do yêu cầu đó mà ta sẽ nghiên cứu thiết kế và cải tiến máy xe lõi cói để có thể đưa vào sử dụng cho các làng nghề sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ bằng cói hiện nay.Cây cói hiện na
Trang 1MỞ ĐẦU
Hiện nay các ngành thủ công mỹ nghệ và các ngành nghề truyền thống đang được Nhà nước chú trọng và ưu tiên Không ít làng nghề ở nước ta đã nhờ vào nghề truyền thống mà cha ông để lại để làm giàu trên chính mảnh đất quê hương mình Các ngành nghề truyền thống có thể giải quyết được phần lớn lao động nông nhàn trong nông thôn, làm tăng thu nhập cho nông dân và quảng bá các sản phẩm của quê hương họ Rất nhiều làng nghề hiện nay đã có nhiều bước phát triển từ kế thừa truyền thống kinh nghiệm do cha ông để lại, họ tiếp tục sưu tầm cải tiến mẫu mã phù hợp với thị hiếu khách hàng ngày nay và đổi mới công nghệ Chính nhờ vậy hiện nay không ít làng nghề giàu có và họ tạo ra những sản phẩm không chỉ phục vụ cho nhu cầu thiết yếu hàng ngày mà còn tạo
ra những sản phẩm mỹ nghệ trang trí và những tác phẩm nghệ thuật Đồ thủ công mỹ nghệ trong nước hiện nay không chỉ đáp ứng cho nhu cầu trong nước
mà còn được xuất khẩu đi khắp nơi trên thế giới Bên cạnh những mặt tích cực
đó nhiều làng nghề hiện nay đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn và vấn đề môi trường Chủ yếu các làng nghề sử dụng lao động tay chân là chính, khoa học kỹ thuật được ứng dụng chưa nhiều, chính vì vậy sản phẩm mà họ làm ra giá thành còn cao chưa thể cạnh tranh được với các sản phẩm cùng loại được sản xuất hàng loạt Bên cạnh đó, các đồ phế thải ra các nguồn nước tại đó chưa
có biện pháp triệt để để xử lý phế thải, do đó hầu hết làng nghề hiện nay đang bị
ô nhiễm nặng
Việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất đang là nhu cầu cấp thiết hiện nay Các máy sử dụng trong bảo quản, chế biến thực phẩm rất phù hợp để ứng dụng cho các làng nghề để giải quyết vấn đề khoa học kỹ thuật Các máy bảo quản chế biến ứng dụng cho các làng nghề sẽ giải quyết phần lớn các công việc nặng nhọc của người lao động, làm tăng chất lượng và độ đồng đều cho sản phẩm, tăng năng suất lao động, giảm giá thành của sản phẩm Chính
Trang 2do yêu cầu đó mà ta sẽ nghiên cứu thiết kế và cải tiến máy xe lõi cói để có thể đưa vào sử dụng cho các làng nghề sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ bằng cói hiện nay.
Cây cói hiện nay là một cây được trồng phổ biến ở các vùng ven biển có đất ngập mặn Các sản phẩm từ cây cói như dây cói, túi cói, các đồ thủ công mỹ nghệ từ cói hiện nay rất được ưa chuộng ở cả trong và ngoài nước do có rất nhiều ưu điểm như giá thành rẻ, bền, đẹp Hầu hết các mặt hàng từ cói trước khi được sử dụng đều phải qua giai đoạn được sơ chế và xe lõi cói
Từ những lý do trên đây, được sự phân công của Bộ môn Công nghệ Cơ khí, chúng em gồm: Trần Văn Dương, Đào Xuân Trường, Phan Công Diện,
Nguyễn Văn Hồng – sinh viên lớp CTM khóa 52 tiến hành đề tài “ Nghiên cứu, cải tiến máy xe lõi cói đa năng”.
Mục đích của đề tài là trên cơ sở máy xe lõi cói của Trung Quốc tiến hành nghiên cứu cải tiến và xây dựng quy trình chế tạo một số chi tiết của máy Mục đích của đề tài là khá lớn nên chúng em tiến hành theo nhóm Do yêu cầu mỗi sinh viên có một báo cáo nên nội dung của báo cáo có phần chung và phần riêng
Nội dung của báo cáo ngoài phần mở đầu, kết luận (Phần chung của cả
nhóm) gồm:
Chương 1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu (Do sinh viên Trần Văn
Dương chịu trách nhiệm chính với sự tham gia của cả nhóm).
Chương 2 Cải tiến máy xe cói đa năng
Chương này gồm các mục sau:
2.1 Thiết kế tổng thể máy xe lõi cói đa năng (Do sinh viên Đào Xuân Trường trình bày).
2.2 Nghiên cứu thiết kế một số bộ phận chính của máy xe lõi cói
Trang 32.2.3 Nghiên cứu thiết kế và chế tạo chuyển đổi các ổ trượt thành ổ lăn
(Do sinh viên Đào Xuân Trường trình bày).
2.2.4 Nghiên cứu thiết các loại bánh răng của bộ phận điều khiển chuyển đổi từ xe lõi cói xuôi sang xe lõi cói ngược và ngược lại và bộ phận tiếp liệu
Nội dung cụ thể của mục này là thiết kế bánh răng côn, bánh răng nghiêng (Do sinh viên Phan Công Diện trình bày) và bánh răng trụ (Do sinh viên Nguyễ Văn Hồng trình bày).
Chương 3 Xây dựng quy trình chế tạo một số chi tiết máy xe cói
Chương này gồm các mục sau:
3.1 Một số vấn đề chung về chế tạo máy (Phần chung của sinh viên
Phan Công Diện và Nguyễn Văn Hồng).
3.2 Xây dựng quy trình chế tạo bánh răng côn (Do sinh viên Phan Công
Diện trình bày)
3.3 Xây dựng quy trình chế tạo bánh răng nghiêng (Do sinh viên Phan
Công Diện trình bày)
3.4 Xây dựng quy trình chế tạo bánh răng trụ (Do sinh viên Nguyễn Văn
Hồng trình bày)
3.5 Xây dựng quy trình chế tạo một số chi tiết khác (Do sinh viên
Nguyễn Văn Hồng trình bày)
Trang 4Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 CÂY CÓI, ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN, PHÂN BỐ.
1.1.1 Cây cói
Sử dụng nguyên liệu tự nhiên đang là xu hướng chung trong đời sống tiêu dùng hiện đại Xu hướng đó tác động mạnh mẽ vào ý tưởng kinh doanh của các doanh nghiệp buộc họ phải chú ý tới điều này Đã qua rồi cái thời thị trường thời trang tràn ngập những sản phẩm chất liệu từ da, vải dù hay sợi nylon Ngày nay người tiêu dùng đã có thêm sự lựa chọn mới, một trong số đó là các mặt hàng thủ công mỹ nghệ chất liệu hoàn toàn tự nhiên Cói là một chất liệu đặc trưng của miền nhiệt đới và đã sớm được các nhà doanh nghiệp đưa vào thị trường tiêu thụ dưới dạng các sản phẩm đan lát thủ công như túi cói, làn cói, dép cói, mũ cói,…
Nghề trồng cói và chế biến cói đã từ bao đời nay gắn bó với đời sống người dân và nông thôn Việt Nam Nhiều làng nghề thủ công có tính truyền thống đã tạo ra những sản phẩm mỹ nghệ có tính đặc sắc từ cây cói như những
lá chiếu cải, chiếu đậu màu sắc rực rỡ hay trắng đều, những chiếc làn nhiều kiểu dang, những chiếc hộp, khay, thảm, giầy dép,… kỹ thuật tinh xảo, mẫu mã đẹp nổi tiếng trên thị trường trong nước và thế giới Như thế cây cói đang là cây xóa đói giảm nghèo của nhiều địa phương trên toàn quốc, đóng vai trò quan trọng trong đời sống dân sinh và trong nền công nghiệp nước ta
Không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế, hàng năm ngành cói còn giải quyết một lượng lớn lao động nông nghiệp nhàn rỗi, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em Ngoài việc phát triển sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ từ cói còn có một ý nghĩa
Trang 5hết sức to lớn đó là ý nghĩa về môi trường Hàng năm chúng ta phải chi một khoản kinh phí rất to lớn cho việc xử lý rác thải Ngày nay, để khắc phục dần những vấn đề đó con người đang hướng tới các sản phẩm thủ công truyền thống, trong đó có các sản phẩm từ cói Bởi đây là các sản phẩm thân thiện với môi trường, dễ phân hủy, không phải qua xử lý công nghiệp tốn kém.
Cói là cây thảo sống nhiều năm, bao gồm cả cói trồng và cói mọc dại Cói trồng có hai loại chính: một là cói bông trắng (cryperus tageformis roxb), còn gọi là “búp dòng khoang cổ” (cryperus tojet rouris), thân tương đối tròn, dáng mọc hơi nghiêng, hóa trắng, cao từ 1.5 ÷ 2.0m sợi chắc, trắng và bền, năng suất cao từ 54 ÷ 95 ta/ha, thời gian sinh trưởng từ 100 ÷ 120 ngày, đây là loài có phẩm chất tốt thích hợp cho xuất khẩu; hai là cói bông nâu (cryperus corymbosus roxb), thân to,hơi vàng, hoa nâu, dáng mọc đứng, cứng cây, đẻ yếu, sợi chắc song không trắng, cây cao 1.4 ÷ 1.8 m phẩm chất tốt nhưng không được nhiều người ưa chuộng
1.1.2.Đặc điểm cấu tạo của cây cói
Cây cói gồm hai bộ phận: bộ phận dưới mặt đất (thân ngầm) và bộ phận trên mặt đât (thân khí sinh)
1.1.2.1.Bộ phận dưới đất
Bộ phận dưới đất của cây cói gồm rễ cói , nhánh hút và thân ngầm:
Rễ cói có 3 loại: rễ đâm sâu (hút dinh dưỡng ở tần sâu tới 40 – 50 cm, một số rễ xuống sâu tới 80 – 90cm), rễ ăn ngang (hút dinh dưỡng ở tầng đất mặt) và rễ ăn nổi (hút dinh dưỡng hòa tan trong nước)
Rễ cói mọc xung quanh thân ngầm theo từng đợt ra rễ khác nhau Thường thân ngầm phát triển trước, rễ mọc dài sau Tốc độ vươn dài của rễ lúc đầu nhanh (mỗi ngày dài 1,4 – 2 cm) về sau chậm dần (mỗi ngày chỉ dài ra khoảng 0.2 – 0.7 cm), khi đợt rễ thứ 6 – 7 xuất hiện thì rễ đợt 1 – 2 chết đi
Trang 6Rễ lúc non mầu trắng, khi già chuyển màu nâu hồng, khi chết màu đen
Rễ sống được 3 tháng, rễ con và rễ nhánh thường chết trước rễ cái Cói ngập nước sâu lâu ngày, ở nơi có nồng độ muối cao hoặc đất chua thì bộ rễ phát triển kém
Qua số liệu nghiên cứu cho thấy sự phân bố rễ cói trong tầng đất từ 10 – 100cm thay đổi khác nhau rất nhiều, càng xuống sâu rễ cói càng ít, rễ tập trung nhiều ở lớp đất từ 0 – 10 cm (chiếm 65.2%) sau đó đến lớp đất 10 -20 cm (25,4%) và càng sâu tỉ lệ càng ít
Những mầm ăn dưới mặt đất gọi là nhánh hút, nhánh hút già đi thành thân ngầm Nhánh hút và thân ngầm đều có đốt, mỗi đốt có vẩy (vẩy là hình thức thoái hóa của lá)
Thân ngầm có mắt, có khả năng nảy mầm và tích lũy chất dinh dưỡng cho cây Cói non thì thân ngầm màu trắng hồng, cói già màu trắng vàng Cói sống nhiều năm thì thân ngầm to ra, trông giống như rễ củ Đốt thân ngầm dài hay ngắn phụ thuộc vào mật độ trồng: trồng thưa đốt dài, trồng dày đốt ngắn
1.1.2.2 Bộ phận trên mặt đất
Bộ phận trên mặt đất gồm thân kí sinh và lá :
Thân ký sinh là phần nhánh đâm lên mặt đất, ruột đặc gồm từ 3 – 4 đốt Các đốt dưới chen nhau nằm sát mặt đất, chỉ có hai đốt trên cùng vươn dài lên tận cùng có mang hai lá mác, hoa nở phía giữa hai lá mác Đoạn cuối thân khí sinh phía dưới hai lá mác có một ngấn trắng gọi là khoang cổ Thân khí sinh dưới gốc tròn, phía trên có 3 cạnh (khi cói còn non cạnh sắc khi về già cạnh tròn) Thân khí sinh lúc non mầu xanh thẫm, lúc già màu vàng Chiều cao thân khí sinh là do nhiều yếu tố quyết định đặc biệt là nước và phân bón
Lá cói phát triển từ dưới lên, hình thành cùng với sự hình thành của nóng Thứ tự: lá vẩy hình thành sớm có tác dụng bảo vệ thân ngầm, sau đến lá bẹ bảo
vệ thân ngầm và miền sinh trưởng của thân khí sinh, đồng thời còn làm nhiệm
Trang 7vụ quang hợp, lá mác ra cuối cùng vừa làm nhiệm vụ quang hợp vừa bảo vệ hoa.
Lá vảy và lá bẹ ở dưới nhỏ, những lá ở trên to Tuổi thọ của lá rất khác nhau, lá vẩy sống ngắn ngày nhất rồi đến lá mác, lá bẹ sống lâu nhất Sau khi lá mác chết thì cói xuống bộ, lụi và chết
Lá giữ vai trò quang hợp ngay từ khi chưa có thân khí sinh, do vậy việc bón phân và phân bón tồn dư của vụ trước có tác dụng giúp cho lá mác phát triển tốt, xúc tiến quang hợp sớm, tạo điều kiện cho thân khí sinh phát triển mạnh là yếu tố quan trọng để tăng năng suất cói
1.1.3 Sự sinh trưởng và phát triển của cây cói
Nhiệt độ thích hợp cho cói sinh trưởng từ 22 – 280C, ở nhiệt độ thấp cói chậm phát triển, khi nhiệt độ thấp hơn 120C cói ngừng sinh trưởng, nếu coa hơn
350C ảnh hưởng tới sinh trưởng của cói đặc biệt là vào giai đoạn cuối Ở nhiệt
độ cao cói nhanh xuống bộ (héo dần từ ngọn xuống dưới), độ ẩm thích hợp trên dưới 85% Cói cần nhiều ánh sáng ở thời kỳ đẻ nhánh, sau khi đâm tiêm và lá mác đã xòe, cói là cây chịu mặn và cần có độ mặn thích hợp để đảm bảo chất lượng sản phẩm, cói thường là cây trồng đầu tiên trên vùng đất mặn, trong kế hoạch cải tạo đất mặn cói có thể trồng thích nghi trên nhiều loại đất: đất mặn, đất ngọt, đất chân cao, chân trũng, bãi bồi ven sông, bãi biển Song thích hợp nhất là trồng trên đất thịt phù sa màu mỡ và ven biển hoặc là ven sông nước lợ
độ sâu tầng đất từ 40 – 50 cm trở lên, độ chua pH = 6,0 – 7,0, độ mặn 0,1 – 0,2% và thoát nước tốt
Nước cũng là một nhân tố quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và phát triển của cây cói Trong cây cói nước chiếm từ 80 – 88%, do vậy nước là nhu cầu thiết yếu để cói sinh trưởng và phát triển
Nếu thời kỳ đẻ nhánh cói bị hạn hay úng cói sẽ đẻ kém, ruộng cói bị thưa cây làm năng suất giảm Ở thời kỳ vươn cao cói cần nhiều nước, đặc biệt là sau
Trang 8khi mưa đồng cói vươn lên mạnh Vào mùa hanh khô (tháng 1, 2, 3) đồng cói thường khô thiếu nước, nếu không đáp ứng đủ nhu cầu nước trong thời kỳ này cói xấu hẳn và hầu như ngừng sinh trưởng Nếu gặp ngập úng, nước từ hãm lâu cho cói đen gốc phẩm chất kém Nước mặn hay ngọt quá giới hạn cho phép đều ảnh hưởng đến chất lượng cói.
Nước ngọt làm cho cói mọc nhanh nhưng nước ngọt làm cho cói to cây, xốp ruột, cói đông thường to hơn cói bãi một phần do điều kiện chăm sóc thuận lợi hơn song chủ yếu do nước đã bớt mặn
Thời gian sinh trưởng của cây cói (từ thân khí sinh phát triển đến khi ra hoa, xuống bộ, bị chết) vòng đời chỉ trong vòng 3 – 4 tháng, song tuổi thọ phần thân ngầm lại kéo dài tới vài chục năm Sự sinh trưởng và phát triển của cói tùy theo điều kiện canh tác, tính chất đất và độ phì nhiêu của đất
Đất màu mỡ thì thân ngầm to, dài, thân khí sinh trưởng to và thấp Nếu đất có độ phì cao và dầy thì thân ngầm phát triển đốt ngắn cho thân khí sinh nhỏ
và dài Kỹ thuật canh tác tốt có thể điều khiển cho thân khí sinh đanh, tròn , tăng phẩm chất của cây cói Trồng cói vùng nước lợ cói dài và đanh Nếu bãi trồng cói thiếu nước thì cói khó đâm tiêm nhưng mực nước cao lại đâm tiêm kém Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây cói bao gồm: giai đoạn vươn dài của thân ngầm, giai đoạn đâm tiêm và quy luật đẻ nhánh, giai đoạn vươn cao
1.1.3.1.Giai đoạn vươn dài của thân ngầm
Mỗi thân mầm thường có 4 mầm trong đó mầm 1 và 2 luôn ở trạng thái hoạt động, mầm 3 và 4 ở trạng thái ngủ được lá bẹ và lá vẩy bảo vệ Khi gặp hoàn cảnh bất lợi như ngập nước, nông độ muối cao thì mầm 1 và 2 bị chết còn mầm 3 và 4 thì an toàn, khi gặp điều kiện thuận lợi thì sẽ tiếp tục phát triển Sự vươn dài hay ngắn của thân ngầm là do miền sinh trưởng nằm phía dưới mỗi lóng được bảo vệ bởi lá bẹ hay lá vãy quyết định Lóng càng vươn dài thì thân
Trang 9ngầm càng dài Các yếu tố mật độ, mực nước đều ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của thân ngầm Nếu đất đai mầu mỡ, mật độ thưa, mức nước nông thì thân ngầm dài có khi tới 20cm Ngược lại nếu mật độ dầy, mức nước cao thì thân ngầm khoảng từ 1 – 2cm.
Thân ngầm sinh trưởng và phát triển thích hợp nhất ở độ sâu 3 – 5cm, ở độ sâu 15cm thân ngầm sinh trưởng rất kém, chậm và gầy, có xu hướng dài lên mặt nước Thời gian 4 tháng ở mức nước nông thân ngầm phát triển dài tới 80 – 100cm Ở điều kiện mức nước sâu cũng trong thời gian như vậy thân ngầm chỉ dài khoảng 10 – 15cm Ở vùng có mức nước sâu, sau khi cắt ruộng cói bị ngập nước lâu làm cho các mầm 1 và 2 bị chết, nếu rút cạn nước cói mọc lên toàn cọng bé, đó là do các mầm 3 và 4 phát triển thành Nồng độ muối khác nhau cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của mầm cói Ở nồng độ 1,5 – 2,0% thì mầm
1 và 2 bị chết sau 1 tuần còn mầm 3 và 4 cũng bị chết sau 3 tháng
Trong sản xuất yêu cầu thân ngầm to để tích lũy chất dinh dưỡng nhiều
về sau sẽ cho cói nhiều, dài và dẻo, chất lượng tốt Còn độ vươn dài của lóng cần ngắn sẽ cho nhiều tia mọc lên, thân khí sinh sẽ bé và dài Muốn vậy khi cấy muống cần phải đảm bảo độ sâu hợp lý từ 3 – 4cm, mức nước từ 2 – 3cm, đất
có độ phì cao và khi nhổ muống cói cần bảo vệ mầm 1 và 2
1.1.3.2 Giai đoạn đâm tiêm và quy luật đẻ nhánh
Thời kỳ đam tiêm của cói chiếm một thời gian dài trong quá trình sinh trưởng phát triển Số lượng và chất lượng tiêm cói quyết định năng suất và phẩm chất cói Các biện pháp canh tác có ảnh hưởng đến sự đâm tiêm của cói
Từ mầm 1 ở thân mầm sẽ mọc ra 2 nhánh, 2 nhánh mọc ra từ 1 thân mầm
sẽ tạo ra 2 ngọn, khi các nhánh đó nhô lên khỏi mặt đất các lá mác vẫn chưa xòe
ra được gọi là sự đâm tiêm, cói đâm tiêm liên tục nhưng cũng có đợt cói ra rộ thường từ 23 25 ngày có một đợt đâm tiêm Trong điều kiện thời tiết thuận lợi
Trang 10(cói mùa) cứ 8 – 12 ngày lại có một đợt đâm tiêm Như vậy cói đâm tiêm suốt
12 tháng trong năm Nhưng số lượng tiêm ra nhiều hay ít, tỷ lệ tiêm hữu hiệu cao hay thấp còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố: nhiệt độ thích hợp cho sự đâm tiêm là 22 – 280C, khi nhiệt độ nhỏ hơn 120C tiêm hầu như không phát triển Những lứa tiêm ra vào tháng giêng, tháng hai chiều cao cũng chỉ phát triển tới
60 – 70cm thì lụi (loại này thường dùng làm bổi) và dễ bị nấm vàng Lứa tiêm hữu hiệu thường tập trung vào cuối tháng 3 đầu tháng 4 (cói chiêm) và vào tháng 7, tháng 8 (cói mùa), lứa tiêm tháng 11 và tháng 12 nếu đất đai màu mỡ, chăm sóc tốt sang tháng 2 có thể thu hoạch được Độ pH thích hợp để cói đâm tiêm khỏe là 6,0 – 7,0 độ mặn là 0,15%(Cl-) mức nước càng sâu thì sự đâm tiêm càng bị hạn chế, càng chậm Nếu ruộng cói luôn luôn đủ ẩm thì sự đâm tiêm càng cao, cói phát triển tốt nhất là cói ráo chân hoặc là 4 ngày ráo chân, một ngày mực nước 5cm cói sẽ hoàn thành đâm tiêm sớm, số tiêm nhiều hơn.Cấy muống càng sâu thì ngày đâm tiêm xong càng lâu
Vụ cói chiêm, tiêm hữu hiệu càng cao và rộ vào cuối tháng 3 và tháng 4
là lúc nhiệt độ tăng dần và bắt đầu có mưa xuân nên cần bón phân trước thời kỳ đâm tiêm thì có thể đạt tỷ lệ đâm hữu hiệu cao Đối với vụ mùa, tiêm hữu hiệu cao và ra rộ vào cuối tháng 7 đầu tháng 8, do vậy cần bón phân trước tiết lập thu mới có thể đảm bảo tỷ lệ đâm tiêm hữu hiệu cao
1.1.3.3 Giai đoạn vươn cao
Giai đoạn này bắt đầu là khi lá mác vượt quá 10cm khỏi lá bé Đây là thời kỳ phát huy tác dụng tổng hợp của các yếu tố: phân bón, nước, nhiệt độ và ánh sáng đối với cây cói Trong năm, cói vươn cao mạnh nhất vào hai thời kỳ: thời kỳ đầu vào khoảng trung tuần tháng 4 có mưa, nhiệt độ và độ ẩm tăng dần Thời kỳ thứ hai vào khoảng hạ tuần tháng 8 Trong khoảng thời gian 10 ngày từ
10 – 20/04, cây cói tăng trưởng nhanh vươn tới 40cm sau đó cói vẫn tiếp tục vươn cao nhưng giảm dần, các yếu tố nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm không khí,
Trang 11ánh sáng có ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng vươn dài của cói Trồng quá dày trên m2 vừa cho cói dài, phẩm chất tốt, ít đổ.
1.1.4 Phân bố
1.1.4.1 Tình hình phân bố trong nước
Cây cói là một trong những cây công nghiệp hàng năm có vai trò quan trọng trong nền kinh tế nước ta, đặc biệt là với những người dân vùng ven biển, nởi đất đai thường xuyên bị chua mặn nên việc phát triển những cây công nghiệp khác gặp rất nhiều khó khăn vậy người dân phải trồng cây gì và nuôi con gì để mang lại lợi ích một cách bền vững Cây cói là cây được lựa chon, bởi
vì cói là cây trồng rất thích nghi với vùng đất mặn ven biển và có ý nghĩa kinh
tế rất lơn, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi mà các sản phẩm thủ công truyền thống đang lên ngôi thì việc trồng cói và các sản phẩm từ cói hàng năm mang lại doanh thu khá lớn cho người dân Giờ đây cây cói góp phần không nhỏ vào công cuộc xóa đói giảm nghèo cho người dân và còn làm giàu cho hàng ngàn hộ nông dân
Cói được trồng ở rất nhiều địa phương trong cả nước như: Hải Phòng, Hải Dương, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Thanh Hóa… Đặc biệt hai vùng Kim Sơn (Ninh Bình) và Nga Sơn (Thanh Hóa) Với tổng diện tích cói trong cả nước là 80847ha
1.1.4.2 Tình hình phân bố cói trên thế giới
Trên thế giới cói có nguồn gốc từ vùng Đông Nam Á, nhưng hiện nay vùng phân bố đã được mở rộng phía tây tới IRAC, Ấn Độ, phía Bắc tới nam Trung Quốc Cói cũng đã được du nhập vào Braxin để làm nguyên liệu cho đan lát
Một số khu vực, nước trồng và chế biến cói trên thế giới:
Tây Á: Iran, Irắc.
Trang 12Trung Quốc: Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam, Giang Tô,
Tứ Xuyên, Chiết Giang
Đông Á: Nhật Bản - Honshu, Kyushu, quần đảo Ryukyu, Shikoku, Đài Loan Nam Á: (Tiểu lục địa Ấn Độ): Ấn Độ, Nê pan, Pakistan.
Đông Nam Á: Myanmar, Thái Lan, Việt Nam.
Malesia: Indonesia; Malaysia; Papua New Guinea; Philippines.
Úc: Northern Territory (Bắc Úc).
Hàng thủ công mỹ nghệ bằng cói và nguyên liệu tự nhiên hiện nay chủ yếu do các nước đang phát triển cung cấp Đối thủ cạnh tranh chính của hàng Việt Nam là những sản phẩm tương tự của Trung Quốc và Indonesia Lợi thế cạnh tranh của Trung Quốc so với Việt Nam là mẫu mã đa dạng và đẹp hơn Trung Quốc sử dụng nguồn nguyên liệu thay thế rẻ và nhiều gồm cây liễu và xidan Xidan là nguyên liệu thay thế cói rất tốt trong nhóm hàng thảm đệm Liễu dùng làm rổ, khay, hộp đựng, làn, túi có màu sắc phong phú, dễ giữ hình dạng chính xác, giá rẻ và liên tục cải tiến kỹ thuật Ở Indonesia, nguyên liệu thay thế cho cói chủ yếu là mây và lá cọ So với các nước khác, mây Indonesia nhiều loại hơn, chất lượng cao, tính năng tốt và giá rẻ, Indonesia cũng có nhiều loại gỗ tốt Do vậy, Indonesia có ưu thế về bàn ghế và đồ nội thất là nhóm sản phẩm có nhu cầu ngày càng tăng trên thị trường thế giới
Những thị trường lớn nhất tiêu thụ hàng thủ công mỹ nghệ bằng cói và nguyên liệu tự nhiên là Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu (EU) và Nhật Bản Điều thú vị là thị trường EU tăng trưởng khá nhanh, tăng hàng năm 14% trong khi tốc độ tăng trưởng toàn thế giới chỉ có 4%, của Mỹ chỉ có 8%
Mặc dù thị trường hàng thủ công mỹ nghệ sôi động ở trên thế giới, và ngày nay các nước phát triển chuộng các mặt hàng làm bằng nguyên liệu từ thiên nhiên trong đó có cói, nhưng những nghiên cứu về cói và các biện pháp
Trang 13kỹ thuật sản xuất, thâm canh cói còn khá ít ỏi ngoài các công trình nghiên cứu
về phân loại thực vật và đặc điểm sinh thái của một số vùng trồng cói
Trang 141.2.TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CÓI VÀ HÀNG TIÊU DÙNG THỦ CÔNG MĨ NGHỆ TRONG NƯỚC.
Cây cói đã và đang đóng vai trò quan trọng trong đời sống dân sinh và trong công nghiệp nước ta Cói có thể trồng được tất cả các vùng đất hoang hóa, đất bị ngập mặm, nhiễm phèn nên có tiềm năng mở rộng diện tích rất lớn Tuy nhiên, việc phát triển diện tích trồng cói có liên quan chặt chẽ tới giá cả thị trường, Việt Nam có tất cả 26 tỉnh, thành phố ven biển trồng cói Vùng cói tập trung nhất Việt Nam là các tỉnh đồng bằng duyên hải Bắc Bộ: Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Hải Phòng, Thanh Hóa,… chiếm 50% diện tích cói của cả nước với khoảng 2 vạn nông dân sản xuất trên 7000ha, hàng năm thu 5 vạn tấn cói và trên 7 vạn lao động làm nghề chế biến cói (làm sợi, dệt chiếu, làm đồ mỹ nghệ) Chu kỳ kinh tế cói ở miền Bắc Việt Nam: ruộng cói trồng một lần cho thu hoạch 10 năm trở lên mới trồng lại Cói được nhân giống vô tính Ở miền Bắc nước ta có hai vụ cói đồng: vụ chiêm (tháng 2 -3), vụ mùa (tháng 7-8), cói bãi trồng tháng 5 đến tháng 6 khi bắt đầu có nước lũ độ mặn giảm
Phần diện tích còn lại phân bố ở một số tỉnh duyên hải miền Trung và đồng bằng Nam Bộ Từ khi có cơ cấu cho phép người nông dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng thì diện tích cói ở một số tỉnh đã bị thu hẹp nhường chỗ cho một
số loại cây ăn quả và nuôi trồng thủy sản Nhưng những năm gần đây, các làng nghề truyền thống đã được khôi phục và đẩy mạnh sản xuất thì những mặt hàng thủ công mỹ nghệ không những chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước mà còn mở rộng ra hầu khắp các châu lục trên thế giới Điều đó làm tăng giá trị nông sản, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người nông dân Chính vì vậy, diện tích trồng nói chung và cây cói nói riêng đang được khôi phục và gia tăng trong những năm gần đây
Người chế biến cói ngày càng được nâng lên trong khi đó thu nhập của người trồng cói lại thấp, đời sống của một bộ phận bấp bênh Có rất nhiều
Trang 15nguyên nhân, song nguyên nhân chủ yếu vẫn là do giá cói chưa ổn định (được mùa mất giá, được giá mất mùa), khi thì bị tư thương ép giá.
Trong khi đó, cơ sở vật chất, quy mô đầu tư và vốn nhỏ, năng lực, trình
độ quản lý còn yếu, thiếu đầu tư vào các giải pháp khoa học kỹ thuật: thủy lợi hóa, cơ giới hóa, điện khí hóa và sinh học hóa phục vụ canh tác cói hầu như rất
ít hoặc chưa có Người dân chủ yếu dùng lao động thủ công trông chờ vào tự nhiên là chính, đầu tư phân bón ít, không hợp lý… dẫn đến giá thành sản phẩm cao Chính vì vây, diện tích trồng cói giảm, tuy nhiên trong vài năm trở lại đây
có tăng trở lại song sản lượng và năng suất cói bình quân trên cả nước giảm sút
Thêm vào đó là những khó khăn về mặt thị trường là những khó khăn rất lớn đối với ngành cói: Giá bán thấp (cói nguyên liệu thành phẩm từ 11/2007 vẫn giữ ở giá là 1200 đồng/1kg cói ngắn, 1600 đồng/1kg cói dài, trong khi cói năm 2006 là 5000 – 8000 đ/kg), nguyên nhân dẫn đến rớt giá là chất lượng cói không cao, các doanh nghiệp làm nghề thủ công mỹ nghệ thay thế nguyên liệu cói bằng bèo lục bình, thị trường tiêu thụ không ổn định, giá phân đạm tăng
4500 đ/kg năm 2007 và hiện nay đang là 8000 đ/kg, phân lân tăng từ 1500 đồng lên 3200 đ/kg, đặc biệt tiền công lao động từ 25000 đ/công lên 60000 đ/công
Các sản phẩm chế biến từ cói chủ yếu xuất khẩu tiểu ngạch qua nhiều khâu trung gian, quy mô sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ nhỏ lẻ, phần lớn gia công chế biến cho các doanh nghiệp tỉnh ngoài lên giá trị hàng hóa không cao, thu nhập của người lao động còn thấp, hoạt động sản xuất của các vùng cói mang tính độc canh, độc nghề nên mỗi khi các sản phẩm cói rớt giá dân sinh lại lao đao
Nghiên cứu hoàn thiện dây truyền công nghệ sản xuất lõi cói chất lượng cao từ thiết bị nhập ngoại nhằm nội địa hóa công nghệ, giảm giá thành,
nâng cao chất lượng lõi cói phục vụ xuất khẩu, qua đó tạo công ăn việc làm ổn định và tăng thu nhập cho người dân nghèo
Trang 16Nghề trồng cói gắn liền với sản xuất các mặt hàng tiểu thủ công mỹ nghệ, các sản phẩm này đa dạng về chủng loại, phong phú về mẫu mã, khi hết liên hạn sử dụng chúng tự phân hủy, thân thiện với môi trường nên rất hợp với chính sách môi trường của các nước trên thế giới, đặc biệt là những nước phát triển Do vậy, các mặt hàng này đang được nhiều nước ưa chuộng, hiện tại chúng ta đã thâm nhập được vào thị trường 29 nước, trong đó có cả những thị trường khó tính như châu Âu và bắc Mỹ.
Các sản phẩm làm từ cói
Trang 171.2.1 Vùng cói Kim Sơn – Ninh Bình
Mùa cói ở Kim Sơn –Ninh Bình
Ở Kim Sơn- Ninh Bình , điển hình có công ty Nông nghiệp Bình Minh.Theo Nghị quyết 04/NQ-TU ngày 9/8/2006 của Tỉnh Ủy về đẩy mạnh phát triển trồng và chế biến cói, thêu ren và chế tác đá mỹ nghệ đến năm 2010, công ty Nông nghiệp Bình Minh được tỉnh chọn làm mô hình thí điểm về trồng cói chuyên canh Đến hết năm 2008 diện tích trồng cói của Công ty đã đạt 293,9 hà Tuy nhiên, do tác động lớn của giá cả và thị trường đang đặt ra cho công ty những khó khăn để thực hiện được mục tiêu trồng 452 ha cói đến hết năm 2010
Tuy mô mình mới được đem ra thí điểm nhưng đã đạt được nhưng hiêu
quả ban đầu đáng ghi nhận Đến tháng 9/2006, trên địa bàn huyện Kim Sơn chỉ còn 414,6 ha trồng cói, trong đó Nông trường Bình Minh (nay là công ty Nông nghiệp Bình Minh) có diện tích trồng cói lớn nhất (154,8ha) Đến hết năm
2007, công ty Nông nghiệp Bình Minh đã trồng được 293.9 ha /452 ha theo kế
Trang 18hoạch, năng suất cói đạt 15 tấn/ha/năm Chất lượng cói đảm bảo, giá cả hợp lý, tiêu thụ phần lớn ở thị trường Kim Sơn, một phần theo hợp đồng ký với tỉnh Thanh Hóa xuất khẩu cói sang Trung Quốc.
Về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng vùng chuyên canh cói: Theo kế hoạch, tổng vốn đầu tư 10 tỷ đồng được huy động theo tỷ lệ: tỉnh 20%, huyện 40% và Nông trường 40% Đến ngày 31/12/2007 đã hoàn thành 67% khối
lượng công việc, những hạng mục phải làm tiếp gồm: Xây đúc cống số 2, 3, 4, 7
và làm mặt đường 2 bờ mương phân độ, 1 bờ mương tiêu mặn Công ty Nông Nghiệp Bình Minh đã đầu tư 1 tỷ đồng vào việc hoàn thiện các hạng mục công trình phụ trợ để phục vụ dự án như: Đào lại toàn bộ hệ thống rãnh cói dọc theo
bờ mương tiêu mặn và 2 bên bờ mương phân độ bị san lấp, tiêu nước cho đồng cói hiện có, toàn bộ hệ thống cống tưới tiêu qua bờ mương phân đọ, mương tiêu mặn số 5 phải được lắp đặt mới phục vụ việc lấy nước khi cần thiết, kéo đường điện để chạy trạm bơm cống số 5
Đat được rất nhiều thành công từ mô hình trồng cói chuyên canh nhưng công ty Nông nghiệp Bình Minh cũng đã gặp rất nhiều khó khăn.Những khó khăn mà công ty Nông nghiệp Bình Minh đang gặp phải là giá vật tư, phân bón tăng, thị trường tiêu thụ hạn chế… Về sản xuất cói:” Giá phân đạm tăng 4500 đ/kg năm 2007 và hiện nay đang là 8000 đ/kg, phân lân tăng từ 1500 đồng lên
3200 đ/kg, đặc biệt tiền công lao động từ 25000 đ/công lên 60000 đ/công Trong khi giá bán thấp (cói nguyên liệu thành phẩm từ 11/2007 vẫn giữ ở giá là
1200 đồng/1kg cói ngắn, 1600 đồng/1kg cói dài, trong khi cói năm 2006 là
5000 – 8000 đ/kg) song vẫn tiêu thụ rất chậm, có nơi không bán được Theo ông Nguyễn Văn Ngạn – Giám đốc công ty Nông nghiệp Bình Minh, đã có tình trạng người sản xuất tính toán nếu tiếp tục đầu tư vào sản xuất sẽ bị lỗ nên nhiều hộ đến nay đã bỏ ruộng không chăm sóc, mặc dù cói vụ chiêm năm nay chân rất dày chân, ít cỏ, cói phát triển đồng đều Mặt khác, nghề sản xuất cói
Trang 19nguyên liệu lại rất vất vả, phai có lực lượng lao động trẻ, khỏe, tay nghề tốt, thu hoạch cói chỉ trong 1 tháng nếu thu hoạch chậm 10 – 15 ngày chất lượng cói sẽ giảm 15 – 20% Thu hoạch khi trời nắng to, chất lượng cói mới cao, cói chẻ ra mới năng suất Việc vận chuyển cói từ đồng về nhà cồng kềnh, khối lượng lơn trong khi xe công nông không được lưu hành… đang làm cho người sản xuất cói không mặn mà với nghề, đã có người bỏ đi làm việc khác.
Nghị quyết 04/NQ-TU ngày 9/8/2006 của Tỉnh Ủy đã khẳng định vị trí quan trọng của trồng và chế biến cói trong công cuộc xóa đói giảm nghèo của Tỉnh, nhất là ở khu vực nông thôn Vì vậy, việc khắc phục khó khăn để hoàn thành các mục tiêu của Nghị Quyết là trách nhiệm của các cấp, các ngành Khó khăn mà Công ty Nông Nghiệp Bình Minh đang gặp phải cũng chỉ là nhất thời, không phải không có cách giải quyết Theo các đồng chí lãnh đạo công ty, trong điều kiện giá cói giảm mạnh, thị trường tiêu thụ giảm, trước mắt cần tập trung chăm sóc, bảo vệ tốt 212.8ha hiện có Công ty đang tích cực phối hợp với công
ty Yast Sushiro Omote của Nhật Bản trồng thử nghiệm giống cói Nhật đã được UBND tỉnh, sở Kế hoạch và đầu tư cho phép trồng thí điểm trên diện tích 1700m2 Giống cói Nhật có ưu điểm: Cây cói dài, nhỏ, khi cắt xong không phải chẻ, ít chịu ảnh hưởng của thời tiết, sâu bệnh, sử dụng được công nghệ sấy để bảo quản cói không bị mốc, lại giữ được màu xanh nguyên gốc của sấy để bảo quản cói không bị mốc, lại giữ được màu xanh nguyên gốc của cói… Kết quả trồng thí nghiệm cho thấy: Mặc dù có bị ảnh hưởng của đợt rét đậm, rét hại kéo dài đầu năm 2008 song cây cói vẫn phát triển tốt Với những kết quả trồng thí điểm cây cói Nhật đã mở ra hướng đi mới đối với việc thay đổi giống cói Kim Sơn, cùng với việc có thêm thị trường Nhật Bản để bao tiêu sản phẩm
Trang 201.2.2.Vùng cói Nga Sơn – Thanh Hóa
Mùa thu hoạch cói ở Nga Sơn- Thanh Hóa
Vùng cói huyện Nga Sơn – Thanh Hóa gồm 8 xã: Nga Điền, Nga Phú, Nga Thái, Nga Tân, Nga Tiến, Nga Thanh, Nga Thủy, có tổng diện tích tự nhiên là 6198,7 ha, vụ mùa 1832 ha Sản lượng cói hàng năm đạt bình quân 20 ngàn tấn, chủ yếu là sản xuất chiều chẻ bán nội địa và sản xuất hàng thủ công xuất khẩu
- Thực trạng vùng cói Nga Sơn
Những năm 2000 trở về trước do nguồn nước từ các cống tự chảy qua sông Lèn, sông Càn, sông Chính Đại thuận lợi, kết hợp với phục vụ tưới tiêu của hệ thống thủy nông trong huyện đã cơ bản cung cấp đủ nước và còn đưa một lượng phù sa phù hợp với sinh trưởng phát triển của cây cói; chế độ thâm
Trang 21canh hợp lý, sâu bệnh chưa phát triển, nhân dân quan tâm đến công tác thu hoạch phơi trên cồn cát, nên chất lượng sản phẩm nguyên liệu cói đảm bảo.
Từ năm 2000 đến nay, do ảnh hưởng của khí hậu toàn cầu, nước biển dâng cao và nước mặn xâm thực sâu, độ mặn tăng lên từ 15 – 20% Thị trường xuất khẩu thuận lợi cho nên nông dân đã mở rộng diện tích và tập trung thâm canh chủ yếu là bón phân vô cơ để nâng năng suất và sản lượng cói dài, có năm cắt 2 – 3 vụ ở một số diện tích, sản lượng năm cao nhất là 27600 tấn (năm 2002)
Từ năm 2003 trở lại đây, vùng cói xuất hiện một số loại sâu bệnh như: bọ cánh cứng, sâu đục thân, rầy nâu mật độ lớn và trên diện rộng (có loại chưa có tên khoa học) Một số diện tích cói ở Nga Tân, Nga Tiến, Nga Thủy trong đê Ngự Hàm 3 và một số diện tích ở triền sông Hoạt, sông Mã độ mặn cao, đất bị
sa mạc hóa và không có thu hoạch đã ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng cói hàng năm Năm 2005 chỉ còn 20 ngàn tấn (riêng Nga Tân giảm từ 2995 tấn năm
2002 xuống còn 779 tấn năm 2005), đời sống nhân dân hết sức khó khăn
Trước tình hình đó, đầu năm 2006 UBND huyện Nga Sơn đã tập trung chỉ đạo làm các trạm bơm dã chiến cho Nga Tân, Nga Tiến (hỗ trợ kinh phí hạ thấp mặt bằng, cho một năm tiền điện bơm nước), động viên nhân dân các xã Nga Tân, Nga Tiến , Nga Thủy khai hoang phục hóa Chỉ đạo hoàn thiện các cống dưới đê để ngăn mặn, quyết tâm đưa nước ngọt phục vụ thâm canh (riêng Nga Tân trong những năm qua đã hạ thấp bình quân xuống 25cm của 270/328
hà, góp phần nâng sản lượng cây cói toàn huyện năm 2007 đạt 26 ngàn tấn/năm
Tuy nhiên năm 2008 đến nay, tình hình xuất khẩu chiếu cói gặp nhiều khó khăn Năm 2006 một kg cói quy đổi được 3 kg lương thực thì đến nay 3 –
4 kg cói mới đổi được 1 kg lương thực Sản lượng xuất khẩu rất chậm đã ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và đời sống của nhân dân vùng cói, nhiều hộ gia
Trang 22đình đã bỏ ruộng đi làm ăn xa, không chăm bón, không phòng trừ sâu bệnh, một
số diện tích có khả năng hoang hóa trở lại
- Thực trạng phát triển tiểu thủ công nghiệp, chế biến từ nguyên liệu cói
Những năm của thập kỷ 80 từ chỗ đứng nhất tỉnh về sản xuất TCMN xuất khẩu chiếu cói nhưng do cá nước XHCN Đông Âu sụp đổ, thị trường chiếu cói không còn đã ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và đời sống của người dân vùng cói Đứng trước tình hình đó, Huyện Ủy Nga Sơn đã đề ra chủ trương “lúa lấn cói, cói lấn biển” vừa mở rộng sản xuất cây lương thực để ổn định đời sống nhân dân vừa tìm hướng đi mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu Kinh
tế trong huyện tiếp tục được hồi phục, sản xuất TTCN có bước phát triển
Từ chỗ chủ yếu là sản xuất các mặt hàng thô xuất khẩu, các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp đã chế biến nhiều mặt hàng mới được thị trường tiếp nhận Năm 1990, toàn huyện có 1170 cơ sở TTCN, đến năm 2008 toàn huyện chỉ còn có 8700 cơ sở, trong đó nghề cói 6630 cơ sở với 10418 lao động (chiếm 79,84% lao động toàn huyện) Giá trị sản phẩm chế biến từ cói năm 1990 ước đạt 11.2 tỷ đồng (giá cố định năm 1994), đến năm 2007 đạt 81.4 tỷ đồng (giá cố định năm 1994), trong đó giá trị xuất khẩu đạt 6,5 – 7 triệu USD
Sản phẩm cói trong huyện được chế biến bình quân hàng năm 25 ngàn tấn, huyện còn nhập lượng cói bên ngoài với số lượng 73500 tấn/năm, năm cao nhất là 11,654 tấn (năm2005) Ngoài thị trường truyền thống là Trung Quốc từng bước khai thác thị trường Đông Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc
Trang 231.3 KĨ THUẬT CHẾ BIẾN LÕI CÓI
Hình 2.1: Sơ đồ dây truyền chế biến cói
Do sản lượng cói ở nước ta khá lớn, chủ yếu được xuất khẩu ở dạng nguyên liệu thô, giá bán thấp gây thiệt thòi cho người nông dân Từ thực tiễn này đề tài đề xuất giải pháp công nghệ nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng giá trị hàng hóa xuất khẩu nhằm tăng thu nhập cho người nông dân
Chế biến cói ở nước ta chủ yếu vẫn đang thực hiện bằng thủ công, chất lượng sản phẩm thấp, tốn nhiều công lao động và gây ô nhiễm môi trường Để giải quyết thực trạng trên đề tài tập trung nghiên cứu tìm ra giải pháp thích hợp cho khâu chính trong dây truyền sản xuất lõi từ xe lõi và có những giải pháp kỹ thuật chê biến hợp lý từ khâu thu hoạch đến khâu xuất khẩu
1.3.1 Cói nguyên liệu
Để đạt được hiệu quả cao nhất cần thu hoạch đúng lúc cói chín – lúc hoa
có chuyển sang màu nâu, ngọn có héo dần, thân từ màu xanh chuyển sang màu vàng óng, bẹ gốc bắt đầu thối Đối với cói mùa khi ruộng cói có độ 50% số hoa chuyển màu nâu thẫm, vụ chiêm khi ruộng cói có khoảng 10% số cây khô đầu
là thu hoạch Nếu thu hoạch cói còn non dẫn đến năng suất và phẩm chất đều
Cói nguyên
liệu
Sơ chế thủ công
Sấy cói
Xe cói
Sấy lõi Bảo quản
Xuất khẩu
Trang 24giảm (cân nhẹ, sợi giòn), thu hoạch quá muộn cói xuống bộ, bẹ cói ở gốc thối nhiều làm đen gốc ảnh hưởng tới năng suất và phẩm chất.
1.3.2 Sơ chế thủ công
Sau khi cây cói được cắt xong sẽ chuyển sang khâu sơ chế thủ công Lúc này cây cói được chẻ ngay, nếu để lâu cói sẽ khó chẻ Khi chẻ xong sợi cói cần được phơi nắng ngay
Kỹ thuật phơi cói cần chú ý với cói mới chẻ (cói ương) khi trời nắng yếu phải phơi trước 10 giờ sáng, trời nắng to có thể phơi muộn hơn (khoảng 11 giờ), nếu cói không đủ nắng sợi cói sẽ bị khô, cuộn tròn Với cói đã phơi một nắng (ưởng non) bắt đầu phơi muộn hơn, tránh cói bị ẩm lại Với cói đã phơi 2 nắng (ưởng già) trời nắng phơi từ 9 giờ sáng cho tới khi nắng đã khô kiệt để chuyển tới khâu xe lõi
1.3.3.Xe lõi cói
Sau khi cói được chẻ và phơi nắng cần phải chuyển sang khâu xe lõi Ở giai đoạn này sợi cói sẽ được xe thành sợi nhờ máy xe lõi
Đối với khâu xe lõi: Hiện nay đang tồn tại hai loại máy xe lõi cói, một loại xe lõi xuôi được sản xuất trong nước, một loại xe lõi ngược được sản xuất
từ Trung Quốc Hai loại máy này đã có những cải tiến so với mẫu máy nguyên thủy nhưng do cải tiến này chưa có tính khoa học và đồng bộ nên hiệu quả còn chưa cao Các loại máy này có nhiều những khuyết điểm cần phải được khắc phục như: Các bộ phận chuyển động không ổn định (dùng các ổ trượt) nhanh mòn, nhanh hỏng, gây tiếng ồn, các máy làm việc đơn chức năng, một số chi tiết nhanh hỏng như ống muống, lô cuốn…
Trang 251.3.4.Sấy cói
Giai đoạn sấy được thực hiện với mục đích nhằm đảm bảo cho sợi cói trong quá trình bảo quản không bị ẩm mốc, chuyển màu làm giảm chất lượng của sợi cói Khi sấy các lò sấy cần đảm bảo yêu cầu: năng suất cao, đơn giản, tốc độ giảm cao đồng đều không có muội than bám trên sợi Sau khi sấy sợi cói được bảo quản trong kho lạnh
Trang 261.4 MÁY XE LÕI CÓI TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
1.4.1.Trong nước
Do nhu cầu sản xuất, máy xe lõi cói được nghiên cứu sản xuất từ những năm 1980, loại này được cải tiến từ máy xe lõi cói của Pháp Các cơ sở sản xuất lõi cói trong nước hiện nay sử dụng hai loại máy xe lõi cói được sản xuất trong nước và nhập khẩu từ Trung Quốc Máy xe lõi cói được sản xuất trong nước hiện nay chỉ xe được lõi cói xuôi, nguồn động lực là đạp chân sau này được cải tiến để sử dụng động cơ điện, máy này sản xuất lõi xuôi chất lượng lõi không tốt, tăng chi phí sấy lõi, mặt khác giá thành cao hơn máy nhập ngoại Đối với máy Trung Quốc, tuy giá thành không cao nhưng hiệu suất làm việc không ổn định nhanh hư hỏng các bộ phận, khi nhập về các cơ sở đã có nhiều cải tiến như chuyển từ đạp chân sang chạy động cơ, thay thế ổ trượt bằng ổ lăn, chuyển từ
xe lõi ngược thành xe lõi xuôi
Ở các cơ sở sản xuất lõi cói trong nước đã có đầu từ, cải tiến máy xe lõi trong nước và nhập khẩu nhưng cải tiến này chỉ đơn lẻ chưa có tính toán khoa học nên hiệu quả chưa cao Yêu cầu đặt ra hiện nay của các cơ sở sản xuất lõi cói là có một máy xe lõi cói đa năng (xe cả lõi ngược và lõi xuôi), năng suất cao làm việc ổn định, giá thành thấp được chế tạo trong nước thuận lợi cho việc sửa chữa thay thế Các máy xe lõi cói trong nước và nhập khẩu đang hoạt động trong nước còn những nhược điểm sau:
1.4.1.1 Đối với máy xe lõi xuôi
+ Máy chỉ xe được lõi xuôi không xe được lõi ngược, chất lượng lõi không tốt
+ Kết cấu máy phức tạp kích thước lớn tốn diện tích nhà xưởng
+ Tiếng ồn lớn ảnh hưởng tới người vận hành, nhanh hỏng
+ Khi xe lõi yêu cầu cói phải được làm ẩm nên tốn chi phí sấy lõi
+ Giá thành máy cao, chi phí năng lượng lớn do kết cấu phức tạp
Trang 271.4.1.2 Đối với máy xe lõi cói ngược
+ Phải nhập ngoại do đó thay thế phụ tùng và sửa chữa khó
+ Máy chỉ xe được lõi ngược không xe được lõi xuôi
+ Máy chuyển động thủ công nên năng suất thấp, chi phí lao động cao+ Các bộ phận tì, ống muống, lô cuốn nhanh mòn, nhanh phải thay thế+ Hệ thống truyền động dùng ổ trượt nên nhanh mòn, làm việc không ổn định
Tóm lại, ở các cơ sở sản xuất trong nước mặc dù đã có đầu tư cải tiến máy xe lõi cói nhưng những cải tiến này chưa hiệu quả, vì vậy các cơ sở hiện nay đang rất cần đầu tư nghiên cứu cải tiến, thiết kế ra một mẫu máy xe lõi cói
đa năng, có thể xe được cả lõi xuôi và lõi ngược với chất lượng sản phẩm tốt
1.4.2 Các nghiên cứu ngoài nước
Lõi cói (cói được xe thành sợi) dùng để sản xuất các mặt hàng thủ công
mĩ nghệ như: thảm lót, làn, giỏ, khay, đĩa đựng hoa quả… hiện nay được nhiều nước trên thế giới nghiên cứu, chế tạo ra các loại máy xe lõi cói khác nhau Để
xe cói thành lõi người ta dùng hai phương pháp xe lõi xuôi và xe lõi ngược, lõi ngược do có nhiều ưu điểm về chất lượng nên hiện nay được sử dụng chủ yếu
để sản xuất các mặt hàng thủ công mĩ nghệ chất lượng cao Điển hình về chế tạo máy xe lõi cói là Trung Quốc với các loại máy từ máy thủ công đến các máy chạy động cơ với giá thành không cao Do đặc trưng về vùng nguyên liệu nên hiện nay các loại máy xe lõi cói chưa được các nước thực sự quan tâm để tạo ra mẫu máy xe lõi cói hoàn chỉnh với chi phí thấp, làm việc ổn định, năng suất cao, chất lượng tốt, giảm sức lao động
Các máy xe lõi cói hiện nay được một số nước nghiên cứu chế tạo, trong
đó chủ yếu từ Việt Nam, Trung Quốc Máy xe lõi cói do Việt Nam sản xuất có
từ những năm 1980 để xe lõi xuôi, cho đến nay hầu như vẫn chưa có cải tiến gì
Ưu điểm của loại máy này là cho năng suất cao (20 – 25kg/lõi/ngày/người)
Trang 28Tuy nhiên, nhược điểm là tương đối cồng kềnh tốn diện tích nhà xưởng, hệ thống truyền động bằng nhông xích gây nên tiếng ồn ào, chất lượng lõi không đẹp (kích thước sợi lõi, độ xoắn) và giá thành cao, tại thị trường Nga Sơn năm
2006 giá 1,2 triệu đồng/chiếc Loại máy do Trung Quốc sản xuất mới xuất hiện trong những năm gần đây để sản xuất lõi ngược Lõi ngược có nhiều ưu điểm về chất lượng nên hiện nay được sử dụng chủ yếu để sản xuất các mặt hàng thủ công mĩ nghệ cao cấp, giá thành hạ Hiện nay ở một số nước trên thế giới vẫn dùng các loại máy xe lõi thủ công đạp chân hoặc quay tay nên chất lượng lõi không tốt, năng suất thấp Tóm lại, hiện nay các loại máy xe lõi cói chất lượng không tốt, năng suất thấp Tóm lại, hiện nay các loại máy xe lõi cói chưa được các nước thực sự quan tâm đầu tư để tạo ra mẫu máy xe lõi cói hoàn chỉnh với chi phí thấp, chất lượng tốt, làm việc ổn định, năng suất cao
Trang 291.5 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
1.5.1 Mục đích
Nghiên cứu cải tiến máy xe lõi cói đa chức năng nhằm nâng cao chất lượng lõi cói, tăng công suất máy để phục vụ tốt cho công tác chế biến cói của nông dân
1.5.2 Nhiệm vụ
Đê tài sẽ tập trung vào nghiên cứu cải tiến và thiết kế mẫu máy xe cói đa chức năng hoàn chỉnh có thể xe được cả lõi xuôi và lõi ngược, máy và các chi tiết thay thế được chế tạo trong nước Máy xe lõi này làm việc ổn định, không
ồn, tuổi thọ cao, giá thành thấp Để nâng cao hiệu quả sử dụng, giảm diện tích lắp đặt, nâng cao năng suất và chất lượng, giảm giá thành của lõi cói cần tập trung nghiên cứu cải tiến, thiết kế một số vấn đề sau: thiết kế bộ phận chuyển đổi từ xe lõi xuôi thành xe lõi ngược và ngược lại tạo ra máy xe lõi đa chức năng; cải tiến bộ phận chuyển đổi từ đạp chân sang chạy bằng động cơ nhằm nâng cao năng suất; cải tiến bộ truyền động cho lô cuốn từ bánh tỳ sang động đai tăng tuổi thọ của lô cuốn, giảm chi phí vật tư; cải tiến thay thế các ổ trượt thành ổ lăn làm cho máy làm việc ổn định, không gây tiếng ồn; nghiên cứu, thiết kế và chế tạo các chi tiết khác của máy như: hạt na, ống muống, lò so bằng vật liệu trong nước giảm chi phí…
Nghiên cứu thiết kế và chế tạo bộ phận chuyển đổi từ đạp chân sang sử dụng động cơ điện
Nghiên cứu thiết kế và chế tạo bộ phận truyền động thay lô cuốn từ bánh
tỳ sang chuyển động đai
Nghiên cứu thiết kế và chế tạo chuyển đổi các ổ trượt thành ổ lăn
Nghiên cứu thiết kế và chế tạo bộ phận điều khiển chuyển đổi từ xe lõi cói xuôi sang xe lõi cói ngược và ngược lại
Trang 30Chương 2 CẢI TIẾN MÁY XE CÓI ĐA NĂNG 2.1.THIẾT KẾ TỔNG THẾ MÁY XE LÕI CÓI ĐA NĂNG
2.1.1 Nhược điểm của máy cũ
Hiện nay nước ta đang tồn tại hai loại máy xe lõi cói ,một loại máy xe
lõi cói xuôi được sản xuất trong nước, một loại xe lõi cói được nhập khẩu
từ Trung Quốc Hai loại máy này đã có cải tiến so với mẫu máy nguyên thủy nhưng do những cải tiến này chưa có tính khoa học và đồng bộ nên hiệu quả sử dụng chưa cao Các loại này có rất nhiều nhược điểm cần được khắc phục Các bộ phận chuyển động không được ổn định nhanh mòn và giảm độ cân gây tiếng ồn do vật liệu làm máy còn hạn chế Máy làm việc đơn chức năng một số chi tiết nhanh hỏng như ống muống tỳ lô cuốn, bánh răng, ống dẫn liệu
Máy se cói cói cũ
Trang 31Các dạng hư hỏng và nguyên nhân hỏng của máy
Tróc bề mặt làm việc
của răng
- Vật liệu làm bánh răng bị mỏi vì làm việc lâu với tải trọng lớn
- Bề mặt làm việc của bánh răng bị quá tải cục bộ
- Không đủ dầu bôi trơn hay bôi trơn không đủ nhớt
Xước bề mặt làm việc
của răng - Răng làm việc trong điều kiện ma sát khô.
Răng mòn quá nhanh - Có bùn, bụi, hạt mài hoặc mạt sắt lọt vào giữa
hai mặt răng ăn khớp
Bộ truyền làm việc quá
ồn kèm theo va đập
- Khoảng cách trục xa quá dung sai qui định
- Khe hở cạnh răng quá lớn
Bộ truyền bị kẹt và quá
nóng
- Khoảng cách trục gần quá dung sai qui định
- Khe hở cạnh răng quá nhỏ
Trang 32-Bộ truyền động bánh răng
Bộ phận cấp liệu
Trang 33Vì vậy đề tài này sẽ tập trung nghiên cứu cải tiến máy xe lõi cói được nhập khẩu từ Trung Quốc nhằm khắc phục những nhược điểm của máy nhập khẩu như:
- Các bộ phận chuyển động không được ổn định do dùng ổ trượt nhanh mòn
và giảm độ cân gây tiếng ồn máy làm việc đơn chức năng một số chi tiết nhanh hỏng như ống muống tỳ lô cuốn
Mô hình máy xe cói sau khi cải tiến
- Máy xe lõi cói mới với các chi tiết máy được chế tạo trong nước làm việc
ổn định không gây ồn tuổi thọ cao, giá thành thấp nâng cao năng suất và chất lượng Với khung máy đc làm bằng thép chữ V sẽ giảm được giá thành sản xuất nhưng vẫn đảm bảo được yều cầu của máy đề ra
- Máy mới sau khi được cải tiến đã có bộ phận chuyển đổi từ xe lõi xuôi sang xe lõi ngược và ngược lại tạo ra máy xe lõi đa năng Giúp có thể xe lõi ngược và xuôi trên cùng 1 máy và chuyển đổi từ xe xuôi sang xe ngược một cách dễ dàng Chức năng làm việc đã cải thiện đáng kể so với máy cũ
Trang 34- Máy cải tiến đã chuyển đổi từ bộ phận đạp chân sang chạy bằng động cơ điện nhằm nâng cao năng suất, và chất lượng của sản phẩm.
- Máy đã cải tiến bộ phận truyền động cho lô cuốn từ bánh tỳ sang chuyển động đai
- Cải tiến thay thế các ổ trượt thành ổ lăn làm cho máy làm việc ổn định tăng tuổi thọ.Ở máy cũ sử dụng ổ trượt gây tiếng ồn lại chóng mòn làm giảm năng suất
- Đã tự chế tạo và sử dụng một sô chi tiết của máy như: hạt na ống muống, lò
xo bằng vật liệu trong nước để giảm chi phí
Nguyên lý hoạt động của máy mới
Sợi cói sau khi được chẻ phơi nắng được chuyển tới khâu xe lõi để xe thành sợi cói
Nguyên liệu được đưa vào qua 2 cửa nạp qua hai ống dẫn và trục ống dẫn của bánh răng cố định tại đây sợi cói sẽ bắt đầu được xoẵn lại nhờ sự chuyển động quay tròn của khung máy Nếu như khung máy chuyển động ngược chiều kim đồng hồ thì sợi cói sẽ được xe ngược hoặc khung chuyển động theo chiều kim đồng hồ thì sợi cói sẽ được xe xuôi Khung được nhận chuyển động tròn quanh trục của nó
2.1.2 Thiết kể tổng thế máy
2.1.2.1 Khung máy
Trang 35Khung máy xe lõi cói
Khung máy được chế tạo bằng thép góc chữ V cắt ra và được hàn lại
Thép chữ V
Để đảm bảo được độ vững chắc của khung và kết cấu chịu được khi làm việc ta chon thép V5 Ưu điểm khi
sử dụng thép chữ V là nguyên liệu
rẻ dễ chế tạo mà vẫn đáp ứng được nhu cầu làm việc của máy
Trang 362.1.2.2.Cụm tiếp liệu ( bộ phận dẫn cói vào)
Trang 37Hình ảnh cụm tiếp liệu
Cụm tiếp liêu bao gồm: thân trên thân dưới cụm tiếp liệu , cụm bánh răng nghiêng , đỡ trục và phễu thu cói:
Thân trên và thân dưới cụm tiếp liệu được đúc bằng thép
Thân trên cụm tiếp liệu
Trang 39Thân dưới cụm tiếp liệu