1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thừa kế theo pháp luật theo quy định trong bộ luật dân sự năm 2005

20 145 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 124 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây: a Không có di chúc; b Di chúc không hợp pháp; c Những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời đi

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

I Một số vấn đề lý luận chung về thừa kế và thừa kế theo pháp luật 3

II Thừa kế theo pháp luật theo quy định trong Bộ luật dân sự năm

2005

4

1 Những trường hợp thừa kế theo pháp luật 4 1.1 Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp không

có di chúc hoặc được coi là không có di chúc

6

1.2 Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp có di

chúc nhưng di chúc không hợp pháp

6

1.3 Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp

người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với

người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc

không còn vào thời điểm mở thừa kế

7

1.4 Thừa kế theo pháp luật được áp dụng đối với phần di sản

không được định đoạt trong di chúc

8

1.5 Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp người

thừa kế theo di chúc không có quyền hưởng di sản

8

1.6 Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp người

thừa kế theo di chúc từ chối quyền hưởng di sản

9

III Những hạn chế, bất cập về thừa kế theo pháp luật trong Bộ luật

Dận sự 2005 và những giải pháp hoàn thiện

16

Trang 2

2 Về quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế (Điều

679 BLDS)

17

3 Những người thừa kế được sinh ra theo phương pháp khoa học

hiện đại

18

BÀI LÀM

A – Mở đầu

Pháp luật thừa kế đã có từ xa xưa và gắn liền với lịch sử phát triển của

xã hội loài người Tuy có những đặc thù riêng nhưng dân tộc nào, đất nước nào và từng con người cụ thể đều chịu sự tác động của pháp luật thừa kế Pháp luật thừa kế Việt Nam hiên nay cũng như pháp luật thừa kế của những nước khác trên thế giới quy định hai hình thức thừa kế theo di chúc và theo pháp luật Thừa kế theo di chúc là chia tài sản cho người thừa kế theo sự định

Trang 3

đoạt trong di chúc của người có di sản lập di chúc và người thừa kế theo di chúc là bất kì ai Thừa kế theo pháp luật không phụ thuộc vào ý chí của người

để lại di sản mà hình thức thừa kế do pháp luật quy định

Để tìm hiểu sâu hơn nữa về pháp luật thừa kế, cũng như trong khuôn

khổ danh mục bài tập em quyết định lựa chọn đề tài “Thừa kế theo pháp luật theo quy định trong Bộ luật dân sự năm 2005” để hoàn thành bài tập lớn của

mình Trong suốt quá trình thực hiện không thể tránh khỏi những sai sót, kính mong thầy/cô thông cảm, em rất mong nhận được những sự góp ý của thầy/cô

để bài làm thêm hoàn chỉnh Em xin chân thành cảm ơn!

B – Nội dung

I Một số vấn đề lý luận chung về thừa kế và thừa kế theo pháp luật

1 Khái niệm thừa kế và quyền thừa kế

Thừa kế là một chế định pháp luật dân sự, là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc chuyển dịch tài sản của người chết cho người khác theo di chúc hoặc theo một trình tự nhất định đồng thời quy định phạm vi quyền, nghĩa vụ và phương thức bảo vệ các quyền và nghĩa vụ của người thừa

kế Quyền thừa kế của cá nhân là một quyền được Nhà nước bảo hộ và đây cũng là nguyên tắc của chế định thừa kế do pháp luật quy định, cụ thể, tại

Điều 631 Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS): “Cá nhân có quyền lập di chúc

để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật”.

Theo đó, người để lại di sản thừa kế phải là người có tài sản sau khi chết để lại cho người còn sống theo ý chí của họ thể hiện trong di chúc hay theo quy định của pháp luật Người thừa kế là người được hưởng di sản thừa

kế theo di chúc hoặc theo pháp luật, nếu thừa kế theo pháp luật thì người thừa

kế chỉ có thể là cá nhân, tuy nhiên nếu thừa kế theo di chúc thì đối tượng này ngoài cá nhân còn có thêm các tổ chức và Nhà nước Trong trường hợp người

để lại di sản không có di chúc hoặc để lại di chúc không hợp pháp, người thừa

kế theo di chúc chết trước người lập di chúc hoặc từ chối quyền hưởng di

Trang 4

sản…và một số quy định khác của pháp luật thì áp dụng việc thừa kế theo pháp luật

2 Khái niệm thừa kế theo pháp luật

Sự dịch chuyển di sản từ một người đã chết sang người còn sống được thực hiện theo một trong hai căn cứ là ý chí của người để lại di sản và quy định của pháp luật Nếu sự dịch chuyển di sản đó căn cứ vào ý chí của người

đã chết để lại thì được gọi là thừa kế theo di chúc, nếu sự dịch chuyển di sản của người chết sang người còn sống căn cứ vào quy định của pháp luật thì được gọi là thừa kế theo pháp luật Như vậy, thừa kế theo pháp luật được hiểu một cách đơn giản là quá trình dịch chuyển di sản của người chết sang những người còn sống theo quy định của pháp luật về thừa kế Mặt khác, theo quy định của pháp luật thì khi không có căn cứ để dịch chuyển di sản của người chết theo ý chí của họ thì di sản đó phải được dịch chuyển theo quy định của pháp luật về hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế

Điều 674 BLDS đã định nghĩa về thừa kế theo pháp luật như sau:

“Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định”

II Thừa kế theo pháp luật theo quy định trong Bộ luật dân sự năm 2005

1 Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

Điều 675 BLDS quy định những trường hợp thừa kế theo pháp luật:

“1 Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền nhận di sản.

Trang 5

2 Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:

a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;

b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;

c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng

họ không có quyền hưởng di sản, từ chối quyền nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn vào thời điểm mở thừa kế”.

Theo đó, thì các trường hợp thừa kế theo pháp luật được chia thành hai nhóm chính sau đây:

Nhóm thứ nhất: Di sản thừa kế hoàn toàn được chia theo pháp luật, bao gồm các trường hợp sau đây:

- Không có di chúc;

- Di chúc không hợp pháp toàn bộ;

- Di chúc hợp pháp nhưng toàn bộ di chúc không có hiệu lực thi hành

do tất cả người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc hoặc đều không có quyền hưởng di sản hay đều từ chối quyền hưởng di sản; cơ quan, tổ chức không còn vào thời điểm mở thừa kế

Nhóm thứ hai: Di sản vừa được chia theo di chúc vừa được chia theo pháp luật, bao gồm các trường hợp sau đây:

- Có phần di sản không được định đoạt trong di chúc;

- Có một phần di chúc không có hiệu lực pháp luật;

- Có một hoặc một số người trong số những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; một hoặc một số

cơ quan, tổ chức được thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa

kế hoặc có một hoặc một số người trong số những người thừa kế theo di chúc không được quyền hường di sản hay từ chối hưởng quyền di sản theo di chúc

Trang 6

Theo trên, việc thừa kế theo pháp luật sẽ được áp dụng trong các trường hợp sau đây:

1.1 Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp không có di chúc hoặc được coi là không có di chúc

Đây là những trường hợp mà người chết không để lại di chúc hoặc có

để lại di chúc nhưng đã hủy di chúc như đốt, xé hoặc hủy bỏ di chúc đã lập Cũng được coi là không có di chúc trong những trường hợp người chết có để lại di chúc nhưng khi có tranh chấp về thừa kế xảy ra di chúc đó đã bị thất lạc hoặc đã bị hư hại hoàn toàn đến mức không thể hiện được đầy đủ và rõ ràng ý chí của người lập di chúc và cũng không thể chứng minh được ý nguyện đích thực của người lập di chúc Ngoài ra, nếu bản di chúc được viết bằng kí hiệu hoặc bằng ngôn từ khó hiểu làm cho tất cả người thừa kế có cách hiểu không đồng nhất về toàn bộ nội dung của bản di chúc đó thì cũng được coi là không

có di chúc

Trong các trường hợp nói trên, toàn bộ di sản mà người chết để lại sẽ được phân chia cho những người thừa kế theo quy định của pháp luật

1.2 Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp có di chúc nhưng di chúc không hợp pháp

Di chúc không hợp pháp là di chúc vi phạm một trong các điều kiện có hiệu lực của của một giao dịch và các điều kiện đã được quy định tại Điều

652 BLDS Di chúc được lập ra trái với ý chí của người lập di chúc do bị dọa nạt, lừa dối, áp đặt ý chí của người khác Di chúc cũng có thể lập cho một người không có thực, không thể xác định được người đó là ai hoặc di chúc được chỉ định cho người được sinh ra trong tương lai nhưng người đó chưa thành thai khi người lập di chúc còn sống hoặc di chúc do người dưới mười lăm tuổi hoặc do người không có năng lực hành vi dân sự lập ra Di chúc không hợp pháp có nội dung nhằm xâm phạm đến lợi ích của người khác, của Nhà nước hoặc xâm phạm đến chủ quyền quốc gia, an toàn xã hội hoặc chỉ định cho vật nuôi, cây trồng được hưởng

Trang 7

1.3 Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế

Theo quy định tại Điều 635 BLDS thì người thừa kế nếu là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế, cơ quan, tổ chức được thừa

kế theo di chúc phải còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế Thừa kế là quan hệ pháp luật dân sự, do vậy ý chí của chủ thể trong quan hệ phải được thể hiện trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình nhưng người thừa kế đã chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản, chủ thể không còn thì không có bất kì quan hệ nào liên quan đến người đó trong hiện tại, do vậy phần di chúc liên quan đến phần di sản của người đó được hưởng vô hiệu Phần di sản liên quan đến phần của di chúc vô hiệu được chia theo pháp luật Tuy nhiên, vẫn phải lưu ý một số vấn đề:

- Nếu cá nhân là người được chỉ định trong di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế mà đã có con thì con của họ không được thế vị phần di sản

mà nếu họ còn sống họ sẽ được hưởng theo di chúc, nhưng sẽ được thế vị phần di sản mà nếu còn sống họ sẽ được hường theo pháp luật

- Nếu cá nhân là người thừa kế theo di chúc nhưng chưa sinh ra vào thời điểm mở thừa kế và cũng chưa sinh ra vào thời điểm vụ thừa kế được giải quyết thì phần di sản của cá nhân đó được giành ra và giao cho một người quản lý để khi sinh ra nếu còn sống sẽ được hưởng

- Các cơ quan, tổ chức chỉ bị coi là không còn nếu vào thời điểm mở thừa kế các cơ quan, tổ chức đó đã chấm dứt sự tồn tại của mình một cách tuyệt đối do giải thể hoặc tuyên bố phá sản Những trường hợp cơ quan, tổ hcứ bị chấm dứt do sát nhập, hợp nhất hoặc chia, tách thì cơ quan, tổ chức mới được quyền thừa kế theo di chúc của cơ quan, tổ chức cũ

1.4 Thừa kế theo pháp luật được áp dụng đối với phần di sản không được định đoạt trong di chúc

Trang 8

Nếu di chúc chỉ định đoạt một phần di sản thì phần còn lại sẽ được chuyển dịch cho những người thừa kế theo quy định của pháp luật Những người trong cùng một hàng thừa kế được hưởng phần di sản bằng nhau nếu di sản được chia theo pháp luật Vì vậy, một người dù đã được hưởng di sản theo

di chúc, vẫn được hưởng phần di sản được chia theo pháp luật, nếu họ là người đứng trong hàng thừa kế hưởng di sản theo pháp luật (trừ trường hợp người lập di chúc nói rõ là họ chỉ được hưởng phần di sản mà người lập di chúc đã phân định trong di chúc đó)

1.5 Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp người thừa kế theo di chúc không có quyền hưởng di sản

Những người đáng lẽ được hưởng thừa kế theo di chúc nhưng lại thực hiện những hành vi đã quy định tại khoản 1 Điều 643 BLDS sẽ không được hưởng thừa kế Trong những trường hợp sau đây:

- Hành vi nói trên xảy ra sau khi di chúc đã lập mà người lập di chúc không có ý kiến gì khác

- Hành vi nói trên xảy ra trước khi lập di chúc nhưng người lập di chúc không biết được người đó đã có hành vi đó

Nếu toàn bộ những người thừa kế theo di chúc đều không có quyền hưởng di sản thì áp dụng thừa kế theo pháp luật đối với toàn bộ di sản mà người lập di chúc để lại Nếu chỉ có một hoặc một số người thừa kế theo di chúc không có quyền hưởng di sản thì chỉ áp dụng thừa kế theo pháp luật đối với phần di sản liên quan đến những người đó Nghĩa là phần di sản của những người thừa kế theo di chúc không có quyền hưởng di sản sẽ được dịch chuyển cho những người thừa kế theo quy định của pháp luật

1.6 Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp người thừa kế theo di chúc từ chối quyền hưởng di sản

Nếu việc từ chối quyền hưởng di sản đúng quy định tại Điều 642 BLDS thì phần di sản liên quan đến người từ chối sẽ được áp dụng thừa kế theo pháp luật để giải quyết Tuy nhiên, trong thực tế có những người có thể là người

Trang 9

thừa kế theo di chúc nhưng cũng đồng thời là người thừa kế theo luật của người lập di chúc Vì vậy, trong trường hợp này, nếu họ chỉ từ chối quyền hưởng di sản theo di chúc, thì phần di sản đó được chia cho những người thừa

kế theo pháp luật và người từ chối vẫn được hưởng di sản theo pháp luật Nếu

họ từ chối toàn bộ quyền hưởng di sản (cả theo di chúc, cả theo pháp luật) thì phần di sản đó được chia cho những người thừa kế theo pháp luật của người

để lại di sản (trừ người đã từ chối quyền hưởng di sản) Trong trường hợp toàn bộ những người thừa kế theo di chúc đều từ chối quyền hưởng di sản, thì toàn bộ di sản thừa kế mà người lập di chúc để lại sẽ được chia cho những người thừa kế theo pháp luật của người đó Nếu chỉ có một hoặc nhiều người trong số những người thừa kế theo di chúc đều từ chối quyền hưởng di chúc, thì chỉ áp dụng thừa kế theo pháp luật đối với những phần di sản liên quan đến những người từ chối quyền hưởng di sản

2 Diện và hàng thừa kế theo pháp luật

2.1 Diện thừa kế theo pháp luật

Diện thừa kế theo pháp luật là phạm vi những người có thể được hưởng

di sản theo pháp luật của người chết nếu giữa họ với người chết đang tồn tại mối quan hệ hôn nhân hoặc quan hệ nuôi dưỡng cho đến thời điểm mở thừa

kế hoặc giữa họ có huyết thống trong phạm vi hai đời bàng hệ và bốn đời trực hệ

Diện thừa kế theo pháp luật được xác định theo các quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng giữa người thừa kế với người để lại di sản khi còn sống Người thuộc diện thừa kế theo pháp luật là người có một hoặc đồng thời có hai mối quan hệ với người để lại di sản trong phạm vi

ba mối quan hệ

Ba mối quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng giữa người để lại

di sản và người thừa kế chỉ là những căn cứ xác định phạm vi những người thừa kế theo pháp luật Phạm vi những người có quan hệ huyết thống gần, có quan hệ huyết thống xa (tính theo đời và theo thứ bậc bề trên, bề dưới) với

Trang 10

người để lại di sản có thuộc diện hay không thuộc diện thừa kế còn tùy thuộc vào những quy định của pháp luật trong từng giai đoạn lịch sử nhất định

- Căn cứ xác định diện thừa kế theo pháp luật dựa vào quan hệ hôn nhân Quan hệ hôn nhân là quan hệ của vợ chống cho đến thời điểm mở thừa

ké phải được xác định là hôn nhân hợp pháp Quan hệ hôn nhân hợp pháp là quan hệ vợ chồng tuân thủ những quy định của pháp luật hôn nhân về độ tuổi

kế hôn, ý chí tự do, tự nguyện trong kế hôn, tự do thỏa thuận không có áp đặt

ý chí của một bên đối với bên kia trong kết hôn, không i phạm quan hệ huyết thống, không vi phạm chế độ một vợ một chồng và không vi phạm các điều cầm khác của pháp luật trong hôn nhân Trong một số trường hợp đặc biệt khác cũng được coi là hôn nhân hợp pháp, như: nhưng người có nhiều vợ trước ngày ban hành Luật hôn nhân và gia đình (trước 13/1/1960); hay nam

nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 3/1/1987

- Về quan hệ huyết thống: pháp luật hôn nhân và gia đình bảo vệ lợi ích chính đáng của những người con xét về quan hệ huyết thống với cha mẹ và nghĩa vụ của người làm cha, làm mẹ của con Quyền thừa kế theo pháp luật của con không phụ thuộc vào hình thức hôn nhân của cha, mẹ đẻ Trên thực

tế, việc xác định cha, mẹ đẻ cho con ngoài giá thú, hay con nuôi rất quan trọng Việc này nhằm xác định quan hệ huyết thống giữa cha mẹ và các con Mục đích xác định quan hệ huyết thống nhằm bảo vệ những quyền lợi tài sản

và nhân thân cho cá nhân và là đạo lý của đời sống xã hội, với quan điểm mỗi người sinh ra đều phải có cha, mẹ là cội nguồn của mối quan hệ ruột thịt, là căn cứ để xác định nghĩa vụ và quyền lợi của các chủ thể trong quan hệ gia đình và xã hội Và trong trường hợp cần thiết xác định trách nhiệm của họ đối với nhau và nghĩa vụ giám hộ cho nhau, đại diện cho nhau trong các quan hệ dân sự và các quan hệ xã hội khác

Quan hệ huyết thống trong phạm vi hai đời bàng hệ, bao gồm: anh, chị,

em, cô, dì, cú, bác, cậu, cháu của người chết

Ngày đăng: 20/03/2019, 11:47

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w