1. Trang chủ
  2. » Tất cả

so sánh thừa kế 2005 vs 2015

14 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 32,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật dân sự 2015: Tức khi người có di sản chết, có lập Di chúc đ

Trang 1

1 Di chúc theo quy định tại Điều 624 BLDS 2015

Khái niệm một cách ngắn gọn như sau: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”, (kế thừa khái

niệm về Di chúc tại Điều 646 BLDS 2005 – không sửa đổi)

=> Như vậy, thời điểm được hưởng thừa kế theo Di chúc, là thời điểm mở thừa kế (Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết Trường hợp Tòa

án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật dân sự 2015): Tức khi người có di sản chết, có lập

Di chúc để lại và Di chúc đó hợp pháp, những người có tên trong Di chúc có đủ điều kiện nhận di sản thừa kế theo Di chúc và họ không từ chối nhận di sản đó

2 Người lập di chúc tại Điều 625 BLDS 2015

Xác định độ tuổi lập di chúc của cá nhân, cụ thể như sau:

1 Người thành niên có đủ điều kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều

630 của Bộ luật dân sự 2015 có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình.

2 Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

=> Như vậy, Điều 625 BLDS 2015 chỉ đơn thuần quy định về độ tuổi lập di chúc; tại Khoản 1 Điều 625 BLDS 2015 có sửa đổi – bỏ cụm từ “người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình” - và dẫn chiếu đến Điều 630 BLDS 2015 về “Di chúc hợp pháp” – quy định đầy đủ các điều kiện để một Di chúc hợp pháp

=> Còn theo Khoản 1 Điều 647 BLDS 2005 vừa quy định độ tuổi lập di chúc, vừa quy định điều kiện người lập di chúc không phải là: “người bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình” Trong khi đó Điều 652 BLDS 2005 quy định về “Di chúc hợp pháp” cũng ghi nhận về trường hợp trên Như vậy, Khoản 1 Điều 647 BLDS 2005 ghi nhận điều kiện về khả năng nhận thức – hay năng lực hành vi của cá nhân khi lập di chúc là thừa, đôi khi khiến cho việc vận dụng pháp luật vào thực tế mỗi nơi một khác, mỗi người một ý, hay tranh luận vô bổ, tội người dân, dẫn đến tình trạng

“Lắm thầy thối ma”

3 Quyền của người lập di chúc tại Điều 626 BLDS 2015

Người lập di chúc có các quyền sau đây:

1 Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;

2 Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;

3 Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;

Trang 2

4 Giao nghĩa vụ cho người thừa kế;

5 Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.

=> Không sửa đổi, bổ sung gì so với Điều 648 BLDS 2005 (giống nhau nhé) {P/S: Ai có nhiều tài sản hoặc cố làm việc rồi tích tụ thật nhiều tài sản vào nhé (đất đai, biệt thự, nhà lầu, xe hơi, vàng, bạc, đá quý, tiền VND, đô la…), rồi tiếp đến là lo lập di chúc cho con cháu, và sẽ có được các quyền năng trên nghen Người phương đông nói chung, người Việt ta nói riêng là thế, làm cật lực cốt yếu là

để lo cho con cháu Truyền thống như vậy, cho nên ông cha ta thường có câu:

“Không ai giàu ba họ không ai khó ba đời” – tức đời ông làm lụng vất vả có của ăn của để -> đến đời cha tiếp tục phát huy, chanh làm hết tất cả mọi thứ -> đến đời cháu chỉ biết ăn chơi, không biết làm gì và ra sức phá, phá và phá bằng hết… + n phá}

4 Hình thức của di chúc tại Điều 627 BLDS 2015

Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.

=> So với Điều 649 BLDS 2005 thì thấy rõ: Không còn quy định về “Người thuộc dân tộc thiểu số có quyền lập di chúc bằng chữ viết hoặc tiếng nói của dân tộc mình”

=> Các nhà làm luật xóa bỏ sự khác biệt giữa người miền xuôi với người miền ngược; người dân vùng đồng bằng, trung du với người miền núi; người dân tộc thiểu số với người kinh; hay nói khác đi, là xóa bỏ ranh giới giữa các thành phần dân tộc trong thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình khi xác lập quan hệ dân sự nói chung, giao dịch dân sự nói riêng mà cụ thể trong việc lập di chúc Điều này có

ý nghĩa về mặt xã hội rất lớn: đó là nâng cao vai trò của người dân tộc thiểu số trong đời sống xã hội, đồng thời tạo ra sự bình đẳng trong thực thi Chính sách, Pháp luật, tiến tới xóa bỏ vĩnh viễn sự phân biệt, đối xử…

5 Di chúc bằng văn bản tại Điều 628 BLDS 2015

Di chúc bằng văn bản bao gồm:

1 Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng;

2 Di chúc bằng văn bản có người làm chứng;

3 Di chúc bằng văn bản có công chứng;

4 Di chúc bằng văn bản có chứng thực.

=> Điều 628 BLDS 2015 giữ nguyên – không có gì khác so với Điều 652 BLDS 2005 Di chúc bằng văn bản có bốn loại như vậy là đủ, các nhà làm luật chưa nghĩ ra thêm loại di chúc bằng văn bản nào nữa Bạn nào giỏi/sáng tạo thì làm

Trang 3

dự thảo rồi kiến nghị với Cơ quan lập pháp bổ sung vào bộ luật nhé Chú ý nắm bắt

kỳ họp Quốc Hội – một năm có hai lần họp (chính thức) – để có kế hoạch gửi bản

dự thảo kiến nghị sửa đổi, bồ sung luật (nếu có)

6 Di chúc miệng tại Điều 629 BLDS 2015

1 Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng.

=> So sánh với Khoản 1 Điều 651 BLDS 2005, thì khoản 1 Điều 628 BLDS

2015 có sửa đổi – bỏ cụm từ “do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác” Chắc các nhà làm luật thấy bỏ vào thêm thừa nên bỏ luôn Tôi cũng thấy nên bỏ đi là đúng

2 Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị huỷ bỏ (Khoản 2 giử

nguyên)

7 Di chúc hợp pháp tại Điều 630 BLDS 2015

1 Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

2 Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

3 Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4 Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5 Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng

ký tên hoặc điểm chỉ Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

=> So với Điều 652 BLDS 2005 thì Điều 630 BLDS 2015 không sửa đổi, bổ sung gì nhé Tức giữ nguyên

Trang 4

{P/S: Nhớ là khi lập di chúc phải vận dụng tất cả các điều luật thuộc Chương XXII của BLDS 2015, nhất là Điều 630 này nhé; Soạn di chúc thật kỹ, không có kẽ

hở nào nhé Nếu soạn chỉ cần hở bằng đầu mũi kim thôi là rắc rối lắm Trên thực

tế, có di chúc hay không, di chúc bằng văn bản hay bằng miệng, di chúc có người làm chứng hoặc không, di chúc có công chứng/chứng thực hay không, …nếu 1 trong những người thừa kế không ưa nhau, gét nhau, chanh giành nhau…là vác đơn ra tòa đòi chia ngay lập tức Nếu di chúc náo rót nước vào không lọt là ok nhé; nếu có 1 tí ti kẽ hở là cả các bên (bên nguyên, bên bị, bên liên quan) đều lo cả, lo lắm lắm luôn….!}

8 Nội dung của di chúc tại Điều 631 BLDS 2015

1 Di chúc gồm các nội dung chủ yếu sau:

a) Ngày, tháng, năm lập di chúc;

b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;

c) Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;

d) Di sản để lại và nơi có di sản.

2 Ngoài các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, di chúc có thể có các nội dung khác.

3 Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.

Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xoá, sửa chữa.

=> So sánh với Điều 653 BLDS 2005 “Nội dung của di chúc bằng văn bản” thì Điều 631 BLDS 2015 “Nội dung của di chúc” – đã khác luôn từ cái tên gọi nhé Trong nội dung điều luật cũng có những sửa đổi, bổ sung:

+ Điều 631 BLDS 2015 có 3 khoản – còn Điều 653 BLDS 2005 có 2 khoản; + Điểm c khoản 1 Điều 631 BLDS 2015 bỏ đi cụm từ “hoặc xác định rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản” của điểm c khoản 1 Điều 653 BLDS 2005; bỏ luôn điểm d khoản 1 Điều 653 BLDS 2005

+ Bổ sung thêm khoản 2 (như nêu trên);

+ Đoạn đầu khoản 3 Điều 631 BLDS 2015 giữ nguyên như khoản 2 Điều

653 BLDS 2005; Bổ sung thêm trường hợp: “Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xoá, sửa chữa”

Trang 5

{P/S: Trên đây chỉ là cái sườn của di chúc thôi, khi lập phải ghi thật rõ ràng, chi tiết, càng chi tiết càng tốt, nhất là về nhân thân, về tài sản; không nên viết tắt,

dùng ký hiệu hay dùng từ địa phương củ chuối nào đó (vì không có người giải mật

mã hay phiên dịch nào trong những phi vụ này đâu), cũng tránh việc tẩy xóa (nếu

lỡ viết tắt, tẩy xóa rồi thì bỏ đi viết lại, tiếc chi con heo ốm nhỉ); muốn thêm nội dung khác thì cũng nên thêm cho đúng luật, phù hợp với đạo đức xã hội (đừng có thêm vớ vẩn gì đó nhgen) hoặc nếu không biết thì đi hỏi, đi tư vấn chuyên gia (cả

gia tài cơ mà, tiếc chi vài trăm ngàn tiền Việt Nam đồng tư vấn, ky bo quá sau này con cháu choảng nhau còn kinh khủng hơn)}

9 Người làm chứng cho việc lập di chúc tại Điều 632 BLDS 2015

Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau đây:

1 Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc;

2 Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc;

3 Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

=> Khoản 1, 2 Điều 632 BLDS 2015 giữ nguyên như khoản 1,2 Điều 654 BLDS 2005

=> Khoản 3 Điều 632 BLDS 2015 so với khoản 3 Điều 653 BLDS 2005 có sửa đổi, bổ sung như sau:

+ Sử dụng cụm từ “Người chưa thành niên” thay cho cụm từ “Người chưa

đủ mười tám tuổi”; sử dụng cụm từ “người mất năng lực hành vi dân sự” thay cho cụm từ “người không có năng lực hành vi dân sự”; bổ sung thêm trường hợp:

“người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi”

{P/S: Chọn người làm chứng cho di chúc phải thật kỹ, tinh tế: Có sức khỏe tốt, không bệnh tật (sống lâu hơn mình), trung thành, tình nghĩa, thẳng thắn, chính nghĩa, khách quan, biết đọc, biết viết, không bị chứng mất trí nhớ Tốt nhất là chọn người làm chứng còn trẻ (20 đến dưới 50), đừng chọn già quá, như bằng tưổi mình hoặc già hơn là cũng hơi phiền (đời không nói trước được nhưng theo quy luật tự

nhiên thì già chết trước trẻ, “sinh, lão, bệnh, tử” mà) Luật còn bỏ ngõ một điều: nếu trường hợp người để lại di chúc chết, người làm chứng cũng chết theo,

sau này di chúc có nhưng con cháu vẫn tranh chấp thì ai làm chứng nhỉ? Hay phải dùng thủ thuật gọi hồn?Bạn nào thông thái giúp đỡ tớ vụ này nhé?}

10 Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng tại Điều 633 BLDS 2015

Người lập di chúc phải tự viết và ký vào bản di chúc.

Trang 6

Việc lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều 631 của Bộ luật dân sự 2015.

=> Về cơ bản, Điều 632 BLDS 2015 vẫn giữ nguyên nội dung của Điều 655 BLDS 2005

11 Di chúc bằng văn bản có người làm chứng tại Điều 634 BLDS 2015

Trường hợp người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản di chúc, nhưng phải

có ít nhất là hai người làm chứng Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc.

Việc lập di chúc bằng văn bản có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều 631 và Điều 632 của Bộ luật dân sự 2015.

=> So với Điều 656 BLDS 2005 thì Điều 634 BLDS 2015 không có gì khác cả

12 Di chúc có công chứng hoặc chứng thực tại Điều 635 BLDS 2015

Người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực bản di chúc.

=> Giữ nguyên nội dung của Điều 657 BLDS 2005

{P/S: Phải nói, trên thực tế đa số khi lập di chúc, mọi người đều ưa chọn

công chứng hoặc chứng thực; vì người Việt mình cứ thấy có dấu đỏ chót là khoái,

là có niềm tin vững chắc Tôi cũng thấy lập di chúc rồi đi công chứng hoặc chứng thực là ổn nhất, mà tốt nhất là đi công chứng; vì dù sao, công chứng viên là người

có am hiểu pháp luật, trước khi công chứng họ xem xét rất kỹ xem nội dung có trái luật không, có trái đạo đức xã hội không, có thiều sót hoặc thừa thải gì không… Còn ra Uỷ ban nhân dân cấp xã chứng thực di chúc thì phải để ý mấy điều

sau: i) trình độ của cán bộ có thẩm quyền chứng thực mỗi nơi mỗi khác, đa số

không chuyên sâu về pháp luật nên họ không biết hết tất cả các khía cạnh cần, đủ,

đúng và hợp pháp của nội dung di chúc; ii) còn người dân đa số cũng mù luật nên

khi lập di chúc thì sơ sài, viết vô tội vạ, viết theo lối nghĩ truyền thống, viết tóm

lược quá, nội dung thiếu gần như tất cả các chi tiết quan trọng nhất; iii) mặt khác,

chứng thực là chỉ xác nhận chữ ký thôi, còn nội dung di chúc họ không quan tâm nhiều lắm, dẫn đến trong thực tế có rất nhiều DI CHÚC ĐƯỢC CHỨNG THỰC vẫn trái luật – tức không có giá trị pháp lý}

13 Thủ tục lập di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân cấp xã – tại Điều 636 BLDS 2015

Việc lập di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân cấp xã phải tuân theo thủ tục sau đây:

Trang 7

1 Người lập di chúc tuyên bố nội dung của di chúc trước công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp xã Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp xã phải ghi chép lại nội dung mà người lập di chúc đã tuyên bố Người lập di chúc ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc sau khi xác nhận bản di chúc đã được ghi chép chính xác

và thể hiện đúng ý chí của mình Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp xã ký vào bản di chúc;

2 Trường hợp người lập di chúc không đọc được hoặc không nghe được bản di chúc, không ký hoặc không điểm chỉ được thì phải nhờ người làm chứng và người này phải ký xác nhận trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp xã Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp xã chứng nhận bản di chúc trước mặt người lập di chúc và người làm chứng.

=> So với Điều 658 BLDS 2005 thì nội dung Điểu 636 BLDS 2015 không

có gì khác; chỉ bỏ đi cụm từ “phường, thị trấn” chỉ để cụm từ “cấp xã” là ok rồi, nhét vô thêm thừa

14 Người không được công chứng, chứng thực di chúc – tại Điều 637 BLDS 2015

Công chứng viên, người có thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân cấp xã không được công chứng, chứng thực đối với di chúc nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

1 Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc;

2 Người có cha, mẹ, vợ hoặc chồng, con là người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật;

3 Người có quyền, nghĩa vụ về tài sản liên quan tới nội dung di chúc.

=> So với Điều 659 BLDS 2005 thì nội dung Điều 637 BLDS 2015 không khác luôn; cũng chỉ bỏ đi cụm từ “Phường, thị trấn” ở câu đầu tiên của điều luật

15 Di chúc bằng văn bản có giá trị như di chúc được công chứng hoặc chứng thực – tại Điều 638 BLDS 2015

1 Di chúc của quân nhân tại ngũ có xác nhận của thủ trưởng đơn vị từ cấp đại đội trở lên, nếu quân nhân không thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực.

2 Di chúc của người đang đi trên tàu biển, máy bay có xác nhận của người chỉ huy phương tiện đó.

3 Di chúc của người đang điều trị tại bệnh viện, cơ sở chữa bệnh, điều dưỡng khác có xác nhận của người phụ trách bệnh viện, cơ sở đó.

Trang 8

4 Di chúc của người đang làm công việc khảo sát, thăm dò, nghiên cứu ở vùng rừng núi, hải đảo có xác nhận của người phụ trách đơn vị.

5 Di chúc của công dân Việt Nam đang ở nước ngoài có chứng nhận của cơ quan lãnh sự, đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước đó.

6 Di chúc của người đang bị tạm giam, tạm giữ, đang chấp hành hình phạt

tù, người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh có xác nhận của người phụ trách cơ sở đó.

=> So với Điều 660 BLDS 2005 thì nội dung các trường hợp về giá trị pháp

lý của di chúc không có công chứng/chứng thực tại Điều 638 BLDS 2015 không khác; chỉ bỏ đi câu đầu tiên: “Di chúc bằng văn bản có giá trị như di chúc được công chứng hoặc chứng thực bao gồm:”- vì chẳng qua là ghi lại tên gọi của điều luật – như vậy là quá thừa, tốn giấy, mực và công sức đánh máy

16 Di chúc do công chứng viên lập tại chỗ ở - tại Điều 639 BLDS 2015

1 Người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng viên tới chỗ ở của mình để lập di chúc.

2 Thủ tục lập di chúc tại chỗ ở được tiến hành như thủ tục lập di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng theo quy định tại Điều 636 của Bộ luật này.

=> So với Điều 661 BLDS 2005 thì nội dung của Điều 639 BLDS 2015 không khác một điểm nào

{P/S: Luật quy định hình thức di chúc có công chứng hoặc chứng thực Vậy

mà điều luật này chỉ quy định chỉ có 1 trường hợp: “Di chúc do công chứng viên lập tại chỗ”; còn đối với hoạt động chứng thực thì không quy định, vậy nghĩa là sao? Tôi chưa hiểu lắm về dụng ý hoặc cách nghĩ cao siêu của nhà làm luật? Có bạn nào cao siêu thì chỉ giùm tôi cái coi?}

17 Sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc – tại Điều 640 BLDS 2015

1 Người lập di chúc có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc đã lập vào bất cứ lúc nào.

2 Trường hợp người lập di chúc bổ sung di chúc thì di chúc đã lập và phần

bổ sung có hiệu lực pháp luật như nhau; nếu một phần của di chúc đã lập và phần

bổ sung mâu thuẫn nhau thì chỉ phần bổ sung có hiệu lực pháp luật.

3 Trường hợp người lập di chúc thay thế di chúc bằng di chúc mới thì di chúc trước bị huỷ bỏ.

=> So với Điều 662 BLDS 2005 thì nội dung của Điều 640 BLDS 2015 không khác một điểm nào

Trang 9

{P/S: Luật quy định như trên là đầy đủ, rất tốt, vì trên thực tế cũng có những

trường hợp như trên xảy ra Mặc dù vậy, tôi cũng xin thẳng thắn: trừ trường hợp thay thế, hủy bỏ di chúc ra, các trường hợp như sửa đổi, bổ sung thì không nên sử dụng; nếu thấy di chúc cần phải bổ sung hoặc sửa đổi thì nên bỏ di chúc đã lập đi, lập một di chúc khác cho thật hoàn chỉnh, vì mình còn sống mà Đừng có bổ sung, sửa đổi gì cho mệt, nếu việc sửa đổi, bổ sung mà không khớp, hoặc mâu thuẫn… với nội dung đã lập trước đó thì mất công, mất sức và ý nguyện của mình không đạt được thì gay go to}

18 Gửi giữ di chúc – tại Điều 641 BLDS 2015

1 Người lập di chúc có thể yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng lưu giữ hoặc gửi người khác giữ bản di chúc.

2 Trường hợp tổ chức hành nghề công chứng lưu giữ bản di chúc thì phải bảo quản, giữ gìn theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về công chứng.

3 Người giữ bản di chúc có nghĩa vụ sau đây:

a) Giữ bí mật nội dung di chúc;

b) Giữ gìn, bảo quản bản di chúc; nếu bản di chúc bị thất lạc, hư hại thì phải báo ngay cho người lập di chúc;

c) Giao lại bản di chúc cho người thừa kế hoặc người có thẩm quyền công

bố di chúc, khi người lập di chúc chết Việc giao lại bản di chúc phải được lập thành văn bản, có chữ ký của người giao, người nhận và trước sự có mặt của ít nhất hai người làm chứng.

=> So với Điều 665 BLDS 2005 thì nội dung Điều 641 BLDS 2015 – về cơ bản giữ nguyên; chỉ sửa đổi, bổ sung 2 ý, cụ thể:

+ Tại Khoản 2 Điều 641 BLDS 2015 (so với Khoản 2 Điều 665BLDS 2005)

bổ sung thêm cụm từ “Bộ luật này”; nghĩa là việc gửi giữ di chúc phải được bảo quản theo BLDS 2015 và cả pháp luật về công chứng;

+ Tại khoản 3 Điều 641 BLDS 2015 (so với Khoản 3 Điều 665BLDS 2005),

có sửa đổi, cụ thể: sử dụng câu “Người giữ bản di chúc” thay cho câu “Cá nhân giữ bản di chúc”; sự sửa đổi này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng: “Người” ở đây phải

hiểu bao gồmCá nhân + tổ chức có quyền được giữ di chúc -> Phù hợp với quy

định tại khoản 2 Điều này, phù hợp với pháp luật về công chứng/chứng thực; còn

“Cá nhân” theo cách quy định của BLDS 2005 thì chỉ có thể là 1 con người cụ

thể (thực thể sinh học, biết đi, đứng, ngồi, khóc, la ó, suy nghĩ, ý thức….); nếu quy

định như vậy là thiếu

19 Di chúc bị thất lạc, hư hại – tại Điều 642 BLDS 2015

Trang 10

1 Kể từ thời điểm mở thừa kế, nếu bản di chúc bị thất lạc hoặc bị hư hại đến mức không thể hiện được đầy đủ ý chí của người lập di chúc và cũng không có bằng chứng nào chứng minh được ý nguyện đích thực của người lập di chúc thì coi như không có di chúc và áp dụng các quy định về thừa kế theo pháp luật.

2 Trường hợp di sản chưa chia mà tìm thấy di chúc thì di sản được chia theo di chúc.

3 Trong thời hiệu yêu cầu chia di sản, trường hợp di sản đã chia mà tìm thấy di chúc thì phải chia lại theo di chúc nếu người thừa kế theo di chúc yêu cầu.

=> So với Điều 666 BLDS 2005 thì Điều 642 BLDS 2015 có bổ sung: Về bố cục có 3 khoản – tức bổ sung thêm khoản 3 (có nội dung nêu trên); về khoản 1, 2 Điều 642 BLDS 2015 vẫn giữ nguyên nội dung so với khoản 1, 2 Điều 666 BLDS 2005

20 Hiệu lực của di chúc – tại Điều 643 BLDS 2015

1 Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế.

2 Di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong trường hợp sau đây:

a) Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc;

b) Cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc mà có người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, một trong nhiều cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa

kế thì chỉ phần di chúc có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này không có hiệu lực.

3 Di chúc không có hiệu lực, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực.

4 Khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực.

5 Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực.

=> So với Điều 667 BLDS 2005, thì nội dung Điều 643 BLDS 2015 cơ bản giữ nguyên

Ngày đăng: 02/04/2017, 20:13

w