1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tiểu luận bất cập thừa kế trong BLDS 2015

13 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 182,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT TIỂU LUẬN MÔN LUẬT DÂN SỰ 1 Tên bài nghiên cứu Quy định của pháp luật dân sự Việt Nam về thừa kế theo pháp luật Bất cập và hướng hoàn thiện Sinh viên thực hiện Mã số sinh viên Lớp Giáo viên hướng dẫn Tp Hồ Chí Minh, ngày 23 tháng 4 năm 2022 HÀ NỘI 2021 HÀ NỘI 2017 ĐẶT VẤN ĐỀ Quyền thừa kế của cá nhân đuợc pháp luật bảo hộ và công nhận, được cụ thể hóa tại Khoản 1 Điều 32 Hiến pháp 2013, quy định “Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được ph.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT

TIỂU LUẬN MÔN LUẬT DÂN SỰ 1

Tên bài nghiên cứu: Quy định của pháp luật dân sự Việt Nam về

thừa kế theo pháp luật - Bất cập và hướng hoàn thiện

Sinh viên thực hiện :

Mã số sinh viên :

Lớp : Giáo viên hướng dẫn :

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Quyền thừa kế của cá nhân đuợc pháp luật bảo hộ và công nhận, được cụ thể hóa tại Khoản

1 Điều 32 Hiến pháp 2013, quy định: “Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ”

Thừa kế theo pháp luật là một dạng về thừa

kế được quy định tại Bộ luật Dân sự 2015 Việc quy định chế định thừa kế theo pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của những người có quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng, quan hệ hôn nhân được pháp luật bảo vệ

Hiện nay, các quy định của pháp luật về thừa

kế theo pháp luật quy định trong Bộ luật Dân sự

2015 sau một thời gian áp dụng triển khai, thực hiện đã tồn tại bất cập, nhiều quy định chưa hoàn thiện Vì vậy, em xin lựa chọn đề tài nghiên cứu:

“Quy định của pháp luật dân sự Việt Nam về

thừa kế theo pháp luật - Bất cập và hướng hoàn thiện” để nghiên cứu tìm ra những bất cập còn

tồn tại cũng như hướng hoàn thiện trong thời gian đến để sửa đổi, bổ sung quy định của pháp luật dân sự Việt Nam về thừa kế theo pháp luật

Trang 3

NỘI DUNG

1 KHÁI NIỆM VỀ THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT

Điều 649 Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS) quy định: “Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định.”

Thừa kế theo pháp luật là việc dịch chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế

do pháp luật quy định

Cá nhân có quyền sở hữu với tài sản của mình, sau khi chết, số tài sản còn lại được chia đều cho những người thừa kế Người được thừa

kế theo pháp luật là những người có quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân và nuôi dưỡng

Những người được hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật không phụ thuộc vào mức độ năng lực hành vi Mọi người bình đẳng trong việc hưởng di sản thừa kế của người chết, thực hiện nghĩa vụ mà người chết chưa thực hiện trong phạm vi di sản nhận

Trang 4

2 BẤT CẬP VỀ THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT QUY ĐỊNH TRONG BỘ LUẬT DÂN

SỰ 2015

2.1 Quyền thừa kế thế vị của cháu và chắt

Đối chiếu Khoản 1 Điều 621 Bộ luật dân sự

2015 quy định những người không được quyền hưởng di sản với Điều 652 Bộ luật dân sự 2015 quy định về thừa kế thế vị và tiểu mục 4 Mục II Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc về hình sự, dân sự và tố tụng hành chính, thì cháu hoặc chắt sẽ không được hưởng quyền thừa kế thế vị của ông, bà hoặc cụ để lại di sản thừa kế khi cha hoặc mẹ của cháu hoặc chắc bị tước quyền hưởng di sản thừa kế theo quy định pháp luật nêu trên.1

Dưới góc độ nghiên cứu nhận thấy rằng, các quy định nêu trên đã tước đi quyền hưởng di sản

1 Điều 621 Người không được quyền hưởng di sản

1 Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:

a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

Trang 5

thừa kế của cháu hoặc chắc trong khi cá nhân họ không bị ông, bà hoặc cụ không cho hưởng di sản

đó, mặc khác cá nhân họ cũng không bị tòa án tước quyền hưởng di sản thừa kế Trong khi hành

vi dẫn đến việc bị tước quyền hưởng di sản của cha hoặc mẹ của cháu hoặc chắt không liên quan đến cháu hoặc chắt, vô hình chung tạo sự bất công, ảnh hưởng đến quyền lợi của họ nhất là đối với những trường hợp cháu hoặc chắt là đối tượng chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động

2.2 Quan hệ thừa kế giữa bố mẹ chồng và con dâu, bố mẹ vợ và con rể

So với những năm trước, khi Luật Hôn nhân gia đình 2014 chưa có hiệu lực, thì quyền và nghĩa vụ của con dâu, con rể đối với cha mẹ vợ, cha mẹ chồng thuộc phạm trù đạo đức và do các chuẩn mực đạo đức xã hội điều chỉnh Khi Luật Hôn nhân gia đình 2014 có hiệu lực, thì nhà làm luật đã luật hóa các quy chuẩn đạo đức đó và để Luật Hôn nhân gia đình điều chỉnh Điều đó cũng đồng nghĩa với việc con dâu, con rể bắt buộc phải thực hiện các nghĩa vụ này Thậm chí nếu vi phạm các quy định nêu trên, thì sẽ phải chịu chế tài cụ thể mà Luật định Trong mối tương quan giữa quyền và nghĩa vụ của tất cả các mối quan

Trang 6

hệ, quyền sẽ gắn liền với nghĩa vụ và ngược lại Bên cạnh các nghĩa vụ được đặt ra cho con dâu, con rể, thì họ còn có quyền gì, ngoài các nhóm quyền nhân thân, liệu họ có quyền tài sản không? Tuy nhiên, các hàng thừa kế theo pháp luật được quy định tại Điều 651 BLDS 2015 lại không có trường hợp nào nhắc đến con dâu, con rể cả

Như vậy, con dâu, con rể không có quyền được hưởng thừa kế theo pháp luật đối với phần

di sản của cha mẹ vợ, cha mẹ chồng Đây chính

là điểm bất cập của chế định này Bởi trong thực

tế cuộc sống có rất nhiều trường hợp, con dâu, con rể đối xử tốt với bố mẹ chồng, bố mẹ vợ, thậm chí khi con trai mất đi, con dâu vẫn tận tâm chăm sóc, nuôi dưỡng bố mẹ chồng Trong trường hợp bố mẹ chồng, bố mẹ vợ muốn chia tài sản cho con dâu, con rể, thì họ buộc phải lập di chúc, nhưng nếu như họ qua đời mà không kịp để lại di chúc thì con dâu, con rễ sẽ không đuược hưởng phần di sản để lại trong khi họ có công phụng dưỡng, chăm sóc, nuôi dưỡng Mặt khác, nếu nhìn nhận một cách khách quan, các nhà làm luật chỉ cụ thể hóa nghĩa vụ, quyền nhân thân của con dâu, con rể đối với bố mẹ vợ, bố mẹ chồng

mà không quy định quyền tài sản của họ, điều này khiến mối liên hệ giữa quyền và nghĩa vụ

Trang 7

mất đi sự hài hòa.

2.3 Quan hệ thừa kế giữa con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi và cha đẻ, mẹ đẻ

Quan hệ nuôi dưỡng là một trong những căn

cứ để xác định hàng thừa kế bên cạnh quan hệ huyết thống và quan hệ hôn nhân Đây là quan hệ tương đối phức tạp, phát sinh nhiều tranh cấp, cũng như các hệ quả pháp lý kéo theo trong việc xác định cá nhân đó có được hưởng di sản thừa

kế hay không

Điều 653 BLDS năm 2015 quy định: “Con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 651 và Điều 652 của Bộ luật này” Vấn đề đặt ra là khi con nuôi của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản, thì con nuôi của người con nuôi đó có được hưởng thừa kế thế vị không; trường hợp con ruột để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản, thì người con nuôi của người con đẻ của người để lại

di sản có được hưởng thừa kế thế vị hay không; hay là khi con nuôi của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại

di sản, thì con đẻ của người con nuôi đó có được

Trang 8

hưởng thừa kế thế vị không.2

Dưới góc độ về quan hệ huyết thống, con nuôi không được xem là cháu của của cha, mẹ của người nuôi dưỡng và không mặc nhiên là anh, chị, em của con đẻ của người nuôi Vì vậy nên con nuôi không được xem là người thừa kế theo pháp luật của cha, mẹ và con ruột của người nhận nuôi dưỡng Về quan hệ hôn nhân, trường hợp người nhận con nuôi kết hôn với người khác thì con nuôi cũng không mặc nhiên trở thành con nuôi của người khác đó và họ cũng không có mối quan hệ để hưởng di sản thừa kế của nhau

2.4 Quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế

Điều 654 BLDS năm 2015 quy định: “Con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa

kế di sản theo quy định tại Điều 652 và Điều 653 của Bộ luật này”

Điều kiện để hưởng di sản thừa kế của nhau

và theo quy định tại Điều 652 và Điều 653 của BLDS thì phải chứng minh được giữa con riêng

2 Bản án số: 22/2019/DS-PT ngày 04/07/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế về tranh chấp thừa kế tài sản

Trang 9

và bố dượng, mẹ kế có phát sinh mối quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con Tuy nhiên thực tế từ cuộc sống hiện nay việc chứng minh này không hề dễ dàng, rất phức tạp, khó khăn Bởi phải dựa trên những tiêu chí nào

để đánh giá về việc chăm sóc, nuôi dưỡng đó, ví

dụ như người được hưởng di sản thừa kế đã sống chung với nhau trong thời gian dài, đứng ra lo đám tang cho nguời đã để lại tài sản thừa kế, hay thời gian chăm sóc, hành động, hành vi của người chăm sóc, nuôi dưỡng như thế nào, ai là người chứng kiến, xác minh việc đó.3

3 HƯỚNG HOÀN THIỆN VỀ THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT QUY ĐỊNH TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015

3 Bản án số: 07/2018/DS-ST ngày 26-29/03/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội về tranh chấp thừa kế

Trang 10

- Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của

cháu hoặc chắt được hưởng quyền thừa kế thế vị, cần bổ sung vào quy định Bộ luật dân sự hiện hành về trường hợp ngoại lệ khi cháu hoặc chắc không bị phế truất quyền hưởng di sản thừa kế từ ông, bà hoặc cụ hay không bị tước quyền quyền hưởng di sản từ Tòa án; cháu hoặc chắt là đối tượng người chưa thành niên hoặc người đã thành niên nhưng không có khả năng lao động Việc điều chỉnh này là phù hợp với xu hướng chung của pháp luật hiện đại và truyền thống, tập quán, quan niệm về thừa kế trong nhân dân ta

- Việc quy định về thừa kế cho con dâu, con

rể là vô cùng cần thiết, nếu như họ có công chăm sóc, nuôi dưỡng bố mẹ chồng, bố mẹ vợ và quy định một cách rõ ràng, cụ thể về những trường hợp mà con dâu, con rể có thể được thừa kế nếu như bố mẹ chồng, bố mẹ vợ qua đời, nhằm đảm bảo quyền lợi cho họ khi họ có công chăm sóc bố

mẹ chồng, bố mẹ vợ

- Điều 652 BLDS năm 2015 quy định: “… cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống…” Ở đây nhận thấy rằng, nhà làm luật không có sự phân biệt giữa cha nuôi hay mẹ nuôi hoặc cha đẻ hay

Trang 11

mẹ đẻ, mặt khác trong các hàng thừa kế, nhà làm luật sử dụng từ “cháu” mà không có sự phân biệt cháu nuôi hay cháu ruột vì vậy mà con nuôi sẽ được hưởng thừa kế thế vị trong trường hợp này Việc làm này làm đảm bảo tính nhân văn, nhân đạo, quyền bình đẳng của cá nhân trong việc pháp luật bảo hộ quyền tài sản và quyền nhân thân được quy định rõ trong Hiến pháp 2013

- Để xác định có hay không có mối quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau giữa con riêng với cha dượng, mẹ kế thì có thể dựa trên thông tin từ những người thân trong gia đình, hàng xóm láng giềng với tư cách là người chứng kiến được chính quyền địa phương xác nhận thì khi đó sẽ đủ căn

cứ để xác định mối quan hệ nêu trên Hơn nữa, tiêu chí để xác định mối quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng đó còn được thể hiện thông qua quy định tại Điều 79 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về quyền, nghĩa vụ của cha dượng, mẹ

kế và con riêng của vợ hoặc của chồng

Trang 12

KẾT LUẬN

Bài nghiên cứu “Quy định của pháp luật dân

sự Việt Nam về thừa kế theo pháp luật - Bất cập

và hướng hoàn thiện” góp phần phát huy hiệu quả điều chỉnh trong quan hệ pháp luật dân sự về thừa kế hiện hành Qua những đánh giá từ thực tiễn đã thấy được còn tồn tại những hạn chế nhất định về mặt lý luận, xu thế chung của pháp luật hiện hành Do đó, trong thời gian đến cần điều chỉnh sửa đổi, bổ sung chế định thừa kế theo pháp luật quy định trong Bộ luật dân sự hoàn thiện hơn, phù hợp với xu thế hiện tại và tương lai, đồng thời tránh việc tạo ra những cách hiểu không đồng nhất trong quy định, gây khó khăn trong quá trình xử lý, giải quyết đến quyền thừa

kế của cá nhân

Trang 13

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Giáo trình Luật Dân sự, Đại học Luật Hà Nội – NXB CAND 2020

2 Bộ Luật dân sự 2015

3 Luật Hiến pháp 2013

4 Luật Hôn nhân và gia đình 2014

2 Phùng Trung Tập (2008), Luật thừa kế Việt Nam, Nxb Hà Nội, Hà Nội, tr 275

3 Bản án 07/2018/DS-ST ngày 26-29/03/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội

4 Đỗ Văn Đại (2016), Luật thừa kế Việt Nam, Bản án và bình luận bản án (tái bản lần thứ 4), Nxb Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, Hà Nội, tr 269

5 Phạm Văn Tuyết, Lê Kim Giang (2017), Pháp luật về thừa kế và thực tiễn giải quyết tranh chấp, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr 328 – 329

Ngày đăng: 05/06/2022, 16:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w