
Choi khong cung do tuoiChoi cung do tuoi
Gio choi
To chuc tre cung do tuoi choi voi nhau
To chuc tre khong cung
do tuoi choi voi nhau
Tan so GT va kha nang ngon ngu cua tre o nhom choi khong cung do tuoi cao hon nhom cung tuoi
Choi khong cung do tuoi lam tang tan so GT
va kha nang ngon ngu cua tre mau giao
Xep tre vao
Trang 332.3.2 Thiết kế nghiên cứu cắt ngang:
- Trong nghiên cứu cắt ngang, những khác biệt phát triển được nhậndạng bằng cách kiểm tra con người ở nhiều độ tuổi khác nhau trong nghiêncứu Sự phát triển được mô tả bằng sơ đồ nêu rõ sự khác nhau giữa các cánhân ở cùng độ tuổi và sự khác nhau của con người thuộc nhiều độ tuổi khácnhau được kiểm tra cùng lúc
- Tuy nhiên nghiên cứu cắt ngang cũng có hạn chế, nghiệm thể đượckiểm tra chỉ vào một thời điểm trong sự phát triển của mình, nên chúng takhông thấy được sự phát triển liên tục của họ Chẳng hạn chúng ta không thểbiết liệu một đứa bé 14 tuổi hay gây gổ khi đến 30 tuổi còn gây gổ nữa không
Vì chúng ta chi kiểm tra họ khi ở 14 tuổi hoặc khi 30 tuổi
- Nghiên cứu cắt ngang cũng chịu ảnh hưởng của yếu tố "tập trung"theo nhóm tuổi, mà bỏ qua yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sự phát triển
Có nghĩa là, khi nghiên cứu so sánh con người ở hai độ tuổi, nếu chúng tanhận thấy sự khác biệt và quy chúng vào sự khác biệt trong độ tuổi Điều đókhông phải lúc nào cũng đúng Chẳng hạn, qua nghiên cứu đánh giá tínhsáng tạo của con người ở đầu tuổi trưởng thành và tuổi trung niên Nếu thanhniên được cho là nhiều tưởng tượng hơn tuổi trung niên, chúng ta chưa thểkết luận trí tưởng tượng giảm sút theo độ tuổi
2.3.3 Thiết kê nghiên cứu theo chuỗi:
- Về cơ bản, thiết kế nghiên cứu theo chuỗi bắt đầu bằng một thiết kếcắt ngang hoặc theo chiều dọc đơn giản Chẳng hạn, muốn biết khả năng nhớcủa người lớn có thay đổi theo độ tuổi hay không, chúng ta có thể theo dõinhiều nhóm người có độ tuổi khác nhau qua thời gian bằng một nghiên cứucắt lát kiểm tra trí nhớ những người 60 tuổi và 75 tuổi Sau đó, cứ mỗi 3 năm,kiểm tra lại hai nhóm, tạo ra hai nghiên cứu theo chiều dọc
- Thiết kế nghiên cứu theo chuỗi khá tốn kém, nhưng hạn chế đượcnhững nhược điểm của cả hai thiết kế cắt ngang và theo chiều dọc
3 Chú ý vấn đề đạo đức trong nghiên cứu sự phát triển tâm lí:
Trang 34- Mô tả nghiên cứu cho người tham gia biết để họ quyết định có nêntham gia hay không Đối với những người khuyết tật, phải có sự đồng ý củangười giám hộ hợp pháp.
- Bảo mật tên, tuổi nghiệm thể
BÀI TẬP
Học viên lập bảng so sánh và đánh giá các phương pháp nghiên cứu
và các thiết kế được sử dụng trong nghiên cứu sự phát triển tâm lí
Chương 2: CÁC THỜI KỲ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ CÁ THỂ
Bài 1: SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÍ TRONG NĂM ĐẦU
- Mỗi NST là một phân tử AND, một phần của AND cung cấp chỉ thịsinh hóa cụ thể gọi là gien
- Gien là đơn vị di truyền cơ bản, vì chúng quyết định cơ sở của cácđặc điểm và khả năng của con người 46 NST của một đứa bé khoảng100.000 gien Tập hợp hoàn chỉnh gien hình thành kiểu di truyền của conngười - kiểu hình cơ thể con người
Trang 35- Nhiễm sắc thể bất thường, đôi khi cá thể không nhận được sự bổsung bình thường của 46 NST Nếu sinh ra với số NST dư, thiếu hoặc bị tổnthương thì sự phát triển luôn bị xáo trộn Chẳng hạn người bị hội chứng Down
dư 1 NST thứ 21 do trứng tạo ra, tỉ lệ người mẹ sinh con bị hội chứng Downtăng lên đáng kể khi người mẹ lớn tuổi (người mẹ trong độ tuổi 20 tỉ lệ sinhtrẻ Down: 1/1000, trong độ tuổi 40: l/50) Người hội chứng Down đều có cặpmắt đặc trưng, nhiều nếp gấp phía trên mí mắt, đầu, cổ, mũi nhỏ hơn bìnhthường Trong một vài tháng đầu đời, sự phát triển của bé có vẻ bình thường.Sau đó sự phát triển tâm lí, vận động và hành vi chậm lại: 1 tuổi mới biết ngồi,
2 tuổi biết đi, 3 tuổi biết nói, sự phát triển nhận thức và xã hội giảm thiểunghiêm trọng (Nghiên cứu của Cienlinski và người khác 1995, Rast vàMeltzoff 1995)
- NST giới tính bất bình thường cũng có thể phá vỡ sự phát triển
RỐI LOẠN THÔNG THƯỜNG ĐI KÈM VỚI NST GIỚI TÍNH
Rối loạn NST Tần số Đặc điểm
bổ sung XYY
1:1000 lần sinh bé gái
Cao, một số trường hợp có trí năng dưới
mức bình thường rõ rệtHội
chứng
Turne
X 1:2500 - 5000lần sinh bé gái
Thấp phát triển hạn chế giới tính, nhậnthức quan hệ không gian kémHội
(Nguồn: Dựa theo Bancoft và người khác 1982, Downey và người khác
1991, Linden và người khác 1998, Plomin và người khác 1990)
- Kiểu di truyền có thể ảnh hướng đến kinh nghiệm Chẳng hạn, cáckiểu gien khác nhau có thể gợi ra các phản ứng khác nhau từ môi trường Trẻ
Trang 36thân mật và thoải mái tự nhiên rất có khả năng tìm thấy sự tương tác xã hộivừa ý và thích thú Trái lại, trẻ rụt rè, e thẹn tự nhiên rất có khả năng nhận sựtương tác xã hội kém vừa ý hơn nhiều Ngoài ra, khi trẻ lớn lên, nó chủ độngtìm kiếm môi trường thích hợp với di truyền của mình Chẳng hạn, trẻ có tínhhướng ngoại sẽ thường tìm kiếm môi trường trong đó có thể làm bạn vớingười khác, trẻ rụt rè thường tìm môi trường yên tĩnh riêng tư.
- Tuy nhiên, di truyền không phải là số phận, sự tương tác giữa ditruyền và môi trường tạo nên kiểu hành vi của con người Chẳng hạn, nếuđứa trẻ có đặc điểm hướng nội (hay e thẹn, rụt rè, nhút nhát) nhưng nếu sốngtrong môi trường phong phú đầy ắp sự kích thích từ bố mẹ, anh chị, bạn bè,nền văn hóa sẽ giúp trẻ tương tác với nhiều kích thích khác nhau, vì vậy trẻ
sẽ tự tin hơn Hoặc bệnh PKU là một rối loạn di truyền trong đó phenylalaninetích tụ trong cơ thể gây thương tổn cho hệ thần kinh dẫn đến giảm thiểu trínăng, có thể tránh được bằng chế độ ăn kiêng chất phenylalanine
Tóm lại: những gì chúng ta nói về gien, môi trường và sự phát triển
tâm lí được tóm tắt bằng sơ đồ sau:
- Bố mẹ cung cấp gien và kinh nghiệm sống cho con
- Gien của con cũng lựa chọn môi trường phù hợp với nó
- Di truyền và môi trường quyết định sự phát triển tâm lí của trẻ
2 Từ lúc thụ thai đến lúc sinh:
Sự phát triển trước khi sinh bắt đầu khi tinh trùng và trứng thụ tinhthành công (khoảng 30 tuần) Chia ba giai đoạn: Giai đoạn hợp tử: tuần 1 - 2;Giai đoạn phôi: Tuần 3 - 8; Giai đoạn thai: Tuần 9 - 38
Gien cua dua tre
Moi truong cua dua tre
Kieu hinh cua dua treGien cua
bo me
Trang 37BA GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA THAI
- Trứng và tinh trùng kết hợp với nhau tạo thành hợp tử Hợp tử
di chuyển đến tử cung và bắt đầu quá trình Phân chia thành cácnhóm tế bào với các chức năng khác nhau: Lớp tế bào gần tâmnhất sẽ phát triển thành phôi thai, lớp tế bào gần tử cung nhất sẽtrở thành nhau thai - nơi trao đổi dưỡng chất và chất thải giữa cơthể người mẹ và thai nhi, các tế bào khác sẽ trở thành cấu trúc
hỗ trợ, nuôi dưỡng và bảo vệ cơ thể sống đang phát triển
- Đôi khi hợp tử tách ra hai cụm phát triển thành trẻ song sinhđơn hợp tử (sinh đôi cùng trứng) Nhưng thường gặp hơn cả làtrẻ song sinh lưỡng hợp tử (sinh đôi khác trứng)
Sự phát triển các bộ phận gần tâm cơ thể trước những bộ phậnnằm xa hơn (nguyên tắc cận - xa tâm) Sự phát triển sau khi sinhcũng theo nguyên tắc này
- Tuy nhiên phổi vẫn chưa phát triển đầy đủ nên bé khó thở Bé
Trang 38chưa thể điều hòa thân nhiệt của mình vì thiếu lớp mỡ bao bọc.
- Tháng cuối cùng, tai và mắt bắt đầu hoạt động chức năng Tainghe được tiếng ồn 75 decibel (dung lượng cuộc trò chuyện bìnhthường) De Casper và Spence (1986) để phụ nữ mang thai đọc
to câu chuyện "The Cat on the Hat" nổi tiếng của bác sĩ Seuss hailần trong ngày và 1,5 tháng cuối thai kỳ Khi sinh ra, những bénày đã nghe câu chuyện 50 lần Sau đó các bé được ngậm núm
vú cơ học kết nối với máy ghi âm, sao cho động tác bú có thể tắt
mở máy Bé chỉ mở máy với câu chuyện "The Cat on the Hat" vàtắt máy những câu chuyện khác Chứng tỏ bé đã nhận biết nhịpđiệu quen thuộc của câu chuyện
3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ trước khi sinh:
3.1 Yếu tố rủi ro
- Độ tuổi của bố mẹ: Độ tuổi sinh con của người phụ nữ 20 đầu 30 tuổi,các bà mẹ vị thành niên hoặc các bà mẹ tuổi trung niên, có nhiều khả năngsinh con khuyết tật Độ tuổi của bố 30 - 40 tinh trùng làm trứng thụ tinh giatăng, nam giới lớn tuổi có nhiều khả năng sinh con thừa 1 NST 21 dẫn đếnhội chứng Down
- Chế độ dinh dưỡng của người mẹ, bé thiếu dinh dưỡng có nhiều khảnăng sinh non, sinh không đủ tháng, ảnh hưỏng đến sự phát triển của hệ thầnkinh trung ương
- Stress ở người mẹ, thai phụ bị stress kéo dài thường sinh non, bé haycáu kỉnh Stress của người mẹ làm giảm lưu lượng oxy dẫn đến thai trong khităng nhịp tim và mức độ hoạt động của thai
3.2 Nhân tố gây quái thai:
- Chất gây nghiện, cuối thập niên 1950 nhiều phụ nữ mang thai ở Đứcuống Thalidomide, một loại thuốc giúp họ dễ ngủ Tuy nhiên, ít lâu sau, phầnlớn những phụ nữ này sinh con có bàn tay, bàn chân, cánh tay, ngón chân
Trang 39biến dạng (Jensen, Ben son và Bobak 1981) Thadomide là chất gây quái thairất mạnh Thalidomide bị cấm khi 7.000 trẻ em khắp thế giới bị quái thai(Moore và Persaud, 1993).
CHẤT GÂY NGHIỆN – TÁC NHÂN GÂY QUÁI THAI VÀ HẬU QUẢ Chất gây
nghiện
Hậu quả tiềm năng
Rượu Hội chứng thai bệnh do rượu, giảm sút nhận thức, tổn
thương tim, phát triển chậmAspirin Giảm sút trí năng, chú ý và kỹ năng vận động
Caffein Sinh thiếu cân, cơ bắp giảm sự rắn chắc
Cocain và
heroin
Chậm phát triển trí tuệ, trẻ sơ sinh cáu kỉnh
Cần sa Sinh thiếu cân, kiểm soát vận động kém
Nicotine Chậm phát triển trí tuệ, mặt biến dạng
BỆNH TẬT GÂY QUÁI THAI VÀ HẬU QUẢ
AIDS Nhiễm trùng, rối loạn thần kinh thường xuyên, tử vongVirus cự bào Khiếm thính, mù loà, đầu nhỏ bất thường, giảm thiểu trí
năngMụn dộp sinh
dục
Viêm não, đông máu không thích hợp
Bệnh sởi Đức Giảm thiểu trí năng, thương tổn mắt, tai và tim
Bệnh giang mai Thương tổn hệ thần kinh trung ương, răng và xương
TÁC NHÂN GÂY QUÁI THAI TỪ MÔI TRƯỜNG VÀ HẬU QUẢ
Thuỷ ngân Chậm phát triển, giảm thiểu trí năng, liệt
nãoPCB (Polycholorinated Giảm sút kỹ năng diễn đạt bằng lời và trí
Trang 40biphenyls) có trong máy biến thế
và hội hoạ
nhớTia X Chậm phát triển, giảm thiểu trí năng
3.3 Các nhân tố gây quái thai ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ trước khi sinh như thế nào
- Tùy thuộc vào kiểu gien của cơ thể sống, có nghĩa là di truyền khiếncho một số cá thể nhạy cảm hoặc không với một số tác nhân gây quái thai
- Tác động của nhân tố gây quái thai thay đổi trong suốt quá trình pháttriển khi sinh và có ảnh hưởng khác nhau đến ba giai đoạn phát triển thai kỳ.Chẳng hạn: Tiếp xúc với nhân tố gây quái thai trong giai đoạn hợp tử, thườngtạo ra sẩy thai tự phát của trứng thụ tinh, trong giai đoạn phôi, gây nhiềukhuyết tật trong cấu trúc cơ thể (thai phụ dùng thalidomide sinh con thiếu chihoặc biến dạng), trong giai đoạn thai, làm cho các cơ quan hoạt động khôngđúng chức năng (thai phụ uống rượu thai phát triển ít tế bào não)
- Mỗi nhân tố gây quái thai ảnh hưởng đến một khía cạnh (hoặc nhiềukhía cạnh) cụ thể trong sự phát triển của trẻ Có nghĩa là sự thương tổn mangtính chọn lọc Chẳng hạn thai phụ mắc bệnh sởi Đức, sinh con khuyết tật ởmắt, tai, tim nhưng tứ chi bình thường, hoặc thai phụ ăn cá nhiễm PCB, sinhcon có các bộ phận cơ thể và kỹ năng vận động bình thường, nhưng kỹ năngdiễn đạt bằng lờ nói và trí nhớ thì ở mức dưới trung bình
- Thương tổn không phải lúc nào cũng biểu hiện ngay sau khi sinh mà
có thể xuất hiện sau này
4 Các biến chứng khi sinh:
- Khi trẻ lọt lòng mẹ, thở là điều quan trọng nhất Trong khoảnh khắcsau khi sinh trẻ sơ sinh phải lấy oxy từ chính phổi của mình Nếu thiếu oxy(rối nhau, dây rốn nối với nhau bị kẹp hoặc phổi của bé không phản ứng tết)
tế bào bắt đầu chết, nhất là tế bào não gây giảm thiểu trí năng và liệt não(Apgar và Beck 1974)