Đề tiểu luận: Xây dựng kế hoạch hoạt động ngoại khóa ( dạy học lịch sử địa phương,dạy học tại bảo tảng di tích lịch sử ) 1. Kiến thức Làm phong phú tri thức và khắc sâu những hiểu biết của học sinh về các nghề truyền thống ở Hà Tây cũ. Giáo dục cho các em lòng yêu quê hương , lòng yêu lao động, kính trọng nhân dân lao động qua nhiều thế hệ. Trân trọng và gìn giữ những di sản văn hóa của quê hương. Hình thành những khái niệm về nghề truyền thống , giữ gìn các di tích văn hóa và phát triển nghề truyền thống của địa phương, Học sinh nhận thức được mối liên hệ giữa lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc. 2. Kĩ năng Rèn luyện kỹ năng tìm hiểu thực tế, thu thập thông tin, tài liệu, hình ảnh, rèn luyện kỹ năng diễn đạt, trình bày về một vấn đề lịch sử; được tập dượt nghiên cứu khoa học . 3. Thái độ GD lòng yêu quê hương, lao động; trân trọng và biết ơn người lao động và những sản phẩm truyền thống. 4. Các năng lực cần hình thành Năng lực chung: năng lực tự học, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực sáng tạo Năng lực chuyên biệt: năng lực tái hiện, hiện tượng sk lịch sử, năng lực thực hành bộ môn: khai thác, sử dụng tư liệu, tranh ảnh, biểu đồ liên quan đến nội dung chuyên đề. Năng lực so sánh, phân tích, nhận xét đánh giá rút ra bài học.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TIỂU LUẬN MÔN: HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY HỌC LỊCH SỬ
Giảng viên: TS Hoàng Thanh Tú
Học viên:
Lớp: Lý luận và phương pháp dạy học Lịch sử k10
HÀ NỘI THÁNG 10/2015
Trang 2PHẦN NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
………
………
………
………
………
………
………
ĐIỂM
Hà Nội, ngày … tháng … Năm 2015
Giảng viên
TS Hoàng Thanh Tú
Trang 3A Đề tiểu luận: Xây dựng kế hoạch hoạt động ngoại khóa ( dạy học lịch sử địa phương,dạy học tại bảo tảng di tích lịch sử )
B Nội dung:
KẾ HOẠCH DẠY HỌC LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG - LỊCH SỬ 10
I GIÁO VIÊN
Họ và tên giáo viên LÊ VĂN VÂN
Điện thoại
II TUẦN HỌC
Tuần
học
Tuần 31
Tiêu
đề bài
dạy
DẠY HỌC LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG THĂM QUAN CÁC LÀNG NGHỀ TAI HÀ TÂY CŨ.
Mục
tiêu
bài
dạy
1 Kiến thức
- Làm phong phú tri thức và khắc sâu những hiểu biết của học sinh về các nghề truyền thống ở Hà Tây cũ
- Giáo dục cho các em lòng yêu quê hương , lòng yêu lao động, kính
trọng nhân dân lao động qua nhiều thế hệ
- Trân trọng và gìn giữ những di sản văn hóa của quê hương
- Hình thành những khái niệm về nghề truyền thống , giữ gìn các di tích văn hóa và phát triển nghề truyền thống của địa phương,
- Học sinh nhận thức được mối liên hệ giữa lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc
2 Kĩ năng
- Rèn luyện kỹ năng tìm hiểu thực tế, thu thập thông tin, tài liệu, hình ảnh, rèn luyện kỹ năng diễn đạt, trình bày về một vấn đề lịch sử; được tập
dượt nghiên cứu khoa học
3 Thái độ
- GD lòng yêu quê hương, lao động; trân trọng và biết ơn người lao động
và những sản phẩm truyền thống
4 Các năng lực cần hình thành
-Năng lực chung: năng lực tự học, năng lực phát hiện và giải quyết vấn
đề, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng
Trang 4lực sáng tạo
-Năng lực chuyên biệt: năng lực tái hiện, hiện tượng sk lịch sử, năng
lực thực hành bộ môn: khai thác, sử dụng tư liệu, tranh ảnh, biểu đồ liên quan đến nội dung chuyên đề Năng lực so sánh, phân tích, nhận xét đánh giá rút ra bài học
III HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY HỌC
Gv
phổ
biến
kế
hoạch
cho
HS
- Mục đích:
Làm phong phú tri thức và khắc sâu những hiểu biết của học sinh về các
nghề truyền thống ở Hà Tây cũ
Giáo dục cho các em lòng yêu quê hương , lòng yêu lao động, kính trọng nhân dân lao động qua nhiều thế hệ
Trân trọng và gìn giữ những di sản văn hóa của quê hương
Hình thành những khái niệm về nghề truyền thống , giữ gìn các di tích văn hóa và phát triển nghề truyền thống của địa phương,
Học sinh nhận thức được mối liên hệ giữa lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc
- Cách thức:
+ Giao nhiệm vụ cho các nhóm học tập nghiên cứu thực địa( trước 1 tuần ) + Sau đó báo cáo kết quả của các nhóm và tổ chức cho cả lớp đi thực địa tại các làng nghề truyền thống điển hình ở Hà Tây cũ như: nghề làm giò-chả làng Ước Lễ (Thanh Oai); làng nghề khảm trai Chuyên Mỹ (Phú Xuyên); làng nghề gỗ Tràng Sơn ( Thạch Thất) và làng nghề dệt lụa Vạn Phúc ( Hà Đông)
+ Học sinh cả lớp viết bài thu hoạch sau buổi học thực địa
Làm
việc
nhóm
Hoạt động nhóm( 1 tuần trước khi đi thực địa)
- Nhóm 1: Tìm hiểu về lịch sử, truyền thuyết( nếu có), các loại hình sản
phẩm, thành hoàng làng nghề làm giò-chả làng Ước Lễ (Thanh Oai)
- Nhóm 2: Tìm hiểu về lịch sử, truyền thuyết( nếu có), các loại hình sản
phẩm, thành hoàng làng nghề khảm trai Chuyên Mỹ (Phú Xuyên)
- Nhóm 3: Tìm hiểu về lịch sử, truyền thuyết( nếu có), các loại hình sản
phẩm, thành hoàng làng nghề dệt lụa Vạn Phúc ( Hà Đông)
- Nhóm 4: Tìm hiểu về lịch sử, truyền thuyết( nếu có), các loại hình sản
phẩm, thành hoàng làng làng nghề gỗ Tràng Sơn ( Thạch Thất)
Cá
nhân
- Gv: Cho Hs chuẩn bị nghiên cứu tư liệu về các làng nghề nói trên
IV NỘI DUNG BUỔI HỌC TẬP THỰC ĐỊA
Giảng
lý
thuyết
Gv giới thiệu sơ lược vè các làng nghề ở Hà Tây cũ: Hà Tây là vùng đất
cổ, bởi thế các làng nghề ở khu vực này đã hình thành từ rất sớm Làng xóm phát triển hoàn thiện và hoạt động thủ công đi vào chuyên môn hóa chính là cơ sở để làng nghề hình thành Đến thời trung đại, các hoạt động
Trang 5thủ công ở Việt Nam nói chung và khu vực Hà Tây nói riêng được chuyên môn hoá rõ rệt và phát triển mạnh hơn Làng Chàng Sơn (Thạch Thất) có nghề mộc từ thời Hùng Vương, sang thời Bắc thuộc đã trở nên nổi tiếng Làng Vạn Phúc (Hà Đông) có nghề dệt từ thế kỷ IX Có nghề muộn hơn là làng chạm khắc gỗ Nhân Hiền (Thường Tín), làng khảm trai Chuyên Mỹ (Phú Xuyên)…từ thế kỷ XI, XII; làng nghề giấy An Cốc (Phú Xuyên) … từ đầu thế kỷ XV; làng sơn Bình Vọng (Thường Tín) từ thế kỷ XVI; làng thêu Quất Động (Thường Tín) từ đầu thế kỷ XVII; làng tiện gỗ Nhị Khê (Thường Tín) từ thế kỷ XVIII…
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự hình thành và phát triển làng nghề ở
Hà Tây
Thứ nhất, Hà Tây tự ngàn xưa đã nằm kề cận một thị trường rộng lớn, đó
là đô thị Đại La-Thăng Long-Hà Nội Hà Tây cũng nằm án ngữ những con đường huyết mạch thời cổ, đó là con đường thượng đạo từ cố đô Hoa
Lư về thành Đại La từ thế kỷ thứ X, con đường thiên lý mã nối Thăng Long với các miền đất rộng lớn phương Nam; đó là những con sông vốn
có từ cổ xưa như sông Hồng (phía Đông), sông Đà (phía Bắc), sông Đáy, sông Nhuệ, sông Tích, sông Thanh Hà…phân bố trên lãnh thổ với mật độ khá dày; đó là những huyết mạch giao thông hiện đại qua địa phận Hà Tây như Quốc lộ 1A, Quốc lộ 6, Quốc lộ 32, Quốc lộ 21 A, Quốc lộ chất lượng cao Láng-Hoà Lạc Nhờ đó, hàng hoá được lưu thông, nguyên liệu
và sản phẩm của làng nghề được cung cấp và tiêu thụ kịp thời
Thứ hai, Hà Tây có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng Thiên nhiên giàu có mang lại nguồn nguyên liệu dồi dào cho các làng nghề Nguồn nguyên liệu tự nhiên đó là đất đá (cho sản xuất gạch ngói,
đồ gốm, đồ đá), mây, tre (cho việc đan lát), gỗ (cho sản xuất đồ gỗ, làm nhà cửa)…Đồng đất Hà Tây rất thuận lợi cho nhiều loại cây trồng, là nguồn cung cấp nguyên liệu vô tận cho các nghề dệt vải bông, sản xuất thảm đay, ươm tơ-dệt lụa, làm đậu phụ, ép dầu…
Thứ ba, từ rất sớm trên đất Hà Tây đã có con người quần tụ, tạo nên các làng Việt cổ đông đúc, hàng nghìn năm tuổi Người Hà Tây giàu óc sáng tạo, từ xa xưa đã gây dựng nên nhiều nghề thủ công và đưa kỹ thuật các nghề đó đạt đến mức tinh xảo, như nghề mộc làng Chàng Sơn (Thạch Thất), nghề dệt làng Vân Sa, làng Cổ Đổ (Ba Vì), làng Vạn Phúc (Hà Đông), nghề làm nón làng Phương Trung (Thanh Oai), nghề khảm trai làng Chuyên Mỹ (Phú Xuyên), nghề sơn làng Bình Vọng (Thường Tín), nghề làm giò-chả làng Ước Lễ (Thanh Oai)…
Thứ tư, Hà Tây không chỉ là đất “gốc” của nhiều nghề trong cả nước, mà còn là đất “văn” với rất nhiều bậc danh nhân Cái chất “văn” ấy không chỉ tạo dựng nên một Hà Tây nổi tiếng văn hiến, mà còn có tác dụng thúc
Trang 6đẩy ngành nghề Hà Tây có nhiều người đỗ đạt, làm quan, có điều kiện giao du với bên ngoài, tìm hiểu được bí quyết của các ngành nghề, mang
về áp dụng cho địa phương mình Đó là trường hợp Hoàng giáp Phùng Khắc Khoan, ông tổ nghề dệt lượt làng Phùng Xá (Thạch Thất), trường hợp ông tổ nghề giấy người Việt làng An Cốc (Phú Xuyên), trường hợp Tiến sĩ Trần Lư, ông tổ nghề sơn làng Bình Vọng, trường hợp Tiến sĩ Lê Công Hành, ông tổ nghề thêu làng Quất Động (Thường Tín)…
Thứ năm, với địa thế thuận lợi, Hà Tây từ xa xưa đã là phên dậu của đất
đế đô Ngược lại, cũng bởi kề cận Thăng Long mà Hà Tây có điều kiện phát triển về mọi mặt Các làng nghề nhờ đó càng có điều kiện mở mang
Sự quan hệ mật thiết với kinh đô đòi hỏi các làng nghề Hà Tây phải thoả mãn được cái tinh tế, khắt khe của vùng đất ấy, và đó là một trong những
lý do khiến cho công nghệ cổ của các làng nghề Hà Tây đạt đến trình độ cao
Với những điều kiện thuận lợi như đã nêu, vùng đất Hà Tây, đặc biệt là khu vực Hà Đông, đã trở thành địa phương đứng đầu trong cả nước về phát triển ngành nghề Trong cuốn “Sơ thảo lịch sử phát triển thủ công nghiệp Việt Nam” (Hà Nội, 1957), Phan Gia Bền viết: “Ở Hà Đông đâu đâu cũng làm nghề thủ công, và nghề thủ công nào cũng có và rất phát triển, có nghề đã từ lâu đời”
Lịch
trình đi
Xuất phát từ trường sau đó đi từ địa phương gần tới địa phương xa: Ước
Lễ (Thanh Oai) Chuyên Mỹ (Phú Xuyên) Vạn Phúc ( Hà Đông) Tràng Sơn ( Thạch Thất) trở về trường.
Hoạt
động
nhóm(
các
nhóm
đóng
vai một
hướng
dẫn
viên du
lịch để
thuyết
trình về
nội
dung
nhiệm
vụ của
- Nhóm 1: Giới thiệu về lịch sử, truyền thuyết( nếu có), các loại hình sản
phẩm, thành hoàng làng nghề làm giò-chả làng Ước Lễ (Thanh Oai)khi bắt đầu bước vào cổng làng:
ớc Lễ là một làng cổ Những dấu tích văn hóa làng để lại đã nói lên điều
đó Sông Đỗ Động ngày xưa chảy qua 3 làng Chảy nay chỉ còn là một lạch nhỏ Hai thềm sông phù sa mầu mỡ tạo cho người dân nghề trồng dâu, chăn tằm dệt cửi Cách đó không xa là sông Nhuệ, rồi sông Tô Người dân xuôi thuyền trên những sông đó buôn bán trao đổi với đất kinh kỳ Kẻ Chợ Sự phồn hoa cũng được tích tụ ở ngôi chùa cổ của làng Làng còn một giếng nước rất trong ở cánh đồng gần chùa Sổ Dân truyền
đó là cái huyệt của làng, giếng biểu trưng cho cối giã giò, nhờ vào nguồn nước trong ấy mà nghề giò thịnh vượng
Cổng làng Ước Lễ được xây từ thời Mạc, là một trong những cổng làng vào loại sớm và đẹp nhất phía Tây Hà Nội còn đến ngày nay Dân làng Ước Lễ đã lấy chữ dùng của Khổng Tử “ Bác học dĩ văn, ước chi dĩ lễ”
Ý nói muốn học rộng thì dựa vào văn (tức văn hóa), học đã rộng rồi thì phải chế định (ước) bằng lễ Ấy là điều cần thiết của người học rộng Lấy
Trang 7nhóm
mình)
ước lễ đặt tên làng là một quan niệm của người dân Ước Lễ để nhắc nhở nhau trong cuộc sống phải luôn giữ lễ Một vùng quê văn vật như thế con người biết đến cái đẹp của sự ăn và biết làm đẹp miếng ăn cũng là lẽ thường tình Ước Lễ không chỉ nổi tiếng bởi giò chả mà còn nhiều món
ăn dân dã khác nữa.Vì thế làng Ước Lễ còn được mệnh danh là Làng nghề ẩm thực
Người dân Ước Lễ không biết nghề giò chả ở quên mình có từ khi nào và
tổ nghề là ai Họ chỉ biết là có từ rất sớm Và qua những truyền khẩu, những câu chuyện để mà tự hào về nghề tổ của mình Họ biết những bí truyền trong nghề, đúc rút những kinh nghiệm để sống bằng nghề và ngày càng sáng tạo sao cho sản phẩm của làng trở thành những tinh hoa
đa dạng và phong phú Chính vì thế giò chả Ước Lễ không chỉ nổi tiếng trong nam ngoài bắc mà còn có tiếng ở nhiều nước trên thế giới
Sản phẩm của làng Ước Lễ có rất nhiều: Giò lụa, giò bò, giò xào, giò bì, giò ép, chả quế, chả rán…nem chua nhưng nổi tiếng nhất vẫn là giò lụa, chả quế Giò chả Ước Lễ không giống với các nơi khác, không làm đại trà, “quý hồ tinh bất quý hồ đa” bởi công đoạn làm giò rất cầu kỳ và công phu từ khâu chọn lợn, pha thịt đến kỹ thuật gói giò, luộc giò…Người Ước Lễ không tham rẻ khi mua lợn Lợn ốm thịt bị hôi, nhỏ thì bị thịt nhão, to quá giò trông sẽ không đẹp, không ngon Thường lợn chỉ 60-70
kg là tốt nhất Lúc làm lông lợn cũng kỹ thuật lắm, không dùng nước sôi quá, phải chế thêm nước lạnh Lợn mổ ra phải lấy khăn sạch lau hết nước tương trên mặt thịt sau đó pha ra các loại thịt, mỗi loại sẽ ứng với mỗi sản phẩm mà họ sẽ chế biến
Thịt mông được lọc ra cho vào cối giã liên tục Vừa giã vừa rút các sợi gân lẫn trong thịt Giã cũng phải có kỹ thuật, quánh đầu chày Khi thịt nát mịn, quánh dẻo thì cho một chút nước mắm thơm loại 1 và một ít gia vị khác Muốn cho quả giò thơm ngon bắt buộc phải gói bằng lá chuối Lá chuối cũng phải chọn kỹ, lá nõn lần trong, lá bánh tẻ lần giữa, lá già lần ngoài Làm như vậy, khi luộc xong quả giò thơm ngon, dậy mùi và đẹp mắt
Khâu luộc giò cũng phải có kỹ thuật, bí quyết Đun cho nước sôi thì cho quả giò vào đun tiếp khoảng một tiếng đồng hồ thì vớt Quả giò vớt ra, thả ngay vào nồi nước lạnh Giò lụa được coi là ngon khi dùng dao cắt ngang quả giò mà không dính dao, miếng giò cắt ra hơi có màu hồng hồng, mặt giò xuất hiện hơi lỗ lăn tăn tròn nhỏ Miếng giò ngon cũng còn phụ thuộc vào bàn tay khéo léo của người bày nó Bày giò thành những cánh hoa trong đĩa làm sao cho đẹp mắt
Ngoài giò lụa, người Ước Lễ còn sáng tạo các loại giò khác như giò mỡ, giò bò, giò bì, giò xào (hay còn gọi là giò ép) Mỗi loại giò có một vị
Trang 8ngon riêng nhưng vẫn mang một hương vị riêng của làng nghề truyền thống Ước Lễ ở hương vị thơm, ngon, không hóa chất, quả giò chắc chắn, đẹp mắt
Ngoài nổi tiếng làm giò lụa, người Ước Lễ còn có món chả cũng đặc sắc không kém, được coi như món thượng hảo Đó là chả quế, chả rán, chả cốm với những công đoạn cầu kỳ Công đoạn sơ chế cũng giống như làm giò, nhưng khi pha chế chả quế thì có thêm bột quế Trên bếp than hồng
có đắp ngang một ống bương, người thợ lấy thịt đắp một lượt mỏng lên ống đắp, xoay tròn trên lửa than hoa nướng cho chín rồi đắp tiếp lần hai, lần ba Khi thịt chín thì cho ra lấy nước đã hòa bột hoa hiên có pha một chút mật ong phết lên mặt chả quế Sau đó quấn chả quế nhuộm hoa hiên vào ống đắp nướng se mặt Chả quế ngon ở mùi vị của nó, bùi của thịt nạc nướng, thơm cay của quế, thơm ngọt của mật ong, thơm nồng của hoa hiên
Chả rán Ước Lễ cũng hấp dẫn không kém bởi vị ngon, bùi, béo ngậy của thịt hấp chín Miếng chả rán đẹp thể hiện ở bề mặt căng phẳng, vàng rộm, cùi dày thái miếng Chả cốm thì được trộn cốm với thịt đã được giã
kỹ tạo ra mùi thơm đặc trưng của cốm mùa thu Chả quế, chả rán, chả quế, giò lụa, giò bì, giò xào… mỗi thứ ngon một kiểu, một mùi vị khác nhau nhưng cùng một mục đích làm cho mâm cỗ thêm sang trọng, làm ngon miệng, đẹp lòng người thưởng thức
Ngoài các sản phẩm là giò, chả, người Ước Lễ còn có món nem chua nức tiếng, được người Ước Lễ dùng để làm quà như một thứ quà quê hương Không giống như các nơi khác nem chua Ước Lễ thường to bằng cổ tay, buộc lạt đỏ, để làm món khai vị Khi làm nem chua, người Ước Lễ cũng
có một công thức bí truyền, phải biết phán đoán thời tiết Rồi cũng phải qua các công đoạn hết sức công phu Đặc biệt, trong quả nem chua phải
có lá ổi, lá đinh lăng hoặc lá sung ăn kèm
Giò chả Ước Lễ là đặc sản của một vùng quê giàu truyền thống văn hóa Sản phẩm của làng đã vượt qua khỏi quê hương để nổi danh khắp mọi miền đất nước và lưu danh ở nước ngoài Dù ở đâu, các phố ẩm thực lớn
ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh hay các chợ cóc, chợ quê cũng thấy cửa hàng giò chả mang tên Ước Lễ Chẳng hạn như nhà hàng Việt Hương
ở phố Huế, Minh- Hiền ở phố Tây Sơn, anh Bình ở chùa Bộc, anh Sơn ở Văn Điển… Ở Hà Đông, có lẽ không ai lại không biết đến các cửa hiệu giò Mùi có tiếng từ mấy đời nay
Ước Lễ hôm nay có 472 hộ thì có tới gần 200 hộ làm nghề giò chả Đó là con số nói lên sự hưng thịnh của làng nghề Và còn bao nhiêu những người con Ước Lễ xa quê mang nghề làm giò chả đi kinh doanh buôn bán ở nơi khác hoặc làm nghề giò chả như một nghề tay trái Ví như nghệ
Trang 9sỹ Ngọc Tản- người con gái của làng Giới nghệ sỹ và nhiều người biết đến bà không chỉ vì bà thành công ở các vai người mẹ, người bà đau khổ, đầy tâm trạng, giàu lòng nhân ái, vị tha mà còn là một phụ nữ đảm đang, tháo vát ngoài đời luôn tất bật với cửa hàng giò chả ở một chợ lớn của Hà Nội Và mỗi dịp tết đến xuân về, bà lại tự tay gói những quả nem chua những cây giò thơm phức để biếu anh em, bạn bè Đó là sự hiếu khách và cũng là lời mời gọi thầm kín: Hãy đến và thưởng thức những món ngon của làng Ước Lễ
- Nhóm 2: Giới thiệu về lịch sử, truyền thuyết( nếu có), các loại hình sản
phẩm, thành hoàng làng nghề khảm trai Chuyên Mỹ (Phú Xuyên)khi tới cổng làng:
Nghề khảm trai ở Chuôn Ngọ, Chuyên Mỹ, Phú Xuyên, Hà Nội đã hình thành từ thời nhà lý từ thế kỷ X do cụ Trương Công Thành, một vị tướng dưới thời Lý truyền dạy cho dân làng chuôn Nhớ đến công đức của Cụ, dân làng Chuyên Mỹ tôn cụ là cụ tổ nghề khảm trai
Từ chất liệu vỏ trai, ốc người thợ làng chuôn phải bỏ nhiều công sức
để hoàn thành một mặt tranh khảm, bao gồm các khâu: sáng tác bản vẽ, mài, cưa, đục mảnh trên mặt tranh khảm, mài, đánh bóng mặt khảm Trước đây, đề tài khảm thường chọn các tích ở truyện Tam Quốc và các truyện cổ khác như: “Tam cố Thảo Lư”, “Văn chương cầu hiền”, hay khảm theo mẫu ước lệ như: mai, thông, cúc, trúc, chim hoa, “tứ dân” cảnh - 4 người dân thời cổ Ngày nay, đề tài khảm lại chọn là các di tích, danh lam thắng cảnh nổi tiếng của đất nước như Chùa Một Cột, Hạ Long, Huế, Sài Gòn… Vỏ trai được ưa chuộng là loại vỏ trai của trai ngọc môi vàng, nó thường có kích thước lớn, mặt trong có lớp xà cừ dày màu óng ánh Làng nghề cổ truyền thì có những tên riêng cho những thứ ốc như
"trai cửu khổng" (tức bào ngư), "diệp xù", "trai cánh", "trai Nông Cống"
Những sản phẩm độc đáo mang đậm nét truyền thống của Chuyên
Mỹ đã làm say sưa tỉ mỉ và được người dân trong và ngoài nước rất
ngưỡng mộ, Sản phẩm khảm trai của người dân Chuôn Ngọ, Chuyên Mỹ
đã từng tham gia rất nhiều cuộc thi, triển lãm trong nước có mặt ở các điểm du lịch, các thị trường lớn của đất nước và thế giới Các sản phẩm khảm trai, ốc của Chuyên Mỹ ngày càng đa dạng, phong phú về mẫu mã nhờ sự tìm tòi, sáng tạo của người thợ dựa trên những bí quyết công nghệ hết sức nghiêm ngặt, tỉ mỉ và phức tạp được gìn giữ và phát triển qua nhiều thế hệ khác nhau Sản phẩm khảm trai Chuyên Mỹ thể hiện độ tinh xảo, tính độc đáo, trí tuệ, đôi bàn tay khéo léo nghẹ thuật, của những người thợ thủ công, đồng thời phản ánh tính thời đại và tính nhân văn
Trang 10cũng như tính thẩm mỹ của nó Ngày nay, làng nghề khảm Chuyên Mỹ đang tiếp tục phát huy tiềm năng vốn có của mình, xứng đáng là nơi lưu giữ nghệ thuật khảm trai truyền thống và sản xuất ra những sản phẩm thủ công mỹ nghệ đẹp và quý
- Nhóm 3: Trình bày về lịch sử, truyền thuyết( nếu có), các loại hình sản
phẩm, thành hoàng làng nghề dệt lụa Vạn Phúc ( Hà Đông):
Qua các thư tịch cổ cho thấy, mảnh đất Vạn Phúc ngày nay đã được hình thành phát triển từ năm 865 sau Công nguyên Thủa ấy, trong một lần di kinh lý trên sông, khi đậu thuyền sát bên dòng sông Nhuệ, Cao Biền phải thốt lên: “Đất Vạn Bảo (tức Vạn Phúc) núi sông uốn khúc, long hổ ôm quanh, hai bên hai giếng nước nuôi dưỡng tụ khí rồng xanh Đây thật là cảnh thanh nhàn” Bà Lã Thị Nga – vợ của Cao Biền – thấy vùng đất này thơ mộng đã về ngụ tại đây, bà dạy dân cách làm ăn Khi và quan đời, nhớ ơn công đức của bà, dân Vạn Bảo đã tôn bà làm Thành hoàng làng
và lập miếu thờ Tuy nhiên, một số tài liệu và hiện vật cổ còn giữ lại cho thấy, nghề dệt ở Vạn Phúc ra đời cách đây khoảng 1.000 năm, vào khoảng thế kỷ XIII Vì thế, bà Lã Thị Nga chưa hẳn là vị tổ nghề như nhiều người từng nói, nhưng bà chính là người có công khuyến khích nhân dân duy trì và phát triển làng nghề, đưa nghề dệt trở thành nghề truyền thống ở Vạn Phúc
Lụa Vạn Phúc từng được chọn may quốc phục dưới các đời vua nhà Nguyễn, từ vua Khải Định đến vua Bảo Đại đều sai sứ thần ra tận Vạn Phúc mua sa, gấm đem về dùng
Lụa Vạn Phúc cũng như các sản phẩm thủ công truyền thống của các làng nghề Hà Nội, thường được nhắc đến trong thơ ca xưa
“The La, lĩnh Bởi, chồi Phùng
Lụa vân Vạn Phúc, nhiễu vùng Mỗ Bôn.”
Từ sản phẩm của một làng, lụa, gấm Vạn Phúc đã vượt qua giá trị hàng hoá đơn thuần trở thành một sản phẩm của văn hoá, biểu tượng của cái đẹp, của vùng đất Hà Đông, của quê hương Việt Nam Điều đó cắt nghĩa tại sao giữa Sài Gòn tân kỳ và hoa lệ, ồn ã với văn hoá ngoại lai tại thời tạm chiếm, sắc áo lụa Hà Đông lại làm dịu mát những tâm hồn đang hướng về dân tộc:
“ Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông”
“Áo lụa Hà Đông” – thơ Nguyên Sa
Đó là nỗi nhớ dai dẳng được phổ thành thơ, thành nhạc, ngân nga trong lòng những người con đất Bắc xa xứ
Lụa Vạn Phúc bền đẹp, khoác tấm áo lên người sẽ thấy mềm mại và nhẹ