1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bài tập lớn môn luật vận tải biển 2

21 479 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 109,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tháng 8 đến tháng 10 năm 1944, hội nghị giữa Mỹ, Anh, Liên Xô rồi Mỹ, Anh và Trung Quốc tổ chức tại vườn Đồi Đơn-ba-tơn ở ngoại ô Oa-sinh-tơn, quyết định thành lập một tổ chức quốc tế sa

Trang 1

I Giới thiệu chung

I.1 Mở đầu

I.2 Giới thiệu yêu cầu của lĩnh vực đề ra

I.2.1 Quá trình hình thành, phát triển, cơ cấu tổ chức, vai trò

của Liên hợp quốc và Toà án Quốc tế Liên hợp quốc

1.2.1.2 Liên hợp quốc

Một lỏ cờ màu xanh da trời, ở giữa in hỡnh 5 chõu của thế giới, hai cành ụ-liu tượng trưng cho hoà bỡnh ụm gọn địa cầu như muốn nhắc nhở loài người nờn mói mói chung sống hoà thuận với nhau Đú là cờ của một tổ chức quốc tế lớn nhất trờn thế giới, Liờn hợp quốc

Đại chiến thế giới lần thứ hai là cuộc chiến tranh cú quy mụ lớn nhất lịch sử thế giới, 61 nước và khu vực bị cuốn vào cuộc chiến, cướp đi sinh mạng hàng triệu người dõn vụ tội, nhiều thành phố cổ và đẹp biến thành đống tro tàn gạch vụn Trước những thảm cảnh do bọn phỏt xớt gõy ra, người ta suy nghĩ làm thế nào để hạn chế được thảm cảnh tương

tự, dần dần hỡnh thành một ý niệm: xõy dựng một tổ chức quốc tế để bảo vệ hoà bỡnh và an ninh thế giới

Năm 1942, khi cuộc chiến tranh do bọn phỏt xớt gõy ra cũn đang trong giai đoạn ỏc liệt, khỏt vọng chớnh nghĩa của mọi người dõn thế giới là đoàn kết lại cựng chiến đấu chống phỏt xớt càng lờn cao Nhõn dõn Mỹ mong muốn chớnh phủ thuận lũng dõn, đi theo trào lưu phỏt triển của lịch sử, đúng gúp vào hoà bỡnh thế giới Thỏng 1 năm 1942, tổng thống Mỹ Ru-dơ-ven, đề xướng mời đại biểu cấp cao của 26 nước đến họp tại thủ đụ Oa-sinh-tơn để thảo luận vấn đề xõy dựng một mặt trận thống nhất chống phỏt xớt Cỏc nước đều nhất trớ là cần huy động toàn bộ lực lượng quõn sự và tài nguyờn kinh tế của nước mỡnh để

Trang 2

chống lại các nước phát xít Đức, Ý, Nhật Đại biểu các nước đã ra một bản tuyên bố chung Nhưng tên của bản tuyên bố này là gì, thì mọi người mãi vẫn chưa đặt được chính xác

Một tối, Ru-dơ-ven và Sơc-sin (Thủ tướng Anh) cùng nhau thảo luận về việc đặt tên cho bản tuyên bố này

Sơc-sin đề nghị cái tên là Tuyên ngôn Đồng minh Ru-dơ-ven cho rằng cái từ ''đồng minh'' là không ổn vì đã có quá nhiều tổ chức mang tên thế này: như là Đồng minh thần thánh, Đồng minh chống phát xít, bởi vậy Tuyên ngôn của các nước đống minh Ru-dơ-ven ngừng lại cúi đầu suy nghĩ hồi lâu rồi ngẩng đầu nói với Sơc-sin: Gọi là ''Tuyên ngôn của liên minh quốc tế được không?''

''Liên minh quốc tế '' Sơc-sin vội lắc đầu phản đối Ông nói: Từ này khiến người ta nhớ lại “Liên minh quốc tế” xây dựng hồi đại chiến thế giới lần thứ nhất Cái tên Liên minh quốc tế, tuy nêu lên được sự hợp tác quốc tế giữ gìn hoà bình và an toàn quốc tế, nhưng trên thực tế chỉ

là công cụ tranh ngôi bá chủ của các nước tư bản

… Sáng sớm hôm sau, Ru-dơ-ven vừa mở mắt đã nghĩ ngay đến vấn đề tối qua chưa giải quyết “Gọi là gì được nhỉ?” Ông vừa nghĩ vừa mặc áo, lẩm nhẩm một mình Bỗng trong đầu loé lên một từ ''Quốc gia liên hợp'' Ông vui mừng nói với người phục vụ “Nào hãy đưa tôi sang phòng Sơc-sin!”

Trang 3

Ru-dơ-ven ngồi lên xe đẩy vội vã đến phòng ngủ của Sơc-sin Ông vừa đẩy cửa vừa gọi ầm lên ''Sơc-sin! Sơc-sin!'' Không thấy ai trả lời, phòng trống vắng ''Sơc-sin đâu rồi!''

''Tôi đang ở đây mời vào!'' Lúc này Sơc-sin đang cạo râu, chưa ăn mặc chỉnh tề

Ru-dơ-ven chẳng chú ý đến phép xã giao, ông lăn xe đến ngay

phòng vệ sỉnh, đẩy cửa bảo Sơc-sin: ''Quốc gia liên hợp, được không?''

''Quốc gia liên hợp!'' Sơn-sin nhắc lại rồi nói “Được, được vậy ta cứ gọi là-quốc gia liên hợp”

Đến chiều, các đại biểu tiếp tục họp ở hội trường để thảo luận và ký tuyên bố chung Khi Ru-dơ-ven đưa ra tên gọi của bản tuyên ngôn, mọi người xôn xao vài phút rồi các đại biểu nhất trí tán thành Từ đó cụm từ ''Quốc gia liên hợp'' ra đời 26 nước cùng ký tên vào bản tuyên ngôn được gọi là “Tuyên ngôn của Quốc gia Liên hợp”

Tháng 8 đến tháng 10 năm 1944, hội nghị giữa Mỹ, Anh, Liên Xô rồi Mỹ, Anh và Trung Quốc tổ chức tại vườn Đồi Đơn-ba-tơn ở ngoại ô Oa-sinh-tơn, quyết định thành lập một tổ chức quốc tế sau chiến tranh, nhất trí vẫn dùng cụm từ Quốc gia Liên hợp quốc mà 26 nước đã ký vào bản tuyên bố chung, nhưng sửa lại một chút thành Liên hợp quốc Hội nghị đã thảo luận về tôn chỉ, nguyên tắc và bộ máy, hình thành một bộ khung hoàn chỉnh của Liên hợp quốc

Tháng 2 năm 1945, Hội nghị I-an-ta (Yalta ở Crưm, Liên Xô) giữa Sơc-sin, Ru-dơ-ven và Xta-lin quyết định cùng với Trung Quốc thành

Trang 4

lập Liên hợp quốc và đến ngày 5 tháng 3 chính thức gửi thư mời các nước chống phát xít tham gia

Ngày 25 tháng 4, 51 đoàn đại biểu các nước gồm 856 người đến họp tại San-phran-xi-xô, Mỹ Trưởng đoàn đại biểu Mỹ là Quốc vụ khanh Xtet-tin-nơt (Edward Reilly J Stettinus), Trưởng đoàn đại biểu Anh là

Bá tước I-đơ (Robert Anthony Eden), Trưởng đoàn đại biểu Liên Xô là

Bộ trưởng ngoại giao Mô-lô-tôp, Trưởng đoàn đại biểu Trung Quốc là Viện trưởng hành chính kiêm Bộ trưởng Ngoại giao của chính phủ Quốc dân đảng Tống Tử Văn, đại biểu Đảng Cộng sản Trung Quốc là Đồng Tất Vũ Số người tham dự kể cả quan sát viên, đại biểu không chính thức và các nhà báo lên đến gần 4.000 người Đây là một hội nghị quốc tế lớn nhất từ trước đến giờ trong lịch sử

Ngày 26 tháng 6, Hội nghị thông qua ''Hiến chương Liên hợp quốc'',

có 153 đại biểu của 51 nước ký tên

Ngày 24 tháng 10, Liên hợp quốc chính thức tuyên bố thành lập Các nước thành viên đã lên đến 192 nước và khu vực Hiện nay Liên hợp quốc đã và đang phát huy tác dụng to lớn của nó trong các công việc quốc tế với tư cách là tổ chức lớn nhất thế giới

1.2.1.2 Toµ ¸n Quèc tÕ Liªn hîp quèc

Tòa án Quốc tế Liên hợp quốc là một trong sáu cơ quan chính của

Liên hợp quốc, được thành lập năm 1945 trên cơ sở kế thừa Toà án

Thường trực quốc tế của Hội quốc liên và hoạt động theo quy chế một bộ phận không tách rời của Hiến chương Liên hợp quốc Tất cả các thành viên của Liên hợp quốc đương nhiên được coi là thành viên của quy chế

Trang 5

Tòa án Quốc tế (TAQT) Các nước không phải là thành viên Liên hợp quốc có thể tham gia quy chế TAQT nếu được Hội đồng Bảo an đề nghị

và được Đại hội đồng Liên hợp quốc chấp thuận Các nước không tham gia quy chế cũng có thể yêu cầu TAQT xét xử tranh chấp nếu được Hội đồng Bảo an cho phép Trụ sở của TAQT đặt tại La Hay (Hà Lan)

Nhiêm vụ:

Nhiệm vụ trọng tâm của Liên hợp quốc là giải quyết các cuộc xung đột bằng biện pháp hoà bình phù hợp với các nguyên tắc của công lý và luật pháp quốc tế (Điều 1 của Hiến chương Liên hợp quốc) Điều 33 của Hiến chương cũng chỉ rõ, trong số các phương pháp giải quyết hoà bình có phương pháp sử dụng trọng tài và giải quyết của toà án (theo luật pháp)

Nhiệm vụ chính của TAQT: 1) Giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia và giữa các tổ chức quốc tế trên cơ sở luật pháp quốc tế Các thể nhân và pháp nhân không có quyền đưa các tranh chấp ra giải quyết trước TAQT 2) Làm chức năng tư vấn pháp lí (kết luận pháp lí) cho Hội đồng Bảo an, Hội đồng Thường trực và cho các tổ chức khác của Liên hợp quốc

TAQT được quyền ra các quyết định bằng phương thức biểu quyết trên nguyên tắc quá bán với số đại biểu hợp lệ là không được ít hơn 9 người Quyết định của TAQT mang tính chất bắt buộc, có hiệu lực ngay

và các đương sự không có quyền khiếu nại Trong trường hợp quyết định của TAQT không được thi hành, TAQT có thể yêu cầu Hội đồng Bảo an giúp đỡ để quyết định được thi hành Ngoài các nhiệm vụ trên, TAQT còn có nhiệm vụ chung cùng với các cơ quan khác của Liên hợp

Trang 6

quốc bảo vệ hoà bình, kiểm tra giám sát các nước thành viên Liên hợp quốc thực hiện nghĩa vụ của mình theo đúng Hiến chương Liên hợp quốc và theo các quyết định của các cơ quan của Liên hợp quốc

Thành phần

Thành phần của TAQT gồm 15 thẩm phán, là công dân của các quốc gia thành viên Liên hợp quốc, do Đại hội đồng Liên hợp quốc và Hội đồng Bảo an bầu ra với nhiệm kì 9 năm và cứ 3 năm lại bầu lại 5 thẩm phán Về nguyên tắc, trong cơ cấu của TAQT phải có đại diện của tất cả các hệ thống pháp luật trên thế giới và là những luật gia nổi tiếng, có uy tín trong lĩnh vực pháp luật quốc tế Đã có công dân của các quốc gia: Anh, Pháp, Bỉ, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Đức, Italia, Hungari, Xri Lanka, Mađagaxca, Angiêri, Guyana, Vênêzuêla, Xiêra Lêôn tham gia TAQT

Chức năng

Theo điều 13 của Hiến chương, một trong những chức năng của Đại hội đồng là "thúc đẩy việc pháp điển hoá và sự phát triển của luật quốc tế theo hướng tiến bộ" Chức năng này đã được Đại hội đồng và các cơ quan khác thực hiện thông qua việc soạn thảo, chuẩn bị rất nhiều công ước quốc tế Trong vòng năm thập kỷ qua, Liên hợp quốc

đã bảo trợ cho trên 456 thoả thuận đa phương bao gồm mọi lĩnh vực hoạt động giữa các nhà nước và nỗ lực của loài người Liên hợp quốc cũng là người tiên phong quan tâm tới những vấn đề toàn cầu mới hiện nay như: môi trường, khoảng không vũ trụ, lao động di cư, buôn lậu ma tuý và chủ nghĩa khủng bố

Trang 7

Chức năng chính của Toà án quốc tế là giải quyết hoà bình các tranh chấp quốc tế, vụ kiện do các quốc gia đưa lên phù hợp với luật pháp quốc tế Mục tiêu của toà án là áp dụng các tập quán quốc tế để thiết lập các quy tắc được các quốc gia liên quan chính thức công nhận; các thông lệ quốc tế được chấp nhận như luật; các nguyên tắc chung của luật pháp được các quốc gia công nhận; các phán quyết của tòa án

Tòa án cũng khuyến nghị Đại hội đồng, Hội đồng Bảo an về lĩnh vực luật pháp, các vấn đề luật pháp nổi lên trong phạm vi hoạt động của các cơ quan này, khuyến nghị các cơ quan khác của Liên hợp quốc, các cơ quan chuyên môn với sự uỷ quyền của Đại hội đồng

Hoạt động

Giải quyết theo luật pháp các tranh chấp:Cơ quan chính của Liên

hợp quốc giải quyết các tranh chấp là Toà án Quốc tế Kể từ khi thành lập năm 1946, đến nay đã có 72 vụ được các nước đưa ra trước Toà án Quốc tế, 22 trường hợp hỏi ý kiến của các tổ chức quốc tế Hầu hết các trường hợp được Toà giải quyết, song kể từ năm 1981, đã có 4 trường hợp được chuyển cho các Uỷ ban đặc biệt giải quyết theo đề nghị của các bên liên quan 11 trường hợp vẫn chưa được giải quyết.Các trường hợp đưa ra giải quyết tại Toà án Quốc tế bao gồm nhiều lĩnh vực như: quyền về lãnh thổ (vụ tranh chấp giữa Pháp và Anh năm

1953, giữa Bỉ và Hà Lan năm 1959, giữa Ấn Độ và Bồ Đào Nha năm

1960, giữa Buốckina Phaxô và Mali năm 1986, giữa Libi và Sát năm 1990), liên quan đến luật biển (trường hợp Anbani phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại do thuỷ lôi trong vùng lãnh hải của mình gây

Trang 8

ra cho tầu của Anh năm 1949, tranh chấp giữa Anh và Na uy về đánh cá), các cuộc tranh chấp liên quan đến nguyên tắc và luật lệ quốc tế trong việc phân định ranh giới thềm lục địa, trên biển và trên bộ (vụ giữa Libi và Manta năm 1985, Canađa và Mỹ năm 1984, Đan mạch và

Na uy năm 1993, giữa En Xanvađo và Honđurat năm 1992 ), về bảo

vệ ngoại giao, bảo vệ môi trường, thực hiện các nghĩa vụ của lực lượng uỷ thác tại lãnh thổ Tây Nam châu Phi, các vấn đề liên quan đến xung đột khu vực, việc thực hiện các công ước quốc tế của các nước các trường hợp liên quan đến quan hệ giữa Liên hợp quốc và các nước thành viên như việc phái viên của Liên hợp quốc bị sát hại, đóng góp của các nước vào ngân sách hoạt động gìn giữ hoà bình cũng được các bên liên quan đưa ra tại Toà án Quốc tế để nhận được ý kiến tham khảo

Pháp điển hoá luật pháp quốc tế: Uỷ ban về luật pháp quốc tế đã

được Đại hội đồng thành lập năm 1947 nhằm thúc đẩy sự phát triển và pháp điển hoá luật pháp quốc tế theo hướng tiến bộ Uỷ ban gồm 34 thành viên, nhóm họp hàng năm, các thành viên được Đại hội đồng bầu ra với nhiệm kỳ 5 năm, hoạt động với tư cách cá nhân chứ không phải là đại diện của các chính phủ

Công việc chủ yếu của Uỷ ban là soạn thảo luật pháp quốc tế, lĩnh vực luật pháp cần soạn thảo có thể do Uỷ ban tự chọn hoặc do Đại hội đồng hoặc Hội đồng Kinh tế - Xã hội (ECOSOC) gợi ý Khi Uỷ ban hoàn tất dự thảo các điều khoản, Đại hội đồng sẽ triệu tập một hội nghị quốc tế để quyết định đưa các điều khoản dự thảo đó vào một công ước quốc tế, sau đó sẽ mở cho các nước tham gia

Trang 9

Năm 1966, đỏp ứng đũi hỏi của Liờn hợp quốc phải giữ một vai trũ tớch cực trong việc giảm bớt và loại bỏ cỏc cản trở đối với thương mại quốc tế, Đại hội đồng đó thành lập Uỷ ban Liờn hợp quốc về luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) để thỳc đẩy sự thống nhất và hài hoà theo hướng tiến bộ của luật thương mại quốc tế Uỷ ban gồm 36 thành viờn, đại diện cho cỏc khu vực địa lý và cỏc hệ thống kinh tế và luật phỏp khỏc nhau, cú bỏo cỏo hàng năm lờn Đại hội đồng và trỡnh bỏo cỏo lờn Hội nghị Liờn hợp quốc về Thương mại và phỏt triển.

I.2.2 Quá trình hình thành và sửa đổi Công ớc Quốc tế về

Luật biển (UNCLOS)

Cụng ước Liờn Hiệp Quốc về Luật biển

Được đưa ra ký 10 thỏng 12 năm1982 ở Montego Bay (Jamaica)

Cú hiệu lực 16 thỏng 11 năm 1994

Cỏc điều kiện để cú hiệu lực 60 quốc gia phờ chuẩn

Cỏc nước tham gia : 155

Cụng ước Liờn Hiệp Quốc về Luật biển (tiếng Anh: United Nations Convention on Law of the Sea - UNCLOS), cũng gọi là Cụng ước Luật biển hay cũng được những người chống đối nú gọi là Hiệp ước Luật biển, là một hiệp ước quốc tế được tạo ra trong Hội nghị về luật biển Liờn Hiệp Quốc lần thứ 3 diễn ra từ năm 1973 cho đến 1982 với cỏc chỉnh sửa đó được thực hiện trong Hiệp ước Thi hành năm 1994 Cụng ước Luật biển là một bộ cỏc quy định về sử dụng cỏc đại dương của thế giới, chiếm 70% diện tớch bề mặt Trỏi Đất Cụng ước đó được

ký kết năm 1982 để thay thế cho 4 hiệp ước năm 1958 đó hết hạn

Trang 10

UNCLOS có hiệu lực năm 1994, và đến nay, 154 quốc gia và Cộng đồng châu Âu đã tham gia Công ước này Hoa Kỳ không tham gia vì nước này tuyên bố rằng hiệp ước này không có lợi cho kinh tế và an ninh của Mỹ Công ước quy định quyền và trách nhiệm của các quốc gia trong việc sử dụng biển, thiết lập các hướng dẫn rõ ràng cho các hoạt động kinh doanh, bảo vệ môi trường và cải thiện quản lý các tài nguyên thiên nhiên đại dương Các sự kiện mà thuật ngữ đề cập trong Công ước là: Công ước về Luật biển Liên Hiệp Quốc lần 1, Công ước

về Luật biển Liên Hiệp Quốc lần 2, Công ước về Luật biển Liên Hiệp Quốc lần 3 Công ước này là kết quả của Công ước về Luật biển Liên Hiệp Quốc lần 3 và cũng mang tên gọi Công ước về Luật biển Liên Hiệp Quốc

Trong khi Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc nhận được các công cụ phê chuẩn và gia nhập và Liên Hiệp Quốc quy định ủng hộ các cuộc họp của các quốc gia là thành viên của Công ước thì Liên Hiệp Quốc không có vai trò hoạt động trong việc thi hành Công ước này Tuy nhiên các tổ chức liên chính phủ tự trị như: Tổ chức Hàng hải Quốc

tế, Ủy ban Cá voi Quốc tế và Cơ quan quản lý Đáy biển Quốc tế được Công ước này thành lập lại có một vai trò trong việc thực thi Công ước

Bối cảnh lịch sử

UNCLOS đã tỏ ra cần thiết do tính pháp lý yếu của ý niệm 'quyền

tự do về biển' có từ thế kỷ 17: quyền của các quốc gia đã bị giới hạn trong một vành đai lãnh hải mở rộng ra từ các bờ biển của quốc gia

đó, thường là 3 hải lý, theo quy định phát đạn pháo được thẩm phán

Trang 11

người Hà Lan Cornelius Bynkershoek phát triển Tất cả các lãnh hải nằm biên giới quốc gia được xem như lãnh hải quốc tế - tự do cho tất

cả các quốc gia, nhưng không thuộc quốc gia nào cả (nguyên tắc mare liberum được Grotius công bố)

Đầu thế kỷ 20, nhiều quốc gia biểu lộ ý muốn mở rộng quyền tuyên

bố chủ quyền quốc gia nằm đưa các nguồn tài nguyên khoáng sản, bảo

vệ nguồn cá và có các phương tiện để thực thi kiểm soát ô nhiễm Hội Quốc Liên đã tổ chức một hội nghị năm 1930 tại Hague để bàn về điều này, nhưng hội nghị không đạt được thỏa thuận nào

Một quốc gia phản ánh nguyên tắc luật bất thành văn quốc tế về quyền một quốc gia để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của mình là Hoa

Kỳ, khi năm 1945, Tổng thống Harry S Truman đã mở rộng sự kiểm soát quốc gia trên các tài nguyên thiên nhiên ở trong thềm lục địa của mình Các quốc gia khác cũng nhanh chóng ganh đua theo Mỹ Giữa năm 1946 và 1950, Argentina, Chile, Peru và Ecuador đều nới rộng chủ quyền của mình ra khoảng cách 200 hải lý nhằm bao quát cả ngư trường trong hải lưu Humboldt của họ Các quốc gia khác đã nới rộng vùng lãnh hải đến 12 hải lý

Đến năm 1967, chỉ có 25 quốc gia vẫn sử dụng giới hạn 3 hải lý, 66 quốc gia đã quy định giới hạn lãnh hải 12 hải lý và 8 quốc gia đưa ra giới hạn 200 hải lý Để xem bảng các tuyên bố hàng hải được Liên Hiệp Quốc biên tập, xem [2] Theo bảng này, đến ngày 27 tháng 7 năm 2007, chỉ có vài nước sử dụng giới hạn 3 hải lý là (Jordan, Palau

và Singapore) Giới hạn 3 hải lý này cũng được sử dụng ở một số đảo của Úc, một khu vực của Belize, một vài eo biển của Nhật Bản, một

Ngày đăng: 11/05/2016, 08:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w