1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thừa kế theo pháp luật theo quy định trong bộ luật dân sự 2005

20 115 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 176 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Di sản Theo Từ điển tiếng Việt: "Di sản là của cải, tài sản của người chết để lại" Điều 634 BLDS năm 2005 quy định: "Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người c

Trang 1

MỞ ĐẦU

Thừa kế là một quan hệ pháp luật đặc biệt trong đời sống xã hội, tranh chấp thường xảy ra đối với những người trong gia đình, có cùng huyết thống Hiện nay, khi mà giá trị tài sản tăng theo từng ngày, từng giờ, khi mà con người sống với nhau còn thiên về vật chất hơn tình cảm thì những vụ việc tranh chấp thừa kế có xu hướng tăng cao Những vụ án dân sự về vấn đề thừa kế cũng là một bài toán khó với các cơ quan chức năng, có lẽ do Bộ luật dân sự năm 2005 còn quy định chưa rõ ràng về vấn đề này dẫn đến việc các cơ quan xét xử còn lúng túng khi áp dụng

Qua bài tập học kì môn luật dân sự Việt nam 1 lần này xem xin lựa chọn đề

bài số 15 với nội dung “Thừa kế theo pháp luật theo quy định trong Bộ luật dân

sự 2005” Rất mong các thầy cô thông cảm, do kiến thức bản thân còn hạn chế

Em xin được nhận những lời phê bình, góp ý của thầy cô để có thể hoàn thiện kiến thức bản thân cho kì thi vấn đáp sắp tới Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ bộ môn đã tư vấn rất nhiệt tình cho em khi em làm bài tập

NỘI DUNG

A Những quy định chung về thừa kế.

I Một số khái niệm về thừa kế và thừa kế theo pháp luật.

1.Một số khái niệm về thừa kế

Theo Từ điển tiếng Việt: "Thừa kế là hưởng của người khác để lại cho".

Theo các tác giả của Giáo trình Luật dân sự - Trường Đại học Luật Hà Nội, thừa

kế được hiểu là: "Việc dịch chuyển tài sản của người đã chết cho những người còn sống"

Di sản Theo Từ điển tiếng Việt: "Di sản là của cải, tài sản của người chết

để lại" Điều 634 BLDS năm 2005 quy định: "Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác"

Di sản là toàn bộ những tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người

đã chết cũng như các quyền về tài sản của người đó bao gồm:

- Tư liệu sinh hoạt

- Tiền, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý được dùng làm đồ trang sức hoặc dùng làm của cải để dành, tiền tiết kiệm ngân hàng, tiền lương, tiền thưởng chưa lĩnh

- Nhà ở thuộc sở hữu của người chết - Vốn, cổ phần, vật tư, tư liệu sản xuất của người chết

- Tài liệu, dụng cụ máy móc của người làm công tác nghiên cứu

Trang 2

- Cây cối mà người được giao sử dụng đất trồng và hưởng lợi trên đất đó

- Các quyền về tài sản đó là quyền đòi nợ đồ vật đã cho mượn, cho thuê, chuộc lại tài sản đã cầm cố, quyền đối với tài sản đã thế chấp, đã bồi thường thiệt hại về tài sản, hưởng những quyền lợi của tác giả hoặc chủ sở hữu văn bằng, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, quyền tác giả đối với tác phẩm Tuy nhiên, quyền tài sản gắn với nhân thân của người chết như tiền cấp dưỡng, tiền lương hưu không được coi là di sản thừa kế

- Phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác Ở đây có thể là tài sản chung hợp nhất hoặc tài sản chung theo phần Nếu là tài sản chung hợp nhất của vợ chồng thì phần di sản của người chết sẽ được tòa án xác định là chia đôi trị giá tài sản chung vợ chồng trong thời kì hôn nhân Nếu tài sản chung theo phần thì tùy thuộc vào phần góp ban đầu của người chết mới xác định được

số tài sản mà họ được nhận lại từ tài sản chung đó

Quyền thừa kế là quyền nhận di sản từ người chết.

Thời điểm mở thừa kế

Theo khoản 1 điều 633 Bộ luật dân sự về Thời điểm, địa điểm mở thừa kế:

“1 Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết Trong trường hợp Toà án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 81 của Bộ luật này”.

Địa điểm mở thừa kế.

Được quy định tại khoản 2 điều 633 Bộ luật dân sự như sau:

“2 Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn

bộ hoặc phần lớn di sản”.

2 Khái niệm thừa kế theo pháp luật

Là sự chuyển dịch tài sản của người chết cho những người thừa kế theo qui định

của pháp luật thừa kế Theo điều 674 Bộ luật dân sự 2005: "Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật qui định" Theo qui định của thừa kế theo pháp luật thì sau khi người để lại tài sản

qua đời, tài sản sẽ được chia đều cho những người thừa kế của người đó.Những người thừa kế này được xác định thông qua ba mối quan hệ chính là:

- Quan hệ hôn nhân

- Quan hệ huyết thống

Trang 3

- Quan hệ nuôi dưỡng

B Những trường hợp được chia thừa kế theo pháp luật.

I Áp dụng thừa kế theo luật trong trường hợp không có di chúc

Được coi là không có di chúc khi người có tài sản chết mà không lập di chúc hoặc

có lập nhưng chính họ lại tiêu hủy di chúc như xé, đốt hoặc tuyên bố hủy bỏ di chúc đã lập Cũng được coi là không có di chúc dù người chết có để lại di chúc nhưng kể từ thời điểm mở thừa kế di chúc đã bị thất lạc hoặc bị hư hại đến mức không thể hiện được đầy đủ ý chí của người lập di chúc đó và cũng không thể chứng minh được ý nguyện đích thực của người lập di chúc

Ví dụ: Ngày 23/1/2005 ông A có viết di chúc để lại tài sản cho 4 người con, di chúc là hoàn toàn hợp pháp Đến ngày 4/9/2011 ông A chết nhưng tại thời điểm

đó di chúc của ông đã bị tiêu hủy sau một trận hỏa hoạn tại gia đình ông ngày 29/8/2011 Chưa kịp làm lại di chúc mới thì ông A đã ra đi Khi đó, tài sản của ông sẽ phải chia theo quy định của pháp luật tại điều 670 Bộ luật dân sự Đó là chia đều cho 4 người con và vợ của ông A (nếu vợ ông A vẫn còn sống)

II Áp dụng thừa kế theo pháp luật trong trường hợp có di chúc nhưng di chúc không hợp pháp

Một di chúc sẽ được coi là không hợp pháp nếu không đáp ứng đầy đủ các điều kiện đã được quy định tại khoản 1 Điều 655 Bộ Luật Dân sự Di chúc bị coi là bất hợp pháp sẽ không có hiệu lực Tùy theo từng trường hợp mà xác định mức độ vô hiệu của di chúc Di chúc không hợp pháp có thể bị coi là vô hiệu toàn bộ nhưng

có thể bị coi là vô hiệu một phần

Di chúc sẽ bị coi là vô hiệu toàn bộ nếu di chúc đó do người không minh mẫn, sáng suốt lập ra, di chúc không phải là ý nguyện đích thực của người lập, di chúc

do người đủ 15 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi lập ra mà không có sự đồng ý của cha

mẹ hay người giám hộ, hoặc di chúc do người dưới 18 tuổi lập ra Một di chúc cũng bị coi là vô hiệu toàn bộ nếu toàn bộ nội dung của nó trái pháp luật, trái đạo đức xã hội

Trong những trường hợp này, toàn bộ di sản mà người lập di chúc để lại sẽ được chia cho những người thừa kế theo pháp luật của họ

Di chúc không hợp pháp chỉ bị coi là vô hiệu một phần nếu nội dung của nó chỉ

có một phần không hợp pháp và phần không hợp đó không ảnh hưởng đến hiệu lực của những phần còn lại Trong những trường hợp này phần di sản liên quan đến phần di chúc có hiệu lực vẫn được giải quyết theo di chúc Chỉ áp dụng thừa

kế theo pháp luật đối với phần di sản liên quan đến phần di chúc không có hiệu lực

Ví dụ: Ông A có ba người con thừa kế theo pháp luật ở hàng thừa kế thứ nhất là

B, C, D Trước khi chết ông A lập di chúc để định đoạt tài sản của ông (trị giá 785 triệu đồng như sau: cho M bạn thân của ông) hưởng số tài sản trị giá 20 triệu, cho

B, C, D mỗi người hưởng 250 triệu Còn 15 triệu đồng cho ông H hưởng với điều

Trang 4

kiện là H phải gây thương tích nặng cho K (là người mà ông có hận thù lúc còn sống) Trong di chúc nói trên ông A định đoạt 15 triệu cho H Huong là bất hợp pháp nên 15 triệu đó được chia cho những người thừa kế theo luật Vì vậy, vụ thừa kế trên được giải quyết như sau: M = 20 triệu, B = 255 triệu, C = 255 triệu,

D = 255 triệu

III Áp dụng phần thừa kế theo pháp luật đối với phần di sản không định đoạt trong di chúc

Nếu di chúc chỉ định đoạt một phần di sản thì phần còn lại sẽ được chuyển dịch cho những người thừa kế theo quy định của pháp luật Những người trong cùng một hàng thừa kế được hưởng phần di sản bằng nhau nếu di sản được chia theo pháp luật Vì vậy, một người dù đã được hưởng di sản theo di chúc, vẫn được hưởng phần di sản được chia theo pháp luật, nếu họ là người đứng trong hàng thừa kế hưởng di sản theo pháp luật (trừ trường hợp người lập di chúc nói rõ là họ chỉ được hưởng phần di sản đã phân định trong di chúc đó)

IV Áp dụng phần thừa kế theo pháp luật trong trường hợp người thừa kế di chúc chết hoặc chết cùng một thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế

Các cơ quan, tổ chức chỉ bị coi là “không còn” nếu vào thời điểm mở thừa kế các

cơ quan, tổ chức đó đã chấm dứt sự tồn tại của mình trên thực tế như bị giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản Vì vậy, nếu cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc bị chấm dứt do sáp nhập, hợp nhất hoặc chia tách thành cơ quan, tổ chức mới được sáp nhập, hợp nhất hoặc chia tách là cơ quan, tổ chức kế quyền thừa kế theo di chúc của cơ quan, tổ chức cũ Do đó, phần di sản mà cơ quan, tổ chức cũ được hưởng theo di chúc vẫn được dịch chuyển theo đúng ý chí của người để lại

di sản để cơ quan, tổ chức mới được thành lập do sáp nhập, hợp nhất hoặc chia tách sẽ thừa hưởng

Nếu toàn bộ những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, các cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc đều không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế, thì toàn bộ tài sản của người lập

di chúc được dịch chuyển toàn bộ cho những người thừa kế theo pháp luật của người đó

Nếu chỉ có một hoặc một số người thừa kế chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; các cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di sản liên quan đến họ mới được áp dụng thừa kế theo pháp luật

V Áp dụng phần thừa kế theo pháp luật trong trường hợp người thừa kế theo

di chúc không có quyền hưởng thừa kế

Những người đáng lẽ được hưởng thừa kế theo di chúc nhưng lại thực hiện những hành vi đã quy định tại khoản 1 Điều 646 Bộ Luật Dân sự sẽ không được hưởng thừa kế Trong những trường hợp sau đây:

- Hành vi nói trên xảy ra sau khi di chúc đã lập mà người lập di chúc không có ý

Trang 5

kiến gì khác.

- Hành vi nói trên xảy ra trước khi lập di chúc nhưng người lập di chúc không biết được người đó đã có hành vi đó

Nếu toàn bộ những người thừa kế theo di chúc đều không có quyền hưởng di sản thì áp dụng thừa kế theo pháp luật đối với toàn bộ di sản mà người lập di chúc để lại

Nếu chỉ có một hoặc một số người thừa kế theo di chúc không có quyền hưởng di sản thì chỉ áp dụng thừa kế theo pháp luật đối với phần di sản liên quan đến những người đó Nghĩa là phần di sản của những người thừa kế theo di chúc không có quyền hưởng di sản sẽ được dịch chuyển cho những người thừa kế theo quy định tại Điều 679 Bộ Luật Dân sự

VI Áp dụng phần thừa kế theo pháp luật trong trường hợp người thừa kế theo

di chúc từ chối quyền hưởng di sản

Nếu việc từ chối quyền hưởng di sản đúng quy định tại Điều 645 Bộ Luật Dân sự thì phần di sản liên quan đến người từ chối sẽ được áp dụng thừa kế theo pháp luật để giải quyết Cần lưu ý rằng: trong thực tế có những người có thể là người thừa kế theo di chúc nhưng cũng đồng thời là người thừa kế theo luật của người lập di chúc Vì vậy, trong trường hợp này, nếu họ chỉ từ chối quyền hưởng di sản theo di chúc, thì phần di sản đó được chia cho những người thừa kế theo pháp luật

và người từ chối vẫn được hưởng di sản theo pháp luật Nếu họ từ chối toàn bộ quyền hưởng di sản (cả theo di chúc, cả theo pháp luật) thì phần di sản đó được chia cho những người thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản (trừ người đã

từ chối quyền hưởng di sản)

Trong trường hợp toàn bộ những người thừa kế theo di chúc đều từ chối quyền hưởng di sản, thì toàn bộ di sản thừa kế mà người lập di chúc để lại sẽ được chia cho những người thừa kế theo pháp luật của người đó theo quy định tại Điều 679

Bộ Luật Dân sự

Nếu chỉ có một hoặc nhiều người trong số những người thừa kế theo di chúc đều

từ chối quyền hưởng di chúc, thì chỉ áp dụng thừa kế theo pháp luật đối với những phần di sản liên quan đến những người từ chối quyền hưởng di sản

C Diện và hàng thừa kế.

I Diện thừa kế

Diện thừa kế theo pháp luật là phạm vi những người được pháp luật xác định nằm trong diện có thể được hưởng di sản của người chết theo quy định của pháp luật Những người được pháp luật xác định nằm trong diện thừa kế phải là người thân thích của người để lại di sản thừa kế được xác định trên cơ sở quan hệ hôn nhân, gia đình giữa họ với người để lại di sản Diện những người thừa kế

Trang 6

được xác định dựa trên 3 mối quan hệ với người để lại di sản: quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng

II Hàng thừa kế.

Tùy thuộc vào mức độ thân thiết, gần gũi giữa người thừa kế và người chết

mà người ta chia ra các hàng thừa kế khác nhau Hàng thừa kế được quy định tại điều 676 Bộ luật dân sự Cơ sở để phân chia hàng thừa kế dựa vào mối quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng và huyết thống

- Về quan hệ hôn nhân: Là quan hệ giữa vợ chồng được xác lập thông qua việc

kết hôn hợp pháp hay trong trường hợp kết hôn thực tế được pháp luật công nhận Đây là sự kiện làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng Trong đó quyền thừa kế tài sản của nhau giữa vợ và chồng được pháp luật xác định và bảo

vệ Theo mối quan hệ về hôn nhân thì người thừa kế theo pháp luật của người chết là vợ hay chồng của người đó

- Về quan hệ nuôi dưỡng: được xác lập thông qua việc nhận con nuôi Việc nuôi

con nuôi phải được đăng ký và làm thủ tục tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật hôn nhân, gia đình và pháp luật về hộ tịch Người được nhận nuôi là con nuôi hợp pháp của người nhận nuôi, nếu việc nhận con nuôi đã tuân thủ đầy đủ các thủ tục luật định… Mặt khác, những trường hợp nhận con nuôi xảy ra trước ngày luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 1986 có hiệu lực pháp luật dù không tuân thủ các thủ tục vẫn được thừa nhận và người được nhận nuôi là con nuôi thực tế của người nhận nuôi, nếu giữa người nhận nuôi (cha, mẹ muôi) với người được nhận nuôi (con nuôi) yêu thương, chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như con đẻ và được mọi người thừa nhận Theo mối quan hệ này thì người thừa kế theo pháp luật của người chết là cha nuôi, mẹ nuôi, con nuôi của họ

- Về quan hệ huyết thống: Là quan hệ giữa những người có cùng dòng máu về

trực hệ hoặc bàng hệ được xác định thông qua sự kiện sinh đẻ

Phạm vi những người thừa kế di sản được xác định từ quan hệ huyết thống trực

hệ bao gồm: Các cụ, ông, bà, cha đẻ, mẹ đẻ và các con của người chết

Phạm vi những người thừa kế di sản được xác định từ quan hệ huyết thống bàng

hệ bao gồm: Anh ruột, chị ruột, em ruột, bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột

Phạm vi những người thừa kế di sản được xác định thông qua các mối quan hệ nói trên được quy định thành từng hàng thừa kế theo trật tự: người nào

có quan hệ gần gũi hơn với người chết sẽ đứng ở hàng thừa kế trước

1 Quan hệ giữa những người cùng hàng thừa kế

Quan hệ giữa những người trong hàng thừa kế thứ nhất:

- Quan hệ giữa vợ - chồng:

Trang 7

Nếu vào thời điểm một bên chết mà quan hệ hôn nhân về mặt pháp lý vẫn còn tồn tại, thì người còn sống là người thừa kế di sản của người đã chết

Khi giải quyết di sản giữa vợ và chồng cần lưu ý các trường hợp được quy định tại Điều 683 Bộ Luật Dân sự Ngoài ra cần lưu ý mấy điểm sau đây:

Nếu một người có nhiều vợ mà tất cả các cuộc hôn nhân đó được tiến hành trước ngày 13-1-1960 ở miền Bắc (ngày công bố Luật Hôn nhân và gia đình 1959) và trước ngày 25-3-1977 ở miền Nam (ngày công bố văn bản pháp luật được áp dụng thống nhất trong cả nước, thì khi người chồng chết, tất cả những người vợ (nếu còn sống vào thời điểm người chồng chết) đều là người thừa kế ở hàng thứ nhất của người chồng Ngược lại, người chồng cũng là người thừa kế ở hàng thứ nhất của những người vợ đã chết trước (theo hướng dẫn của Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19-10-1990 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao)

Điều lưu ý trên đây nhằm khắc phục những tồn tại của lịch sử Vì các cá nhân chỉ phải tuân theo chế độ hôn nhân một vợ một chồng kể từ ngày Luật Hôn nhân và gia đình 1959 được công bố (ở miền Bắc) và kể từ ngày các văn bản pháp luật được áp dụng thống nhất trong cả nước (ở miền Nam)

Đối với những cán bộ, chiến sĩ đã có vợ ở miền Nam, sau khi tập kết ra Bắc lấy thêm vợ mà việc kết hôn sau không bị hủy bỏ bằng một bản có hiệu lực pháp luật, thì tất cả những người vợ đó đều là những người thừa kế ở hàng thứ nhất của người chồng và ngược lại

Đối với những trường hợp hôn nhân không có đăng ký kết hôn, nhưng được thừa nhận là hôn nhân thực tế, thì quan hệ vợ chồng vẫn được thừa nhận và

vì vậy họ là người thừa kế theo pháp luật của nhau

Đối với trường hợp hai vợ chồng đã ly hôn, sau đó quay lại sống chung mà cuộc sống chung đó không bị hủy bỏ bằng một bản án có hiệu lực pháp luật, thì

họ vẫn là người thừa kế theo pháp luật của nhau

- Quan hệ thừa kế giữa cha mẹ và con

Cha đẻ, mẹ đẻ của một người là người đã sinh ra người đó Vì vậy, cha mẹ của người con trong giá thú hoặc ngoài giá thú đều là người thừa kế ở hàng thứ nhất của người con của mình Và ngược lại, người con trong hay ngoài giá thú đều là người thừa kế ở hàng thứ nhất của cha, mẹ mình

Cha nuôi, mẹ nuôi của một người là người đã nhận người đó làm con nuôi của mình theo quy định của pháp luật Cha nuôi, mẹ nuôi là người hàng thứ nhất của con nuôi và ngược lại, con nuôi là người thừa kế hàng thứ nhất của cha, mẹ nuôi của mình

Đối với trường hợp nhận con nuôi không được đăng ký theo quy định của pháp luật, thì cha, mẹ nuôi, con nuôi chỉ được thừa kế di sản của nhau nếu được công nhận là con nuôi thực tế

Cần lưu ý, con dâu không phải là người thừa kế theo pháp luật của bố, mẹ chồng, con rể không phải là người thừa kế theo pháp luật của bố, mẹ vợ Tuy nhiên, trong trường hợp con dâu tham gia lao động chung trong gia đình bố mẹ

Trang 8

chồng, góp phần xây dựng, duy trì khối tài sản ở gia đình bố mẹ chồng, thì người con dâu có quyền được hưởng phần tài sản chung hiện có với tư cách là một đồng chủ sở hữu Phần tài sản còn lại mới được coi là di sản thừa kế mà bố, mẹ chồng

để lại khi chết và mới được chia cho những người thừa kế của họ Người con rể trong trường hợp tương tự cũng được giải quyết như người con dâu

Quan hệ giữa những người trong hàng thừa kế thứ hai

Ở hàng thừa kế này có hai mối quan hệ sau đây:

- Quan hệ thừa kế giữa anh ruột và em ruột

Một người sinh ra bao nhiêu người con thì tất cả những người đó đều là anh, chị em ruột của nhau Như vậy, anh chị, em ruột là những người có cùng cha, mẹ, có thể là những người có cùng cha nhưng khác mẹ hoặc những người có cùng mẹ khác cha Anh, chị, em ruột là những người có quyền hưởng di sản thừa

kế của nhau (người này chết, người kia có quyền thừa kế và ngược lại)

Trường hợp một người có con đẻ, vừa là con nuôi, thì giữa con đẻ và con nuôi không phải là anh, chị, em ruột nên họ không phải là người thừa kế theo pháp luật của nhau

- Quan hệ thừa kế giữa ông, bà và cháu

Ông nội, bà nội của một người là người đã sinh ra cha của người đó Ông ngoại, bà ngoại của một người là người đã sinh ra mẹ của người đó Như vậy, quan hệ này chỉ được xác định trên cơ sở huyết thống Ông nuôi, bà nuôi, tức là

bố, mẹ của cha, mẹ nuôi của người thừa kế để lại di sản không phải là người thừa

kế ở hàng thứ hai của người đó Vì quan hệ nuôi dưỡng là quan hệ giữa bố, mẹ nuôi với con nuôi chỉ xuất hiện theo sự kiện nhận nuôi con nuôi Mặt khác, con nuôi không đương nhiên trở thành cháu của cha, mẹ của người nuôi dưỡng

Nếu ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại còn sống vào thời điểm người cháu của mình chết sẽ là người thừa kế theo pháp luật ở hàng thứ hai của người cháu, nhưng cháu không phải là người thừa kế ở hàng thứ hai của các ông, bà vì cha, mẹ của cháu (tức là con của ông, bà) là người thừa kế thứ nhất của ông, bà Nếu cha mẹ cháu chết trước ông, bà thì cháu là người thừa kế thế vị để hưởng di sản của ông, bà

Quan hệ giữa những người thừa kế trong hàng thứ ba

Ở hàng thừa kế này có hai mối quan hệ sau đây:

- Quan hệ thừa kế giữa cụ và chắt

Cụ nội của một người là người đã sinh ra ông nội hoặc bà nội của người

đó Cụ ngoại của một người là người đã sinh ra ông ngoại hoặc bà ngoại của người đó Như vậy các cụ của một người là người đã sinh ra ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại của người đó Người đó là chắt của các cụ Khi chắt chết trước, các cụ là người thừa kế ở hàng thứ ba của chắt, nhưng chắt không phải là người thừa kế ở hàng thứ ba của các cụ mà là người được hưởng di sản của các cụ theo chế độ thừa kế thế vị (tương tự như cháu thế vị bố, mẹ để hưởng di sản của ông, bà)

Trang 9

- Quan hệ thừa kế giữa bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột và cháu

Mỗi một địa phương có một cách gọi khác nhau về những người này Vì vậy, hiểu một cách chung nhất thì bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của một người là những anh, chị, em ruột của bố đẻ, hoặc mẹ đẻ của người đó

Quan hệ này là quan hệ giữa những người hưởng di sản của nhau, nghĩa là khi cháu chết trước thì các bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột còn sống là người thừa kế ở hàng thứ ba của cháu; ngược lại nếu bác ruột, chú ruột, cậu ruột,

cô ruột, dì ruột chết trước cháu thì cháu là người thừa kế ở hàng thứ ba của người

đã chết

D Thừa kế thế vị.

Thừa kế thế vị chỉ phát sinh trong trường hợp di sản được chia theo pháp luật Nếu người thừa kế theo di chúc mà chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc thì di chúc không phát sinh hiệu lực và di sản chia theo pháp luật, lúc đó mới áp dụng quy định thừ kế thế vị Ví dụ: Ông A có hai người con và

K và T, ông A lập di chúc cho anh K hưởng 200 triệu đồng Anh K có con trai là

H (cháu nội của ông A) Anh K chết trước ông A thì di chúc của ông A lập cho K không phát sinh hiệu lực pháp luật và di sản được chia theo pháp luật, trong đó anh T được thừa kế thep pháp luật 100 triệu, cháu H được thừa kế thế vị 100 triệu

Cháu phải còn sống vào thời điểm ông bà chết, chắt phải còn sống vào thời điểm cụ chết hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm ông bà (hoặc cụ chết) nhưng

đã thành thai trước thời điểm đó cũng được thừa kế thế vị

Nếu có nhiều người thừa kế thế vị nhưng chỉ được hưởng phần di sản mà cha mẹ được hưởng nếu còn sống

Như vậy các cháu, chắt được pháp luật quy định thừa kế thế vị và thừa kế theo hàng thừa kế Trong những trường hợp sau đây cháu nội ngoại hoặc chắt nội ngoại được thừa kế theo hàng thừa kế: Cha, mẹ chúng là người thừa kế duy nhất

và còn sống nhưng từ chối nhận di sản hoặc không có quyền hưởng di sản do vi phạm các quy định theo khoản 1 Điều 643 Bộ luật dân sự 2005

Đ Thực tiễn áp dụng và những bất cập qua các bản án của Tòa án.

I Vụ án thứ nhất.

- Nguyên đơn: Ông Lại Hữu Minh; Ông Lại Hữu Hiền; Ông Lại Hữu Lệ cùng trú tài thôn Nghiêm Thôn, thị trấn Phố Mới, huyện Quế Võ, Bắc Ninh

Trang 10

Bà Lại Thị Tuyên, trú tại Thin Guột, xã Thị Cầu, thị xã Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh Ông Lại Hữu Hiển, trú tại khu 1, xã Thị Cầu, thị xã Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh

- Bị đơn: Anh Lại Hữu Vận, trú tại khu 3, thị trấn Phố Mới, huyện Quế Võ, tỉnh Bắn Ninh

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Bà Trần Thị Mỹ; Anh Lại Hữu Thắng; Chị Lại Thị Oanh; Chị Lại Thị Yến; Chị Lại Thị Lợi; Bà Bùi Thị Giang

Cùng trú tại khu 5, thị trấn Phố Mới, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh

Bà Bùi Thị Hải, trú tại nhà B3, tập thể đường sắt Kim Liên, Hà Nội

Bà Bùi Thị Lan, trú tại thôn Yên Mẫu, xã Kinh Bắc, tỉnh Bắc Ninh

Bà Nguyễn Thị Phán, trú tại khu 3, thị trấn Phố mới, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh

1 Tóm tắt sự việc.

Vụ việc xảy ra tại huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh

Cụ Lại Hữu Cận có hai vợ: Vợ thứ nhất là cụ Nguyễn Thị Nhớn Cụ Cận

và cụ Nhớn có 5 người con chung là các ông bà: Lại Thị Tuyên, Lại Hữu Minh, Lại Hữu Nội (chết lúc nhỏ), Lại Hữu Lợi (hi sinh năm 1969, không có vợ con), Lại Hữu Quang (chết tháng 5 năm 1983, có 2 vợ là bà Cúc đã ly hôn, có một con chung là anh Vận) Vợ hai là bà Trần Thị Mĩ có 4 con là: Lại Thị Oanh, Lại Thị Yến, Lại Hữu Lợi, Lại Hữu Thắng Cụ Cận và cụ Nhớn có 1 con nuôi là bà Bùi Thị Chung (chết năm 1998, có con là Bùi Thị Giang, Bùi Thị Hải và Bùi Thị Lan)

Vợ hai của cụ Cận là cụ Trần Thị Hòa Cụ Hòa và cụ Cận có 3 con chung gồm các ông, bà: Lại Hữu Hiền, Lại Hữu Hiển và Lại Hữu Lệ

Cụ Nhớn chết năm 1946, cụ Cận chết năm 1983, cụ Hòa chết năm 1984

Cả ba cụ chết đều không để lại di chúc

Cụ Cận và cụ Nhớn có tài sản chung là ngôi nhà tranh và quyền sử dụng 378,5 m2 đất ở từ trước khi cụ Cận kết hôn với cụ Hòa

Năm 1964, cụ Cận và cụ Hòa phá nhà tranh làm lại thành bốn gian nhà ngói và ba gian công trình phụ Sau khi cụ Cận mất, cụ Hòa được ông Lại Hữu Hiền đón về nuôi nên ngôi nhà của cụ Cận và cụ Hòa bỏ không, ông Lại Hữu Minh yêu cầu anh Lại Hữu Vận đến ở để trông coi nhà đất Năm 1986, anh Vận

Ngày đăng: 21/03/2019, 15:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w