1. Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm qua nền kinh tế của nước ta có sự phát triển rõ rệt , điều này đã tạo ra công ăn việc làm cho nhiều người lao động, bảo đảm được an sinh xã hội. Để có được điều đó là nhờ đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong đó trọng tâm là ổn định chính trị, phát triển kinh tế. Song hành với nhu cầu phát triển hội nhập đó pháp luật nước ta cũng không ngừng sửa đổi, bổ sung nhằm phù hợp với nền kinh tế thị trường để đáp ứng và tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển. Rất nhiều văn bản pháp luật đã được ban hành tạo nên một hành lang pháp lý thông thoáng và đơn giản hóa thủ tục hành chính, trong đó Bộ luật Dân sự 2005 ra đời thay thế cho Bộ luật Dân sự 1995 là một bước tiến mới nhằm hoàn thiện pháp luật dân sự đặc biệt là các giao lưu dân sự phổ biến diễn ra hàng ngày của con người. Trong cuộc sống ngày nay, Hợp đồng Dân sự là giao kết được thực hiện với một số lượng rất lớn, thông dụng và phổ biến. Chúng ta không thể phủ nhận vai trò đặc biệt quan trọng của hợp đồng trong đời sống hiện đại. Không phải ngẫu nhiên mà trong hệ thống pháp luật của bất kỳ quốc gia nào, chế định hợp đồng luôn được coi là một chế định pháp lý quan trọng vào bậc nhất. Bởi hợp đồng tạo ra những tiền đề pháp lý cho sự vận động linh hoạt và an toàn của các giá trị vật chất trong xã hội. Hơn thế nữa, trong thực tiễn giao lưu dân sự, nhu cầu về giao kết hợp đồng dân sự cũng đã và đang trở thành vấn đề cấp thiết, phong phú về nội dung, đa dạng về cả đối tượng. Điều 388 Bộ luật Dân sự 2005 đã quy định : “ Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi và chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự ”. Như vậy, cơ sở đầu tiên để hình thành một hợp đồng dân sự là việc thỏa thuận bằng ý chí tự nguyện của các bên. Tuy nhiên hợp đồng chỉ được pháp luật công nhận và bảo vệ khi ý chí các bên, hình thức và nội dung của hợp đồng phù hợp với quy định của nhà nước và pháp luật. Hàng ngày có vô số các hợp đồng dân sự được thoả thuận ký kết, từ những hợp đồng sinh hoạt đơn giản thường thấy như : mua bán hàng hóa,vay mượn tài sản…đến những hợp đồng phức tạp khác như : hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở…Vậy vấn đề đặt ra ở đây là hình thức của các hợp đồng trên chúng tồn tại ở dạng như thế nào, và chủ thể tham gia những hợp đồng đó có thể sử dụng chúng ra sao cho phù hợp với hoàn cảnh, mức độ quan trọng của việc giao kết ? Đó mới là vấn đề cần phải giải đáp. Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005 thì các bên tham gia hợp đồng có thể lựa chọn những hình thức khác nhau để tiến hành giao kết hợp đồng (trừ trường hợp pháp luật có quy định về hình thức thì phải tuân theo quy định của pháp luật). Từ những điều trên cùng với mục đích đi sâu tìm hiểu về các quy định của pháp luật về hình thức của hợp đồng dân sự, chúng tôi xin lựa chọn đề tài: “ Hình thức của hợp đồng theo qui định của pháp luật Dân sự Việt Nam – Lý luận và thực tiễn áp dụng. ”.
Trang 1Lời cảm ơn
Em xin chân thành cảm ơn sự dạy dỗ tận tình và chu đáo của quý thầy cô giáo khoa Luật, Đại Học Huế trong suốt thời gian vừa qua đã truyền đạt cho em những kiến thức bổ ích
Em xin đợc gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo, thạc sĩ Hồ Thị Vân Anh đã giúp
đỡ, hớng dẫn tận tình và đầy trách nhiệm cho em trong suốt quá trình hoàn thành bài niên luận này
Mặc dù đã cố gắng nhng bài niên luận cũng không thể tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy em kính mong quý thầy giáo, cô giáo đóng góp ý kiến để bài nghiên cứu của em hoàn thiện hơn
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn !
Huế, tháng 02 năm 2014 Sinh viên
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua nền kinh tế của nước ta có sự phát triển rõ rệt , điều này
đã tạo ra công ăn việc làm cho nhiều người lao động, bảo đảm được an sinh xã hội
Để có được điều đó là nhờ đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước
ta trong đó trọng tâm là ổn định chính trị, phát triển kinh tế
Song hành với nhu cầu phát triển hội nhập đó pháp luật nước ta cũng không ngừng sửa đổi, bổ sung nhằm phù hợp với nền kinh tế thị trường để đáp ứng và tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển Rất nhiều văn bản pháp luật đã được ban hành tạo nên một hành lang pháp lý thông thoáng và đơn giản hóa thủ tục hành chính, trong đó Bộ luật Dân sự 2005 ra đời thay thế cho Bộ luật Dân sự 1995 là một bước tiến mới nhằm hoàn thiện pháp luật dân sự đặc biệt là các giao lưu dân sự phổ biến diễn ra hàng ngày của con người
Trong cuộc sống ngày nay, Hợp đồng Dân sự là giao kết được thực hiện với một số lượng rất lớn, thông dụng và phổ biến Chúng ta không thể phủ nhận vai tròđặc biệt quan trọng của hợp đồng trong đời sống hiện đại Không phải ngẫu nhiên
mà trong hệ thống pháp luật của bất kỳ quốc gia nào, chế định hợp đồng luôn đượccoi là một chế định pháp lý quan trọng vào bậc nhất Bởi hợp đồng tạo ra những tiền đề pháp lý cho sự vận động linh hoạt và an toàn của các giá trị vật chất trong
xã hội Hơn thế nữa, trong thực tiễn giao lưu dân sự, nhu cầu về giao kết hợp đồng dân sự cũng đã và đang trở thành vấn đề cấp thiết, phong phú về nội dung, đa dạng
về cả đối tượng Điều 388 Bộ luật Dân sự 2005 đã quy định : “ Hợp đồng dân sự là
sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi và chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự ” Như vậy, cơ sở đầu tiên để hình thành một hợp đồng dân sự là việc thỏa thuận bằng ý chí tự nguyện của các bên
Tuy nhiên hợp đồng chỉ được pháp luật công nhận và bảo vệ khi ý chí các bên, hình thức và nội dung của hợp đồng phù hợp với quy định của nhà nước và pháp luật Hàng ngày có vô số các hợp đồng dân sự được thoả thuận ký kết, từ những hợp đồng sinh hoạt đơn giản thường thấy như : mua bán hàng hóa,vay mượn tài sản…đến những hợp đồng phức tạp khác như : hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở…Vậy vấn đề đặt ra ở đây là hình thức của các hợp đồng
Trang 3trên chúng tồn tại ở dạng như thế nào, và chủ thể tham gia những hợp đồng đó có thể sử dụng chúng ra sao cho phù hợp với hoàn cảnh, mức độ quan trọng của việc giao kết ? Đó mới là vấn đề cần phải giải đáp.
Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005 thì các bên tham gia hợp đồng có thể lựa chọn những hình thức khác nhau để tiến hành giao kết hợp đồng (trừ trường hợp pháp luật có quy định về hình thức thì phải tuân theo quy định của pháp luật)
Từ những điều trên cùng với mục đích đi sâu tìm hiểu về các quy định của pháp
luật về hình thức của hợp đồng dân sự, chúng tôi xin lựa chọn đề tài: “ Hình thức của hợp đồng theo qui định của pháp luật Dân sự Việt Nam – Lý luận và thực tiễn áp dụng ”
2 Mục đích nghiên cứu.
- Phân tích các quy định của pháp luật về hợp đồng và hình thức của hợp đồng
theo pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành
- Thực tiễn áp dụng các quy định về hình thức của hợp đồng trong giao lưu
dân sự
- Đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc áp dụng hình thức
của hợp đồng trong thực tiễn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
- Đối tượng: Nghiên cứu về hợp đồng và hình thức của hợp đồng theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam
- Phạm vi: Nghiên cứu lý luận và thực tiễn áp dụng của hợp đồng và hình thứccủa hợp đồng
4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài.
Việc nghiên cứu, đánh giá các vấn đề trong bài niên luận dựa trên cơ sở phươngpháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật Ngoài ra còn kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, tổng hợp, so sánh, điều tra, khảo sát …kết hợp giữa lý luận với thực tiễn
5 Kết cấu niên luận.
Trang 4Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của niên luận còn bao gồm hai chương :
Chương 1: Những quy định về hợp đồng và hình thức của hợp đồng theo pháp luật dân sự Việt Nam
Chương 2: Thực tiễn việc áp dụng pháp luật về hình thức của hợp đồng trong các giao dịch dân sự ở nước ta và những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng
Trang 5NỘI DUNG CHƯƠNG 1NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG VÀ HÌNH THỨC CỦA HỢP ĐỒNG
THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM.
Để hiểu rõ hơn về hình thức của các loại hợp đồng trước tiên chúng ta cần nghiên cứu sâu sắc về khái niệm và đặc điểm của Hợp đồng Dân sự
1.1 Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng dân sự.
1.1.1 Khái niệm hợp đồng dân sự.
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, ngay sau vai trò là đạo luật cơ bản, đạo luậtgốc của Hiến Pháp Bộ luật Dân sự giữ vị trí quan trọng đặc biệt : là cơ sở pháp lý cho việc điều chỉnh các mối quan hệ dân sự đa dạng, phức tạp giữa các chủ thể có địa vị pháp lý bình đẳng Thông qua việc quy định địa vị pháp lý và các chuẩn mựctrong quan hệ dân sự của các chủ thể, Bộ luật Dân sự góp phần bảo vệ sự an toàn pháp lý trong các quan hệ dân sự đồng thời góp phần thúc đẩy sự phát triển đời sống kinh tế - xã hội của đất nước một cách bền vững
Xã hội ngày càng phát triển, sự phân công lao động ngày càng thể hiện rõ rệt, theo đó mỗi người, mỗi tổ chức chỉ có thể đảm trách một mảng công việc nhỏ trong giới hạn cho phép Trong khi đó nhu cầu của con người về vật chất và tinh thần ngày càng tăng và để thỏa mãn những nhu cầu đó cũng như để tồn tại và phát triển mỗi cá nhân cũng như mỗi tổ chức phải tham gia nhiều mối quan hệ khác nhau, trong đó việc các bên thiết lập với nhau những quan hệ để qua đó chuyển giao cho nhau những lợi ích vật chất và tinh thần nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng đóng một vai trò quan trọng và là một tất yếu đối với đời sống xã hội Tuy nhiên việc chuyển giao các lợi ích vật chất đó không thể tự nhiên mà hình thành bởi tài sản chúng không thể tự tìm đến với nhau để thiết lập các quan hệ Cũng như tự bản thân mỗi con người, mỗi tổ chức không thể đáp ứng được những nhu cầu phong phú, đa dạng của mình mà các quan hệ tài sản chỉ được hình thành
Trang 6từ những hành vi có ý chí của các chủ thể và tất yếu các chủ thể đó phải tham gia vào rất nhiều các quan hệ xã hội Quan hệ xã hội đó gọi là quan hệ hợp đồng , nếu như chỉ có một bên thể hiện ý chí của mình mà không được bên kia chấp nhận thì cũng không thể hình thành một mối quan hệ để qua đó thực hiện việc chuyển giao tài sản hoặc làm một công việc đối với nhau được Do đó chỉ khi nào có sự thể hiện
và thống nhất ý chí giữa các bên thì quan hệ trao đổi lợi ích vật chất mới được hìnhthành
Như vậy hợp đồng dân sự là một giao dịch dân sự mà trong đó các bên tự ý trao đổi ý chí với nhau nhằm đi đến sự thỏa thuận cùng nhau làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ nhất định Dưới góc độ pháp lý thì hợp đồng dân sự chính là một giao lưu dân sự mà trong đó các bên tự trao đổi ý chí với nhau nhằm đi đến sự thỏa thuận cùng nhau làm xác lập, thay đổi chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự (theo Điều 388 Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005)
Khái niệm hợp đồng trong Bộ luật Dân sự 2005 giữ nguyên khái niệm hợp đồng dân sự tại Điều 394 của Bộ luật Dân sự 1995 Khái niệm này đưa ra những đặc điểm cơ bản của hợp đồng như bản chất pháp lý của hợp đồng, mục đích của
sự thỏa thuận và chủ thể của hợp đồng
Cũng theo như kết quả tra cứu trong cuốn Từ điển luật học thì : “ Hợp đồng được coi là sự thỏa thuận giữa các bên có tư cách pháp nhân hoặc những người có đầy đủ năng lực hành vi nhằm xác lập, thay đổi, phát triển hay chấm dứt quyền lợi
và nghĩa vụ của mỗi bên
Có nhiều loại hợp đồng như hợp đồng mua bán, hợp đồng vận chuyển , hợp đồng vay mượn tài sản; hợp đồng vay tiền; hợp đồng dịch vụ; hợp đồng bảo hiểm; hợp đồng gia công; hợp đồng chuyển giao công nghệ …
Hợp đồng được thể hiện bằng văn bản, hợp đồng miệng… nếu hợp đồng được thực hiện với các đối tác nước ngoài thì phải lập văn bản bằng tiếng mẹ đẻ của các bên tham gia hợp đồng hoặc là lập bằng ngôn ngữ thông dụng trên thế giới.”
Theo đó bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận của ít nhất hai bên tham gia giao kết hợp đồng Ví dụ trong hợp đồng mua bán tài sản thì đó là sự thỏa thuận giữa bên mua tài sản và bên bán tài sản còn trong hợp đồng thuê nhà thì đó là sự thỏa thuận giữa bên bên cho thuê nhà và bên thuê nhà
Trang 7Như vậy, hợp đồng dân sự đương nhiên là giao dịch dân sự nhưng một giao dịch dân sự thì chưa chắc nó đã là hợp đồng Bởi vì một hành vi pháp lý đơn
phương cũng có thể là một giao dịch dân sự Cũng tương tự như vậy, mọi hợp đồng là sự thỏa thuận nhưng không phải sự thỏa thuận nào cũng là hợp đồng Chỉ những thỏa thuận được xác lập, thực hiện trên cơ sở có sự ưng thuận đích thực, thống nhất, phù hợp với ý chí của các bên mới là hợp đồng Khác với hành vi pháp
lý đơn phương là sự tuyên bố ý chí công khai của một phía chủ thể, hợp đồng đượcxác lập dựa trên sự thỏa thuận và thống nhất ý chí giữa các chủ thể không cùng một phía Cho nên hợp đồng được hình thành do giả tạo, do có một bên chủ thể bị lừa dối đe dọa cưỡng ép, nhầm lẫn mặc dù có sự ưng thuận cũng không được công nhận là hợp pháp bởi vì chủ thể không thể hiện ý chí đích thực của mình
Pháp luật của các quốc gia trên thế giới đều khẳng định thỏa thuận là yếu tố cốt lõi của hợp đồng Theo điều 1101 Bộ luật Dân sự Pháp 1804 : “ Hợp đồng là sự thỏa thuận theo đó một hay nhiều người cam kết với một hoặc nhiều người khác chuyển giao một vật, làm hoặc không làm một việc nào đó” Bộ luật Dân sự Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa quy định : “ Hợp đồng trong luật này là sự thỏa thuận
về việc xác lập, thay đổi và chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các chủ thể bình đẳng tự nhiên nhân, pháp nhân và các tổ chức khác” Còn theo pháp luật Hoa
Kỳ hợp đồng được hiểu là sự thỏa thuận có hiệu lực bắt buộc thi hành
Xét về mặt chủ thể của hợp đồng dân sự , chủ thể giao kết hợp đồng dân sự phải có ít nhất từ hai bên trở lên vì giao dịch dân sự là một giao dịch pháp lý song phương hoặc đa phương Khi các chủ thể muốn xác lập một hợp đồng dân sự thì phải có đầy đủ tư cách chủ thể, tức là phải đáp ứng được các yêu cầu của pháp luật đối với một chủ thể tham gia quan hệ pháp luật dân sự.( Nếu là cá nhân phải có đầy
đủ năng lực hành vi dân sự, năng lực pháp luật dân sự Còn nếu là pháp nhân thì phải được thành lập một cách hợp pháp; có tài sản riêng; tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập; tự chịu trách nhiệm bằng tài sản riêng của mình và có thể là nguyên đơn, bị đơn trước tòa)
Mục đích hướng tới của các bên khi tham gia hợp đồng là để xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự Có thể nhận thấy Bộ luật Dân sự 2005 không quy định rõ ràng mục đích của hợp đồng dân sự mà chỉ quy định mục đích của sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ Quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng có phạm vi rất rộng , trong Pháp lệnh hợp đồng Dân sự ngày
Trang 829/4/1991 có quy định hợp đồng là sự thỏa thuận của các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc mua bán, thuê, vay mượn, tặng cho tài sản làm hoặc không làm một công việc, dịch vụ hay các thỏa thuận khác mà trong đó có một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và tiêu dùng.
Còn theo quy định của pháp luật hiện hành thì không liệt kê cụ thể các quyền
và nghĩa vụ dân sự tuy nhiên về bản chất thì các quyền và nghĩa vụ mà các bên hướng tới khi giao kết thực hiện hợp đồng là những quyền và nghĩa vụ để đáp ứng nhu cầu trong sinh hoạt, tiêu dùng Đó cũng chính là một trong những đặc điểm cơ bản để phân biệt giữa hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự Sở dĩ Bộ luật Dân sự
2005 quy định như vậy là để phù hợp với quan hệ hợp đồng dân sự trong nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Tức là không chỉ dừng lại ở việc đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng mà còn là phương tiện quan trọng phục vụ cho sản xuất, kinh doanh
Hợp đồng dân sự là một bộ phận các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hànhnhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình dịch chuyển các lợi ích vật chất giữa các chủ thể này với chủ thể khác Khi các bên đã giao kết hợp đồng, một trong các bên không thực hiện, hoặc thực hiện không đúng không đầy
đủ các điều khoản hợp đồng thì họ phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bên bị thiệt hại do bên có hành vi trái pháp luật gây ra Trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng là sự cưỡng chế của nhà nước buộc bên vi phạm hợp đồng phải thực hiện đúng hợp đồng hoặc bồi thường thiệt hại do hành vi không chấp hành, hoặc chấp hành không đúng, không đầy đủ hợp đồng mà gây thiệt hại cho bên kia.Trên cơ sở đưa ra nhận định về hợp đồng dân sự trên ta rút ra được những đặc điểm của hợp đồng dân sự như sau
Trang 9trong đó yếu tố tự nguyện, tự đinh đoạt và thống nhất về mặt ý chí Đây là yếu tố quan trọng nhất tạo nên sự đặc trưng của hợp đồng so với các giao dịch dân sự khác Hơn nữa đây cũng là yếu tố làm nên nét bản chất của Luật Dân Sự so với cácngành luật khác trong hệ thống các ngành luật của Việt Nam.
Sự thỏa thuận giữa các bên mới là điều kiện cần chứ chưa đủ để hình thành hợp đồng dân sự Để được pháp luật thừa nhận sự thỏa thuận làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên thì việc giao kết hợp đồng dân sự phải tuân theo nguyên tắc
tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái với đạo đức xã hội, tự nguyện bìnhđẳng, thiện chí, hợp tác trung thực và ngay thẳng
Bản chất của các thỏa thuận để phát sinh một hợp đồng dân sự là các bên tham gia thỏa thuận thường mong muốn đạt được một lợi ích nhất định Chính vì thế, một số thỏa thuận tuy làm phát sinh một số quyền và nghĩa vụ dân sự nhưng khôngđược coi là hợp đồng dân sự và một thỏa thuận không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự thì đương nhiên không phải là một hợp đồng dân sự
Khi ký kết hoặc thực hiện một hợp đồng thì một trong những yêu cầu quan trọng hàng đầu là phải xác định được bản chất pháp lý của hợp đồng Đây là vấn đề
có ý nghĩa cả về lý luận lẫn thực tiễn Trước khi Bộ luật Dân sự 1995 ra đời Pháp lệnh hợp đồng dân sự 1991 quy định “ Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc mua bán thuê, vay, mượn, tặng, cho tài sản làm hoặc không làm một việc dịch vụ hoặc thỏa thuận khác mà trong đó một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng ” (Điều 1 Pháp lệnh hợp đồng dân sự 1991) Như vậy, theo như Pháp lệnh hợp đồng dân sự 1995 quy định thì phạm vi hợp đồng dân sự bị giới hạn chỉ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng Do điều kiện phát triển của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vai trò của hợp đồng dân sự không chỉ dừng lại ở việc đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng mà còn là phương tiện pháp lý để phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh
Nghiên cứu đến Bộ luật Dân sự 2005 chúng ta có thể nhận thấy phạm vi điều chỉnh đã được mở rộng Bất cứ thỏa thuận nào giữa các chủ thể theo nguyên tắc tự
do, tự nguyện, bình đẳng cùng có lợi và làm phát sinh, thay đổi chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự đều được coi là hợp đồng dân sự và được điều chỉnh theo quy định chung về hợp đồng dân sự của Bộ luật Dân sự
Trang 101.2 Các hình thức của hợp đồng
Những điều khoản mà các bên đã cam kết thoả thuận phải được thể hiện ra bên ngoài bằng một hình thức nhất định Hay nói cách khác, hình thức của hợp đồng là phương tiện để ghi nhận nội dung mà các chủ thể đã xác định Tùy thuộc vào nội dung, tính chất của từng hợp đồng cũng như tùy thuộc vào độ tin tưởng lẫn nhau
mà các bên có thể lựa chọn một hình thức nhất định trong việc giao kết hợp đồng cho phù hợp với từng trường hợp cụ thể
Tại Điều 401, Bộ luật Dân sự đã quy định:
“1 Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằnghành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định đối với loại hợp đồng đó phải đượcgiao kết bằng một hình thức nhất định
2 Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằngvăn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng kí hoặc phải xin phép thì phảituân theo các quy định đó
Hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác.”
Tại khoản 1, điều 124 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “ Giao dịch dân sự đượcthể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể Giao dịch dân sựthông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giaodịch bằng văn bản.”
So với bộ luật Dân sự 1995 thì bộ luật Dân sự 2005 thừa nhận thêm một hìnhthức mới đó là hình thức thông điệp dữ liệu của hợp đồng
Mục đích của các quy định về hình thức hợp đồng là nhằm tạo điều kiện chocác bên tham gia giao kết hợp đồng dân sự được quyền tự do lựa chọn hình thứchợp đồng phù hợp với mục đích của giao dịch dân sự, hạn chế tranh chấp Mặc dùđối với một số loại hợp đồng dân sự pháp luật quy định phải đăng kí Ví dụ nhưhợp đồng mua bán nhà, hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất nhưng mục đích củaviệc công chứng, chứng thực này không chỉ để nhằm đảm bảo sự kiểm soát củanhà nước đối với một số loại tài sản nhất định, ổn định trật tự xã hội mà còn là cơ
sở để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao kết hợp đồngdân sự
Bộ luật Dân sự 1995 trước đây cũng như Bộ luật Dân sự 2005 hiện hành quyđịnh hình thức của hợp đồng dân sự rất phong phú, đa dạng: có thể bằng lời nói,bằng văn bản, hoặc bằng văn bản có công chứng, chứng thực của cơ quan nhànước có thẩm quyền Quy định này của pháp luật dân sự là sự kết hợp hài hòa giữaphong tục tập quán và nguyên tắc pháp lý hiện đại khi tham gia giao kết hợp đồng
Trang 11Như vậy, hình thức của hợp đồng dân sự tương đối đa dạng tạo điều kiện chocác chủ thể kí kết thuận tiện Đối với những hợp đồng dân sự mà pháp luật đã quyđịnh buộc phải giao kết theo một hình thức nhất định thì các bên phải tuân theohình thức đó Ngoài ra, đối với những hợp đồng khác, các bên có thể chọn mộttrong những hình thức sau để giao kết: Hình thức bằng lời nói, hình thức văn bản,hình thức thông điệp dữ liệu, hình thức hợp đồng bằng hành vi cụ thể…
1.2.1 Hình thức miệng (bằng lời nói)
Đây là hình thức cơ bản nhất, đơn giản nhất cuả hợp đồng.Thông qua hìnhthức này, các bên giao kết hợp đồng chỉ cần thoả thuận miệng với nhau về nộidung cơ bản của hợp đồng hoặc mặc nhiên thực hiện những hành vi nhất định đốivới nhau Giao dịch dân sự thể hiện dưới hình thức lời nói là giao dịch mà phápluật không bắt buộc chủ thể phải tuân theo một hình thức khác Hình thức nàyđược coi là hình thức có độ xác thực thấp nhất bởi khi có tranh chấp xảy ra đối vớihợp đồng được giao kết, được thỏa thuận bằng miệng thì bất cứ bên nào cũng cóthể phủ nhận tất cả những cam kết trước đây của mình chỉ cần điều đó có lợi cho
họ cả về lợi ích vật chất lẫn lợi ích tinh thần Chính vì thế trong những giao dịchquan trong rất ít trường hợp sử dụng hình thức này để giao kết
Mặc dù vậy nhưng đối với các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Namnói riêng thì hình thức miệng vẫn được coi là hình thức có lịch sử lâu đời nhất vàcũng là hình thức được áp dụng phổ biến nhất trong các giao dịch dân sự.Trướcđây điều này được lí giải là do số lượng người biết đọc, biết viết là không nhiềunhưng ngày nay khi mà xã hội ngày càng phát triển thì số lượng người không biếtđọc, không biết viết lại rất ít thế nhưng hình thức này vẫn còn giữ nguyên được vaitrò to lớn của mình bởi những lí do rất cơ bản sau
- Thứ nhất, hình thức miệng luôn là lựa chọn đầu tiên và tối ưu nhất chonhững hợp đồng có giá trị nhỏ
Với những giao dịch có giá trị nhỏ như mua một chiếc bút chì, cái thước kẻhoặc giả như thường ngày chúng ta đi chợ mua mớ rau, con cá….thì các bên thựchiện giao dịch không còn cách nào khác là áp dụng hình thức miệng Nếu áp dụngnhững hình thức khác chẳng những mất thời gian, chi phí lớn làm cho hợp đồng trởnên vô nghĩa mà còn gây nên những rắc rối phiền toái không đáng có cho cả haibên
- Thứ hai, hình thức miệng là lựa chọn cho những giao dịch mà chủ thể thamgia giao kết hợp đồng đã có độ tin cậy lẫn nhau
Độ tin cậy giữa các chủ thể thường được xác lập thông qua quan hệ ruột thịt,quan hệ ban bè, quan hệ hàng xóm… với nhau Sự tin tưởng nhau ở trong trườnghợp này chính là nhân tố góp phần bổ sung thêm sự xác thực cho hợp đồng miệng
Trang 12Ví dụ như A và B là bạn thân và A hỏi vay tiền của B, trường hợp này thườngthì hình thức hỏi vay bằng miệng sẽ được sử dụng nhiều nhất.
- Thứ ba, hình thức miệng thường được áp dụng đối với những hợp đồng mà
có thể được thực hiện và kết thúc ngay sau khi giao kết
Đa số các hợp đồng bán lẻ đều được thực hiện dưới hình thức miệng, saukhi thỏa thuận xong về giá cả, chất lượng, số lượng thì các bên tiến hành giao dịch
và ngay sau khi bên bán giao đủ số hàng và bên mua giao đủ số tiền thì giao dịchcoi như chấm dứt
1.2.2 Hình thức bằng hành vi cụ thể
Hình thức này cũng khá phổ biến trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt khi côngnghệ ngày càng phát triển với sự tự động hóa được áp dụng ở nhiều nơi nhất là ởcác thành phố, thị xã như bán hàng qua máy tự động, rút tiền ở các máy do cácngân hàng đặt ở những vị trí khác nhau…
Đối với hành vi này thì chỉ cần các bên thực hiện một hoặc một vài hành vi lànghĩa vụ của hợp đồng thì coi như hợp đồng đã được coi là hoàn thành việc giaokết.Ví dụ như người tiêu dùng mua nước tại các máy bán hàng tự động, hợp đồngđược coi là kí kết khi người tiêu dùng bỏ tiền vào máy và thực hiện động tác mởchai nước
Một phương thức khác cũng được coi là đã thưc hiện hợp đồng bằng hành vi cụthể đó chính là việc khách hàng tiến hành thanh toán tiền khi mua hàng bằng cách
sử dụng thẻ ngân hàng Bằng cách này, ngay khi mà nhân viên tại quầy tính tiềnquét thẻ qua máy và số tiền trong thẻ của khách hàng bị trừ đi đúng bằng số tiềncủa sản phẩm mà họ mua cũng chính là lúc hợp đồng mua bán giữa khách hàng vàdoanh nghiệp hay cửa hàng được chính thức được ký kết
Ngoài ra còn rất nhiều hợp đồng được ký kết bằng hành vi khác như là rút tiềnqua máy ATM, chuyển khoản…
1.2.3 Hình thức viết (bằng văn bản)
Nhằm nâng cao độ xác thực về những nội dung đã cam kết, các bên có thể ghinhận nội dung giao kết hợp đồng bằng một văn bản Hình thức văn bản có thể dopháp luật quy định ( hợp đồng thuê nhà, hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất…)hoặc do các bên tự thỏa thuận ( hợp đồng vay giữa các cá nhân) Trong văn bản đó,các bên phải ghi đầy đủ những nội dung cơ bản của hợp đồng và cùng kí tên xácnhận vào văn bản Khi có tranh chấp, hợp đồng được giao kết bằng hình thức vănbản tạo ra chứng cứ pháp lí chắc chắn hơn so với hình thức miệng Căn cứ vào vănbản của hợp đồng, các bên dễ dàng thực hiện quyền yêu cầu của mình đối với bênkia Vì vậy, đối với những hợp đồng mà việc thực hiện không cùng lúc với việcgiao kết, giữa các bên chưa đạt được độ tin cậy cao hoặc hợp đồng có giá trị lớn thì
Trang 13các bên thường chọn hình thức này Thông thường, hợp đồng được lập thành nhiềubản và mỗi bên giữ một bản, coi như đã có trong tay một bằng chứng, chứng minhquyền dân sự của mình.
Hình thức văn bản có hai loại sau Hợp đồng được giao kết bằng văn bản chỉ cóchữ ký của các bên và hợp đồng được giao kết bằng văn bản có công chứng, chứngthực
- Hình thức bằng văn bản chỉ có chữ ký của các đương sự
Trong các văn bản đó các bên phải ghi đầy đủ nội dung chủ yếu của hợp đồng
và cùng kí tên xác nhận vào văn bản Khi có tranh chấp hợp đồng được giao kếtbằng văn bản là chứng cứ pháp lý chắc chắn hơn so với hợp đồng được giao kếtbằng lời nói Căn cứ vào hợp đồng giao kết bằng văn bản các bên dễ dàng nhận raquyền và nghĩa vụ của mình trong trong hợp đồng.Vì vậy đối với những hợp đồng
mà việc giao kết và thực hiện hợp đồng không được thực hiện cùng một lúc hoặcđối tượng của hợp đồng là tài sản, công việc phải thực hiện hoặc không được thựchiện tương đối phức tạp, phải thỏa thuận nhiều điều khoản thì các bên thường sửdụng hình thức này.Thông thường hợp đồng thường được lập thành nhiều bản, mỗibên giữ một bản để làm chứng cứ về quyền và nghĩa vụ dân sự của mình
- Hình thức bằng văn bản có công chứng, chứng thực :
Đối với những hợp đồng có tính chất phức tạp, dễ xảy ra tranh chấp và đốitượng của nó là những tài sản mà Nhà nước cần phải quản lí, kiểm soát khi chúngđược dịch chuyển từ chủ thể này sang chủ thể khác thì các bên phải lập thànhvăn bản có công chứng, chứng thực Hợp đồng được lập ra theo hình thức này có giátrị chứng cứ cao nhất Vì vậy, đối với những hợp đồng mà pháp luật không yêu cầuphải lập theo hình thức này nhưng để quyền lợi của mình được bảo đảm, các bênvẫn có thể chọn hình thức này để giao kết hợp đồng
Đối với hình thức này các bên phải ghi những nội dung cần thiết, chủ yếu Ký
tên vào bản hợp đồng và thực hiện thủ tục chứng nhận hợp đồng tại cơ quan công chứng hoặc chứng thực hợp đồng tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quyđịnh của pháp luật đối với từng loại hợp đồng cụ thể Đối với những loại hợp đồng
mà pháp luật quy định bắt buộc phải đăng kí tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì các bên phải hoàn tất những thủ tục này một cách đầy đủ.Ví dụ như hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ( Điều 701 Bộ luật dân sự 2005), hợp đồng tặngcho tài sản là bất động sản ( Điều 467 Bộ luật dân sự 2005)…
Xét cho cùng thì bất kì một hình thức giao kết hợp đồng nào cũng sẽ có mặt ưuđiểm và mặt nhược điểm của nó Đối với hình thức hợp đồng bằng văn bản thì chủthể giao kết sẽ có thể an tâm hơn vì giao dịch dân sự của mình được bảo đảm, độ
an toàn về mặt pháp lý cao, được pháp luật bảo hộ tuyệt đối khi có tranh chấp, hơnnữa thủ tục để tiến hành giao kết tương đối nhanh gọn Tuy nhiên nhược điểm củahình thức giao kết này chính là tốn kếm về mặt chi phí đi lại, trong trường hợp đối
Trang 14tác ở xa nhau Không chỉ vậy nó còn tạo nên áp lực về mặt thời gian cho chủ thểkhi tiến hành giao kết.
1.2.4 Hình thức bằng thông điệp dữ liệu
Ngày nay cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, việc giao kết hợp đồng dưới hình thức văn bản giấy không còn là sự lựa chọn thích hợp, tối ưu khi các bên cách xa nhau về khoảng cách địa lý Thông qua hình thức hợp đồng bằng thông điệp dữ liệu chủ thể ở quốc gia này có thể tiến hành giao kết hợp đồng với một chủ thể ở các quốc gia khác mà không phải đi đến tận nơi để trực tiếp gặp mặt thương thảo với nhau Sự phát triển mạnh mẽ của giao dịch điện tử kéo theo sự ra đời một hình thức hợp đồng mới đó chính là hợp đồng điện tử
Cũng cần phải lưu ý rằng, đối với hợp đồng dân sự được ký kết thông qua phương tiện điện tử được thể hiện dưới dạng một thông điệp dữ liệu hoàn chỉnh theo quy định của Luật Giao Dịch Điện Tử Có thể truy cập và sử dụng khi cần thiết, có giá trị như hợp đồng bằng văn bản và có giá trị là bản gốc.(Theo Điều 12, Điều 13 và từ Điều 33 đến Điều 38 Luật giao dịch điện tử 2005) Không chỉ vậy tạikhoản 1 Điều 124 Bộ luật dân sự 2005 pháp luật Việt Nam cũng đã thừa nhận rằng
“ giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản.”
Xét về bản chất, hợp đồng điện tử cũng là sự thỏa thuận của các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các chủ thể như các loại hình thức hợp đồng khác mà chúng ta vẫn thường hay sử dụng Chúng chỉ khác một điều đó là chúng được xác lập thông qua các phương tiện điện tử dưới dạng thông điệp dữ liệu Một hợp đồng điện tử được xác lập dưới nhiều dạng khác nhau
từ các phương tiện điện tử hiện đại như : trao đổi dữ liệu điện tử, đăng ký trực tuyến, email tới các phương tiện thông tin liên lạc đã tồn tại từ lâu như điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác
Cũng tương tự như các hình thức giao kết hợp đồng bằng văn bản, giao kết hợp đồng bằng miệng hình thức giao kết bằng thông điệp dữ liệu cũng có những ưu điểm sau: khi sử dụng hình thức này để giao kết chủ thể sẽ ít phải chịu áp lực về mặt thời gian, lại không tốn kém về chi phí đi lại nếu như đối tác ở xa nhau về khoảng cách địa lý.Tuy nhiên nhược điểm lớn nhất của hình thức này chính là
Trang 15trong một số trường hợp độ an toàn pháp lý không cao, hay nói cách khác các bên giao kết có thể sử dụng các thủ thuật để phủ nhận lại những gì mình đã giao kết, khiến cho hợp đồng không đạt được mục đích như ý muốn của các chủ thể đã đề ra.
CHƯƠNG 2THỰC TIỄN VIỆC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ HÌNH THỨC CỦA HỢP ĐỒNG TRONG CÁC GIAO DỊCH DÂN SỰ Ở NƯỚC TA VÀ NHỮNG GIẢI
PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG.
2.1 Thực tiễn áp dụng pháp luật về hình thức của hợp đồng trong các giao dịch dân sự ở nước ta
2.1.1 Tình hình thực hiện
Hợp đồng là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các bên.Trong quá trình đàm phán, thương thảo để ký kết hợpđồng các bên đều có ý chí riêng của mình và khi ý chí đó có sự trùng lặp thì các chủ thể sẽ đi đến sự thỏa thuận và hợp đồng được ký kết Ý chí của các bên được thể hiện bằng hình thức nào thì còn phụ thuộc vào mong muốn cũng như nguyện vọng của các chủ thể, hình thức hợp đồng có thể bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể…
Tuy nhiên trên thực tế khi giao kết hợp đồng thì hình thức hợp đồng phần nào đó
bị tác động bởi yếu tố đặc điểm của giao kết và cũng không có một chuẩn mực nào cho sự lựa chọn giữa các hình thức hợp đồng để giao kết.Trên thực tế chúng ta hoàn toàn không thể tổng hợp được là hình thức nào là hình thức được sử dụng nhiều nhất trong các hợp đồng dân sự cả, mà điều này còn phải phụ thuộc vào tính chất của các loại giao dịch dân sự nữa Nếu như giao dịch đó đơn giản, ví dụ như chúng ta ra chợ mua mớ rau thì không ai lại đi lập hợp đồng bằng văn bản rồi đưa
đi công chứng, chứng thực Cũng không ai thỏa thuận bằng miệng để mua hay bán một căn nhà, hoặc là chuyển nhượng quyền sử dụng đất bởi vì pháp luật đã có quy định cụ thể loại giao kết phức tạp này bắt buộc phải lập thành hợp đồng văn bản và
có công chứng, chứng thực rõ ràng Nếu không thực hiện đúng như quy định thì hợp đồng đó coi như vô hiệu, không được pháp luật công nhận và không có hiệu
Trang 16lực Như vậy, tùy vào mức độ và tính chất của từng loại giao kết mà các bên lựa chọn hình thức cho phù hợp.
Trong cuộc sống hằng ngày, đa phần những trường hợp quen biết nhau khi giao kết thỏa thuận một hợp đồng nào đó hầu như các bên chỉ tiến hành giao kết bằng miệng và khi một bên không làm theo đúng như giao kết thì rõ ràng pháp luật không thể nào can thiệp để bảo vệ quyền lợi cho bên có quyền lợi chính đáng được Dân gian thường gọi những trường hợp đó là “ tình ngay lý gian” và chủ thể nào lâm vào trường hợp đó thì chỉ có thể chấp nhận coi như đó là rủi ro trong cuộc sống Chính vì thế mà trong bất kì một hoàn cảnh nào mỗi chúng ta cũng phải đề cao tính cẩn thận để không xảy ra những trường hợp đáng tiếc cho mình
Trong hình thức của hợp đồng theo quy định của Pháp luật dân sự Việt Nam chúng ta cũng cần phải lưu ý đến một điểm đó chính là: Hình thức hợp đồng bằng thông điệp dữ liệu_một điểm mới trong Bộ luật Dân sự 2005
Hiện nay,việc pháp luật Việt Nam thừa nhận rằng việc giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản kết hợp với việc đất nước ta đang trên đà đổi mới, hội nhập và phát triển cho nên ngày càng xuất hiện nhiều ngành, nghề kinh tế quan trọng Phạm vi buôn bán, kinh doanh không còn giới hạn trong một phạm vi bó hẹp ở địa phương nữa mà khoảng cách về không gian, thời gian ngày càng được rút ngắn lại Phạm vi
đó có thể vươn ra cả đất nước, vươn ra khu vực và vươn xa ra cả thế giới Chính vì vậy mà việc nhiều doanh nghiệp, công ty lựa chọn mở rộng môi trường kinh doanhmới bằng cách tận dụng yếu tố khoa học kỹ thuật tiên tiến, áp dụng triệt để các hình thức giao dịch bằng cơ sở dữ liệu, bằng thông tin điện tử trong hoạt động kinhdoanh của mình một cách thường xuyên không còn là chuyện lạ, thậm chí nó đang dần trở nên quá quen thuộc
Thông qua mạng internet các doanh nghiệp có thể nhanh chóng tìm được bạn hàng ở khắp mọi nơi và tiến hành ký kết hợp đồng để thiết lập mối quan hệ làm ăn
mở rộng thị trường một cách nhanh chóng thuận tiện cho dù có thể họ chưa từng gặp mặt nhau Hình thức kinh doanh theo mô hình mua bán trực tuyến những năm gần đây đang phát triển với tốc độ “phi mã” ở các quốc gia trên thế giới nói chung
và Việt Nam mình nói riêng Nếu chủ thể của giao dịch là một tín đồ của shopping online thì chỉ với một chiếc máy tính nối mạng internet thì họ đã có thể ngồi ở nhà