Luật biển bao gồm cả các công ớc quốc tế liên quan đến các hoạt động của tàu thuyền trên biển và quyền lợi của các nớc trên thế giới nhất là các nớc có bờ biển sát nhau .Luật biển còn ba
Trang 1Lời mở đầu
Pháp luật là công cụ quản lý hữu hiệu của mỗi quốc gia Nhờ có luật pháp
mà các hoạt động trở nên có hệ thống và việc giải quyết các mâu thuẫn cũng trở nên
dễ dàng hơn Pháp luật có ở mọi lĩnh vực, mọi khía cạnh của cuộc sống
Luật biển ra đời nhằm điều chỉnh mối quan hệ phát sinh liên quan đến các hoạt
động trên biển Luật biển bao gồm cả các công ớc quốc tế liên quan đến các hoạt
động của tàu thuyền trên biển và quyền lợi của các nớc trên thế giới nhất là các nớc
có bờ biển sát nhau Luật biển còn bao gồm luật hàng hải của các quốc gia để điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong lĩnh vực hàng hải của mỗi quốc gia
Từ khi ra đời luật biển đã đóng góp một vai trò quan trọng trong hoạt động hàng hải Luật biển ra đời nhằm phân chia lãnh thổ lãnh hải của các quốc gia,vùng
đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của các quốc gia, đa ra các điều kiện buộc các chủ tàu phải tuân theo để giảm thiểu các tai nạn trên biển, nó còn đa ra các luật lệ buộc các chủ thể liên quan đến các quyền lợi bị tổn thất xảy ra trên biển khi có các tai nạn hàng hải xảy ra phảithực hiện các trách nhiệm của mình
Luật biển là bộ luật thờng xuyên đổi mới để phù hợp với từng thời kỳ Bởi vì các hoạt động trên biển thì thờng bất ngờ ,có thể xảy ra những tình huống bất ngờ
mà con ngừơi không lờng trớc đợc nhứng tình huống đó sẽ đợc các công ớc mới bổ sung điều chỉnh
Các công ớc quốc tế cùng với các hiệp định trên biển giữa các nớc và luật hàng hải của mỗi quốc gia đã tạo nên các quy định hoàn chỉnh về hoạt động hàng hải
Trang 2
CHƯƠNG I: CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ LUẬT BIỂN
Đại chiến thế giới lần thứ hai là cuộc chiến tranh có quy mô lớn nhất lịch sử thế giới, 61 nước và khu vực bị cuốn vào cuộc chiến, cướp đi sinh mạng hàng triệu người dân vô tội, nhiều thành phố cổ và đẹp biến thành đống tro tàn gạch vụn Trước những thảm cảnh do bọn phát xít gây ra, người ta suy nghĩ làm thế nào để hạn chế được thảm cảnh tương tự, dần dần hình thành một ý niệm: xây dựng một tổ chức quốc tế để bảo vệ hoà bình và an ninh thế giới
Năm 1942, khi cuộc chiến tranh do bọn phát xít gây ra còn đang trong giai đoạn
ác liệt, khát vọng chính nghĩa của mọi người dân thế giới là đoàn kết lại cùng chiến đấu chống phát xít càng lên cao Nhân dân Mỹ mong muốn chính phủ thuận lòng dân, đi theo trào lưu phát triển của lịch sử, đóng góp vào hoà bình thế giới Tháng 1 năm 1942, tổng thống Mỹ Ru-dơ-ven, đề xướng mời đại biểu cấp cao của 26 nước đến họp tại thủ đô Oa-sinh-tơn để thảo luận vấn đề xây dựng một mặt trận thống nhất chống phát xít Các nước đều nhất trí là cần huy động toàn bộ lực lượng quân
sự và tài nguyên kinh tế của nước mình để chống lại các nước phát xít Đức, Ý, Nhật Đại biểu các nước đã ra một bản tuyên bố chung Nhưng tên của bản tuyên
bố này là gì, thì mọi người mãi vẫn chưa đặt được chính xác
Trang 3Tháng 8 đến tháng 10 năm 1944, hội nghị giữa Mỹ, Anh, Liên Xô rồi Mỹ, Anh
và Trung Quốc tổ chức tại vườn Đồi Đơn-ba-tơn ở ngoại ô Oa-sinh-tơn, quyết định thành lập một tổ chức quốc tế sau chiến tranh, nhất trí vẫn dùng cụm từ Quốc gia Liên hợp quốc mà 26 nước đã ký vào bản tuyên bố chung, nhưng sửa lại một chút thành Liên hợp quốc Hội nghị đã thảo luận về tôn chỉ, nguyên tắc và bộ máy, hình thành một bộ khung hoàn chỉnh của Liên hợp quốc
Tháng 2 năm 1945, Hội nghị I-an-ta (Yalta ở Crưm, Liên Xô) giữa Sơc-sin, dơ-ven và Xta-lin quyết định cùng với Trung Quốc thành lập Liên hợp quốc và đến ngày 5 tháng 3 chính thức gửi thư mời các nước chống phát xít tham gia
Ru-Ngày 25 tháng 4, 51 đoàn đại biểu các nước gồm 856 người đến họp tại phran-xi-xô, Mỹ Trưởng đoàn đại biểu Mỹ là Quốc vụ khanh Xtet-tin-nơt (Edward Reilly J Stettinus), Trưởng đoàn đại biểu Anh là Bá tước I-đơ (Robert Anthony Eden), Trưởng đoàn đại biểu Liên Xô là Bộ trưởng ngoại giao Mô-lô-tôp, Trưởng đoàn đại biểu Trung Quốc là Viện trưởng hành chính kiêm Bộ trưởng Ngoại giao của chính phủ Quốc dân đảng Tống Tử Văn, đại biểu Đảng Cộng sản Trung Quốc
San-là Đồng Tất Vũ Số người tham dự kể cả quan sát viên, đại biểu không chính thức
và các nhà báo lên đến gần 4.000 người Đây là một hội nghị quốc tế lớn nhất từ trước đến giờ trong lịch sử
Ngày 26 tháng 6, Hội nghị thông qua ''Hiến chương Liên hợp quốc'', có 153 đại biểu của 51 nước ký tên
Ngày 24 tháng 10, Liên hợp quốc chính thức tuyên bố thành lập Các nước thành viên đã lên đến 192 nước và khu vực Hiện nay Liên hợp quốc đã và đang phát huy tác dụng to lớn của nó trong các công việc quốc tế với tư cách là tổ chức lớn nhất thế giới
Trang 41.1.2 Toµ ¸n Quèc tÕ Liªn hîp quèc
Tòa án Quốc tế Liên hợp quốc là một trong sáu cơ quan chính của Liên hợp quốc, được thành lập năm 1945 trên cơ sở kế thừa Toà án Thường trực quốc tế của Hội quốc liên và hoạt động theo quy chế một bộ phận không tách rời của Hiến chương Liên hợp quốc Tất cả các thành viên của Liên hợp quốc đương nhiên được coi là thành viên của quy chế Tòa án Quốc tế (TAQT) Các nước không phải là thành viên Liên hợp quốc có thể tham gia quy chế TAQT nếu được Hội đồng Bảo
an đề nghị và được Đại hội đồng Liên hợp quốc chấp thuận Các nước không tham gia quy chế cũng có thể yêu cầu TAQT xét xử tranh chấp nếu được Hội đồng Bảo
an cho phép Trụ sở của TAQT đặt tại La Hay (Hà Lan)
a Nhiệm vụ:
Nhiệm vụ trọng tâm của Liên hợp quốc là giải quyết các cuộc xung đột bằng biện pháp hoà bình phù hợp với các nguyên tắc của công lý và luật pháp quốc tế (Điều 1 của Hiến chương Liên hợp quốc) Điều 33 của Hiến chương cũng chỉ rõ, trong số các phương pháp giải quyết hoà bình có phương pháp sử dụng trọng tài và giải quyết của toà án (theo luật pháp)
Nhiệm vụ chính của TAQT: 1) Giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia và giữa các tổ chức quốc tế trên cơ sở luật pháp quốc tế Các thể nhân và pháp nhân không có quyền đưa các tranh chấp ra giải quyết trước TAQT 2) Làm chức năng tư vấn pháp lí (kết luận pháp lí) cho Hội đồng Bảo an, Hội đồng Thường trực và cho các tổ chức khác của Liên hợp quốc
TAQT được quyền ra các quyết định bằng phương thức biểu quyết trên nguyên tắc quá bán với số đại biểu hợp lệ là không được ít hơn 9 người Quyết định của TAQT mang tính chất bắt buộc, có hiệu lực ngay và các đương sự không có quyền khiếu nại Trong trường hợp quyết định của TAQT không được thi hành, TAQT có
Trang 5thể yêu cầu Hội đồng Bảo an giúp đỡ để quyết định được thi hành Ngoài các nhiệm vụ trên, TAQT còn có nhiệm vụ chung cùng với các cơ quan khác của Liên hợp quốc bảo vệ hoà bình, kiểm tra giám sát các nước thành viên Liên hợp quốc thực hiện nghĩa vụ của mình theo đúng Hiến chương Liên hợp quốc và theo các quyết định của các cơ quan của Liên hợp quốc
b.Thành phần
Thành phần của TAQT gồm 15 thẩm phán, là công dân của các quốc gia thành viên Liên hợp quốc, do Đại hội đồng Liên hợp quốc và Hội đồng Bảo an bầu ra với nhiệm kì 9 năm và cứ 3 năm lại bầu lại 5 thẩm phán Về nguyên tắc, trong cơ cấu của TAQT phải có đại diện của tất cả các hệ thống pháp luật trên thế giới và là những luật gia nổi tiếng, có uy tín trong lĩnh vực pháp luật quốc tế Đã có công dân của các quốc gia: Anh, Pháp, Bỉ, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Đức, Italia, Hungari, Xri Lanka, Mađagaxca, Angiêri, Guyana, Vênêzuêla, Xiêra Lêôn tham gia TAQT
c.Chức năng
Theo điều 13 của Hiến chương, một trong những chức năng của Đại hội đồng là
"thúc đẩy việc pháp điển hoá và sự phát triển của luật quốc tế theo hướng tiến bộ" Chức năng này đã được Đại hội đồng và các cơ quan khác thực hiện thông qua việc soạn thảo, chuẩn bị rất nhiều công ước quốc tế Trong vòng năm thập kỷ qua, Liên hợp quốc đã bảo trợ cho trên 456 thoả thuận đa phương bao gồm mọi lĩnh vực hoạt động giữa các nhà nước và nỗ lực của loài người Liên hợp quốc cũng là người tiên phong quan tâm tới những vấn đề toàn cầu mới hiện nay như: môi trường, khoảng không vũ trụ, lao động di cư, buôn lậu ma tuý và chủ nghĩa khủng bố
Chức năng chính của Toà án quốc tế là giải quyết hoà bình các tranh chấp quốc
tế, vụ kiện do các quốc gia đưa lên phù hợp với luật pháp quốc tế Mục tiêu của toà
án là áp dụng các tập quán quốc tế để thiết lập các quy tắc được các quốc gia liên
Trang 6quan chính thức công nhận; các thông lệ quốc tế được chấp nhận như luật; các nguyên tắc chung của luật pháp được các quốc gia công nhận; các phán quyết của tòa án
Tòa án cũng khuyến nghị Đại hội đồng, Hội đồng Bảo an về lĩnh vực luật pháp, các vấn đề luật pháp nổi lên trong phạm vi hoạt động của các cơ quan này, khuyến nghị các cơ quan khác của Liên hợp quốc, các cơ quan chuyên môn với sự uỷ quyền của Đại hội đồng
d.Hoạt động
Giải quyết theo luật pháp các tranh chấp:Cơ quan chính của Liên hợp quốc giải
quyết các tranh chấp là Toà án Quốc tế Kể từ khi thành lập năm 1946, đến nay đã
có 72 vụ được các nước đưa ra trước Toà án Quốc tế, 22 trường hợp hỏi ý kiến của các tổ chức quốc tế Hầu hết các trường hợp được Toà giải quyết, song kể từ năm
1981, đã có 4 trường hợp được chuyển cho các Uỷ ban đặc biệt giải quyết theo đề nghị của các bên liên quan 11 trường hợp vẫn chưa được giải quyết
Các trường hợp đưa ra giải quyết tại Toà án Quốc tế bao gồm nhiều lĩnh vực như: quyền về lãnh thổ (vụ tranh chấp giữa Pháp và Anh năm 1953, giữa Bỉ và Hà Lan năm 1959, giữa Ấn Độ và Bồ Đào Nha năm 1960, giữa Buốckina Phaxô và Mali năm 1986, giữa Libi và Sát năm 1990), liên quan đến luật biển (trường hợp Anbani phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại do thuỷ lôi trong vùng lãnh hải của mình gây ra cho tầu của Anh năm 1949, tranh chấp giữa Anh và Na uy về đánh cá), các cuộc tranh chấp liên quan đến nguyên tắc và luật lệ quốc tế trong việc phân định ranh giới thềm lục địa, trên biển và trên bộ (vụ giữa Libi và Manta năm 1985, Canađa và Mỹ năm 1984, Đan mạch và Na uy năm 1993, giữa En Xanvađo và Honđurat năm 1992 ), về bảo vệ ngoại giao, bảo vệ môi trường, thực hiện các nghĩa vụ của lực lượng uỷ thác tại lãnh thổ Tây Nam châu Phi, các vấn đề liên quan
Trang 7đến xung đột khu vực, việc thực hiện cỏc cụng ước quốc tế của cỏc nước cỏc trường hợp liờn quan đến quan hệ giữa Liờn hợp quốc và cỏc nước thành viờn như việc phỏi viờn của Liờn hợp quốc bị sỏt hại, đúng gúp của cỏc nước vào ngõn sỏch hoạt động gỡn giữ hoà bỡnh cũng được cỏc bờn liờn quan đưa ra tại Toà ỏn Quốc
tế để nhận được ý kiến tham khảo
Phỏp điển hoỏ luật phỏp quốc tế: Uỷ ban về luật phỏp quốc tế đó được Đại hội
đồng thành lập năm 1947 nhằm thỳc đẩy sự phỏt triển và phỏp điển hoỏ luật phỏp quốc tế theo hướng tiến bộ Uỷ ban gồm 34 thành viờn, nhúm họp hàng năm, cỏc thành viờn được Đại hội đồng bầu ra với nhiệm kỳ 5 năm, hoạt động với tư cỏch cỏ nhõn chứ khụng phải là đại diện của cỏc chớnh phủ
Cụng việc chủ yếu của Uỷ ban là soạn thảo luật phỏp quốc tế, lĩnh vực luật phỏp cần soạn thảo cú thể do Uỷ ban tự chọn hoặc do Đại hội đồng hoặc Hội đồng Kinh
tế - Xó hội (ECOSOC) gợi ý Khi Uỷ ban hoàn tất dự thảo cỏc điều khoản, Đại hội đồng sẽ triệu tập một hội nghị quốc tế để quyết định đưa cỏc điều khoản dự thảo đú vào một cụng ước quốc tế, sau đú sẽ mở cho cỏc nước tham gia
Năm 1966, đỏp ứng đũi hỏi của Liờn hợp quốc phải giữ một vai trũ tớch cực trong việc giảm bớt và loại bỏ cỏc cản trở đối với thương mại quốc tế, Đại hội đồng
đó thành lập Uỷ ban Liờn hợp quốc về luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) để thỳc đẩy sự thống nhất và hài hoà theo hướng tiến bộ của luật thương mại quốc tế
Uỷ ban gồm 36 thành viờn, đại diện cho cỏc khu vực địa lý và cỏc hệ thống kinh tế
và luật phỏp khỏc nhau, cú bỏo cỏo hàng năm lờn Đại hội đồng và trỡnh bỏo cỏo lờn Hội nghị Liờn hợp quốc về Thương mại và phỏt triển
1.2 Quá trình hình thành và sửa đổi Công ớc Quốc tế về Luật biển (UNCLOS).
Trang 8Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển Được đưa ra ký 10 tháng 12 năm1982
ở Montego Bay (Jamaica) Có hiệu lực 16 tháng 11 năm 1994 Các điều kiện để có hiệu lực 60 quốc gia phê chuẩn Các nước tham gia : 155
Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (tiếng Anh: United Nations Convention
on Law of the Sea - UNCLOS), cũng gọi là Công ước Luật biển hay cũng được những người chống đối nó gọi là Hiệp ước Luật biển, là một hiệp ước quốc tế được tạo ra trong Hội nghị về luật biển Liên Hiệp Quốc lần thứ 3 diễn ra từ năm 1973 cho đến 1982 với các chỉnh sửa đã được thực hiện trong Hiệp ước Thi hành năm
1994 Công ước Luật biển là một bộ các quy định về sử dụng các đại dương của thế giới, chiếm 70% diện tích bề mặt Trái Đất Công ước đã được ký kết năm 1982 để thay thế cho 4 hiệp ước năm 1958 đã hết hạn UNCLOS có hiệu lực năm 1994, và đến nay, 154 quốc gia và Cộng đồng châu Âu đã tham gia Công ước này Hoa Kỳ không tham gia vì nước này tuyên bố rằng hiệp ước này không có lợi cho kinh tế và
an ninh của Mỹ Công ước quy định quyền và trách nhiệm của các quốc gia trong việc sử dụng biển, thiết lập các hướng dẫn rõ ràng cho các hoạt động kinh doanh, bảo vệ môi trường và cải thiện quản lý các tài nguyên thiên nhiên đại dương Các
sự kiện mà thuật ngữ đề cập trong Công ước là: Công ước về Luật biển Liên Hiệp Quốc lần 1, Công ước về Luật biển Liên Hiệp Quốc lần 2, Công ước về Luật biển Liên Hiệp Quốc lần 3 Công ước này là kết quả của Công ước về Luật biển Liên Hiệp Quốc lần 3 và cũng mang tên gọi Công ước về Luật biển Liên Hiệp Quốc.Trong khi Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc nhận được các công cụ phê chuẩn và gia nhập và Liên Hiệp Quốc quy định ủng hộ các cuộc họp của các quốc gia là thành viên của Công ước thì Liên Hiệp Quốc không có vai trò hoạt động trong việc thi hành Công ước này Tuy nhiên các tổ chức liên chính phủ tự trị như: Tổ chức Hàng hải Quốc tế, Ủy ban Cá voi Quốc tế và Cơ quan quản lý Đáy biển Quốc tế được Công ước này thành lập lại có một vai trò trong việc thực thi Công ước.1.2.1 Bối cảnh lịch sử
Trang 9UNCLOS đã tỏ ra cần thiết do tính pháp lý yếu của ý niệm 'quyền tự do về biển'
có từ thế kỷ 17: quyền của các quốc gia đã bị giới hạn trong một vành đai lãnh hải
mở rộng ra từ các bờ biển của quốc gia đó, thường là 3 hải lý, theo quy định phát đạn pháo được thẩm phán người Hà Lan Cornelius Bynkershoek phát triển Tất cả các lãnh hải nằm biên giới quốc gia được xem như lãnh hải quốc tế - tự do cho tất
cả các quốc gia, nhưng không thuộc quốc gia nào cả (nguyên tắc mare liberum được Grotius công bố)
Đầu thế kỷ 20, nhiều quốc gia biểu lộ ý muốn mở rộng quyền tuyên bố chủ quyền quốc gia nằm đưa các nguồn tài nguyên khoáng sản, bảo vệ nguồn cá và có các phương tiện để thực thi kiểm soát ô nhiễm Hội Quốc Liên đã tổ chức một hội nghị năm 1930 tại Hague để bàn về điều này, nhưng hội nghị không đạt được thỏa thuận nào
Một quốc gia phản ánh nguyên tắc luật bất thành văn quốc tế về quyền một quốc gia để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của mình là Hoa Kỳ, khi năm 1945, Tổng thống Harry S Truman đã mở rộng sự kiểm soát quốc gia trên các tài nguyên thiên nhiên ở trong thềm lục địa của mình Các quốc gia khác cũng nhanh chóng ganh đua theo Mỹ Giữa năm 1946 và 1950, Argentina, Chile, Peru và Ecuador đều nới rộng chủ quyền của mình ra khoảng cách 200 hải lý nhằm bao quát cả ngư trường trong hải lưu Humboldt của họ Các quốc gia khác đã nới rộng vùng lãnh hải đến
12 hải lý
Đến năm 1967, chỉ có 25 quốc gia vẫn sử dụng giới hạn 3 hải lý, 66 quốc gia đã quy định giới hạn lãnh hải 12 hải lý và 8 quốc gia đưa ra giới hạn 200 hải lý Để xem bảng các tuyên bố hàng hải được Liên Hiệp Quốc biên tập, xem [2] Theo bảng này, đến ngày 27 tháng 7 năm 2007, chỉ có vài nước sử dụng giới hạn 3 hải lý
là (Jordan, Palau và Singapore) Giới hạn 3 hải lý này cũng được sử dụng ở một số
Trang 10đảo của Úc, một khu vực của Belize, một vài eo biển của Nhật Bản, một vài khu vực của Papua New Guinea, và một vài lãnh thổ phục thuộc của Anh Quốc như Anguilla.
1.2.2 Công ước về Luật biển
Năm 1967, vấn đề về các tuyên bố khác nhau về lãnh hải đã được nêu ra tại Liên hợp quốc Năm 1973, Hội nghị Liên hợp quốc lần thứ 3 về Luật biển (Third United Nations Conference on the Law of the Sea) được tổ chức tại New York Để
cố gắng giảm khả năng các nhóm quốc gia thống trị đàm phán, hội nghị dùng một quy trình đồng thuận thay cho bỏ phiếu lấy đa số Với hơn 160 nước tham gia, hội nghị kéo dài đến năm 1982 Kết quả là một công ước có hiệu lực từ ngày 16 tháng
11 năm 1994, một năm sau khi Guyana - nước thứ 60 ký công ước
Nội dung công ước có một loạt điều khoản Những điều khoản quan trọng nhất quy định về việc thiết lập các giới hạn, giao thông đường biển, trạng thái biển đảo,
và các chế độ quá cảnh, các vùng đặc quyền kinh tế, quyền tài phán thềm lục địa, khai khoáng lòng biển sâu, chính sách khai thác, bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học, và dàn xếp các tranh chấp
Công ước đặt ra giới hạn cho nhiều khu vực, tính từ một đường cơ sở (baseline) được định nghĩa kỹ càng (Thông thường, một đường biển cơ sở chạy theo đường
bờ biển khi thủy triều xuống, nhưng khi đường bờ biển bị thụt sâu, có đảo ven bờ, hoặc đường bờ biển rất không ổn định, có thể sử dụng các đường thẳng làm đường
cơ sở) Có các khu vực dưới đây:
Nội thủy
Bao phủ tất cả vùng biển và đường thủy ở bên trong đường cơ sở (phía đất liền) Tại đây, quốc gia ven biển được tự do áp đặt luật, kiểm soát việc sử dụng, và sử
Trang 11dụng mọi tài nguyên Các tàu thuyền nước ngoài không có quyền đi lại tự do trong các vùng nội thủy
Lãnh hải
Vùng nằm ngoài đường cơ sở có chiều ngang 12 hải lý Tại đây, quốc gia ven biển được quyền tự do đặt luật, kiểm soát việc sử dụng, và sử dụng mọi tài nguyên Các tàu thuyền nước ngoài được quyền "qua lại không gây hại" mà không cần xin phép nước chủ Đánh cá, làm ô nhiễm, dùng vũ khí, và do thám không được xếp vào dạng "không gây hại" Nước chủ cũng có thể tạm thời cấm việc "qua lại không gây hại" này tại một số vùng trong lãnh hải của mình khi cần bảo vệ an ninh
Vùng nước quần đảo
Công ước đưa ra định nghĩa về các quốc gia quần đảo trong phần IV, cũng như định nghĩa về việc các quốc gia này có thể vẽ đường biên giới lãnh thổ của mình như thế nào Đường cơ sở được vẽ giữa các điểm ngoài cùng nhất của các đảo ở ngoài cùng nhất, đảm bảo rằng các điểm này phải đủ gần nhau một cách thích đáng Mọi vùng nước bên trong đường cơ sở này sẽ là vùng nước quần đảo và được coi như là một phần của lãnh hải quốc gia đó
Vùng tiếp giáp lãnh hải
Bên ngoài giới hạn 12 hải lý của lãnh hải là một vành đai có bề rộng 12 hải lý, đó là vùng tiếp giáp lãnh hải Tại đây, nước chủ có thể vẫn thực thi luật pháp của mình đối với các hoạt động như buôn lậu hoặc nhập cư bất hợp pháp
Vùng đặc quyền kinh tế
Rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở Trong vùng này, quốc gia ven biển được hưởng độc quyền trong việc khai thác đối với tất cả các tài nguyên thiên nhiên Khái niệm vùng đặc quyền kinh tế được đưa ra để ngừng các cuộc xung đột về
Trang 12quyền đỏnh cỏ, tuy rằng khai thỏc dầu mỏ cũng đó trở nờn một vấn đề quan trọng Trong vựng đặc quyền kinh tế, nước ngoài cú quyền tự do đi lại bằng đường thủy
và đường khụng, tuõn theo sự kiểm soỏt của quốc gia ven biển Nước ngoài cũng cú thể đặt cỏc đường ống ngầm và cỏp ngầm
Thềm lục địa
Được định nghĩa là vành đai mở rộng của lónh thổ đất cho tới mộp lục địa (continental margin), hoặc 200 hải lý tớnh từ đường cơ sở, chọn lấy giỏ trị lớn hơn Thềm lục địa của một quốc gia cú thể kộo ra ngoài 200 hải lý cho đến mộp tự nhiờn của lục địa, nhưng khụng được vượt quỏ 350 hải lý, khụng được vượt ra ngoài đường đẳng sõu 2500m một khoảng cỏch quỏ 100 hải lý Tại đõy, nước chủ cú độc quyền khai thỏc khoỏng sản và cỏc nguyờn liệu khụng phải sinh vật sống
Bờn cạnh cỏc điều khoản định nghĩa cỏc ranh giới trờn biển, cụng ước cũn thiết lập cỏc nghĩa vụ tổng quỏt cho việc bảo vệ mụi trường biển và bảo vệ quyền tự do nghiờn cứu khoa học trờn biển Cụng ước cũng tạo ra một cơ chế phỏp lý mới cho việc kiểm soỏt khai thỏc tài nguyờn khoỏng sản tại cỏc lũng biển sõu nằm ngoài thẩm quyền quốc gia, được thực hiện qua Ủy ban đỏy biển quốc tế (International Seabed Authority)
1.3 Tình hình áp dụng Công ớc Quốc tế về Luật biển tại Việt Nam và quan
điểm của Chính phủ nớc CHXHCN Việt Nam về vùng lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam.
1.3.1.Tình hình áp dụng Công ớc quốc tế về Luật biển tại Việt Nam
Ngay sau khi đất nước ta hoàn toàn độc lập, thống nhất, ngày 12-5-1977 Chớnh phủ ta ra tuyờn bố (tuyờn bố 77) về Nội thủy, Lónh hải, vựng Tiếp giỏp lónh hải, vựng Đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa của Việt Nam Ngày 12-11-1982, Chớnh
Trang 13phủ ta ra tuyên bố về đường Cơ sở (tuyên bố 82) dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam, đặt cơ sở pháp lý cho việc xác lập các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam Với hai bản tuyên bố này, đất nước ta
có một vùng biển rộng gấp mấy lần lãnh thổ đất liền, mà chúng ta có trách nhiệm phát triển kinh tế, quản lý, bảo vệ Đường Cơ sở: Theo tuyên bố năm 1982 của Chính phủ nước CHXHCNVN, Đường Cơ sở (là căn cứ để xác định ranh giới của tất cả các vùng biển) của Việt Nam là đường nối liền của 11 điểm có tọa độ đã xác định, gồm: điểm A1 (hòn Nhạn thuộc quần đảo Thổ Chu tỉnh Kiên Giang); điểm A2 (hòn Đá Lẻ thuộc quần đảo Hòn Khoai tỉnh Cà Mau); điểm A3, A4, A5 (hòn Tai Lớn, hòn Bông Lang, hòn Bảy Cạnh thuộc quần đảo Côn Sơn tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu); điểm A6 (hòn Hải thuộc tỉnh Ninh Thuận); điểm A7, điểm A8 (hòn Đôi, mũi Đại Lãnh thuộc tỉnh Khánh Hòa); điểm A9 (hòn Ông Căn thuộc tỉnh Bình Định); điểm A10 (đảo Lý Sơn thuộc tỉnh Quảng Ngãi); điểm A11 (đảo Cồn Cỏ thuộc tỉnh Quảng Trị) Hệ thống này được xác định theo kiểu đường cơ sở thẳng (theo Công ước luật biển 1982) Hiện nay Đường cơ sở của Việt Nam còn để ngỏ hai điểm: điểm Ao nằm trên giao điểm giữa đường thẳng nối liền Hòn Nhạn (quần đảo Thổ Chu) với hòn Ông (quần đảo Poulowai- Campuchia) và điểm kết thúc ở cửa vịnh Bắc Bộ là giao điểm đường cửa vịnh Bắc Bộ với đường phân định biển trong vịnh Bắc Bộ
Như vậy, theo công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982, các tuyên
bố của Chính phủ ta năm 1977 và 1982, các Hiệp định ta đã ký kết với các nước trong khu vực và các văn bản liên quan khác, hiện nay các vùng biển của nước ta được xác lập như sau:
+ Tại vùng Vịnh Bắc Bộ: Vùng nội thủy của ta vẫn chưa xác định vì ta chưa công bố đường cơ sở trong Vịnh Bắc Bộ Các vùng còn lại xác lập theo Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày 25 tháng 12 năm 2000
Trang 14+ Tại vùng biển từ Vịnh Bắc Bộ đến Vịnh Thái Lan: Các vùng biển được xác lập căn cứ vào Đường Cơ sở Việt Nam (theo tuyên bố 82) và chiều rộng các vùng biển này được tính theo tuyên bố 77, gồm: vùng lãnh hải rộng 12 hải lý, vùng tiếp giáp lãnh hải rộng 12 hải lý, vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý, thềm lục địa trải dài tới rìa ngoài của lục địa, nơi nào rìa lục địa không vượt quá 200 hải lý tính
từ đường cơ sở thì tại nơi đó thềm lục địa mở rộng đến 200 hải lý.+ Tại vùng Vịnh Thái Lan: các vùng biển nước ta được xác lập theo tuyên bố của Chính phủ ta về đường cơ sở, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Phần tiếp giáp với các nước được tính như sau: Ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa với Thái Lan được xác lập bằng đường thẳng KC (điểm K có vĩ độ 08046’54'’Bắc; kinh độ 102012’11'’Đông; điểm C có vĩ độ= 07049’00'’ Bắc, kinh độ 103002’30'’ Đông) theo Hiệp định phân định biển Việt Nam - Thái Lan ngày 9-8-1997 Ranh giới vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam chồng lấn với Malaysia và Thái Lan được xác định sau, tạm thời vùng chồng lấn được đặt dưới chế độ khai thác chung Vùng chồng lấn với Indonesia chưa xác định được ranh giới cũng như chế độ pháp
lý tạm thời Vùng nước lịch sử chung Việt Nam - Campuchia được xác lập theo hiệp định 1982, ranh giới trong vùng nước lịch sử và ranh giới các vùng biển bên ngoài vùng nước lịch sử giữa hai bên cụ thể chưa được xác lập
Để quản lý, bảo vệ và khai thác các tiềm năng trên các vùng biển Việt Nam, trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã có những đường lối, chủ trương đúng đắn, kịp thời đáp ứng với yêu cầu trước mắt và lâu dài Năm 1987, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 06/NQ-TW về bảo vệ chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, tăng cường sự có mặt của Việt Nam ở Biển Đông và quần đảo Trường Sa
Đại hội Đảng lần thứ VII đã thông qua phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh
tế biển và bảo vệ chủ quyền, quyền lợi quốc gia trên biển của nước ta đến năm