1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

VẤN đề CON NGƯỜI TRONG tâm lý học mác xít, NHẬN THỨC vận DỤNG của ĐẢNG TA và CHỦ TỊCH hồ CHÍ MINH TRONG HOẠCH ĐỊNH CHIẾN lược PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI

33 451 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 167 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề con người luôn là vấn đề trung tâm của mọi thời đại, mọi quốc gia dân tộc. Vấn đề này luôn chi phối mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Tất cả đều xuất phát từ con người, do con người và vì con người. Song mỗi thời đại lịch sử khác nhau, mỗi quốc gia dân tộc khác nhau, mỗi lĩnh vực khoa học khác nhau, thậm chí ngay trong một lĩnh vực khoa học ở cùng một thời kỳ lịch sử cũng có những quan niệm khác nhau về con người. Do vậy, vấn đề con người đã, đang và sẽ còn là vấn đề trung tâm thu hút sự đầu tư nghiên cứu của của nhiều ngành khoa học, Tâm lý học là một trọng điểm trong số đó.

Trang 1

VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG TÂM LÝ HỌC MÁC XÍT

NHẬN THỨC, VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA

VÀ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINHTRONG HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CON NGƯỜIVấn đề con người luôn là vấn đề trung tâm của mọi thời đại, mọi quốcgia dân tộc Vấn đề này luôn chi phối mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực của đờisống xã hội Tất cả đều xuất phát từ con người, do con người và vì con người.Song mỗi thời đại lịch sử khác nhau, mỗi quốc gia dân tộc khác nhau, mỗilĩnh vực khoa học khác nhau, thậm chí ngay trong một lĩnh vực khoa học ởcùng một thời kỳ lịch sử cũng có những quan niệm khác nhau về con người

Do vậy, vấn đề con người đã, đang và sẽ còn là vấn đề trung tâm thu hút sựđầu tư nghiên cứu của của nhiều ngành khoa học, Tâm lý học là một trọngđiểm trong số đó Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII khẳng định: lấy việcphát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh vàbền vững Quan điểm này là bài học được rút ra từ lịch sử dựng nước và giữnước của dân tộc ta Đó cũng là bài học được đúc kết từ lịch sử văn minhnhân loại Thực tiễn lịch sử chứng minh, từ thời Cổ đại rồi đến thời kỳ Phụchưng con người đã được đặt lên thượng đỉnh của toàn bộ sự phát triển, thếgiới tinh con người được coi là tinh hoa của lịch sử văn minh nhân loại và làthần tượng của khoa học, nghệ thuật Ở châu Âu thế kỷ XVII, khi mở đầu cho

sự ra đời của các công trường thủ công, thì yếu tố con người đã được coi làđộng lực của sự phát triển Trong thế kỷ XX, sự phát triển bùng nổ của quốcđảo Nhật Bản sau thế chiến thứ hai là một điển hình về vai trò của nhân tố conngười Thế kỷ XXI – thế kỷ của trí tuệ điều đó tạo cơ sở khẳng định dứt khoátrằng nhân tố con người càng được đề cao hơn bao giờ hết Nhưng trước sựphát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật và công nghệ, cùng với nhiều vấn

đề của thời đại càng làm xuất hiện nhiều vấn đề hóc búa về con người mà tạmthời khoa học chưa thể lý giải được Điều đó đã tạo cho chủ nghĩa duy tâmtôn giáo và chủ nghĩa duy vật máy móc những khoảng chống lớn để tồn tại và

Trang 2

phát triển Trước tình hình ấy quan niệm Mác xít về vấn đề con người một lầnnữa phải đương đầu đối chọi với những luận điệu xuyên tạc, phản động.

Từ ý nghĩa trên, nghiên cứu vấn đề con người trong tâm lý học Mác xítcàng có giá trị to lớn cả về mặt lý luận và thực tiễn, là cơ sở cho việc xâydựng và phát huy nguồn lực con người Nắm vững vấn đề này còn cung cấpcho chúng ta tri thức cơ bản, những vấn đề có tính nguyên tắc, phương phápluận khoa học trong trong việc xem xét, giải quyết đúng đắn và triệt đểnhững vấn đề về nguồn gốc, bản chất con người và các hiện tượng tâm lýngười Đồng thời còn là cơ sở khoa học trong việc phát hiện và đấu tranhchống lại các luận điểm sai trái, bảo thủ và phản khoa học về con người

Đối với mỗi học viên chúng tôi, vấn đề quan trọng hàng đầu là phảihiểu được bức tranh toàn cảnh về tâm lý học Mác xít nói chung và vấn đề conngười trong tâm lý học Mác xít nói riêng, trên cơ sở đó làm cho mỗi học viênchúng tôi có cơ sở khoa học để quán triệt đúng đường lối quan điểm củaĐảng, tư tưởng của Hồ Chí Minh về vấn đề con người và chiến lược pháttriển con người Trong thời gian học tập nghiên cứu phần lịch sử tâm lý học,nhờ có các thầy giáo truyền thụ nhiệt tình và lý giải sâu sắc nhiều vấn đề vềlịch sử tâm lý học Thông qua định hướng nghiên cứu tài liệu của các thầygiáo, bản thân tôi rất tâm đắc khi nghiên cứu vấn đề con người trong tâm lýhọc Vì vậy, trong phạm vi bài tiểu luận này tôi xin phép trình bày một số

hiểu biết ban đầu của mình về vấn đề con người trong tâm lý học Mác xít Sự

vận dụng của Đảng cộng sản Việt Nam và chủ tịch Hồ Chí Minh trong hoạch định chiến lược phát triển con người.

Trang 3

KẾT CẤU CỦA TIỂU LUẬN

Kết cấu của tiểu luận được chia thành ba phần chính:

Phần I: Khái lược các quan điểm về con người trong tâm lý học trước Mác

1.1 Các quan niệm về con người trong triết học trước 1879

1.2 Các quan niệm về con người từ khi tâm lý học trở thành khoa học độc lập năm 1879

- Quan niệm về con người trong phân tâm học

- Quan niệm về con người của các nhà Hành vi học

Phần II: Vấn đề con người trong tâm lý học Mác xít

2.1 Con người vừa là một thực thể tự nhiên vừa là một thực thể xã hội.2.2 Bản chất tâm lý người mang bản chất xã hội lịch sử

2.3 Con người còn là chủ thể tác động tích cực trở lại cải tạo hiện thực.Phần III: Vấn đề con người, trong nghị quyết của Đảng và dưới ánh sáng tư tưởng

Hồ Chi Minh

3.1 Quan niệm về con người dưới ánh tư tưởng Hồ Chí Minh

3.2 Nhận thức và vận dụng của Đảng ta trong hoạch định chiến lược phát triển con người

KẾT LUẬN

Trang 4

Phần I: Khái lược các quan điểm ngoài Mác xít về con người.

1.1 Quan niệm về con người từ thời kỳ cổ đại đến 1879.

Ngược dòng lịch sử chúng ta thấy, ngay từ thời kỳ Cổ đại vấn đề conngười nói chung và tâm lý người nói riêng đã được quan tâm nghiên cứu củanhiều nhà khoa học Mặc dù vấn đề con người được quan tâm từ rất sớm,nhưng ở thời kỳ xa xưa ấy chưa có một nhà nghiên cứu nào nghiên cứuchuyên sâu về con người, cũng như tâm lý người Thời kỳ Cổ đại các nhàthông thái không chỉ nghiên cứu triết học mà còn nghiên cứu nhiều lĩnh vựckhoa học khác, trong đó có tâm lý học Do đó vấn đề con người thời Cổ đạiphổ biến được trình bày trong các tác phẩm triết học Các nhà triết học khi đó

do hạn chế bởi hoàn cảnh lịch sử và phương pháp tiếp cận khác nhau, vì vậykhi đưa ra quan niệm của mình về vấn đề con người cũng khác nhau

Đại biểu cho các nhà triết học duy tâm thời kỳ này ở phương Tây làPlaton…, phương Đông là Thích ca mâu ni Theo quan niệm của Platon, conngười chỉ là sản phẩm của ý niệm tuyệt đối, là sự kết hợp của hai yếu tố gồmthể xác và linh hồn Thể xác chỉ là vỏ bọc của linh hồn, là nơi trú ngụ của linhhồn, là cái tồn tại tạm thời Còn linh hồn là bất tận, là cái tồn tại vĩnh viễn.Tìm hiểu quan niệm của Thích ca mâu ni ta thấy, trong quan niệm của ông cónhiều yếu tố duy vật xen lẫn yếu tố duy tâm Quan niệm về con người tronggiáo lý của Thích ca mâu ni chứa đựng nhiều yếu tố duy tâm như nhiều tôngiáo khác Quan niệm về con người của ông cũng có phần hồn và phần xác,cuộc sống của con người nơi trần thế chỉ là tạm thời, sau khi thể xác chết đi,linh hồn theo kiếp luân hồi, nghiệp chướng ( có thể lên cõi niết bàn, hoặc cóthể xuống địa ngục hay đầu thai vào kiếp khác, điều đó tuỳ thuộc vào đạo đứcsống nơi trần thế ) Đối với các nhà triết học duy vật thời kỳ Cổ đại, đại biểu

là Arixtốt; Đêmôcrít; Hêraclít quan niệm của họ về con người còn hết sứcthô sơ mộc mạc Theo họ, con người được sinh ra từ nước, lửa hay không khí

Trang 5

Trong học thuyết nguyên tử của Đêmôcrít thì con người cũng được cấu tạo từcác nguyên tử mà thành, linh hồn chỉ là những nguyên tử có hình cầu vànhẹ…

Đến thế kỷ thứ XVII, một hiện tượng nổi bật ở châu Âu là sự ra đờihàng loạt các công trường thủ công, sự ra đời này đã làm cho chủ nghĩa tưbản châu Âu hình thành và mở đầu cho một thời kỳ phát triển mạnh mẽ Đồngthời với sự phát triển về kinh tế, khoa học tự nhiên đã bắt đầu có những phátkiến quan trọng, phá tan nhiều quan niệm cũ về thế giới tự nhiên, xã hội vàcon người Với việc phát minh ra kính viễn vọng, Galilê đã chứng minh tínhđúng đắn của học thuyết Côpécnich: trái đất tự quay quanh mình nó và quayquanh mặt trời tạo ra hiện tượng ngày và đêm đã góp phần đập tan nhiều giảthuyết hoang đường về con người và vũ trụ Kế thừa những thành tựu khoahọc ấy vào lý giải những vấn đề về con người, Rene Descarters (1596 – 1650,

Pháp) đã đưa ra học thuyết về hai bản thể Học thuyết của ông cho rằng con người gồm hai thực thể tâm hồn và cơ thể là hai thực thể song song tồn tại.

Thực thể của nhục thể có thuộc tính là cảm tính, có thể cân đong đo đếmđược, còn thực thể của linh hồn có thuộc tính là tư duy Tâm hồn và các quátrình của nó hoàn toàn đóng kín, tách biệt với những hoạt động vật chất bênngoài Chủ thể chỉ có thể tự quan sát và tự cảm nghiệm tâm lý của chínhmình, ngoài ra không ai có thể hiểu biết về nó cả Đánh giá chung Descarter làmột nhà nhị nguyên luận

Chống lại lập trường nhị nguyên luận của Descarter, Hobbes Thomas(1588 – 1679, Anh) và B Spinoza (1632 – 1677, Hà lan) cho rằng thế giới

có trước con người và đều tồn tại độc lập với chúa trời Spinoza nhấnmạnh: giữa linh hồn và thể xác của con người có sự thống nhất Không mộtthế lực siêu nhiên nào cả mà chính là con người làm chủ quá trình tư duy

Trang 6

của mình Cùng chống lại Descarter với Spinoza có John locke (1632 –

1704, Anh) Ông đã quan niệm về sự phát triển của con người rằng: “Linh

hồn chúng ta khi mới sinh ra, có thể nói như tờ giấy trắng, không có một

của con người, nhận thức của con người không phải là cái bẩm sinh mà làkết quả của quá trình con người tiếp xúc, lĩnh hội từ thế giới đối tượng

Đến thế kỷ thứ XVIII, nền công nghiệp máy móc cơ khí đã tạo chochủ nghĩa tư bản châu Âu một sự phát triển mạnh mẽ Do đó, đã làm thayđổi nhiều trong quan niệm về con người ở thời kỳ này

Tìm hiểu vấn đề con người trong triết học thời kỳ này cho ta thấy, quanniệm về con người cũng hết sức khác nhau do các nhà triết học dựa vào cáctrường phái triết học khác nhau Đại biểu cho các nhà triết học duy tâm thời

kỳ này Hêghen (1770 -1831) và Cantơ (Đức), D Diderot (1713 – 1784,Pháp) Cũng như triết học duy tâm thời kỳ Cổ đại, Hêghen và Can đã cho

rằng: con người chỉ là cái bóng của “ý niệm tuyệt đối”, là sự tha hoá của “ý

niệm tuyệt đối”, đây là hạn chế lớn nhất của Hêghen Đề cập đến hạn chế của

Hêghen, Ăngghen đã chỉ ra những nguyên nhân của những hạn chế đó là: “

Một là bởi những giới hạn không thể tránh được của những tri thức của bản thân Ông, hai là bởi những tri thức và quan niệm của thời đại Ông…ba nữa

Đối lập với quan điểm duy tâm về con người, các nhà triết học duy vậtthời kỳ này muốn đưa ra quan niệm về con người một cách khoa học hơn.Đặc biệt là các nhà triết học, tâm lý học duy vật Pháp Tiêu biểu trong số là

D.Điđơrô một trong các nhà khai sáng Pháp quan niệm rằng: Linh hồn và thể

xác thống nhất hữu cơ trong một con người Linh hồn là một tổng thể các hiện tượng tâm lý Linh hồn cũng là đặc tính của vật chất Linh hồn không

1 Trích lại, Lịch sử TLH v TLHQS, Nxb QDND, H N à TLHQS, Nxb QDND, Hà N à TLHQS, Nxb QDND, Hà N ội 2003, tr.65-66.

2 Các mác - Ăngghen: To n t à TLHQS, Nxb QDND, Hà N ập, Nxb CTQG, H n à TLHQS, Nxb QDND, Hà N ội 1994, T 20, tr 40.

Trang 7

tách khỏi cấu trúc cơ thể Ông cũng khẳng định rằng nhân cách của con người là sản phẩm của hoàn cảnh và môi trường xung quanh

G.Ô Lametri (1709 – 1751, Pháp) cũng là một nhà triết học khai sáng

điển hình của Pháp Theo Lametri con người là sự thống nhất hữu cơ giữa cơ

thể với tư duy và ý thức Ông còn quan niệm rằng con người như một cái máy, một cái máy đặc biệt phức tạp có khả năng suy nghĩ, tính toán.

G.G Rút – xô (1727 – 1778, Mỹ) thì cho rằng con người là “con người

tự nhiên” Lịch sử nhân loại là kết quả hoạt động của con người chứ không phải là sản phẩm của thượng đế Ông cũng khẳng định vai trò của giáo dục

giữ vai trò quyết định đến việc hình thành con người Song Rút- xô vẫn cóhạn chế bởi ông quan niệm có thần linh, thừa nhận sự tồn tại của linh hồn bất

tử Do vậy, Rút – xô vẫn là nhà nhị nguyên luận

Tóm lại, các quan niệm về con người từ thời Cổ đại cho đến thế kỷXVIII hầu hết được trình bày trong các quan niệm của các nhà triết học Vìvậy, tuỳ thuộc vào thế giới quan khác nhau, điều kiện lịch sử khác nhau màquan niệm về con người của họ cũng rất khác nhau Đối với các nhà triết họcduy vật, nhìn chung họ đều quan niệm rằng con người có nguồn gốc từ thếgiới vật chất, tâm lý ý thức của con người cũng là một dạng đặc biệt của thếgiới vật chất, con người là sự kết hợp của hai yếu tố thể xác và tinh thần Haiyếu tố này gắn bó chặt chẽ với nhau trong một con người Ngược lại, đối vớicác nhà triết học duy tâm, họ đều quan niệm rằng con người là sản phẩm củalực lượng siêu nhiên, con người có linh hồn và thể xác, thể xác chỉ là nơi trúngụ tạm thời của linh hồn, linh hồn là bất tử Bên cạnh những nhà triết họcnhất nguyên, còn có một số nhà triết học nhị nguyên Theo quan niệm của cácnhà triết học nhị nguyên, một mặt họ thừa nhận con người là sản phẩm củagiới tự nhiên, mặt khác họ lại cho rằng có sự tồn tại của thần linh, thượng đếhoặc thừa nhận linh hồn là bất tử

Trang 8

Như vậy các quan điểm trên về vấn đề con người, khi thì thô sơ, khi thìmáy móc siêu hình, thậm chí có những quan niệm hoàn toàn sai phản khoahọc về vấn đề con người.

1.2 Quan niệm về con người từ khi tâm lý học trở thành khoa học độc lập năm 1879.

Vào năm 1789, tại Leipzig (Đức) lần đầu tiên trên thế giới một phòngthực nghiệm tâm lý học được thành lập theo sáng kiến của nhà tâm lý họcngười Đức tên là W.Wundt (1832 – 1930) Sự kiện này đã có một ý nghĩa vôcùng to lớn, được ghi nhận là mốc khởi đầu xuất hiện tâm lý học với tư cách

là một khoa học độc lập Từ sự kiện này, tâm lý học mở đầu cho một giaiđoạn nghiên cứu bằng con đường thực nghiệm khách quan, từ bỏ con đườngnghiên cứu tâm lý bằng phương pháp nội quan trước đó Tiêu biểu cho xuhướng nghiên cứu này là ba dòng phái tâm lý học: Tâm lý học Gestalt; Phântâm học; tâm lý học Hành vi Trong ba dòng phái trên, vấn đề con người được

đề cập nhiều và sâu là Phân tâm học và tâm lý học Gestalt

- Quan niệm về con người trong Phân tâm học.

Sigmund Freud (1856 – 1939) sinh ngày 6 – 3 tại Freiberg, Moravia(nay là Pribor, cộng hoà Séc), gốc Do thái Năm 4 tuổi ông theo bố mẹ sang

Áo, 17 tuổi vào học tại đại học Viên, chuyên ngành y khoa Frued đã đề cậpđến nhiều vấn đề khoa học khác nhau, trong đó có vấn đề con người Frued đãgiải thích về cấu tạo tâm lý của con người gồm ba khối:

Trang 9

“Khối vô thức”3( tiếng la tinh dịch là id; tiếng Đức dịch là das es hay

còn gọi là cái nó; cái ấy , tiếng Việt dịch là bản năng tính dục) Khối này

chứa mọi bản năng vô thức, nó được điều khiển bởi nguyên lý khoái lạc khimột nhu cầu nổi lên, thì bản năng tính dục muốn thoả mãn ngay lập tức nhu

cầu ấy Lực tập hợp gắn liền với bản năng thì được gọi là libido ( tính dục),

chính sức thôi thúc của bản năng này cắt nghĩa cho đa số hành vi của conngười

còn gọi là cái tôi; Ngã Đó là sự ý thức về các nhu cầu của bản năng con

người với thế giới bên ngoài khối này làm cho các ước muốn của cái tôi phùhợp với thực tại của môi trường vật lý Vì vậy, hoạt động của khối này nhằmphục vụ cho một nhu cầu thực sự nào đó của con người chứ không phải là sựthoả mãn nhu cầu tưởng tượng

hoặc siêu tôi), nghĩa là cái bên trên cái tôi, hay còn được ví như sức mạnh của

đạo đức nhân cách Khi khối này phát triển đầy đủ sẽ gồm hai phần: Lương

tâm và ngã ý tưởng Lương tâm chính là các kinh nghiệm, vì nó mà đứa trẻ

từng bị phạt, sự trừng phạt ấy đã được nội tâm hoá Giờ đây, khi đứa trẻ làm

3 3 Nhập môn lịch sử TLH, B R Hergenhahn, Nxb Thống kê, H N à TLHQS, Nxb QDND, Hà N ội 2003, tr 586 – 587.

4

5 4, 5: Nhập môn lịch sử TLH, B R Hergenhahn, Nxb Thống kê, H N à TLHQS, Nxb QDND, Hà N ội 2003, tr 586 – 587.

C I SIÊU TÔIÁI SIÊU TÔI

C I TÔIÁI SIÊU TÔI

C I NÓÁI SIÊU TÔI

Trang 10

hoặc thậm chí chỉ nghĩ đến việc định làm chúng sẽ cảm thấy có tội Ngã ý tưởng chính là các kinh nghiệm nội tâm, nhờ đó mà đứa trẻ đã từng được

thưởng Giờ đây, khi đứa trẻ làm hoặc chỉ định nghĩ đến việc mình định làm

sẽ khiến đứa trẻ cảm thấy hài lòng với chính mình Theo Frued, một khi khối

ý thức phát triển thì hành vi và tư tưởng của đứa trẻ sẽ được điều khiển bởicác giá trị đạo đức đã được nội tâm hoá, thường là các giá trị của cha mẹ Nhưvậy, người ta gọi đứa trẻ đã được xã hội hoá Các cảm giác có tội hay tự hào

sẽ giúp đứa trẻ hành động theo các chuẩn mực xã hội cho dù không có sự hiệndiện của cha mẹ hoặc pháp luật Theo nhận xét của David Stafford – Clark đối

với quan niệm về cấu trúc tâm lý con người của Frued rằng: “ cái ấy và cái

siêu tôi có một điểm chung Thật vậy, cả hai đều biểu hiện cho vai trò của quá khứ, cái ấy thì biểu hiện vai trò của di truyền, cái siêu tôi thì biểu hiện vai trò mượn của người khác, còn cái tôi thì chủ yếu được quy định bởi

Như vậy, con người trong con mắt của Frued đã bị chi nhỏ thành ba khối, mỗimột khối lại có một nguyên lý hoạt động riêng Trong đó, khối thực nhất củacon người là cái nó Đó là những gì thuộc về bản năng sinh vật của con người,khối này nằm ở tầng sâu nhất Còn khối siêu tôi hoạt động theo nguyên tắckiểm duyệt đè nén, khối này nằm ở tầng cao nhất Khối ở giữa chính là cái tôichịu sự đùn đẩy và chèn ép của hai khối kia Do vậy, con người theo quanniệm của Frued phần nhiều hàm chứa yếu tố sinh vật chứ không phải là conngười xã hội theo nghĩa đầy đủ của nó Điều đó được biểu hiện qua câu nói

của ông: giáo dục chỉ tiếp tục thể hiện những cái có sẵn trong cơ thể Tất cả

những gì ta có được trong con người, dù trong đó có kết quả của giáo dục cũng chỉ là sản phẩm của nguồn năng lượng tình dục trỗi dậy mà thôi

Đánh giá về Frued, theo B.R Hergenhahn cho rằng: “ không ai ngạcnhiên khi một lý thuyết quá sâu rộng như học thuyết của Frued đụng chạm

6 FREUD đã thực sự nói gì, Nxb Thế giới, H N à TLHQS, Nxb QDND, Hà N ội 1998, tr 153.

Trang 11

quá nhiều khía cạnh của hiện hữu con người, phải đón nhận những phê bìnhgay gắt về rất nhiều những phương diện”7 Đúng vậy, quan niệm về con ngườicủa Frued đã tạo ra một triết lý sống cho đông đảo thanh thiếu niên Âu - Mỹ,

Đó là quan niệm tình dục tràn nan, đặt nhu cầu bản năng cá nhân lên trên cácgiá trị xã hội Ngày nay, triết lý sống này đã đang và sẽ còn tác động mạnh

mẽ đến nhiều quốc gia trên thế giới Chính vì hạn chế này đã làm cho một sốngười ban đầu đi theo Frued đã quay sang triển khai các lý thuyết phân tâmtheo quan niệm riêng của họ đó là Carl Jung (1875 – 1961, Thuỵ Sĩ ), AlfredAdler ( 1870 – 1937, Áo), Karen Horney ( 1885 – 1952, Đức ), Erich Fromm(1900 – 1980 ), …với hy vọng bổ xung những yếu tố mới vào những vùng tốicủa frued Những yếu tố mới của các nhà phân tâm học sau Frued nhìn chung

là họ đã đem yếu tố xã hội cộng lại một cách máy móc giản đơn vào yếu tốbản năng sinh vật để lý giải đời sống tinh thần của con người Song các quanniệm của các nhà phân tâm mới vẫn coi yếu tố bản năng sinh vật giữ vai tròchủ đạo Vì lẽ đó, họ vẫn không vượt qua những hạn chế mà frued đã đề ra

- Quan niệm về con người của các nhà Hành vi học.

Thuyết hành vi là một trong những trường phái tâm lý học khách quan.Thuyết này cũng nhấn mạnh việc nghiên cứu tâm lý con người bằng những gì

có thể đo lường trực tiếp Tâm lý học khách quan đã từng phát triển mạnh ởNga, song nó chỉ trở thành một học thuyết trên vũ đài khoa học tâm lý vàonăm 1913 ở Mỹ từ một bài báo có tính chất cương lĩnh do J Watson ( 1878 -

1958) viết dưới tiêu đề “ Tâm lý học dưới con mắt của các nhà hành vi” Các

quan điểm trình bày trong bài báo ấy được Ông tiếp tục trình bày trong mộtloạt công trình sau đó từ năm 1913 đến năm 1930 Chỉ sau hơn mười năm, cácquan điểm mà Watson đưa ra đã hình thành nên một học thuyết tâm lý học

mới – thuyết Watson hay còn gọi là thuyết hành vi cổ điển Thuyết này nổi

nên năm đặc điểm cơ bản là: 1) Đó là trường phái tâm lý học thực nghiệm

7 Nhập môn lịch sử TLH, B R Hergenhahn, Nxb Thống kê, H N à TLHQS, Nxb QDND, Hà N ội 2003, tr 591

Trang 12

mang tính khách quan 2) Ý thức của con người không tự khép kín mà bộc nộ

ra ngoài qua hệ thống hành vi Do vậy, hành vi là đối tượng của tâm lý học 3)Tâm lý học hành vi người phải gắn với tâm lý học của động vật 4) Mục đíchcủa thuyết hành vi là điều khiển hành vi với công thức nổi tiếng S – R ( S làkích thích; R là hành vi) Thuyết này cho rằng chỉ cần biết S là sẽ xác địnhđược R và ngược lại 5) Công thức S - R phải trở thành trung tâm của tâm

lý học, các phạm trù khác phải xoay quanh nó

Với luận điểm cho rằng tâm lý học phải nghiên cứu hành vi người, cónghĩa là đưa cuộc sống hằng ngày của con người vào đối tượng của tâm lýhọc Lần đầu tiên trong lịch sử tâm lý học có định nghĩa như vậy Đánh giá về

thuyết hành vi, Titchener từng cho rằng thuyết hành vi đã dấy lên “những đợt

sóng vĩ đại trên đất Mỹ” Nhưng chỉ sau hơn 20 năm ra đời và phát triển,

thuyết hành vi của Watson đã lâm vào khủng hoảng Theo tác giả Phạm MinhHạc, nguyên nhân cơ bản làm cho công thức nổi tiếng một thời ngự trị nền

tâm lý học thế giới của Watson bị hạ bệ là do “ ý đồ của Watson muốn xây

dựng một nền tâm lý học khách quan là một tư tưởng tiến bộ cần thiết để đưa khoa học tiến lên, thì trong luận điểm và phương pháp tiếp cận của Ông chứa

nhân từ phía chủ quan mà thuyết hành vi mắc phải là đề cập đến vấn đề con

người Ngay từ đầu Watson đã tuyên bố: “ Từ nay chúng ta phải thực sự nghĩ

về con người như là động vật có vũ – một động vật có vũ cao đẳng, động vật

có vũ hai chân, hai tay – hai bàn tay uyển chuyển, tinh tế như một động vật ở trong bào thai 9 tháng, rồi có một thời thơ ấu khá dài không biết làm gì, một tuổi nhi đồng phát triển khá chậm chạp, tuổi thiếu niên dài 8 năm và cả cuộc

giữa con người và con vật chỉ là sự thay đổi của yếu tố sinh học được vậnđộng theo năm tháng Kiến trúc sư trưởng hành vi học Watson đã sai lầm khi

8 Phạm Minh Hạc H nh vi v ho ành vi và ho ành vi và ho ạt động, Nxb viện khoa học giáo dục, H Nà TLHQS, Nxb QDND, Hà N ội 1983, tr.158 - 159.

9 Trích lại “Lịch sử TLH v TLHQS”, Nxb Q à TLHQS, Nxb QDND, Hà N ĐND, H N à TLHQS, Nxb QDND, Hà N ội 2003, tr 143

Trang 13

quan niệm con người như một cơ thể phản ứng, hay một liên hệ vật lý, để rồisau này các nhà hành vi mới như: Tolman, Hull và Skinner…đã không thể ra

khỏi “đường day” định sẵn cho “đoàn tàu hành vi” của họ Như Vưgốtxki

từng cho rằng: Một trong những bệnh hoạn đưa trường phái tâm lý học hành

vi đi đến chỗ thất bại là do họ dựa trên nền tảng triết học duy vật máy móc,siêu hình Do đó, các nhà hành vi học xoá bỏ mọi ranh giới có tính nguyên tắcgiữa hành vi động vật và hành vi người, sinh vật học nuốt chửng xã hội học.Thật vậy, các nhà hành vi học coi con người chỉ như một khách thể, chứ

không phải như một chủ thể Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “ luận điểm

cơ bản nhất của thuyết hành vi là coi con người như một cơ thể cá thể, chỉ có khả năng phản ứng thụ động và vì vậy hoàn toàn lệ thuộc vào các kích thích tác động lên con người Để sống còn ( chứ không phải là còn sống! ), con người không cần làm gì nhiều lắm – chỉ cần thích nghi một cách thụ động với ngoại giới xung quanh Con người thực như chính nó trong lý thuyết này đã thực sự mất rồi! Thay thế vào đó chỉ còn là những năng lực phản ứng và toát

lịch sử Từ sai lầm ấy họ đã không xác định đúng đối tượng của tâm lý học.Không những thế luận điểm về con người của thuyết hành vi đã đặt cơ sở chophương pháp tiếp cận con người mang tính thực dụng chủ nghĩa Chính vì lẽ

đó, phương pháp tiếp cận này đã làm cho các nhà hành vi học không quan tâmđến mặt luân lý của con người Tư tưởng thực dụng chủ nghĩa của các nhàhành vi học chỉ nhìn nhận con người như một cái máy, rằng con người đó cóthích hợp với một công việc cụ thể nào đó Họ không coi con người vừa làsản phẩm của điều kiện xã hội lịch sử, đồng thời vừa là chủ thể tích cực tácđộng trở lại cải tạo điều kiện xã hội lịch sử Đó chính là cơ sở phục vụ chomục đích bóc lột giá trị thặng dư của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa Vì mụcđích của nền sản xuất ấy, họ chỉ cần tạo ra một xê ri những người lao động rẻ

10 Phạm Minh Hạc H nh vi v ho ành vi và ho ành vi và ho ạt động, Nxb viện khoa học giáo dục, H Nà TLHQS, Nxb QDND, Hà N ội 1983, tr.158 - 159

Trang 14

tiền, những người công nhân chỉ biết lặp đi lặp lại một cách thuần thục mộthay một số cử động nhất định theo dây chuyền sản xuất Hơn nữa, các nhàhành vi học chỉ quan tâm đến mối liên hệ giữa phản ứng và các kích thích tạo

ra phản ứng Ngược lại, họ không quan tâm đến vấn đề hình thành và pháttriển hành vi người Song do yêu cầu của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa chiphối tư tưởng của các nhà hành vi học Do đó, các nhà hành vi đã thực hiện ý

định biến lý thuyết tâm lý học thành phòng thí nghiệm xã hội hay “công nghệ

học hành vi” với khẩu hiệu mà Watson đưa ra rất hay rằng “con người được

để dẫn tới các cử chỉ cần thiết Bởi vì, đối tượng nghiên cứu của các nhà hành

vi là hình thái “hành vi cấp thấp”, chỉ được quy định bởi các kích thích bên ngoài Các nhà hành vi học không đề cập đến “hành vi cấp cao” Nghĩa là họ

không tính đến các đặc điểm và tính quy luật chuyên biệt trong sự phát triểncủa xã hội – lịch sử của sự phát triển tâm lý người, cả trong bình diện pháttriển chủng loại lẫn trong bình diện phát triển cá thể Một hạn chế nữa của cácnhà hành vi là do họ luôn coi hoạt động của con người chỉ đơn giản như mộtcái máy liên hợp và không có ý thức Như Các - Mác từng phê bình rằng:

Phẩm giá của con người này chỉ là “giá trị trao đổi”12 Họ không thấy đượcnguồn gốc xã hội – lịch sử và diễn biến tiếp theo của các quy luật xã hội –tâm lý của hoạt động Đồng thời các nhà hành vi học cũng không coi hoạtđộng của con người là hoạt động mang tính đối tượng D N Udơnatde chỉ ra

rằng: “cái mà Watson coi là nghiên cứu thực về con người hoá ra lại là

nghiên cứu một cách thực chứng luận về hành vi không thực của con người

thuyết hành vi đã không nhận thấy được con người hiện thực Tức là họkhông nhận thấy được con người đang sống và đang làm việc trong nhữngđiều kiện xã hội lịch sử cụ thể Những nhà hành vi đã không thể nhận thấy

11 Phạm Minh Hạc H nh vi v ho ành vi và ho ành vi và ho ạt động, Nxb viện khoa học giáo dục, H Nà TLHQS, Nxb QDND, Hà N ội 1983, tr.158 - 159.

12 Phạm Minh Hạc H nh vi v ho ành vi và ho ành vi và ho ạt động, Nxb viện khoa học giáo dục, H Nà TLHQS, Nxb QDND, Hà N ội 1983, tr.169

13.Trích lại Phạm Minh Hạc H nh vi v ho ành vi và ho ành vi và ho ạt động, Nxb viện khoa học giáo dục, H Nà TLHQS, Nxb QDND, Hà N ội 1983, tr.169.

Trang 15

được sự tác động qua lại giữa con người với thế giới đối tượng Nghĩa là, họkhông thấy được quá trình chủ thể hoá khách thể và ngược lại là quá trìnhkhách thể hoá chủ thể với tư cách là dạng hoạt động cơ bản của loài người nói

chung và mỗi con người nói riêng Trong tác phẩm hành vi và hoạt động Phạm Minh Hạc đã đáp lại thuyết hành vi một cách mạnh mẽ rằng: “ Cơ thể

của con người không tồn tại một cách đơn giản như một hòn đá lăn trên mặt đất, một cây cỏ hay một động vật sống còn Nó sống bằng cuộc sống thực trong thế giới đối tượng thực, thế giới này là cơ sở cho cuộc sống của con người và con người tham gia sáng tạo ra thế giới ấy bằng hoạt động sản xuất của mình…và con người cũng nhận cảm thế giới ấy bằng hoạt động tích cực

động mang tính đối tượng của con người, do đó các nhà hành vi học đã không

tích đủ “nhựa sống” cho “thân cây hành vi” vừa mới lớn đã không chịu nổi

sức tấn công của một trường phái tâm lý học mới Tâm lý học Mác – xít

Phần II: Vấn đề con người trong tâm lý học Mác xít.

Nhìn lại lịch sử các trườn phái triết học và tâm lý học ngoài Mác – xít,chúng ta có thể thấy rằng vấn đề con người trong quan niệm của họ hoặc làduy tâm, hoặc là chung chung, trừu tượng khi thì phiến diện máy móc siêuhình, tóm lại những quan niệm ấy khi thì bị hạn chế bởi hoàn cảnh lịch sử, khithì do sai lầm về thế giới quan, phương pháp luận, khi thì bị chi phối bởi lậptrường giai cấp Do đó họ đã quan niệm không đúng về con người Chỉ đếnkhi tâm lý học Mác xít ra đời, với việc dựa trên thế giới quan, phương phápluận duy vật biện chứng, cùng với tiếp thu những tinh hoa của trí tuệ nhânloại và những thành tựu của khoa học tự nhiên, khoa học xã hội đương thời.Tâm lý học mác xít đã lý giải hoàn toàn khoa học về con người và bản chấtcác hiện tượng tâm lý người Đề cập về vấn đề con người, các nhà tâm lý học

Mác xít cho rằng: Con người vừa là một thực thể tự nhiên, vừa là một thực

14 Phạm Minh Hạc H nh vi v ho ành vi và ho ành vi và ho ạt động, Nxb viện khoa học giáo dục, H Nà TLHQS, Nxb QDND, Hà N ội 1983, tr.170.

Trang 16

thể xã hội Con người là một tồn tại xã hội, tồn tại lịch sử Con người không chỉ là sản phẩm của điều kiện xã hội lịch sử, mà còn là chủ thể tác động tích cực trở lại điều kiện xã hội lịch sử.

2.1 Con người vừa là một thực thể tự nhiên vừa là một thực thể xã

hội.

Lịch sử triết học và tâm lý học chứng minh rằng: đó là lịch sử đấu tranhcủa hai trường phái cơ bản là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Trongcuộc đấu tranh ấy, mỗi bước tiến của khoa học đồng thời là sự phát triển mởrộng của chủ nghĩa duy vật Ngược lại, mỗi bước tiến của khoa học đồng thời

là sự thu hẹp ảnh hưởng của chủ nghĩa duy tâm tôn giáo Thật vậy, thế kỷ thứXIX loài người đã ghi nhận công lao to lớn của Charles Darwin ( 1800 –

1882, Anh ), với học thuyết tiến hoá trong giới sinh vật của ông Chúng ta cóthể mô tả khái quát sự tiến hoá của giới sinh vật trong quan niệm của Darwin

TẾ B OÀO

THỰC VẬT ĐỘNG VẬT CON NGƯỜI

Ngày đăng: 18/05/2017, 22:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w