b, Hướng dẫn luyện đọc và tìm hiểu bài: - Luyện đọc: + HS đọc thành tiếng từng đoạn văn khổ thơ Ě Đọc nối tiếp nhau trước lớp: mỗi HS đọc 1 đoạn theo trình tự các đoạn trong bài lặp lại
Trang 1MỤC LỤC
Contents
Contents 1
A/ PH N M Ầ Ở ĐẦ 1 U: I Lý do chọn đề tài: 1
1- Lý do khỏch quan : 1
2 Lý do ch quan: ủ 3
II/ Mục đích nghiên cứu: 3
III Nhiệm vụ nghiên cứu: 3
IV Đối tợng nghiên cứu: 4
V Phơng pháp nghiên cứu: 4
I nội dung chơng trình: 5
II Quy Trình dạy tiết tập đọc : 5
III Điều tra thực trạng: 7
1 V phớa giỏo viờn: ề 7
2 V phớa h c sinh: ề ọ 8
IV NHững biện pháp rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh: 9
1 Trong gi t p ờ ậ đọ 9 c: 2 Ngo i gi t p à ờ ậ đọ 27 c: 3 Giỏo ỏn minh ho : ạ 27
I Kiểm tra bài cũ: 28
I K T QU : Ế Ả 32
II, Một số kiến nghị 32
A/ PHẦN MỞ ĐẦU:
I Lý do chọn đề tài:
1- Lý do khỏch quan :
Mụn Tiếng Việt giữ một vai trũ quan trọng trong chương trỡnh tiểu học Học tốt mụn Tiếng Việt là tiền đề để học tốt những mụn học khỏc Núi về mục tiờu của mụn Tiếng Việt bậc tiểu học, văn bản dự thảo
“Chương trỡnh mụn Tiếng việt bậc tiểu học” do tiểu ban Tiếng Việt (Bộ
Trang 2giáo dục - Đào tạo) tổ chức soạn thảo năm 1996 (cho giai đoạn sau năm 2000) ghi rõ :
Mục tiêu của môn Tiếng việt bậc tiểu học là:
- Hình thành và phát triển kỹ năng đọc, viết, nghe, nói cho học sinh nhằm giúp các em sử dụng Tiếng việt có hiệu quả trong việc học tập và giao tiếp
ở gia đình trường học và xã hội
- Góp phần cùng môn học khác phát triển năng lực tư duy cho học sinh
- Trang bị cho học sinh những hiểu biết ban đầu về văn học, văn hoá và ngôn ngữ, văn hoá thông qua một số sáng tác văn học và một số loại văn bản khác của Việt Nam và thế giới nhằm hình thành ở các em nhu cầu thưởng thức cái đẹp, khả năng rung cảm trước cái đẹp trước những buồn vui yêu ghét của con người
- Góp phần hình thành nhận thức tình cảm, thái độ hành vi đúng đắn của con người Việt Nam hiện đại trong quan hệ gia đình và xã hội
Để đạt được mục tiêu trên giáo viên chỉ dạy đủ nội dung cho từng phân môn thôi chưa đủ mà còn phải làm thế nào để dạy tốt dạy hay, phải đổi mới phương pháp giảng dạy để cho mỗi giờ học thực sự “ Nhẹ nhàng hơn,
Môn Tiếng việt được chia làm nhiều phân môn nhỏ : Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn Riêng với phân môn Tập đọc việc luyện đọc nói chung và phương pháp luyện đọc diễn cảm nói riêng có một vai trò rất lớn đối với học sinh khi luyện đọc Đọc diễn cảm được thực hiện trong mọi giờ học của bậc tiểu học nhưng đặc biệt nhất là ( lớp 4 + 5 ) Các em đã đọc thông viết thạo rồi nhưng chưa đọc diễn cảm được Chính vì vậy nên các em không cảm thụ
và tiếp xúc được với ngôn ngữ nghệ thuật, cảm thụ hết cái hay, cái đẹp của văn chương Do vậy các em cần sự giúp đỡ của người thầy, người cô
để giúp các em có kỹ năng đọc tốt, tạo điều kiện cho các em đọc để cảm nhận được tốt môn Tiếng Việt cũng như những môn khác
Trang 3đú và qua đú cỏc em mới ỏp dụng vốn kiến thức của mỡnh để viết văn hay Làm bài tập luyện từ và cõu tốt, học tốt cỏc phõn mụn Tập đọc Luyện từ
và cõu, Tập làm văn chớnh là gúp phần nõng cao chất lượng của bộ mụn Tiếng Việt
Xuất phỏt từ mục tiờu trờn tụi thấy thật cần thiết phải giỳp cỏc em cảm nhận được cỏi hay, cỏi đẹp của văn chương gúp phần nõng cao chất
lượng mụn Tiếng Việt cho nờn tụi đó tiến hành nghiờn cứu: “ Một số biện phỏp rốn đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4”.
II/ Mục đích nghiên cứu:
- Rốn kỹ năng đọc diễn cảm cho học sinh
- Giỳp học sinh đọc đỳng, đọc diễn cảm khụng chỉ trong phạm vi một văn bản của tiết tập đọc mà biết đọc diễn cảm bất kỡ một bài văn nào
- Biết vận dụng kiến thức, hiểu biết của mỡnh trong giao tiếp hàng ngày để núi hay, núi đỳng, mạnh dạn, tự tin, bỡnh tĩnh trước tập thể
- Thụng qua việc rốn luyện đọc diễn cảm, giỏo viờn cũn bồi dưỡng thờm năng lực cảm thụ văn học cho học sinh
III Nhiệm vụ nghiên cứu:
Phõn loại cỏc dạng bài tập đọc trong sỏch giỏo khoa tiếng việt 4 từ
đú đề ra những biện phỏp để giỳp học sinh đọc tốt hơn, diễn cảm hơn cỏc dạng bài trong sỏch giỏo khoa
Trang 4IV §èi tîng nghiªn cøu:
Học sinh lớp 4D trường Tiểu học Quảng An – Tây Hồ - Hà Nội
V Ph¬ng ph¸p nghiªn cøu:
1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
3 Phương pháp thực nghiệm
4 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Trang 5cụ thể:
Tập I gồm 5 chủ điểm, học trong 18 tuần:
- Thương người như thể thương thõn (tuần 1, 2, 3)
Tập II gồm 5 chủ điểm, học trong 17 tuần
- Người ta là hoa đất ( tuần 19, 20, 21)
- Vẻ đẹp muụn màu ( tuần 22, 23, 24)
- Những người quả cảm (tuần 25, 26, 27)
- Khỏm phỏ thế giới ( tuần 29, 30, 31)
- Tỡnh yờu cuộc sống ( tuần 32, 33, 34)Tuần 28 dựng để ụn tập giữa học kỡ II, tuần 35 ụn tập cuối học kỡ IIPhõn mụn Tập đọc được dạy 2 tiết/ tuần
II Quy Trình dạy tiết tập đọc :
1 Kiểm tra bài cũ:
- GV cho 2 – 3 HS đọc thành tiếng hoặc đọc thuộc lũng bài tập đọc hoặc bài học thuộc lũng trước đú, sau đú đặt một số cõu hỏi về nội dung bài để kiểm tra kĩ năng đọc - hiểu
2 Dạy bài mới:
Trang 6a, Giới thiệu bài:
- Nêu nhiệm vụ cần thực hiện trong tiết học Đối với bài Tập đọc thuộc chủ điểm mới, trước hết GV cần giới thiệu vài nét chính về chủ điểm
b, Hướng dẫn luyện đọc và tìm hiểu bài:
- Luyện đọc:
+ HS đọc thành tiếng từng đoạn văn (khổ thơ)
Ě Đọc nối tiếp nhau trước lớp: mỗi HS đọc 1 đoạn theo trình tự các đoạn trong bài (lặp lại nhiều vòng sao cho mỗi HS trong lớp đều được đọc ít nhất 1 đoạn)
Ě Đọc theo cặp hoặc đọc trong nhóm: mỗi HS đọc một đoạn theo trình tự các đoạn trong bài (lặp lại nhiều vòng sao cho mỗi HS đều được đọc tất cả các đoạn trong bài)
Ě 1 – 2 HS đọc lại toàn bài
+ GV đọc mẫu toàn bài
+ Hướng dẫn HS đọc từng đoạn văn (khổ thơ):
Ě Một số HS đọc: mỗi em đọc 1 đoạn theo trình tự các đoạn trong bài
Ě GV hướng dẫn, điều chỉnh cách đọc cho các em sau mỗi đoạn
+ Hướng dẫn kĩ cách đọc 1 đoạn văn (khổ thơ)
Ě GV dùng lời nói hoặc lời nói kết hợp ghi bảng, sử dụng đồ dùng dạy học để hướng dẫn HS cách đọc
Ě HS đọc đoạn văn (thơ) đã được GV hướng dẫn cách đọc
Ě GV sửa lỗi cho các em
+ HS thi đọc diễn cảm trước lớp
- Học thuộc lòng với những bài có yêu cầu thuộc lòng
Trang 7+ HS tự nhẩm HTL các khổ thơ, bài thơ hay đoạn văn theo chỉ định trong SGK.
+ GV tổ chức thi đọc thuộc lòng các khổ thơ, bài thơ hay đoạn văn vừa học thuộc
c, Củng cố, dặn dò:
- Hướng dẫn HS chốt lại nội dung chính hoặc ý nghĩa của bài tập đọc
- Nêu nhận xét tiết học
- Nêu yêu cầu tiếp tục luyện tập và chuẩn bị bài sau
III §iÒu tra thùc tr¹ng:
1 Về phía giáo viên:
Trước đây, phân môn Tập đọc của môn Tiếng Việt ở chương trình
cũ vẫn còn đề cao quá mức về cảm thụ văn học nên một số giáo viên đã biến tiết Tập đọc thành giờ giảng văn Trong tiết học, giáo viên quá lạm dụng phần tìm hiểu bài, giảng giải là chính còn học sinh chỉ nghe, ít có thời gian để luyện đọc; hậu quả là có một số em học hết chương trình Tiểu học mà vẫn chưa đọc thông thạo Song ở chương trình tiếng Việt Tiểu học mới hiện nay, nội dung các bài đọc trong sách giáo khoa tương đối phù hợp với nhận thức của học sinh, các bài đọc được sắp xếp khá lôgic, chặt chẽ theo từng chủ điểm, đa dạng các thể loại và nội dung phong phú ; hơn nữa giáo viên đã nắm được Chuẩn cần đạt về kĩ năng đọc và hiểu của học sinh Vì thế, trong quá trình dạy phân môn Tập đọc thì người giáo viên đã hướng dẫn các em thực hiện khá nhịp nhàng giữa các hoạt động
Mặt khác giáo viên còn chưa hiểu rõ được vai trò của đọc diễn cảm trong phân môn tập đọc lớp 4 Chưa đổi mới phương pháp trong giảng dạy còn quá lệ thuộc vào sách vở, giảng dạy dập khuôn máy móc không
có sự linh hoạt sáng tạo trong giảng dạy Chưa biết phát huy tính tích cực của học sinh trong giờ học từ đó hạn chế hiệu quả giảng dạy Đa số các bài đọc lớp 4 ; 5 tương đối dài mà thời gian một tiết học quá ít nên hầu như giáo viên chỉ mới dừng lại ở luyện đọc đúng cho các em, bước hướng
Trang 8dẫn các em đọc diễn cảm còn ít Chính vì thế, việc yêu cầu các em tham gia thể hiện đọc diễn cảm trước lớp chỉ thực hiện được ở một số học sinh khá, giỏi.
2 Về phía học sinh:
- Thực tế, trong nhiều năm giảng dạy khối 4 tôi thấy kĩ năng đọc của học sinh giữa các lớp chưa đồng đều Đa số các em chỉ mới đọc đúng, số học sinh biết đọc diễn cảm còn rất ít (thậm chí nhiều em chưa biết cách đọc diễn cảm hoặc còn xem nhẹ hoạt động này); số học sinh đọc chưa lưu loát
và sai lỗi vẫn còn
- Nhận thức của học sinh về tầm quan trọng của môn học chưa đúng, các
em thích học môn Toán hơn môn Tiếng Việt nên nhiều em còn ngại đọc bài và chưa có ý thức tự rèn đọc diễn cảm mà chỉ mới mang tính chất chiếu lệ, đối phó
- Do vốn từ ngữ của các em còn quá ít ỏi, chưa hiểu hết nghĩa các từ, cụm
từ trong bài đọc nên dẫn đến khi đọc bài, các em ngắt nghỉ không đúng chỗ, nhiều lúc gây hiểu sai ý nghĩa của câu văn hay bài thơ
- Giọng đọc của học sinh còn nhỏ ; nhiều em chưa nắm được nội dung của bài đọc nên khi đọc, tôi thấy các em chưa bộc lộ được cảm xúc của bài đọc qua giọng đọc hoặc nếu có thì chỉ mang tính chất bắt chước giáo viên hoặc bạn bè
- Do ảnh hưởng của tiếng địa phương và cách phát âm của mỗi em khác nhau nên các em đọc còn sai các từ ngữ, sai nội dung ý nghĩa của văn bản
- Đối với học sinh khi luyện đọc diễn cảm đa số các em còn rất lúng túng
vì đây là hoạt động trí tuệ phức tạp các em rất lười đọc kỹ văn bản do đó khi tìm và tự rút ra giọng đọc cho phù hợp với từng kiểu bài, từng nhân vật (trong các bài có đối thoại) còn chậm, nhiều em còn ỷ lại không tự tìm
ra được cái hay, cần nhấn giọng để từ đó tìm rõ sắc thái biểu cảm của bài
mà chủ yếu chỉ dựa vào giáo viên và một số học sinh khá giỏi của lớp
- Một điều đáng nói là phần lớn học sinh khi đọc một tác phẩm còn đọc tuỳ tiện theo chủ quan không có thói quen ngắt giọng đúng chỗ, lựa chọn
Trang 9ngữ điệu đọc phự hợp để từ đú biết cỏch phối hợp tư thế, nột mặt , cử chỉ, điệu bộ trong khi đọc.
- Qua thực tế giảng dạy những năm học trước tụi nhận thấy khi dạy học sinh đọc diễn cảm giỏo viờn và học sinh gặp rất nhiều khú khăn
IV NHững biện pháp rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh:
Xuất phỏt từ cỏc nguyờn nhõn trờn, hàng năm trong quỏ trỡnh giảng dạy, bản thõn tụi đó thực hiện một số giải phỏp nhằm rốn kĩ năng đọc diễn cảm cho cỏc em lớp 4 Cụ thể : cứ vào đầu mỗi năm học, sau khi nhận lớp
và ổn định tổ chức lớp xong, tụi đó tiến hành khảo sỏt chất lượng hai mụn Toỏn, Tiếng Việt để nắm được chất lượng đại trà từng mụn của lớp ; sau
đú tụi tiếp tục đưa ra một đoạn văn ngắn yờu cầu cỏc em đọc để khảo sỏt
kĩ năng đọc của từng học sinh Kết quả khảo sỏt đầu năm học 2011 – 2012
đầunăm
SL % SL % SL %
13 42% 15 48% 3 10%
Dựa vào kết quả khảo sỏt trờn, tụi đó phõn loại cỏc đối tượng đọc gồm :
* Đối tượng 1 : Những học sinh đọc đỳng, đọc hay (đọc diễn cảm)
* Đối tượng 2 : Những học sinh đọc đỳng song chưa diễn cảm
* Đối tượng 3 : Những học sinh đọc chưa lưu loỏt và cũn chậm
Sau khi phõn loại học sinh, tụi đó cú kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi, kốm cặp học sinh yếu về kĩ năng đọc cho cỏc em trong cỏc tiết học, đặc biệt trong giờ Tập đọc Vậy để rốn cho cỏc em cú kĩ năng đọc diễn cảm tốt, tụi đó tiến hành cỏc bước như sau
1 Trong giờ tập đọc:
a, Rốn kỹ năng đọc thầm.
Trang 10- Đọc thầm là hình thức đọc không thành tiếng, người đọc dùng mắt để nhận biết văn bản và vận dụng năng lực tư duy để thông hiểu và tiếp nhận nội dung thông tin của văn bản
- Đọc thầm chỉ được thực hiện khi người đó đã biết đọc thành tiếng một cách thành thạo Khi đọc thầm, do không phải phát âm thành tiếng nên người đọc đỡ hao tốn sức lực hơn so với đọc thành tiếng, tốc độ nhanh hơn từ 1,5 đến 2 lần, người đọc có điều kiện tập trung tư tưởng để suy ngẫm, tìm hiểu ý tứ nội dung văn bản đọc Vì thế đọc thầm giúp người đọc thông hiểu, tiếp nhận tốt hơn nội dung thông tin của văn bản
- Chính vì thế mà để dạy đọc hiểu được cho học sinh thì giáo viên cần rèn cho các em kỹ năng đọc thầm Khi tổ chức cho học sinh đọc thầm, theo chúng ta cần chú ý
- Tư thế ngồi đọc của học sinh ngồi ngay ngắn khoảng cách giữa mắt và sách từ 30đến 50 cm
- Thường xuyên củng cố cho học sinh về cách đọc thầm, đọc hoàn toàn bằng mắt, không mấp máy mắt, không phát ra tiếng Lúc đầu có thể di chuyển mắt theo que trỏ hoặc ngón tay, khi đạt thành thạo chỉ có mắt di chuyển mà thôi, và quan trọng hơn là mắt đọc nhưng đầu phải suy nghĩ về những điều mình đang đọc ( tránh tình trạng học sinh chỉ di chuyển mắt theo chữ mà tâm lại hoàn toàn nghĩ về chuyện khác )
- Cần kiểm soát quá trình đọc thầm của học sinh Quy định thời gian đưa
ra câu hỏi (đơn giản) yêu cầu học sinh trả lời về hình thức về nội dung của bài đọc
b Yêu cầu học sinh đọc đúng, lưu loát và nắm được nội dung, ý nghĩa các bài đọc
Muốn đọc diễn cảm một tác phẩm trước hết đòi hỏi các em cần phải biết đọc đúng, lưu loát và nắm được nội dung, ý nghĩa của tác phẩm đó
Vì khi đọc đúng, các em sẽ phát âm chính xác các từ ngữ, biết ngắt nghỉ giọng đúng chỗ trong từng câu, từng đoạn để giúp người nghe hiểu đúng nghĩa các từ ngữ cũng như các câu văn của bài đọc Còn khi các em nắm
Trang 11được nội dung, ý nghĩa bài đọc sẽ giúp các em biết nhấn giọng các từ ngữ biểu cảm và tự xác định được giọng đọc phù hợp cho từng đoạn hay cả bài đọc đó Hơn nữa, có hiểu thấu đáo nội dung và ý nghĩa của bài đọc thì các em mới có những cảm xúc thực để truyền đạt được những tâm tư tình cảm hay ý đồ của tác giả được ẩn chứa trong từng câu, từng chữ của bài đọc đến với người nghe Vì thế, đây là một yếu tố rất quan trọng, là cơ sở ban đầu của việc rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho các em.
* Luyện đọc đúng:
Việc giúp các em luyện đọc đúng, lưu loát tôi thực hiện chủ yếu ở bước luyện đọc Trong quá trình đọc, tôi thường gọi các em thuộc đối tượng 1 và 2 đọc trước; sau đó yêu cầu các em tiếp tục giúp đỡ, kèm cặp các bạn đọc còn chậm, chưa lưu loát tiến đến đọc đúng và lưu loát hơn
Đối với học sinh lớp 4 thì việc rèn luyện đọc đúng được rèn luyện như sau:
- Trước khi tiến hành luyện đọc, chia văn bản thành các đoạn đọc Tôi căn
cứ vào trình độ đọc của học sinh trong lớp để chia văn bản thành các đoạn, sao cho các đoạn không quá dài hoặc quá chênh lệch nhau về chữ
số, cách ngắt đoạn không quá chi li, gây khó khăn cho học sinh theo dõi
và đọc nối tiếp
- Dựa vào số đoạn tôi chỉ định trước số học sinh tham gia đọc nối tiếp ở mỗi vòng đọc Học sinh có thể đứng hoặc ngồi tại chỗ với tâm thế sẵn sàng đọc nối tiếp
- Để củng cố kĩ năng đọc trơn đã được rèn ở các lớp dưới, tôi hướng dẫn học sinh đọc nối tiếp qua 3 vòng:
+ Vòng 1: Qua những học sinh đọc nối tiếp, giáo viên nghe và phát hiện những hạn chế về cách phát âm, ngắt nghỉ, ngữ điệu câu, từ đó có biện pháp hướng dẫn đối với cá nhân hoặc nhắc nhở chung đối với cả lớp để học sinh đạt yêu cầu đọc đúng và rành mạch
+ Vòng 2: Học sinh đọc nối tiếp kết hợp nắm nghĩa của từ được chú giải trong SGK, nó có tác dụng góp phần nâng cao kĩ năng đọc hiểu ( việc tìm
Trang 12hiểu nghĩa từ có thể xen kẽ trong quá trình đọc nối tiếp hoặc sau khi đọc hết bài) Nếu học sinh đọc sai giáo viên vẫn tiếp tục hướng dẫn, sửa chữa.+ Vòng 3: Học sinh đọc nối tiếp để giáo viên đánh giá sự tiến bộ, tiếp tục hướng dẫn hoặc nhắc nhở.Việc luyện đọc từng đoạn nối tiếp tạo điều kiện cho nhiều học sinh được thực hành đọc Qua thực hành mà học sinh được giáo viên hướng dẫn, uốn nắn hay động viên, khích lệ để đạt được vững chắc kĩ năng đọc, chuẩn bị luyện tập kĩ năng mới: Đọc diễn cảm.
Với những học sinh phát âm chưa đúng, giáo viên cần sửa phát âm cho học sinh Cụ thể:
Ví dụ: Khi dạy bài Hoa học trò học sinh phát âm sai từ “ nỗi niềm”, “lá
me non”, “lúc nào”, “làm sao” thành các từ “ lỗi liềm”, “ná me lon”, “núc lào”, “nàm sao”… Đây là lỗi sai khi nói lẫn lộn phụ âm đầu l/n do cách phát âm của địa phương Đối với những lỗi như thế này tôi gọi một hoặc hai học sinh đọc chuẩn đọc lại hoặc tôi đọc lại từ đó và yêu cầu học sinh phát âm theo Nếu học sinh không sửa được tôi dùng cách trực quan mô tả
âm vị và hướng dẫn học sinh quan sát, tự kiểm tra Vì âm “ n ” là âm mũi khi phát âm sờ tay vào mũi thấy rung Tôi yêu cầu học sinh đọc lại các từ
“ nỗi niềm”, “lá me non”, “lúc nào” một cách chính xác Ngược lại, khi bịt mũi học sinh không thể đọc được “ nỗi niềm”
Đối với những học sinh đọc sai dấu thanh: thanh “ hỏi” thành thanh “ nặng”, thanh “ngã” thành thanh “sắc”
Ví dụ: Khi đọc “ đỏ rực” thành “đọ rực”, “xã hội” thành “ xá hội”, “ đưa đẩy” thành “đưa đậy”, “mạnh mẽ” thành “mạnh mé”
Đây là những lỗi sai rất khó sửa nên tôi đã rất kiên trì đồng thời phải có sự phối hợp tích cực giữa học sinh, phụ huynh Tôi hướng dẫn học sinh cách đặt vị trí của đầu lưỡi khi phát âm “ đỏ”, “đẩy” đầu lưỡi đặt lên vị trí hàm trên hai môi khép kín khi đọc lưỡi bật xuống và phát âm Còn nếu học sinh phát âm sai “đọ”, “đậy” trong khi phát âm nếu khép hai môi như trên thì không thể phát âm được Tôi cũng hướng dẫn cho phụ huynh cách
Trang 13luyện thêm ở nhà cho các em Đối với từng bài tôi tìm ra những tiếng khó,
- Đọc theo phân vai ( nhiều học sinh hợp tác đọc theo lời nhân vật mình đóng vai, tham gia các trò chơi luyện đọc)
+ Việc giúp các em nắm nội dung, ý nghĩa của bài đọc được tiến hành chủ yếu ở bước tìm hiểu bài Sau khi hướng dẫn các em khai thác nội dung các câu hỏi trong sách giáo khoa, tôi đã nêu thêm một vài câu hỏi mở để giúp các em hiểu sâu sắc hơn về ý nghĩa của bài đọc đó
* Khai thác giọng đọc của học sinh thông qua việc tìm hiểu nội dung bài:
- Hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài nhằm trao đổi kĩ năng đọc- hiểu, góp phần nâng cao năng lực cảm thụ văn học và tạo cơ sở cho luyện đọc diễn
Trang 14Nắm được nội dung chính của bài sẽ giúp các em xác định giọng đọc chung của đoạn,
của bài Ví dụ: Bài đọc với giọng nhẹ nhàng, tha thiết, vui tươi, mạnh mẽ
- Giáo viên nêu câu hỏi để định hướng cho học sinh đọc thầm ( đoạn, bài)
và trả lời đúng nội dung Có thể kết hợp cho học sinh đọc thành tiếng, những học sinh khác đọc thầm thảo luận vấn đề do giáo viên đưa ra Ví dụ: Giáo viên yêu cầu học sinh đọc thầm khổ thơ 3 trong bài thơ "Mẹ ốm"( lớp 4) để trả lời câu hỏi: Sự quan tâm chăm sóc của xóm làng đối với mẹ bạn nhỏ được thể hiện qua những câu thơ nào?
- Với trình độ học sinh trong lớp, tôi chia câu hỏi thành các ý nhỏ để học sinh dễ thực hiện hoặc bổ sung câu hỏi phụ có tác dụng dẫn dắt học sinh trả lời câu hỏi
Ví dụ: Câu hỏi 1 trong bài "Tre Việt Nam"(lớp 4) tôi tách thành 3 ý nhỏ
- Bằng nhiều hình thức khác nhau ( làm việc cá nhân, theo cặp hoặc theo nhóm ), tôi tạo điều kiện cho học sinh luyện tập một cách tích cực Trong quá trình tìm hiểu bài, tôi rèn luyện cho học sinh cách trả lời câu hỏi, trao đổi ý kiến
- Muốn đọc diễn cảm một văn bản, phải lựa chọn được giọng điệu, ngữ điệu phù hợp với tình huống miêu tả, thể hiện được tình cảm, thái độ, đặc điểm của nhân vật hay tình cảm, thái độ của tác giả đối với nhân vật và nội dung, ý nghĩa bài đọc Tôi yêu cầu học sinh đọc thật tốt một đoạn văn nhằm "thăm dò" khả năng thể hiện sự cảm nhận nội dung bằng giọng đọc của học sinh Qua kết quả đọc của học sinh, tôi dẫn dắt, gợi ý để học sinh
Trang 15phát huy những ưu điểm, khắc phục những hạn chế và tìm ra cách đọc hợp lí Ví dụ: Đoạn vừa rồi đọc với giọng như thế nào? Để nêu đặc điểm của nhân vật, em cần chú ý nhấn giọng ở những từ ngữ nào?
Hoặc: Qua nội dung bài, em hãy xác định giọng đọc chung của toàn bài?Học sinh thảo luận và trả lời - sau đó giáo viên rút ra kết luận chung
- Muốn tìm hiểu được ngữ điệu đọc phải bắt đầu từ hiểu và cảm thụ nội dung bài
- Trong mỗi tiết học, giáo viên là người giúp các em nắm vững nội dung bài, những từ ngữ gợi tả bằng cách đặt câu hỏi, gợi mở, dẫn dắt, từ đó các
em sẽ cảm thụ và rung động trước cái hay, cái đẹp của bài văn Có có thụ sâu sắc nội dung bài mới chuyền được ngữ điệu, cảm xúc của tác phẩm đến người nghe
- Trong các bài thơ bài văn miêu tả trữ tình tôi giúp học sinh tìm ra các từ
“chìa khoá” những từ tạo nên giá trị nghệ thuật của bài Vậy làm thế nào
để học sinh có thể nhận ra được những từ có tín hiệu nghệ thuật ấy? Theo tôi, chúng ta nên bắt đầu bằng những ví dụ thật cụ thể để làm sao cho học sinh thấy được rằng: Những từ có tín hiệu nghệ thuật thường là những từ giầu mầu sắc biểu cảm như các từ láy, những từ đa nghĩa, những từ mang nghĩa bóng có sự chuyển nghĩa văn chương, những từ có kết hợp bất thường, những từ bộc lộ cảm xúc
Ví dụ các từ : long lanh, phân vân, thung thăng của bài Con chuồn chuồn nước (Tiếng Việt 4 ).
- Đối với các bài văn, bài thơ có thể yêu cầu học sinh tìm các từ ngữ, hình ảnh có giá trị nghệ thuật trong bài Sau đó giáo viên hướng dẫn học sinh giải nghĩa các từ đó bằng các biện pháp: định nghĩa, bằng trực quan (tranh, ảnh…), bằng ngữ cảnh cụ thể…
Ví dụ: bài ( Con chuồn chuồn nước – Tiếng việt 4 )
+ Khi giải nghĩa từ phân vân giáo viên yêu cầu học sinh đặt câu với từ đó + Với từ thung thăng tôi phải đặt từ đó vào câu để giải thích (Rồi những cảnh tuyệt đẹp của đất nước hiện ra: cánh đồng với những đàn trâu thung
Trang 16thăng đang gặm cỏ ; dòng sông với những đoàn thuyền ngược xuôi)
Ngoài ra trong giảng dạy tôi giúp các em học sinh hiểu được các nghĩa của câu từ ( nghĩa đen và nghĩa bóng)
- Ngoài việc dạy cho học sinh hiểu rõ nghĩa của từ, chúng ta cần giúp học sinh hiểu rõ cái hay của việc dùng từ ngữ, hình ảnh nghệ thuật, cảm nhận được những giá trị nổi bật, những điều tế nhị sâu sắc, đẹp đẽ của từ ngữ, câu văn, câu thơ, đoạn văn, đoạn thơ, câu chuyện…
- Việc phát hiện ra các biện pháp nghệ thuật là một trong những phần quan trọng trong việc cảm thụ bài văn Vì vậy, ngay từ đầu giáo viên cần
bổ sung cho các em hiểu biết thêm về các biện pháp tu từ như: biện pháp
so sánh , nhân hoá và dấu hiệu nhận biết, tác dụng của các biện pháp đó Đồng thời, các em cần tìm ra sự tinh tế trong cách sử dụng ngôn từ Ta cần đọc kỹ, lắng nghe xem bài văn gây cho ta cảm xúc gì? ( cảm xúc về
âm thanh, giai điệu? về đường nét, mầu sắc ? về nhịp điệu cuộc sống? về tâm tư, suy nghĩ của tác giả? về con người cảnh vật được miêu tả? )
- Muốn có được những cảm nhận đó, các em cần có một trí tưởng tượng phong phú, một khả năng nhận diện cảm xúc nhậy bén … giáo viên chính
là người phát hiện và bồi dưỡng những khả năng này ở các em
Ví dụ: Khi dậy bài “ Bài thơ về Tiểu đội xe không kính” – Tiếng việt 4 tập
Những chiếc xe từ trong bom rơi
Đã về đây họp thành tiểu đội Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi.”
Phạm Tiến Duật
Trang 17- Để giúp các em hiểu rõ nội dung và cảm thụ được bài thơ giáo viên cần đặt câu hỏi:
+ Những hình ảnh nào trong bài thơ nói nên tinh thần dũng cảm và lòng hăng hái của những chiến sỹ lái xe?
+ Tình đồng chí, đồng đội của những người chiến sỹ được thể hiện trong câu thơ nào?
+ Hình ảnh những chiếc xe không có kính vẫn băng băng ra trận giữa bom đạn của kẻ thù gợi cho em cảm nghĩ gì?
- Qua hình ảnh độc đáo của những chiếc xe không kính vì bom giật bom rung sẽ giúp các em hiểu rõ hơn những khó khăn, nguy hiểm trên đường
ra trận và tinh thần dũng cảm lạc quan của các chiến sỹ lái xe trong những năm tháng chống mỹ cứu nước Đó cũng là khí thế quyết chiến, quyết
thắng Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước của hậu phương lớn miền Bắc
trong thời kỳ chiến tranh chống đế quốc Mỹ
- Hiểu và cảm thụ được vẻ đẹp cái hay của bài thơ ( thể hiện qua những hình ảnh gợi tả, biện pháp tu từ …) các em sẽ có được niềm cảm thông sâu sắc bởi đã hoà mình được vào dòng cảm xúc của tác giả Từ đó các
em không chỉ đọc đúng mà còn có thể truyền tải được cả tình cảm của tác giả trên cơ sở mình cảm nhận được
Khi đọc những câu thơ trong bài “ Khúc hát ru những em bé trên lưng mẹ
”, Tiếng việt 4 tập 2 trang 49 của tác giả Nguyễn Khoa Điềm.
Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi
Em ngủ cho ngoan, đừng rời lưng mẹ
Mẹ giã gạo mẹ nuôi bộ đội Nhịp chày nghiêng giấc ngủ em nghiêng
Mồ hôi mẹ rơi má em nóng hổi Vai mẹ gầy nhấp nhô làm gối Lưng đưa nôi và tim hát thành lời.
Ta cảm thấy thật xúc động bởi tình yêu của mẹ đối với con, đối với cách mạng thật lớn lao, cao cả Chính vì ,vậy, giáo viên cần giúp cho các em