1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vấn đề con người trong xây dựng CNXH

28 306 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 156 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phê phán chủnghĩa duy tâm của Hêghen, phoi ơ bắc đã đạt tới Chủ nghĩa duy vật khikhẳng định rằng ý thức cũng như tư duy của con người chỉ là sản phẩmcủa khí quan vật chất nhục thể, tức l

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Từ xa xưa, con người là một khách thể hết sức phong phú đượcnhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu Mỗi ngành khoa học có cáchnghiên cứu và nhìn nhận khác nhau.Do vậy, vấn đề con người luôn đượccoi là chủ đề trung tâm từ cổ đại đến hiện đại của môn “khoa học của mọikhoa học” - triết học

Triết học nghiên cứu về con người và giải đáp những vấn đề chungcủa con người như bản chất con người là gì? Vị trí vai trò của con ngườiđối với thế giới như thế nào? Mối quan hệ giữ cá nhân và xã hội trong đờisống con người ra sao? bằng cách tổng hợp các yếu tố thành hệ thống

Để có thể giải mã được rõ ràng những điều trên, điều tiên nhất làchúng ta cần phải tìm hiểu rõ bản chất của loài người Đây là vấn đề luônđược các nhà triết học đi sâu và tìm cách lý giải

Thông qua đó, ta không chỉ hiểu rõ được sinh vật nhỏ bé song cóảnh hưởng rất to lớn tới sự tồn tại và phát triển của trái đất; mà còn giúpcho con người ngày càng hoàn thiện hơn về cả mặt thể và trí

Trang 2

Trong giai đoạn toàn cầu hoá hiện nay, cái giúp cho con người vượtqua những khó khăn, thử thách, giải thoát con người khỏi những thách đố

và vướng mắc của cuộc sống, đáp ứng nhu cầu thường nhật và lâu dàicủa nhân loại không chỉ là kinh tế, kỹ thuật hiện đại và công nghệ cao, màcòn là triết học Triết học giúp cho con người tìm ra lời giải không chỉ chonhững thách đố muôn thuở, mà còn cho những vấn đề hoàn toàn mới doquá trình toàn cầu hoá đặt ra Triết học là một hệ thống các ý kiến bao hàmtoàn diện về bản chất con người và bản chất của cái thực tại mà chúng tađang sống trong đó Nó là một hướng dẫn viên cho cuộc sống, vì các vấn

đề nó khởi sự rất cơ bản và lan tỏa, định đoạt tiến trình mình chọn trongđời và cách cư xử với người khác

I Triết học về con người trong triết học trước Mác.

Trong lịch sử tư tưởng nhân loại đã từng tồn tại rất nhiều quan điểmkhác nhau xung quanh vấn đề nguồn gốc và bản chất con người TrướcMác không những chủ nghĩa duy tâm mà cả chủ nghĩa duy vật trực quan,siêu hình cũng không nhận thức đúng bản chất con người Từ buổi sơ khaicủa mình, do hạn chế về nhận thức, con người đã không hiểu được sứcmạnh của thiên nhiên Sợ hãi trước sức mạnh đó, con người đã thờ trời,thờ đất, thờ núi sông, thờ muông thú, nhiều lúc cũng đã coi những thứ ấy

là nguồn gốc, là tổ tiên của mình ( tôtem giáo )

1 Trong triết học phương Đông.

Từ thời kỳ xã hội cổ đại, con người bắt đầu tìm hiểu nguồn gốc củamình và có những ý thức ban đầu về sức mạnh của bản thân mình Nóichung, các tôn giáo đều quan niệm con người do thần thánh, thượng đế

Trang 3

sinh ra, cuộc sống con người do đấng tối cao an bài, sắp đặt Có nhữngtrào lưu triết học duy tâm không trực tiếp giải thích nguồn gốc con người từtrời, từ thần thánh hay từ con vật linh thiêng nào đó, nhưng đã giải thíchmột cách không kém phần bí hiểm Trong triết học trung hoa, vấn đề bảntính con người được coi là vấn đề được quan tâm hàng đầu Giải quyếtvấn đề này, từ góc độ hoạt động thực tiễn chính trị, đạo đức, xã hội, Nhogia đã đi đến kết luận bản tính của con người là Thiện Phật gia thì chorằng bản tính của con người là Bất Thiện Từ góc độ khác, Đạo gia lại đitới kết luận về bản tính tự nhiên của con người Trong triết học Ấn Độ, từgóc độ suy tư về con người và đời người, Đạo phật kết luận về bản tính VôThường, Vô Ngã và tính hướng thiện của con người Các hệ thống phổbiến nhất có nhiều ý kiến lộ ý chỉ đạo triết lý là các tôn giáo như đạo Phật,thiên chúa giáo, đạo Do thái, và hồi giáo Từ các triết học các tôn giáokhông khác nhau ở các chủ thể họ xưng hô mà ở cái phương pháp họdùng để xưng hô Các tôn giáo có cơ sở của họ trong các câu chuyệnhoang đường có từ lâu trước khi có sự khám phá các phương pháp điềutra hợp lí và dứt khoát Nhiều tôn giáo ngày nay thỉnh cầu tới niềm tin thần

bí và sự thiên khải — các cách thức về lòng tin quả quyết có căn cứ vữngchắc không lệ thuộc vào luận lý và phương pháp khoa học, ít ra cho nhữngcâu hỏi lớn nhất Nhưng phần lớn các tôn giáo thì trong các nguồn gốc của

họ tiền luận lý chứ không phải là kháng luận lý, biên bản các vấn đề triết lýcủa người kể truyện chứ không phải của một khoa học gia

2 Trong triết học phương Tây

Chủ nghĩa duy vật lựa chọn góc độ KHTN để lý giải về bản chất conngười.Các nhà triết học cổ đại coi con người như vạn vật trong giới tự

Trang 4

nhiên, không có gì là thần bí, đều được cấu tạo từ vật chất Đêmôcrit chorằng con người được cấu tạo từ nguyên tử Linh hồn cũng được cấu tạo từnguyên tử nhưng là 1 loại nguyên tử đặc biệt nhỏ bé, hình cầu, hết sứclinh động.Các nhà triết học cổ điển Đức mà tiêu biểu là Phoiơbắc quanniệm rằng : vấn đề mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại là vấn đề bản chấtcủa con người, chỉ có con người mới có tư duy Các nhà duy vật Pháp thế

kỷ XVIII và Phoiơbắc đều phê phán mạnh mẽ quan điểm duy tâm, thần bí

và tìm cách giải thích nguồn gốc, bản chất con người theo quan điểm duyvật “ Không phải Chúc đã tạo ra con người theo hình ảnh của Chúa màcon người đã tạo ra Chúa theo hình ảnh của con người” Lời nói sắc sảonày của Phoiơbắc đã được Mác và Ăngghen đánh giá cao Phê phán chủnghĩa duy tâm của Hêghen, phoi ơ bắc đã đạt tới Chủ nghĩa duy vật khikhẳng định rằng ý thức cũng như tư duy của con người chỉ là sản phẩmcủa khí quan vật chất nhục thể, tức là bộ óc, rằng vật chất không phải làsản phẩm của tình thần mà chính tinh thần là sản phẩm tối cao của vậtchất Song Phoi ơ bắc đã không còn giữ được quan điểm duy vật của mìnhkhi đi vào phân tích những vấn đề về bản chất con người, về lịch sử xã hộiloài người Phoi ơ bắc không xem xét con người trong các mối quan hệ xãhội nhất định của họ, trong những điều kiện sinh hoạt nhất định của họ,những điều kiện làm cho họ trở thành những con người đúng như nó đangtồn tại Phoi ơ bắc xem xét con người tách rời với hoạt động thực tiễntrong điều kiện lịch sử nhất định Ông chỉ coi con người là “đối tượng cảmtính” mà không phải là những thực thể đang hoạt động Phoi ơ bắc khôngbiết đến những quan hệ người với người nào khác ngoài tình yêu, tình bạnhơn nữa lại là tình yêu, tình bạn lý tưởng hóa Trong chủ nghĩa duy tâm,các nhà triết học chú trọng góc độ hoạt động lý tính của con người VớiPlaton, đó là bản chất bất tử của linh hồn thuộc thế giới ý niệm tuyệt đối

Trang 5

Với Đề Cactơ, đó là bản tính phi kinh nghiệm của lý tính Hêghen cho rằngcon người là hiện thân của ý niệm tuyệt đối Điều này mang tính phiến diệntrong phương pháp tiếp cận Có thể nói các quan niệm trên là những quanniệm trừu tượng về con người.

II Quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin về con người.

Mác khẳng định rằng : “Bản chất con người là tổng hòa các quan hệ

xã hội trên nền tảng sinh học của nó Con người không phải là cái gì đóđồng nhất, tuyệt đối về chất, mà đó là sự đồng nhất bao hàm trong mình

sự khác biệt giữa 2 yếu tố đối lập nhau : Con người với tư cách là sảnphẩm của giới tự nhiên là sự phát triển tiếp tục của giới tự nhiên; Mặt khác,con người là 1 thực thể xã hội được tách ra như 1 lực lượng đối lập vớigiới tự nhiên

1 Con người là một bộ phận của tự nhiên.

Con người là một thực thể sống được thiên nhiên phú cho nhữngsức mạnh bẩm sinh và sức sống Con người là đại biểu thuộc bậc thangcao nhất của tiến hóa vật chất Con người bình đẳng với các sinh vật kháctrên trái đất và cùng chung sống dưới mái nhà chung Con người bị chiphối bởi các quy luật chung của thế giới tự nhiên, sinh vật Con người hòahợp với thiên nhiên, học hỏi thiên nhiên Con người là một thực thể tựnhiên hoạt động, bằng lao động con người đấu tranh với thiên nhiên, cảitạo thiên nhiên và cũng bằng lao động con người sáng tạo ra chính bảnthân minh Ví như vấn đề môi trường hiện nay đang là mối nguy cơ đe dọalớn mà cả nhân loại đang phải gánh chịu Nó do chính con người tạo nên

Trang 6

bởi sự thiếu hiểu biết và ý thức sai, hành động sai trái chứkhông phải dothiên nhiên Có thể nói, thiên nhiên tồn tại được lâu dài hay không cũngphụ thuộc phần lớn vào con người Cái gọi là tính người là sản phẩm củalao động của chính bản thân con người Vì là thực thể tự nhiên hoạt độngnên con người đã tự hình thành cho mình những sức mạnh, những sứcmạnh này tồn tại trong con người dưới dạng các tư chất và những nănglực.

2 Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với mặt

xã hội.

Với quan điểm duy vật triệt để và phương pháp biện chứng, Mác đãđưa ra một quan niệm hoàn chỉnh về khái niệm con người, cũng như vềbản chất con người Mác phân biệt rõ hai mặt trong khái niệm con người :mặt sinh vật và mặt xã hội

Trước hết, Mác thừa nhận con người là một động vật cao cấp nhất,sản phẩm của sự tiến hóa lâu dài của giới sinh vật như tiến hóa luận củaĐác Uyn chỉ ra Như mọi động vật khác, con người là một bộ phận củathiên nhiên, tìm thức ăn, nước uống … từ trong thiên nhiên Con ngườiphải “đấu tranh” để tồn tại, ăn uống, sinh đẻ… Tuy nhiên, Mác không trừquan điểm cho rằng : Cái duy nhất tạo nên bản chất con người là bản năngsinh vật của nó Con người vốn là một sinh vật có đầy đủ những đặc trưngcủa sinh vật, nhưng lại có nhiều điểm phân biệt căn bản với các sinh vậtkhác Trước Mác và cùng thời đã có nhiều nhà tư tưởng lớn đã đưa ranhưng xitêu chí phân biệt người và động vật có sức thuyết phục, chẳnghạn như Phranklin cho rằng con người khác con vật ở chỗ con người biết

sử dụng công cụ lao động, Arixtốt đã gọi con ngươờ là “một động vật cótính xã hội”, Pascal nhấn mạnh đặc điểm của con người la sức mạnh của

Trang 7

con người là ở chỗ con người biêế suy nghĩ Các nhận định trên đều đúngkhi nêu lên một khía cạnh về bản chất con người, nhưng những nhận định

đó đều phiến diện, không nói lên được nguồn gốc của những đặc điểm ấy

và mối quan hệ biện chứng giữa chúng với nhau

Triết học Mác xem xét vấn đề bản chất con người một cách toàndiện, cụ thể, xem xét bản chất con người không phải một cách chungchung, trừu tượng mà trong tính hiện thực, cụ thể của nó, trong quá trìnhphát triển của nó Con người là một bộ phận của tự nhiên, nhưng trong mốiquan hệ với tự nhiên con người hoàn toàn khác con vật Mác phân biệt rõràng : “ Con vật chỉ tái sản xuất ra bản thân nó, còn con người thì tái sảnxuất ra toàn bộ giới tự nhiên” Câu nói sâu sắc này nêu lên tính tất yếu của

sự hòa hợp giữa con người với tự nhiên; bởi tự nhiên là “ thân thể vô cơcủa con người” Tính loài của con người không phải tính loài trừu tượng

Nó cũng có những là tính xã hội và loài người chính là “xã hội người” Conngười có tính xã hội trước hết bởi bản thân hoạt động sản xuất của conngười là hoạt động mang tính xã hội Trong hoạt động sản xuất, con ngườikhông thể tách khỏi xã hội Hoạt động của con vật chỉ phục vụ nhu cầu trựctiếp của nó, còn hoạt động của con người gắn liền với xã hội và phục vụcho cả xã hội, trong đó có bản thân mình Hoạt động của con người khôngphải hoạt động theo bản năng như động vật mà là hoạt động có ý thức Tưduy con người phát triển trong hoạt động và giao tiếp xã hội, trước hết làtrong hoạt động lao động sản xuất

Yếu tố sinh học trong con người là điều kiện đầu tiên quy định sự tồntại của con người Con người là 1 bộ phận của tự nhiên, là kết quả củaquá trình phát triển và tiến hóa lâu dài của môi trường tự nhiên

Điều quy định sự khác biệt giữa con người với thế giới loài vật làphương diện xã hội của nó Mác khẳng định “ Có thể phân biệt con người

Trang 8

với súc vật, bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũngđược Bản thân con người bắt đầu bằng sự tự phân biệt với súc vật ngaykhi con người bắt đầu sản xuất ra tư liệu sinh hoạt của mình… Sản xuất ra

tư liệu sinh hoạt của mình, như thế con người đã gián tiếp sản xuất rachính đời sống vật chất của mình Thông qua hoạt động sản xuất vật chất,con người đã làm thay đổi, cải biến giới tự nhiên :” Con vật chỉ sản xuất rabản thân nó, còn con người thì tái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên.” Nhờ

đó, ta có thể rút ra kết luận : Lao động là yếu tố quyết định, hình thành bảnchất xuất hiện của con người, đồng thời hình thành nhân cách cá nhântrong cộng đồng xã hội Bởi vì lao động là nguồn gốc của nên văn minh vậtchất và tinh thần Lao động là nguồn gốc trực tiếp của sự hình thành ýthức Trong lao động, con người quan hệ với nhau trong sản xuất, phâncông lao động, phân phối sản phẩm

Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và pháttriển của con người chịu sự chi phối của 3 quan hệ :

+ Hệ thống quy luật tự nhiên quy định phương diện sinh học của conngười

+ Hệ thống các quy luật tâm lý ý thức hình thành và vận động trênnền tảng sinh học của con người

+ Hệ thống các quy luật xã hội quy định quan hệ xã hội giữa ngườivới người

Ba quy luật trên không tách rời mà hòa quyện vào nhau tạo nên “chấtnhân” với tư cách là sự thống nhất của mặt tự nhiên và mặt xã hội trong 1con người hiện thực

Tóm lại, con người khác con vật về bản chất ở cả ba mặt : quan hệvới thiên nhiên, quan hệ với xã hội, quan hệ với bản thân Cả ba mối quan

hệ đó đều mang tính xã hội, trong đó quan hệ xã hội là quan hệ bản chất

Trang 9

nhất, bao quát nhất trong mọi hoạt động của con người, cả trong lao độngsinh con đẻ cái và trong tư duy.

3 Bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội.

Khi phê phán quan niệm của Phoi ơ bắc, Mác đã khái quát :” Bảnchất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêngbiệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa nhữngquan hệ xã hội.”

Sự hoạt động và phát triển của con người khác loài vật ở 3 phươngdiện chính Đó là con người quan hệ với tự nhiên, quan hệ với xã hội, quan

hệ với chính bản thân con người Suy đến cùng, cả 3 mối quan hệ đềumang tính xã hội trong đó quan hệ giữa con người với con người là quan

hệ bản chất Không có con người trừu tượng, thoát ly mọi điều kiện, hoàncảnh, lịch sử xã hội Con người là cụ thể, xác định, sống trong điều kiệnlịch sử nhất định, một thời đại nhất định Và chỉ khi tham gia các quan hệ

xã hội, con người mới bộc lộ toàn bộ bản chất xã hội của mình

Ở đây, ta không phủ định mặt tự nhiên trong đời sống con người,song mặt tự nhiên tồn tại trong sự thống nhất với mặt xã hôi

4 Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử.

Con người là sản phẩm của lịch sử, của sự biến hóa lâu dài của giớihữu sinh vì không có lịch sử xã hội thì không tồn tại con người Có thể nói,con người chính là chủ thể của lịch sử Thông qua hoạt động thực tiễn, conngười tác động vào tự nhiên, cải biến tự nhiên, thúc đẩy sự phát triển củalịch sử xã hội Trong quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng làm ra lịch

sử của mình Hoạt động lao động sản xuất vừa là điều kiện cho sự tồn tại

Trang 10

của con người, vừa là phương thức để làm biến đổi đời sống và bộ mặt xãhội Thông qua hoạt động vật chất, tinh thần, con người thúc đẩy xã hộiphát triển từ thấp đến cao phù hợp với mục tiêu và nhu cầu do con ngườiđặt ra Mỗi sự vận động và tiến lên của lịch sử sẽ quy định tương ứng với

sự vận động và biến đổi của bản chất con người

III Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và việc xây dựng con người mới.

“Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết tinh của lòng yêu nước thương dân, tinh hoa của Khổng Giáo, Phật Giáo, Lão Giáo, tinh hoa của tư tưởng dân chủ và nhân văn của cách mạng tư sản ở Phương Tây và ở Trung Quốc,

và chủ nghĩa Mác - Lê Nin.Tư tưởng của Người như kim chỉ nam giúp

chúng ta vững tin hơn vào tương lai, không bị gục ngã” Bạn Vũ Xuân Dũng, lưu học sinh Việt Nam tại Nhật Bản gửi tâm sự nhân dịp kỉ niệm ngày sinh nhật Bác Hồ - vị cha già dân tộc.

1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người.

Tư tưởng Hồ Chí MInh về con người là 1 quá trình phát triển từ thấpđến cao, từng bước sâu sắc và hoàn thiện hơn từ phạm vi dân tộc vươntới tầm nhân loại, hướng tới việc giải phóng con người và mưu cầu hạnhphúc cho con người Với Hồ Chí Minh, con người bao giờ cũng là vốn quýnhất, là tâm điểm mà xã hội cần tập trung giải quyết Hồ Chí Minh nói cán

bộ là cái gốc của mọi công việc Cây có đơm hoa kết trái, cành lá sum suê,đều ở cái gốc đó mà ra Nhưng muốn có cán bộ, trước hết phải xây dựngcon người Muốn trở thành cán bộ, trước hết phải trở thành con người.Những năm 20, dưới sự áp bức bóc lột của CNĐQ, xã hội được chia ra

Trang 11

làm hai kiểu người Một là đế quốc thực dân tàn bạo Hai là những ngườilao động bị áp bức bóc lột nặng nề “Dù màu da có khác nhau trên đời này

có 2 loại người: giống người bị bóc lột và giống người bị bóc lột.”

Cuối những năm 40, căn cứ vào đạo đức cách mạng Người đã đưa

ra khái niệm: “ Trên trái đất có muôn triệu người Song số người ấy có thểchia làm 2 hạng: Người thiện và người ác.”

Cuối cùng, Người khẳng định :” Bọn Việt gian bán nước… “, bọn phátxít thực dân là ác quỷ ma tà” vào 1 nhóm, còn tất cả những kiểu ngườikhác vào 1 nhóm

Trên cơ sở phân chia như vậy, Hồ Chí Minh cũng cho rằng nhữngngười bị bóc lột, những người đi theo điều thiện dù màu da, tiếng nói cókhác nhau nhưng có thể coi nhau như an hem 1 nhà, có thể “đại đoàn kết”,

“đại hòa hợp” trong “1 TG đại đồng”

Theo Hồ Chí Minh, người ta sinh ra vốn tốt cả, nhưng về sau do ảnhhưởng của gia đình, bạn bè, xã hội, mà dần dần mỗi người một khác.Đồng thời, ngay trong “mỗi con người đều có thiện có ác trong long” Vìvậy, “ Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoamùa xuân và phần xấu bị mất dần đi Đối với mỗi thói hư tật xấu trừ hạngngười phản lại tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằngcách làm cho phần thiện trong con người họ nảy nở còn phần ác bị đẩy lùichứ không phải đập cho tơi bời.” ( HCM toàn tập)

Từ đó, Hồ Chí Minh đã rút ra được định nghĩa về chữ Người Xéttheo nghĩa hẹp, Chữ “ Người “ là gia đình, bạn bè, anh em Xét theo nghĩarộng : Chữ “Người” là đồng bào cả nước, là cả loài người Tuy nhiên, chữNgười mà HCM quan tâm trước hết là tuyệt đại bộ phận dân tộc và thànhphần chủ yếu là người lao động

Trang 12

2 Xây dựng con người mới trong tư tưởng HCM.

Đầu những năm 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định hằng thángmời các Ủy viên Bộ Chính trị đến nhà sàn trong Phủ Chủ tịch để ăn bánh,uống chè, tiến hành phê bình và tự phê bình Người bắt đầu là Chủ tịch.Việc này chỉ làm được vài lần, vì sau các Ủy viên Bộ Chính trị không hàohứng Người nói, thế là mất "cả bánh" lẫn "chè ngon"! Chuyện đã qua cảnửa thế kỷ, nhưng ngẫm lại mới thấy, để xây dựng tính kỷ luật cho lãnhđạo không phải chuyện đơn giản, nếu mỗi người không biết tự nhìn lạichính mình Có thể nói, xây dựng con người mới là chiến lược hàng đầucủa cách mạng; là quan điểm mang tính tầm vóc chiến lược, cơ bản, lâudài nhưng cũng rất cấp bách

a/ Yêu cầu con người mới.

Người khẳng định rằng:” Nếu xây dựng XHCN trước hết cần cónhững con người XHCN.” Con người XHCN phải do CNXH tạo ra.Hồ ChíMinh quan niệm về con người XHCN có 2 mặt gắn bó chặt chẽ với nhau

Đó là việc kế thừa những giá trị tốt đẹp của con người truyền thống Thứhai là hình thành những phẩm chất mới như có tinh thần XHCN, có đạođức cách mạng, có trí tuệ, có bản lĩnh để làm chủ, có tác phong XHCN, cólòng nhân ái, vị tha, độ lượng

b/ Biện pháp xây dựng con người mới

Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo HCM khẳng định :” Mộtdân dốt là một dân tộc yếu

Nội dung là phương pháp giáo dục phải toàn diện cả đức, trí, thể, mỹphải đặt đạo đức, lý tưởng và tình cảm cách mạng, lối sống XHCN lênhàng đầu Hai mặt đức, tài phải thống nhất với nhau

Trang 13

“Trồng người” là công việc trăm năm, không thể nóng vội, 1 sớm 1chiều, cũng không thể tùy tiện đến đâu hay đến đó.

IV Vai trò của con người trong sự nghiệp xây dựng CNXH

tế cần xem xét con người với tư cách là LLSX và vai trò trong QHSX.Lêninchỉ ra rằng: “LLSX hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là ngườilao động.” Ngày nay, toàn cầu hóa, khu vực hóa đã làm cho cạnh tranh trởnên gay gắt và khốc liệt hơn Đó là cuộc cạnh tranh không chỉ về sảnphẩm, mà cả về nguồn nhân lực Chính điều này đòi hỏi các quốc gia phảinhanh chóng tạo ra đội ngũ những người lao động có trình độ chuyên môn,

kỹ năng nghề nghiệp, tri thức khoa học, công nghệ, phẩm chất đạo đức,nhân cách và sự hiểu biết những nét đặc thù về văn hóa để có thể thamgia vào các giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất sản phẩm mangtính quốc tế Còn những quốc gia chỉ dựa vào lao động giản đơn, hoặc lợithế so sánh truyền thống (tài nguyên, giá nhân công…) đang có nguy cơtụt hậu rất xa Do đó, cần phải nâng cao trình độ lao động, tức là phảichuyển dịch nhanh tỷ lệ lao động giản đơn sang lao động phức tạp Việcnâng cao tri thức của người lao động sẽ làm tăng năng lực khoa học vàcông nghệ; tiếp đến tăng cường năng lực nội sinh về khoa học - côngnghệ, từng bước làm chủ và sáng tạo các công nghệ mới, tạo ra nhiều

Trang 14

công nghệ mới có giá trị, nâng cao khả năng, vai trò làm chủ các tri thứcmới và năng lực sáng tạo của mọi người, tăng cường năng lực nội sinh vềkhoa học - công nghệ, tức nâng cao khả năng và vai trò làm chủ các trithức mới và năng lực sáng tạo của người lao động Để phát huy năng lựcnội sinh, không chỉ tăng số lượng lao động một cách đơn thuần mà cầnphải tăng cả về chất lượng, cơ cấu, loại hình lao động sao cho phù hợp với

sự phát triển của khoa học - công nghệ và nhu cầu nền kinh tế quốc dân.Trong quá trình lao động xây dựng CNXH, người lao động đã trở thànhnhững người làm chủ đất nước, làm chủ trong quá trình quản lý sản xuất

và phân phối sản phẩm

b/ Trong lĩnh vực chính trị.

Trong tác phẩm Chính trị, Aristotle đã khẳng định, con người theo

bản năng tự nhiên đã có tính chính trị Khi người dân có tri thức, năng lực,thấy được trách nhiệm của mình trong việc lựa chọn những người có đức,

có tài vào cơ quan nhà nước sẽ góp phần xây dựng nhà nước vững mạnh.Cán bộ nhà nước có hiểu biết lý luận, thực tiễn, thấy được trách nhiệm củamình với nhân dân, sẽ hết long phụng sự nhân dân và tôn trọng quyền làmchủ của nhân dân được dân mến, dân tin, dân ủng hộ HCM khẳng định:”Khi người dân… biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ củamình, dám nói, dám làm”, “ thì việc gì khó mấy họ cũng làm được, hi sinhmấy họ cũng không sợ.”

c/ Lĩnh vực văn hóa.

Tất cả chúng ta đều đồng ý là sự phát triển kinh tế càng ngày càngtăng sau đổi mới đã làm cho cuộc sống dân chúng khá lên, và đến năm

Ngày đăng: 12/04/2017, 15:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w