Cơ chế tác động của thuốc tê Thuốc tê ngăn cản có hoàn nguyên sự dẫn truyền luồng tk nhận cảm giác dọc theo sợi tk đến tk trung ương Cơ ché dẫn truyền xung thần kinhtk của dây tk là do m
Trang 1Cơ chế tác động của thuốc tê
Thuốc tê ngăn cản có hoàn nguyên sự dẫn truyền luồng tk nhận cảm giác dọc theo sợi
tk đến tk trung ương
Cơ ché dẫn truyền xung thần kinh(tk) của dây tk là do màng tế bào tk chuyền từ trạng thái phân cực(trạng thái nghĩ) sang trạng thái khử cực(trạng thái bị kích thích).Bình thường nồng độ ion kali trong tế bào tk cao gấp 25 lần so với nồng độ ở dịch ngoại bào,nồng độ ion natri bên trong tế bào thấp hơn 15 lần so với nồng độ bên ngoài.Sự chênh lệch nồng độ ion trong và ngoài mang tạo ra 1 điện thế khoảng — 70 mV gọi là điện thế nghĩ,theo khuynh hướng tự nhiên các ion sẽ di chuyển qua lại qua màng tế bào dé cân bằng về nồng đô nhưng điện thế nghĩ vẫn được duy trì nhờ các bơm của kênh ion chỉ cho phép ra vào có chọn lọc các ion k,na,ca,cl qua màng.Khi có kích thích ,các kênh ion ở màng tế bào tk sẽ mở ra cho phép các luồng ion na đi vào ồ ạt bên trong màng tế bào tạo ra điện thế nghĩ của màng,khi điện thế màng đạt đến 40 mV sẽ xuất hiện luồng xung động lan truyền dọc theo sợi tk đến tk trung ương Khi điện thế của màng tăng lên đến 1 giới hạn nào đó sẽ kích thích các kênh ion na tự động đóng lại
và mở kênh k làm cho ion k đi ra ngoài tọa sự tái phân cực trở lại Thuốc tê ức chế sự khử cựa của màng tế bao tk bằng cách ngăn chặn luồng ion na đi vào bên trong tế bào
Về phươn diện hoá học thuốc tê chích thường là những chất ở dạng kiềm kết hợp với Í
acid ,thường là acid chlohydrit(hcl) để tạo thành muối tan trong nước.Khi chích vào mô nhờ đặc tính tan trong nước của thuốc khuếch tán qua mô kẽ đến vị trí tk và nhờ khả
năng đệm của mô, thuốc sẽ được trung hòa và nhanh chóng phân ly thành dạng ion
hóa.Như vậy khi chích vào mô thuốc tê sẽ hiện diện dưới dạng :ion hóa và không ion hóa,chỉ khi ở dạng không ion hóa thuốc mới có thể qua màng tế bao tk Dé đạt hiệu quả
tê dạng ion hóa sẽ cố định vào các protein của các thụ thể mặt trong của màng và ngăn
chặn luồng ion na đi vào trong tế bào
Gây tê là làm mắt cảm giác tạm thời tại 1 vùng và trong 1 khoảng thời gian nhất định do thuốc tê tiếp xúc với các nhánh thần kinh tận cùng tạo phản ứng tê lập tức trên bề mặt hay bên dưới vùng chích
Gây tê tại chỗ có thể thực hiện bằng cách đặt tác nhân tác động trực tiếp lên bề
mặt(gây tê bề mặt)hay chích tại chỗ(gây tê chích tại chỗ)
Gây tê vùng nhằm loại bỏ sự dẫn truyền cảm giác ở toàn bộ đoạn dây tk bên dưới vùng chích từ đó gây mắt cảm giác đau ở 1 vùng rộng lớn do tk chi phối
ở xoang miệng gây tê vùng liên hệ chủ yếu đến các nhánh và phân nhánh của các dây
tk V ,các nhánh và phân nhánh này đc chích ở các vị trí có thể đâm xuyên đến được
nhằm đạt hiệu quả tê mat cảm giác cao mà không gây tốn hại đân những cấu trúc giải
Trang 2phẫu ở vùng đó và vùng lân cận.Kĩ thuật này có những ích lợi như :tránh Được nhiều
mũi đâm tại chỗ,dùng lượng thuốc tê ít hơn mà hiệu quả tê và vùng tê lan rộng
hơn,tránh được các biến chứng tại chỗ sau chích và giúp phàn ứng lành sẹo tốt hơn gây tê tại chổ
Việc lựa chọn kĩ thuật gây tê phụ thuộc vào nhiều yếu tố:yêu cầu của can thiệp thời gian can thiệp,sự hiện diện hay không của nhiễm trùng tại chổ,tuổi bệnh nhân,sức khỏe
tổng quát của bệnh nhân.Nguyên tắc chung là chọn kĩ thuật nào đơn giản,ít gây sang
chan,ma van dat được hiệu quả tê như mong muốn
Tắt cả các loại thuốc tê chích đều có cấu trúc hóa học gồm 3 phần:
-Nhân thơm:đặc tính ưa mỡ giúp tuốc tê có thề khuếch tán qua màng tế bào tk(vốn có
cấu trúc protein)để đến nơi tác động,là tthành phần quyết định đặc tính gây tê
-Nhóm amin:đặc tính ưa nước,khi kế hợp với acid tạo thành muối tan trong nước,giúp
cho thuốc tê có khả năng ion hóa và khuếch tán qua mô kẻ đến nơi tác động là tế bào
tk,là thành phần quyết định thời gian tác động của thuốc té.Cac thuốc tê ko có cấu trúc
ưa nước ko tan trong nước đc nên chỉ dùng làm thuốc tê thoa (các thuốc tê thuộc nhóm hydroxyl)
-Nhóm trung gian : nối liền 2 thành phần trên,quyết định khả năng thải trừ,khả năng liên kết với protein và tiềm năng của thuốc.Nhóm trung gian có cấu trúc càng dài thì tiềm năng của thuốc càng lớn Thường tiềm năng và độc tính tỉ lệ thuận với nhau,nhưng các nha sản xuất đã luôn tìm ra các thuốc tê có đặc tính tỉ lệ nghịch với tiêm năng tăng và độc tính giảm
Hiện tại chúng ta đang sử dụng lidocaine trong nha khoa nên Bàn Chải Đánh Răng sẽ
trình bày về lidocaine thôi nhé
Lidocaine(xylocaine, lignocaine) rất ít gây dị ứng như các loại thuốc tê thuộc nhóm
amid,có hiệu quả tê mạnh kéo dài,thời gian bắt đầu tê ngắn hơn so với procaine.Dung
dịch thường dùng trong nha khoa là loại nồng độ 2%( thuốc tê đỏ-có epinephrine) nồng
đô 3%( thuốc tê xanh-ko có epinephrine).Nồng đô cao hơn dùng để gây tê bề mặt như
ở dạng gel 5%(thuốc tê bôi,thoa) 10% ở dạng phun sương(thuốc tê xit).Liều dùng tối đa
cho lidocaine khuyến cáo là 300mg trên cơ thể trưởng thành khoảng 70kg(Bàn Chải
Đánh Răng được học như thế nhưng cũng có 1 số sách và trường dạy là có thể sử
dụng đến 400mg nhưng Bàn Chải Đánh Răng sẽ không khuyến cáo như vậy, Bàn Chải
Đánh Răng mà tiêm khoảng 4 ống tương đương khoảng 150ng là thấy run tay rồi
không dám tiêm thêm)quá liều lidocaine biểu hiện lâm sàng với các triệu chứng như: lơ
mơ ,chóng mặt,có thể mắt tri giác và ngưng hô hấp
Cách tính liều lượng thuốc tê như sau:thuốc tê đỏ 2% có chứa 20mg/ml x 1.8ml =
36mg/óng.Như vậy với liều tối đa thì khoảng 8 ống Thuốc tê xanh 3% có chứa 30mg/ml
x 1.8 ml = 54mg/ống như vậy liều tối đa khoảng 5 ống(mỗi ống thuốc tê hiện tại sử
dụng trong nha khoa chứa 1.8ml dung dịch)